STEPHEN HAWKING




STEPHEN HAWKING – NGƯỜI TỪNG KHƯỚC TỪ MỘT BẢN ÁN TỬ HÌNH

Mạnh Kim



Stephen Hawking, một trong những nhân vật ngoại hạng vĩ đại nhất thế giới, vừa từ trần ở tuổi 76. Sinh ngày 8-1-1942 (300 năm sau cái chết của Galileo) tại Oxford (Anh), Hawking là bậc thầy về vật lý vũ trụ. Một trong những khám phá quan trọng ban đầu của Stephen Hawking là các lỗ đen không hoàn toàn đen mà chúng phát ra phóng xạ rồi cuối cùng “bốc hơi” và biến mất. Tuy bệnh tật trầm trọng, Hawking đã viết nhiều công trình nghiên cứu vĩ đại mà Brief history of time là tác phẩm nổi tiếng nhất. Sống trọn đời trên chiếc xe lăn, Hawking đã chứng minh rằng nghị lực phi thường có thể vượt qua tất cả. Hawking đã bộc bạch về một phần của đời mình và những vất vả mà ông lướt qua. Ông kể...
Người ta thường hỏi rằng tôi có tâm trạng như thế nào khi sống với căn bệnh teo cơ ALS (amyotrophic lateral sclerosis). Chẳng có gì nhiều để trả lời. Tôi cố sống như bình thường, không nghĩ về tình trạng bệnh tật và quên đi những rào cản mà căn bệnh đưa đến.
Tôi thật sự bị choáng khi biết rằng mình mắc phải chứng bệnh liên quan đến tế bào thần kinh vận động. Hồi nhỏ, thể lực tôi đã không được khỏe. Tôi không thể chơi tốt các môn thể thao, còn chữ viết thì lúc nào cũng làm thầy cô khó chịu. Tuy nhiên, những điều này đã thay đổi khi tôi vào Đại học Oxford. Tôi tham gia vào trò chèo thuyền và thậm chí còn thi đấu ở các giải liên trường. Năm thứ ba đại học, tôi bắt đầu nhận thấy đầu mình hay bị choáng. Tôi gần như không thể kiểm soát sự vận động của mình, bởi thế có khi tự nhiên tôi ngã. Năm sau, bố đưa tôi đi chẩn đoán, vài ngày sau lần sinh nhật thứ 21 của tôi. Hai tuần liên tiếp tại một bệnh viện, tôi trải qua nhiều cuộc xét nghiệm. Người ta lấy cơ từ tay, gắn điện cực vào người và chích một thứ chất lỏng vào cột sống tôi. Bác sĩ chẳng nói rõ cho tôi biết mình mắc bệnh gì. Tuy nhiên, tôi đoán rằng tình trạng bệnh tật mình rất xấu và họ không thể làm gì để chữa trị, trừ việc cho tôi vài viên vitamin.
Khi linh cảm mình mắc phải chứng bệnh vô phương cứu chữa, tôi có cảm giác như mình đang chết lần mòn. Làm thế nào chuyện như thế lại xảy ra và tại sao tôi không thể thoát khỏi nó? Nỗi buồn ám ảnh như bóng ma, cho tới một hôm, khi tôi thấy một cậu bé đang hấp hối vì bệnh bạch cầu, nằm đối diện giường tôi. Đó là cảnh tượng thật đáng thương. Rõ ràng, có nhiều người khác còn kém may mắn hơn mình. Dù sao, căn bệnh ALS không làm cho tôi đau đớn nhiều. Từ đó về sau, cứ mỗi lần tư tưởng bi quan xuất hiện thì lập tức tôi nghĩ đến cậu bé đó. Ít lâu sau, bác sĩ cho tôi xuất viện và nói rằng cứ tiếp tục nghiên cứu những đề tài về vũ trụ còn dang dở. Tôi tiến triển chậm trên con đường nghiên cứu vì thiếu nền tảng toán học...
Giấc mơ về cuộc đời tôi lúc còn trẻ rất mơ hồ. Trước khi được chẩn đoán mắc bệnh, tôi cảm thấy không hứng thú với cuộc sống. Dường như chẳng có gì đáng để làm. Rồi sau khi xuất viện, tôi thấy như mình sắp bị hành hình. Bỗng nhiên lúc đó tôi nhận ra rằng có rất nhiều điều đáng để thực hiện nếu bản án tử hình của tôi được hoãn lại. Như thế, dù sao, tôi cũng làm được gì đó cho cuộc sống trước khi mình chết. Cảm giác ham sống tràn ngập tim tôi và công trình nghiên cứu bắt đầu tiến triển nhanh hơn. Tôi càng cảm thấy ham sống khi đính hôn với cô gái mà tôi đã gặp vào thời điểm căn bệnh được phát hiện. Cuộc đính hôn với Jane Wilde làm thay đổi cuộc đời tôi. Tôi nộp đơn gia nhập hội đồng nghiên cứu thuộc Đại học Caius (Cambridge). Thật ngạc nhiên, đơn xin của tôi được chấp thuận.
Tôi chọn vật lý lý thuyết vì ngành này phù hợp với tình trạng bệnh tật của mình. Các đề tài của tôi ngày càng gây tiếng vang và đó cũng là lúc bệnh tình mỗi lúc mỗi xấu. Sau khi lập gia đình, chúng tôi rất vất vả trong việc tìm nhà ổn định chỗ ở vì lý do tài chính. Cuối cùng, với sự giúp đỡ của bố mẹ tôi, chúng tôi cũng mua được một căn hộ. Trước năm 1974, tôi vẫn còn tự ăn uống được và có thể lên xuống giường mà không cần ai giúp đỡ. Tuy nhiên, càng về sau, chứng teo cơ ngày càng phát triển mạnh. Cái nhìn về tương lai tôi lại nhuốm màu đen. Tuy nhiên, Jane đã an ủi tôi rất nhiều. Cô ấy là nguồn động viên cho tôi sinh lực sống. Tôi lại nhỏm dậy và lao hết mình vào các công trình nghiên cứu. Những đêm buồn bã đã trở thành những đêm tràn ngập các con số và bài toán. Công việc của Jane bận rộn nhiều hơn khi chúng tôi có con. Cuối cùng, gia đình tôi phải nhờ sự giúp đỡ của các sinh viên. Chúng tôi cung cấp cho họ chỗ trọ và họ giúp tôi làm việc nhà. Năm 1980, gia đình tôi thuê một số y tá tư, đến giúp việc một hay hai giờ vào buổi sáng và buổi chiều. 5 năm sau, tôi bị bệnh phổi và phải chịu ca phẫu thuật thông khí quản. Sau đó, tôi buộc phải chịu sự chăm sóc 24/24 vì không thể tự làm bất cứ chuyện gì, kể cả việc bước lên giường.
Trước ca phẫu thuật thông khí quản, tôi bắt đầu gặp trở ngại với việc phát âm. Chỉ có những người rất thân và gần gũi mới hiểu được tôi nói gì. Dù sao, tôi cũng còn giao tiếp được. Tôi soạn tài liệu khoa học bằng cách đọc cho một cô thư ký viết lại. Tôi diễn giảng thông qua một “thông dịch viên” và người đó đọc lại các câu nói của tôi với giọng rõ ràng hơn. Sau ca phẫu thuật, tôi không thể nói được nữa. Phương pháp giao tiếp và truyền đạt duy nhất trong thời gian này là tôi “đánh vần” từng từ, bằng cách nhướng chân mày khi thư ký chỉ đúng vào mẫu tự trên tấm bảng chữ cái. Thật khó có thể giao tiếp bằng lối này và càng khó khăn bội phần khi muốn viết tài liệu khoa học. Tôi không thể không nghĩ đến đám mây đen che phủ cuộc đời mình. Định mệnh cay độc dường như không chịu buông tha tôi.
Tuy nhiên, cứ mỗi lần định mệnh giáng một cú đấm đau điếng xuống đời tôi, thần may mắn lại giang tay giúp đỡ. Một chuyên gia về máy tính tên Walt Woltosz đã gửi cho tôi chương trình máy tính gọi là Equalizer, cho phép tôi chọn từ trên màn hình bằng cách nhấn nhẹ vào cái nút cầm ở tay. Chương trình này cũng được điều khiển bằng một cái nút khác, hoạt động khi cảm nhận sự chuyển động của chân mày hay cái gật đầu. Khi thiết dựng xong những gì cần nói, tôi có thể gửi câu hay cụm từ này sang một máy phân tích âm điệu. Thoạt đầu, tôi chỉ có thể điều khiển chương trình Equalizer trên một cái máy tính để bàn.
Sau này, David Mason - chuyên gia về kỹ thuật thông tin thuộc hãng Cambridge Adaptive Communication - đã gắn một máy tính xách tay và bộ phân tích âm điệu vào ngay cái xe lăn của tôi. Việc này đem lại tiện lợi và tôi có thể giao tiếp dễ dàng hơn trước nhiều. Tôi có thể “nói” đến 15 từ trong một phút. Tôi có thể “nói” hoặc “viết” bằng bộ thiết bị trên rồi lưu vào đĩa mềm để có thể in ra giấy. Tôi đã viết sách bằng cách này. Tôi rất hài lòng với thiết bị phân tích âm điệu của hãng Speech Plus, chỉ duy có điểm là nó làm cho tôi nói bằng giọng Mỹ chứ không phải giọng Anh! (Người vợ thứ hai Elaine của Hawking là vợ cũ của David Mason - ND)...
Tôi đã mắc một chứng bệnh khiến tế bào thần kinh vận động không làm việc, trong suốt cuộc đời mình. Tuy nhiên, căn bệnh đã không thể ngăn tôi được chuyện có một gia đình hạnh phúc và không thể cản trở tôi trên bước đường nghiên cứu khoa học một cách thành công. Tôi cảm ơn vợ tôi, các con tôi và rất nhiều cá nhân cũng như tổ chức. Điều đó cho tôi thấy rằng người ta không nên từ bỏ hy vọng quá sớm. Định mệnh có thể bước sang lối đi khác, sáng sủa hơn, khi chúng ta không vội vã bi quan trước những rào cản cuộc đời.




....../.

Thép nhôm và chính trị thương mại Mỹ



Thép nhôm và chính trị thương mại Mỹ

Trần Lê Anh

 *******



Các kinh tế gia thuộc các trường phái khác nhau thường có những bất đồng ý kiến về nhiều vấn đề, nhưng đa phần lại khá đồng quan điểm về lợi ích của thương mại quốc tế.

Tự do thương mại có nhiều lợi ích kinh tế rõ nét như đem lại giá cả phải chăng cho người tiêu dùng, gia tăng hiệu suất trong việc phân bổ các nguồn tài nguyên, và tăng cường cạnh tranh trong nền kinh tế. Do đó, gần như hầu hết các kinh tế gia không tán thành với chính sách có khuynh hướng bảo hộ thương mại của Tổng thống Trump qua dự kiến đánh thuế nhập khẩu lên hai mặt hàng thép và nhôm hiện nay. Tuy nhiên, những động thái của Nhà Trắng không phải hoàn toàn vô lý vì yếu tố chính trị trong nước đóng vai trò rất quan trọng chính sách thương mại của Mỹ.
Về phương diện phân tích lợi ích kinh tế, bảo hộ thương mại đưa đến thiệt nhiều hơn lợi cho nền kinh tế nói chung. Có hai lý do dễ thấy nhất. Một là, khi thuế nhập khẩu được áp dụng vào mặt hàng nào thì giá cả của mặt hàng đó sẽ lên. Mặc dù hiện tượng này sẽ giúp các nhà sản xuất nội địa đang cạnh tranh với hàng nhập khẩu được tồn tại, nhưng lại gây ra thiệt hại cho những thành phần tiêu thụ nó do giá cả cao hơn. Trong trường hợp của thép, áp dụng thuế nhập khẩu sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như 147.000 công nhân của ngành thép Mỹ nhưng lại có thể gây ảnh hưởng xấu lên đến khoảng 6,5 triệu công nhân khác (theo số liệu phân tích của Heritage Foundation) đang được tuyển dụng trong các ngành tiêu thụ thép, chẳng hạn như sản xuất xe cộ và đóng tàu.
Hai là, bảo hộ thương mại sẽ dẫn đến việc trả đũa của các đối tác thương mại bị ảnh hưởng tiêu cực bởi chính sách này. Để đáp trả lại tuyên bố đóng thuế nhập khẩu của Tổng thống Trump, các nước khác đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ và vạch kế hoạch nhằm đánh thuế nhập khẩu một số mặt hàng quan trọng mà Mỹ xuất khẩu vào thị trường của họ. Ví dụ, Liên minh Châu Âu cho biết là họ sẽ đáp trả bằng việc đánh thuế nhập khẩu lên xe mô tô Harley-Davidson, rượu Bourbon, và quần jean xanh Levi's của Mỹ.
Tất nhiên là Tổng thống Trump biết rõ các hệ quả kinh tế tiêu cực của động thái bảo hộ thương mại của mình. Nhiều cố vấn kinh tế của ông đã không tán thành với việc đánh thuế nhập khẩu lên thép và nhôm. (Gary Cohn, cố vấn kinh tế trưởng của Nhà Trắng, vừa mới tuyên bố từ chức cũng vì chuyện này). Nhưng ông đã bỏ ngoài tai những ý kiến này. Ông tuyên bố trên mạng Twitter: “Chúng ta phải bảo vệ đất nước và công nhân của chúng ta. Ngành thép của chúng ta đang bị trì trệ. Nếu bạn không có thép, bạn không có một quốc gia.” Và ông tỏ ra không hề ngần ngại trước những cảnh báo về việc hàng hóa xuất khẩu của Mỹ sẽ bị trả đũa, có nguy cơ đưa đến tình trạng chiến tranh thương mại. Ông nói rằng chiến tranh thương mại là tốt và có thể chiến thắng dễ dàng. Ý ông là Mỹ luôn bị thâm hụt mậu dịch với các nước khác thì các nước khác phải e dè trước những căng thẳng thương mại hơn là Mỹ.
Có thể thấy rằng động cơ chính đằng sau động thái bảo hộ thương mại của Tổng thống Trump nghiêng mạnh về yếu tố chính trị. Trong khi vận động tranh cử, ông đã nói rất nhiều về việc Mỹ bị thua thiệt trong thương mại và hứa sẽ giúp đỡ các ngành công nghiệp đang bị hàng nhập khẩu (mà ông cho rằng cạnh tranh không công bằng) chèn ép mạnh, dẫn đến tình trạng mất việc của nhiều công nhân thuộc những ngành này. Những tuyên bố mạnh dạn đó, mặc dù không được thuyết phục khi phân tích qua những số liệu kinh tế tổng thể, đã góp phần tạo nên chiến thắng đưa ông vào Nhà Trắng. Do đó, việc đánh thuế nhập khẩu lên thép và nhôm lần này được cho là một lời hứa được giữ của ông. Và tất nhiên đây là điểm sáng mà ông sẽ nhắc nhở cử tri trong cuộc tranh cử cho nhiệm kỳ thứ hai.
Một câu hỏi liên hệ được đặt ra là vậy lợi ích của người tiêu dùng bị ảnh hưởng tiêu cực bởi chính sách bảo hộ thì sao? Câu trả lời là lợi ích của họ ít được quan tâm bằng lợi ích của thành phần sản xuất nội địa. Lý do là vì lợi ích của thương mại tự do thì được trải mỏng ra nhiều thành phần trong khi thiệt hại thì tập trung vào một thành phần. Và thành phần tập trung đó sẽ dồn nhiều công sức để vận động chính sách hơn các thành phần kia, bởi vì bất kỳ sự thay đổi chính sách theo hướng nào cũng đem lại lợi/thiệt rất đáng kể cho họ.
Trong trường hợp của thép, nếu như không có thuế nhập khẩu thì các thành phần tiêu thụ thép ở Mỹ sẽ hưởng lợi bởi giá rẻ hơn từ thép nhập khẩu. Nhưng lợi ích này được trải mỏng ra (do có rất nhiều ngành sử dụng thép, một thành phần của đầu vào, để sản xuất các mặt hàng đầu ra) trong khi thiệt hại lại chỉ tập trung vào ngành thép nội địa trước sức ép cạnh tranh của thép nhập khẩu. Nói một cách ngắn gọn, lợi ích của những thành phần tiêu thụ thép không được thấy rõ bằng thiệt hại của ngành thép. Và ngược lại, khi áp dụng thuế nhập khẩu thì lợi ích của ngành thép được thấy rõ ràng trong khi thiệt hại đối với các thành phần mua thép thì được trải mỏng ra.
Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross đã minh họa rõ nét khi ông xuất hiện trên truyền hình với một hộp súp Campbell và một lon Coke để lý giải rằng những thiệt hại đối những thành phần tiêu thụ thép và nhôm không đáng kể khi áp dụng thuế nhập khẩu. Ông chỉ ra rằng với giá thép tăng 25% (khi áp dụng thuế nhập khẩu 25%) thì giá của lon súp (chi phí thép trong 1 lon súp là 2,6 cent) sẽ chỉ tăng 6/10 của 1 cent trên giá bán hiện nay là 1,99 đô la. Ông cũng nói rằng, ngay cả thành phần tiêu thụ nhiều thép như ngành sản xuất xe, thuế thép cũng chỉ làm cho một chiếc xe có giá 35.000 đô la tăng 0,5%. Tương tự như vậy, hệ quả của 10% thuế nhập khẩu nhôm cho một lon Coke chỉ làm giá tăng 3/10 cent trên giá bán là 1,49 đô la. Do đó, các ngành sử dụng thép và nhôm sẽ không gây áp lực đủ mạnh lên chính phủ để thay đổi việc đánh thuế nhập khẩu vì thiệt hại dàn trải của họ không quá lớn để buộc họ phải quyết tâm vận động.
Và tất nhiên là các đối tác thương mại của Mỹ cũng nhận ra rằng các yếu tố chính trị nội địa quyết định chính sách thương mại Mỹ. Do đó, như các nhà phân tích chỉ ra, những mặt hàng xuất khẩu của Mỹ mà Liên minh Châu Âu dự định trả đũa sẽ nhắm vào các vùng nhạy cảm chính trị để tạo áp lực lên Nhà Trắng. Ví dụ, xe mô tô Harley-Davidson được sản xuất tại Wisconsin, là tiểu bang nhà của Chủ tịch Hạ viện Mỹ Paul Ryan (thuộc đảng Cộng hòa như Tổng thống Trump). Và diễn biến mới nhất cho thấy ông Ryan đã lên tiếng cho rằng Nhà Trắng cần nhắm việc đánh thuế vào một số nước cạnh tranh không công bằng (chẳng hạn như Trung Quốc) thay vì tất cả các nước xuất khẩu thép và nhôm vào Mỹ để tránh bị trả đũa và thiệt hại ngoài dự kiến.
Một khi những lợi ích chính trị bị ảnh hưởng trực tiếp, các chính trị gia sẽ cùng các nhóm kinh tế bị hại bởi chính sách thương mại sẽ gây áp lực với Nhà Trắng để cố xoay chuyển tình thế. Tổng thống Trump không phải là người dễ bị gây áp lực. Quyết định về chính sách thương mại của ông sẽ được cân nhắc bởi nhiều yếu tố khác nhau. Nhưng yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định sau cùng sẽ là lợi ích chính trị.

Trần Lê Anh (GS Đại học Lasell)
............../.


RỒI AI “KIẾN TẠO” ĐẠO ĐỨC QUỐC GIA ĐÂY?


RỒI AI “KIẾN TẠO” ĐẠO ĐỨC QUỐC GIA ĐÂY?





Những cái chết lãng nhách, những vụ đánh đập trẻ em tàn nhẫn trong trường mẫu giáo, những vụ giết người man rợ, những vụ bát nháo trong học đường, những vụ thờ cúng mông muội… Tất cả đều gây ra phẫn nộ và dẫn đến tranh cãi gay gắt, để rồi ngày mai sẽ có vài sự kiện kinh khủng tiếp theo, gây ra cơn phẫn nộ tiếp theo. Đất nước này giờ hệt như một bộ phim bi ai kéo dài bất tận. Đừng nói tôi bi thảm hóa vấn đề hoặc bị ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội. Những câu chuyện ấy xảy ra hàng ngày và được báo chí tường thuật hàng ngày. Sẽ là rất vô tri nếu vẫn nghĩ những sự việc kinh khủng ấy là đơn lẻ và không ảnh hưởng đến xã hội nói chung.
Bây giờ sự ác và cách sống ác đang tấn công tàn bạo và trực tiếp vào tầng lớp thấp nhất, những người được bảo vệ ít nhất, được trang bị kiến thức nền hạn chế nhất và có ít chọn lựa nhất. Như một tiến trình “phát triển” thông thường, sẽ đến lúc nó tấn công tầng lớp cao hơn, chạm đến chiếc cổng kín tường cao của thành phần giàu có hơn; và cuối cùng nó gõ cửa tầng lớp cai trị. Tôi đang thấy cái bóng của kẻ hủy diệt phủ rộng lên tất cả. Sẽ chẳng ai có thể thoát khỏi ảnh hưởng lây nhiễm của cơn “dịch ác” này. Không sự hủy diệt nào mà không có tiến trình thời gian. Chậm hay nhanh tùy vào khả năng ngăn chặn và ý muốn ngăn chặn. Không sự tàn phá cơ thể nào mà không mất một thời gian, nếu căn bệnh hiểm nghèo không được cứu chữa.
Cái ác lan tràn mỗi lúc mỗi nhiều trên mọi miền thì vấn đề không còn là chuyện cá biệt hoặc mang tính địa phương. Một sự phân hủy xã hội, toàn diện, đang diễn ra. Nó là hậu quả tất yếu của một nền giáo dục tồi tệ, được định hình bằng những tư tưởng thảm hại “học và làm theo” và được quản lý bởi những viên chức hoặc bộ trưởng mà sự tự trọng và liêm sỉ còn tệ hơn học sinh tiểu học trường làng của nền giáo dục VNCH.
Nó là hậu quả tất yếu của một sự đổ nát đạo đức được tạo ra bởi một thể chế được xây dựng trên căn bản và nền móng của cái ác và sử dụng sự bất nhân như cái trục xuyên suốt chiều dài lịch sử cai trị, đối với người dân lẫn với chính “đồng chí” của mình.
Nó còn là hậu quả của việc ngược đãi thành phần trí thức, kể từ thời Hồ Chí Minh đến nay.
Bộ hồ sơ dày cộm với những Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường trong quá khứ và những Trần Huỳnh Duy Thức trong hiện tại là bằng chứng cho điều đó.

Sự thiện khó có thể tìm được chỗ để đặt chân trong nền giáo dục hổng chân, trong đó đạo đức làm người ngày càng bị bào mòn và mai một. Muốn xây dựng xã hội, đạo đức làm người, chứ không phải “đạo đức cộng sản”, cần phải được chú trọng. Một cách công bằng, chế độ cộng sản không là thủ phạm duy nhất khiến tất cả giá trị đạo đức trở nên khủng hoảng nhưng cách thức cai trị cộng sản đã đẩy nhanh tốc độ suy thoái xã hội.

DƯỚI MÔI TRƯỜNG CỘNG SẢN, CÁI XẤU VÀ CÁI ÁC ĐÃ ĐƯỢC CUNG CẤP DƯỠNG CHẤT ĐỂ LÂY LAN BÙNG PHÁT.

Nếu cái thiện là hạt giống gieo trồng đòi hỏi sự nhẫn nại, công sức và thời gian chăm sóc thì cái xấu là loài cỏ dại hoang dã phát triển cực nhanh. Muốn dẹp được cỏ dại, điều đầu tiên là xem lại môi trường sống của nó, cách nó hình thành, cách nó phát triển và cách nó lây lan. Muốn dẹp được cỏ dại, điều cần làm là tiêu diệt môi trường sống của nó.
Ai sẽ làm điều này? Chẳng ai cả. Chẳng ai dám cả.
Người ta vẫn cúi đầu cam chịu. Thậm chí quỳ gối.
Đất nước này có rất nhiều tổ chức, đoàn thể lẫn “mặt trận” nhưng chẳng tổ chức nào dám kêu gọi chấn chỉnh đạo đức.
Ai dám kêu gọi thay thế “đạo đức Hồ Chí Minh” bằng đạo đức làm người?
Tôi không hề thấy bóng dáng của “kiến tạo đạo đức” trong “xu hướng kiến tạo” của chính quyền hiện tại.
Tôi không thấy “bản vẽ” nào cho kiến tạo đạo đức trong những phác họa hạ tầng “đô thị thông minh”. Những thiết bị thông minh sẽ chẳng bao giờ mang lại một xã hội văn minh nếu những giá trị đạo đức không được nâng cấp lên thành những phiên bản “tương thích” với lối sống có văn hóa và có giáo dục.

Không tờ báo nào đủ can đảm để nói thật và nói đến tận cùng nguyên nhân của sự bùng nổ cái ác. Những bài viết than thở cũng chỉ như cái chạm nhẹ vào cơ thể con bệnh. Nó không phải là liều thuốc. Không ai dám đưa thẳng con dao mổ vào khối u. Vì điều đó sẽ đụng đến chính trị và thể chế. Điều này khiến xã hội càng bất lực và hậu quả là sự hình thành thái độ vô trách nhiệm – giữa chính quyền với người dân và giữa người dân với người dân.

Sẽ không bao giờ có giải pháp nào ra đời khi căn nguyên vấn đề bị lảng tránh. Càng không phải là giải pháp khi người ta lên án cái ác bằng ngôn ngữ tàn ác và kêu gọi sự đáp trả bằng hành vi tàn ác dữ dội nhất có thể. Tôi đã đọc những bài viết chỉ trích các phụ huynh gửi con vào trường mẫu giáo nơi con cái họ bị ngược đãi. Tôi không hiểu tại sao phụ huynh cũng có thể bị mắng chửi trong trường hợp này, khi mà họ là những công nhân rất nghèo và hoàn toàn không có sự chọn lựa thay thế. Tôi cũng đã đọc những bài viết chửi rủa tất cả đối tượng liên quan trong một sự việc cụ thể. Thật ra tất cả đều là nạn nhân. Họ đều là nạn nhân của một thủ phạm chung: thể chế và hệ thống giáo dục của thể chế đó.

Xã hội đang có một thủ phạm chung. Dù vậy, nó không phải là thủ phạm duy nhất. Thủ phạm trực tiếp khác còn là chính chúng ta. Sự ích kỷ, đố kỵ, ganh ghét, thù hằn, dối trá, vô tâm..., luôn được “cài mặc định” sẵn trong mỗi người, đã đồng loạt ào ra, trong cái môi trường be bét mà hệ thống giáo dục cộng sản mang lại.

Trông chờ thay đổi hệ thống giáo dục chỉ là một sự tuyệt vọng kéo dài. Điều đó sẽ chẳng bao giờ xảy ra, chừng nào mà chế độ tồi tệ này còn tồn tại.
Tuy nhiên, xin đừng bế tắc.
Chúng ta chưa thể xóa bỏ sự áp đặt “đạo đức cộng sản” nhưng chúng ta, ngay bây giờ, có thể tự thay thế nó bằng việc xây dựng cho mình bộ quy chuẩn riêng – ít nhất đó là giải pháp khả dĩ để không chỉ cứu mình mà còn có thể giới hạn sự lây lan của cái ác.
Tôi không dám mạo muội bàn về việc làm thế nào để xây dựng cái gọi là “bộ quy chuẩn” ấy. Vấn đề đó quá to lớn, phức tạp và vượt quá sức tôi hay một cá nhân nào. Tôi chỉ nêu ra một gợi ý, như một cách nhắc nhở chính mình, như một cách để tự giáo dục bản thân.
Tôi vẫn tin vào giáo lý căn bản của nhà Phật: gieo duyên thiện luôn gặp phước lành và gieo nghiệp ác sẽ gặp ác báo.

........../.


VĂN HÓA - YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN CỦA MỌI DÂN TỘC





VĂN HÓA -  YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN CỦA MỌI DÂN TỘC

http://www.viet-studies.net/kinhte/TruongQuangDe_VanHoaQuyetDinhPhatTrien.html
***
Trương Quang Đệ


Từ đầu thế kỷ 20, luồng tư tưởng duy vật trở thành chủ đạo trong mọi sinh hoạt của nhân loại, dẫn đến việc đánh giá sự thăng tiến của các quốc gia trên cơ sở kinh tế và mặc nhiên coi kinh tế là tiêu chí duy nhất để phấn đấu cho mọi quốc gia.  
Chẳng hạn tham vọng của nhà lãnh đạo Liên Xô những năm 60 của thế kỉ trước, ông Nikita Khroutchev là tìm cách đuổi kịp Mỹ vào năm 1970, vượt Mỹ vào năm 1980 và sau đó các nước xã hội chủ nghĩa, kể cả Việt Nam, Mông cổ vv sẽ dắt tay nhau tiến vào chủ nghĩa cộng sản, tức là làm tùy năng,(lực), hưởng tùy nhu (cầu), sống tự do hoàn toàn trong một xã hội hết sức phồn vinh. Muốn vậy, phải vượt Mỹ về các chỉ tiêu kinh tế như số lượng dầu mỏ, thép, than, xi măng, máy kéo, xe tải, vệ tinh vv.
Trong kế hoạch vĩ đại này không thấy có yếu tố văn hóa xã hội nào cả.
Trước hết không có triết lý về phát triển. Kế hoạch của nhà nước bao cấp chủ yếu dựa vào số lượng mà không tính đến chất lượng. Năm này sản xuất được 5000 máy kéo thì năm sau phấn đấu lên 6000, không quan tâm xem máy kéo tốt hay xấu, có nhu cầu hay không. Thành tích của nhà máy sản xuất ô tô là tính nguyên chiếc, chẳng hạn 180.000 chiếc, không tính phụ tùng. Vì vậy nhà máy coi việc sản xuất phụ tùng là bất đắc dĩ. Có lần bản thân tôi chạy khắp Mascơva mà không tìm được nơi để mua một cái bugi xe máy. Tôi hỏi một người bạn Nga cách mua phụ tùng như thế nào thì anh cho biết các cơ quan và cá nhân phải kê khai nhu cầu cho các cấp quản lí, các cấp nầy sẽ đưa vào kế hoạch và phân về cho cơ sở.
Nền kinh tế bao cấp của các nước xã hội chủ nghĩa bị trói chân tay bằng những cách làm nhiêu khê như vậy. Kế hoạch nhà nước không lường được biến động trong công nghệ hay thị hiếu tiêu dùng. Không ai nghĩ được việc thay đổi nhanh chóng của ngành nhiếp ảnh chuyển từ phim kodak sang kĩ thuật số. Một trong những lí do khiến chủ nghĩa xã hội tan rã là sự phá sản của kinh tế kế hoạch hóa cứng nhắc. Vào những năm 1980 của thế kỉ trước, khi các nước phương Tây và Mỹ , Nhật Bản tiến vào cách mạng công nghiệp thứ ba thì Liên Xô và Đông Âu vẫn trong cách mạng công nghiệp thư hai, chưa ai nghĩ tới cuộc cách mang công nghiệp thứ tư đang tới gần và sự hội nhập khu vực cũng như toàn cầu trở nên cấp thiết.
Rõ ràng kế hoạch "vượt Mỹ" của Khroutchev chỉ là ảo tưởng, hay là tư duy lệch hướng trước thềm hội nhập toàn cầu và IOT.  Mặt khác, trong cuộc chạy đua giữa Liên Xô và Mỹ người ta không tình đến "tính văn hóa" của công dân mỗi nước, tức là thói quen suy nghĩ, hành xử...của con người. Ở Mỹ mọi người tự xoay xở lấy không trông cậy vào ai, thậm chí các trường đại học từ chối hỗ trợ của nhà nước vì sợ mất tự chủ. Trong khi đó công dân Liên xô mọi thứ đều trông chờ nhà nước, từ ăn ở, nuôi con, việc làm đến nghiên cứu khoa học, du lịch, giải trí. Không có ý kiến của các cấp lãnh đạo thì không ai chủ động làm gì, chưa nói đến việc nhà nước ngăn cấm công dân tự do kinh doanh, tự do sáng tạo.
Thực tế cho thấy những bước tiến công nghệ ở Mỹ đều do các cá nhân tay trắng làm nên. Ở Liên xô cũ, nhà nước thấy Phương Tây có gì mới thì giục dân mình học làm theo, thế thôi. Trong suốt bảy mươi năm tồn tại không thấy có sản phẩm xô viết nào đóng góp cho thị trường thế giới, trừ súng AK 47. Thời Gorbachev, ngân hàng bắt chước Phương Tây phát thẻ tín dụng làm phương tiện thanh toán văn minh thay tiền mặt. Nhưng đa số công dân lúc đó giỏi lắm có vài trăm rúp trong tài khoản, cần gì đến thẻ tín dụng?
Trường hợp Liên Xô cũ cho thấy sự phát triển kinh tế không dựa vào năng động trí tuệ và phẩm chất văn hóa cao sẽ bế tắc hoàn toàn. Bản thân tôi nghiệm thấy tầm quan trọng của văn hóa khi tôi có dịp làm việc tại Châu Phi. Hai nước láng giềng có điều kiện như nhau về tài nguyên, môi trường nhưng nước tôi ở lạc hậu nhiều so với nước lân cận. Một đồng nghiệp của tôi cho biết tôn giáo nước của anh buộc người nào làm nên phải cưu mang hết họ hàng. Quả vậy, một đêm tôi đến chơi nhà ông giám đốc của tôi, tôi tận mắt thấy có đến hơn hai mươi lều bạt cắm trong vườn. Hỏi ra mới biết bà con ông giám đốc đóng lều ở như vậy cho đến khi ông ta sắp xếp được công ăn việc làm cho tất cả mọi người. Không cần lí luận gì sâu xa cũng hiểu tại sao yếu tố tôn giáo đó không cho phép đất nước vươn lên.
Hiện nay ở Việt Nam đang diễn ra việc chống tham nhũng trong các cơ quan nhà nước mọi cấp. Báo chí, truyền thanh, truyền hình  và các cấp lãnh đạo chỉ nói về sự yếu kém trong quản lí, luật pháp chư hoàn chỉnh vv... trong việc tìm nguyên nhân tham nhũng.
Không thấy ai bàn về khía cạnh văn hóa của vấn đề.
Nước nào cũng có tham nhũng nhưng không phải nơi nào nạn tham nhũng cũng thành dịch bệnh khó chữa và định mệnh như Việt Nam và Trung Quốc. Chắc chắn phải tìm nguyên nhân sâu xa không phải trong các cách quản lý hay các chính sách mà phải trong cội nguồn văn hóa: Bao trùm tất cả là Nho giáo Khổng Mạnh và trực tiếp là tư tưởng Mao. 
Các nước văn minh thụ hưởng qua nhiều thế kỷ sự phân định rõ ràng các khái niệm nhà nước, chính quyền, nghị viện, công dân, cộng đồng v.v.  trong một nền dân chủ  đúng nghĩa. Mỗi công dân là một người đóng thuế và mỗi công chức là người được dân thuê làm việc cho dân. Ở Trung Quốc và Việt Nam, dầu các khái niệm trên được định nghĩa không khác với các nước văn minh, nhưng trong môi trường văn hóa cổ truyền, người ta ứng xử theo thói quen là chủ yếu. Chẳng hạn dân ta vẫn đánh giá con người qua địa vị xã hội, bằng cấp chứ không theo sự đóng góp tài chính (thuế) cho nhà nước. Các vị được trọng vọng đó đôi khi không đóng xu thuế nào nhưng lại được nhiều đặc quyền như bổng lộc, biệt thự, ở nhà khách miễn phí, đi xe, máy bay không mất tiền.
Sự việc này thuộc về tư duy truyền thống nho giáo coi người nhà nước (công chức) là "quan". Làm quan thì cả họ được nhờ nên đưa hết bà con vào cơ quan nhà nước, lạm dụng chức quyền và tham nhũng là hậu quả tất yếu.
Bên cạnh văn hóa quan lại cổ hủ đó, đã từ hơn nửa thế kỉ qua dấu ấn tư tưởng Mao "lấy nông thôn bao vây thành thị" tác động hết sức mạnh mẽ vào tiềm thức mọi người, nhất là đội ngũ cán bộ các cấp. Tư tưởng này gây dị ứng với cái mới, với văn minh đô thị, tăng xu hướng bài ngoại, coi thường luật pháp. Bản thân tôi trong hơn 60 năm qua đã chứng kiến những sự kiện mang dấu ấn Mao. Một lần đi xe đò từ Vinh ra Hà Nội, xe cán chết một con lợn dọc đường. Lập tức cán bộ địa phương và công an ập tới lập biên bản xử phạt xe đò. Lí do: phá hoại kinh tế địa phương, gây tổn thất cho hợp tác xã. Nếu có tư duy lành mạnh thì đáng ra chủ con lợn phải bị phạt vì vi phạm luật giao thông.
Một lần khác tôi đi xe lửa từ Hà Nội về Hải Phòng, qua địa phận Hưng Yên hay Hải Dương gì đó, tàu vấp phải một con trâu đang đứng trên đường sắt. Lập tức cán bộ địa phương chặn tàu lại đòi tiền phạt. Ngành đường sắt phải lép vế đóng tiền phạt. Một lần khác nũa tôi may mắn đạp kịp phanh xe máy trước một rãnh nước sâu mà bà con nông dân đào ngay trên đường nhựa để dẫn nước vào ruộng. Không cán bộ giao thông nào dám can thiệp vì sợ mất lập trường giai cấp. Tư tưởng Mao rất hiệu quả khi phát động chiến tranh chống Tưởng, chủ yếu phát động tính phá hoại trật tự sẵn có, nhưng để xây dựng một xã hội văn minh, nó trở thành vật cản khủng khiếp.
Sự hỗn loạn trong giao thông hiên nay ở các thành phố có nguồn gốc từ đó. Những năm đầu khi tiếp quản Hà Nội sau 1954 hay Sài Gòn sau 1975, không thể có chuyện phạt người đi bộ, đi xe máy, xe đạp nghêng ngang giữa phố vì họ thuộc thành phần cơ bản. Phạt họ thì lập trừơng giai cấp anh để đâu?  Những cán bộ nhà nước xuất thân từ thành phần cơ bản hay từ nông thôn đều thiếu ý thức về luật pháp, về ý thức cộng đồng và đặc biệt về khái niệm công dân. Họ chỉ nhận thức được sự khác biệt giữa người có quyền (cán bộ) và người không có quyền (dân, hay phó thường dân). Đặc điểm của tầng lớp này là coi của công như của riêng. Được phân công quản lý đất đai thì chiếm làm của riêng, được phân xe thì dùng cho gia đình, được bố trí ở nhà công thì chiếm luôn không chịu trả.  
Ở Hà Nội đầu những năm 60 của thế kỷ trước, khi Trường Albert Sarraut bị xóa bỏ, Sở Giáo Dục được giao quản lý cơ sở vật chất của trường này. Chỉ một tháng sau trường tan hoang, các phòng được phân cho người đến ở còn thư viện thì rao bán đồng nát. Sau 1975, một số cán bộ cao cấp vào Sài Gòn công tác, được phân tạm ở một số khách sạn. Đến khi xong nhiệm vụ trở về, họ gỡ hết mọi thứ trong phòng ở mang theo, từ quạt điện, bóng đèn đến bàn ghế, tủ. Cái văn hóa "chiếm đoạt" đã ăn sâu vào tâm can cán bộ thành phần cơ bản.
Nói chung ở Trung Quốc và Việt Nam do ý thức hệ đấu tranh giai cấp dựa vào thành phần cơ bản, trong một thời gian dài những phần tử có năng lực hiểu biết bị vây quanh bằng một lớp trùng điệp những kẻ tầm thường. Những kẻ này không muốn ai hơn mình nên cố sức kiềm chế và cô lập người giỏi. Họ không thực tâm phát triển văn hóa giáo dục, chỉ đặt ra cái này cái nọ để làm vật trang trí. Chính vì thế mà họ lệ thuộc nước ngoài đến từng chi tiết nhỏ. Tên các báo từ trước đến nay đều vay mượn. Tờ báo Cứu Quốc thời đầu cách mạng bị đổi thàng Nhân dân cho giống với Trung Quốc, còn tên bắt chước Liên xô thì quá nhiều: Sự thật, Tạp chí Cộng sản, Lao động,. Nhà in cũng lấy tên Tiến bộ; các nông trường mang các tên Cờ đỏ, Mồng 1 tháng 5 vv.
Những năm 60, 70 của thế kỷ trước cán bộ cấp tỉnh đều thuộc thành phần cơ bản nên hiểu biết của họ thật nghèo nàn quá mức. Có vị giải thích "mác xit là Mác và Stalin". Có vị nhận định: "Tito đứt đuôi là phản động. Nguyên thủ các nước xã hội chủ nghĩa đều là Chủ tịch riêng hắn ta xưng làm tổng thống!". Có vị nói Mỹ đổ quân chiếm đảo Cồn Cỏ (thuộc huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị, phía bắc vĩ tuyến 17) được một hôm thì ta cho đảo chìm xuống biển khiến chúng chết hết trọi. Có vị giảng chính trị cho đám sỹ quan quân đội Sài Gòn đang cải tạo như sau: Nhân dân ta từ xưa rất anh hùng, giặc Mông cổ đã từng chinh phục mọi nước từ Âu sang Á, từng đánh bại Napoléon vô địch châu Âu, mà vẫn bị quân ta đánh cho tơi bời.
Cũng may thế hệ trẻ hiện nay không đến nỗi như vậy. Bởi lẽ hiện nay do tình huống mở cửa, hội nhập nên muốn có địa v chuyên môn nào đó buộc phải biết tiếng Anh. Sau này muốn xóa bỏ sự tầm thường trong đội ngũ cán bộ, tốt nhất là lấy tiếng Anh làm chuẩn. Không có tiếng Anh sẽ không được giữ chức vụ gì. Cứ thế loại bỏ hết tàn dư của thành phần cơ bản. Thời thuộc Pháp, đội ngũ công chức khắp nơi có năng lực và hiểu biết nhiều do họ phải có trình độ tiếng Pháp cao. Cách mạng không duy trì tiêu chí kiến thức đó nên mở rộng cửa cho sự bất tài.
Không lấy văn hóa làm chuẩn thì càng phát triển về kinh tế, môi trường càng bị phá hoại và đạo đức sẽ rơi tự do không gì cản nổi.Từ sau 1975 đến nay, rừng bị chặt phá nhiều hơn thời quân Mỹ phun thuốc diệt cây cối. Không còn lâu nũa  sông suối, biển sẽ bị ô nhiễm nghiêm trọng, khó bề cứu vãn. Các cuộc họp của chính phủ chỉ thấy bàn tăng GDP, xây cái này cái nọ, không mấy khi nói đến môi trường, về cuộc sống bấp bênh của người dân vì các dự án treo, những trạm thu phí tràn lan. Việc xuống cấp về đạo đức và nhân cách, suy cho cùng, do thể chế chủ trương từ lâu xoá bỏ tầng lớp ưu tú tinh hoa hay còn gọi là tầng lớp trên.
Khi bắt đầu kháng chiến chống Pháp, chưa có phân định giai cấp rõ rệt, chính quyền cách mạng và quân đội vẫn do tầng lớp ưu tú đảm trách. Các bậc chỉ huy được đào tạo ở trường võ bị đều có bằng tú tài toàn phần. Cán bộ đa số xuất thân từ các tầng lớp ưu tú, có văn hóa. Tôi còn nhớ trong các trận càn của Pháp, khi bắt được người nào, lính Tây bắt ngửa tay ra xem. Nếu là tay trắng trẻo, tức là tầng lớp có học thì trói ngay dẫn về bốt vì chắc chắn đó là Việt Minh, còn nếu tay anh chai u, sần sùi, lập tức được tha. Từ ngày bị Stalin và sau đó là Mao khống chế, các tầng lớp trên bị xóa bỏ không thương tiếc trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức và các cuộc chỉnh huấn.
Chiến dịch Điện Biên Phủ, thành công, đáng ra trên thế chẻ tre giải phóng thêm nhiều vùng khác thì quân đội được lệnh tổ chức chỉnh huấn để loại hết những thành phần ưu tú không cơ bản. Từ sau 1954 trở đi, trí thức, nhân sĩ chỉ đóng vai trò bù nhìn, trang trí, không làm gì thực chất. Bản thân tôi đi lao động sáu tháng ở nông thôn, tôi phát hiện thấy đa số cán bộ huyện có học bị thay thế từ năm 1958 bằng bần cố nông hay công nhân. Về nguyên tắc là vậy nhưng thực tế bần cố nông hiền lành chất phác, khó đảm đương công việc phức tạp nên các thành phần làm ăn tự do như lái trâu, lái lợn có cơ hội được thăng tiến mạnh và khuynh đảo mọi thứ.
Ở các chế độ được coi là xấu xa ngày xưa, phong kiến thuộc địa, hiếm thấy người nào không có năng lực mà lại dám đảm nhiệm công việc quá tầm tay. Chẳng hạn không biết chữ thì khó ra làm quan. Dưới chế độ mới, nhà nước chỉ dựa vào công nông, lấy sự trung thành với thể chế chính trị làm chuẩn, bất chấp năng lực. Có vị làm hiệu phó một đại học mà xuất thân từ du kích địa phương. Có vị làm khoa trưởng tiếng Anh mà không biết một ngoại ngữ nào.
Cũng do văn hóa không được lấy làm chuẩn nên các chủ trương chính sách đều khập khiểng. Đầu tư cho giáo dục ở mức thấp đến nỗi các trường học nhếch nhác, cư xá sinh viên nghèo nàn lạc hậu trong khi tiền dồn cho việc nuôi dưỡng một bộ máy hành chính cồng kềnh kém hiệu quả, những xí nghiệp quốc doanh thua lỗ, tham nhũng, những công trình ngàn tỷ đắp chiếu vv. Sinh hoạt trí tuệ bế tắc, các tôn giáo bị ghẻ lạnh nên không phát huy được vai trò chăm sóc phần hồn cho người dân. Lịch sử bị chế biến thành một thứ kinh kệ mơ hồ khiến mỗi người dân không xác định được mình là ai. Khẩu hiệu "Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội" đặt tuyên truyền lên trên chân lý làm cho người ta bị hỏa mù trong nhận thức. Các cụ Phan Sào Nam và Phan Tây Hồ có yêu nước không vì họ đâu có theo chủ nghĩa xã hội? Người Nga hiện nay có còn yêu nước không? Những điều ngớ ngẩn đó nói lên rằng trí tuệ bị nhào nặn không còn hình hài gì nữa.
Tình hình đó đòi hỏi phải có biện pháp sửa chữa mạnh mẽ và thiết thực chứ không chỉ lời nói suông.
Theo tôi, nhà nước cần cấp tốc đặt ra chiến lược văn hóa trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ chủ quỳền quốc gia. Từ lâu tôi nghe nói ở Israel người lính có thể không tuân lệnh chỉ huy nếu anh ta thấy chỉ huy không đúng. Mới nghe qua thấy có vẻ phi lí, trái với điều lệ của mọi đảng phái và mọi lí thuyết quân sự. Nghĩ cho kỹ thấy không hẳn như vậy và nhờ đó mà quốc gia Do Thái nhỏ bé tồn tại. Thực vậy, hoàn cảnh Israel mấy triệu dân bị hàng trăm triệu dân thù địch bao vây tứ phía phải phát huy hết tiềm lực người dân bằng cách cho từng người hành động theo sáng kiến riêng. Mỗi người dân đủ thông minh để phối hợp với nhau một cách hiệu quả trong việc bảo vệ đất nước. Việt Nam, trong chừng mực nào đó cũng sẽ bị tràn ngập trong một biển người có một thứ văn hóa nghiệt ngã với màu sắc diệt chủng. Việc đầu tư tiến của mua sắm khí giới, xây dựng nền quốc phòng tiên tiến là điều cần thiết, nhưng không đủ. Phải có một trình độ văn hóa cho toàn dân vượt trội hẳn so với thế lực bành trướng thù địch.
Các nhà văn hóa tư tưởng của ta xưa nay bó hẹp trình độ văn hóa vào khuôn khổ kiến thức, tức là mặt chỉ số trí tuệ IQ mà không nghĩ tới lối ứng xử trong cuộc sống, tức là mặt hành vi xã hội EQ. Điều ai cũng thấy rõ là lối ứng xử xã hội của ta và Trung Quốc còn ở giai đoạn thô thiển so với cuộc sống văn minh. Ta không có thói quen sắp hàng, nhường đường cho nhau, tôn trọng người già, phụ nữ, ưu tiên tuyệt đối trẻ nhỏ vv. Báo chí cho biết không ít người Trung Quốc ngạc nhiên thấy người Mỹ trong trận khủng bố 11 tháng 9 năm 2001 ở New York, các nạn nhân vẫn biết nhường nhau khi chạy thoát ngọn lửa.
Về phương diện EQ dân ta vẫn bị nhiều xiềng xích ràng buộc. Lòng đố kỵ gần như phổ biến mọi nơi mọi cấp, mọi lúc. Thấy ai hơn mình lập tức tìm cách triệt hạ tuy ngày nào cũng hô hào sử dụng người tài. Tình giả dối là căn bệnh trầm kha khó bề chữa chạy. Bệnh hám danh hảo, khoa trương, mê thành tích cũng là yếu tố nguy hại trong khi ý thức cộng đồng, sự hợp tác lành mạnh văn minh chưa có chân đứng bền vững.
Loại trừ những yếu kém về ứng xử văn hóa là điều cấp bách, phải được ưu tiên giải quyết trước khi bàn về kiến thức.
Một câu hỏi đặt ra: Nền tảng văn hóa của người Việt hiện nay là gì? Chúng ta đã bỏ không dùng chữ Hán ngàn xưa nữa làm cho cánh trẻ không còn dây liên hệ với vốn văn hóa cổ, bỏ văn hóa Pháp rộng mở với thế giới bên ngoài xưa và nay mà hòa mình vào văn hóa ASEAN chưa rõ định hình.
Trí thức Việt Nam hiện nay thấy lơ lửng trong tư duy và cả trong phát ngôn. Chứng cớ là các nhà chính trị không biết phát âm cụm chữ cái CLMV như thế nào, cờ lờ mờ vờ hay xê el em vê hay xi eo em vi. Hình như ngành tòa án lấy tiếng Anh làm chuẩn: Vừa qua một ông chánh án phát âm PVC là pi vi xi. Không biết gọi tên nước thế nào cho đúng: Libanon hay Li băng? Úc hay Ôt-strây-lia? Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 các nho sỹ dựa vào Hán tự mà tiếp cận thế giới. Những danh từ riêng thế giới được đọc quá âm Hán-việt: Pháp lang sa, Anh cát lợi, Nga la tư....Mạc tư khoa, Luân đôn, Ba lê,,,Các tên người qua âm Hán-Việt: Mạnh đức tư cưu (Montesquieu), Lã Phụng Tiên (La Fontaine), Lư Thoa (Rousseau)....Mã khắc Tư (Marx), Tư Đại Lâm (Staline), Hoa Thịnh Đốn (Washington)...Tiếp đó các nhà Tây học dựa vào tiếng Pháp để tiếp cận thế giới, mọi danh từ riêng đều phát âm và viết theo tiếng Pháp: Londres, Moscou, Lénine, Russie, ONU, OTAN, ...
Từ ngày mất đi các hệ qui chiếu Hán và Pháp, người Việt xoay xở mạnh ai nấy được, không có qui tắc gì.
Các ngành bưu điện viễn thông, ngân hàng dùng tiếng Anh trong mọi giao dịch, những ngành khác thì hoàn toàn tự do tùy tiện. Vậy vấn đề cấp bách là phải có qui chiếu Việt. Phải có qui tắc thống nhất  cho mọi đối tượng, hiện tượng. Hiện nay thông qua qui trình hội nhập khu vực và quốc tế, văn hóa Mỹ trở thành chuẩn mực cho nhiều lĩnh vực hoạt động. Nguy cơ từ đó là không còn đa dạng văn hóa nữa, điều mà không riêng Việt Nam mà cả thế giới lo ngại. Theo tôi, để giữ gìn sự đa dạng văn hóa của người Việt, ta cần giữ gìn vốn văn hóa Hán ngữ và văn hóa Pháp. Chẳng hạn phải dạy chữ Hán (không phải tiếng Hoa mà là chữ Hán truyền thống của ta) cho hai bậc phổ thông cơ sở và phổ thông trung học mỗi tuần một tiết. Về văn hóa Pháp cần có chiến lược bền vững qua những sự nghiệp pháp ngữ to lớn về kinh tế, văn hóa. Đã đến lúc phải định hình một nền văn hóa Việt phong phú và vững chắc, đảm bảo cho dân tộc trường tồn và hạnh phúc.

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 26-2-18 

....../.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông



Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông (1932-2018)


Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là người con của Tây Ninh. Gia đình ông thuộc nhóm giàu có thời đó (gọi là "điền chủ"). Ông từng theo học trường Thiếu sinh quân ở Vũng Tàu, nơi ông cũng tiếp thụ âm nhạc của các giáo sư Pháp giảng dạy. Ông vào quân đội năm 1951; được gửi đi huấn luyện chỉ huy quân đội ở Hà Nội; 1954 trở thành tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trọng pháo 553 khi mới 24 tuổi; 1957 đi học ở Hawaii; 1972 được thăng chức đại tá và chuyển sang làm Chánh Văn phòng cho Tổng Tham mưu Phó đến năm 1975. Sau 1975, ông bị bắt đi tù cải tạo 10 năm trời. Ông tâm sự những ngày tháng sau tù: "Sau tháng 4/1975, tôi đi học tập 'cải tạo' 10 năm. Khi trở về nhà, tôi mang theo nhiều chứng bệnh trầm trọng, tinh thần và thể xác bị suy sụp. Suốt 30 năm qua, tôi không tham gia bất cứ hoạt động nào ở trong nước cũng như ngoài nước." Sau khi ra tù, dù có thể đi Mĩ theo diện HO nhưng ông chọn ở lại Việt Nam cho đến ngày qua đời.

Theo Nhạc sĩ Trần Quốc Bảo, sau 1975 gia đình ông sống nhờ quán bán bánh mì và giò chả (hiệu Nhiên Hương) tại nhà đường Nguyễn Trọng Tuyển, Phú Nhuận. Hai ông bà nhạc sĩ không có con. Ông được đồng nghiệp và bạn bè yêu quí. Như là lời nói hộ cho nhiều nghệ sĩ, Nhạc sĩ Trần Quốc Bảo nhận xét rằng: “Với thầy Đông, tôi chỉ biết nói rằng tôi kính phục ông nhất hai điểm, đó là tài hoa và tư cách.”

Tài hoa. Đó là chữ rất đúng để mô tả sự nghiệp âm nhạc của ông. Chẳng hạn như ca khúc "Chiều mưa biên giới" Trong một bài trả lời phỏng vấn Nhạc sĩ Trường Kỳ, ông cho biết hoàn cảnh ra đời của bài Chiều mưa biên giới như sau: “Bản nhạc Chiều Mưa Biên Giới được viết vào năm 1956. Khi ấy tôi là trung úy trưởng phòng hành quân của chiến khu Đồng Tháp Mười là người có trách nhiệm đề ra những phương án tác chiến. Lần đó tôi dẫn đầu một nhóm biệt kích bí mật đi điều nghiên chiến trường dọc theo biên giới Miên-Việt và Đồng Tháp Mười. Trên đường về, anh em chúng tôi lâm vào cảnh trời chiều gió lộng, mưa gào như vuốt mặt. Giữa cánh đồng hoang vắng tiêu sơ, lối vào tiền đồn thì xa xôi, thoáng ẩn hiện những nóc tháp canh mờ nhạt ở cuối chân trời. Và từng chập gió buốt kéo về như muới sát vào thịt da. Từ trong cảnh ấy, tận đáy lòng mình đã nghe nẩy lên những cung bậc rung cảm, những trường canh đầu tiên buồn bã cho bài Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu...”

Một ca khúc khác ít người biết đến là "Hải ngoại thương ca". Thoạt đầu người ta tưởng đây là sáng tác cho 'Việt kiều', nhưng không phải.
Ông sáng tác ca khúc này vào năm 1963, nhân vụ đảo chánh ở miền Nam và tướng Nguyễn Chánh Thi phải trốn ra ngoại quốc: “… Đến năm 1963, có một cuộc đảo chánh lần thứ nhì khiến chế độ của ông Ngô Đình Diệm bị suy sụp.. Lúc đó mọi người lên tiếng kêu gọi những anh em ly tán sau cuộc đảo chánh lằn thứ nhất đang ở ngọai quốc trở về. Lúc đó tôi thấy một số bạn bè của tôi vẫn còn do dự chưa muốn trở về . Điều này nó thôi thúc tôi viết bài Hải Ngoạii Thương Ca, có ý nói bây giờ trong nước cũng vui vẻ...”. Bài này mãi đến 2004 mới được trình diễn.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông tâm sự: ”Năm 2004 bài Hải Ngọai Thương Ca được đưa ra ngoài Hà Nội duyệt. Thì ngoài Hà Nội mới hỏi tôi: có phải bài Hải Ngoại Thương Ca Này mới viết không mà sao nó sát với đề tài của thời cuộc này quá vậy?. Nó hay đấy . Đấy là lời của một vị lãnh đạo của cục Văn Hóa Nghệ Thuật.”

[...]

Bây giờ nhìn lại thời 20 năm văn nghệ miền Nam tôi thấy kinh ngạc về tính phong phú và đa dạng của nên văn nghệ đó. Chỉ nói riêng về âm nhạc thôi, 20 năm đó đã để lại cho nền văn hoá dân tộc nhiều dấu ấn qua những ca khúc đầy tính nhân bản. Có thể nói tính nhân bản trong âm nhạc là đặc điểm phân biệt rất rõ giữa văn nghệ miền Nam và miền Bắc trong thời chiến. Điển hình như Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, là một quân nhân trong thời chiến, nhưng nhạc của ông thì không thấy hình súng đạn, lửa khói hay màu máu đâu cả, thay vào đó là những lời ca thật đẹp, đầy chất lãng mạn, thấm đẫm tình quê hương và nhân bản.



******

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông [trích]

(nguoi-viet.com)

Du Tử Lê



[....]


Trong 20 năm tân nhạc miền Nam, Việt Nam, Nguyễn Văn Ðông cũng là một nhạc sĩ nổi tiếng không chỉ với một hai ca khúc viết về người lính mà, với hầu hết những ca khúc ông viết về dề tài này.
 
Những ca khúc làm thành tên tuổi ông như ca khúc “Phiên Gác Ðêm Xuân,” ông sáng tác đêm giao thừa 1956, khi đang đóng quân ở Khu 9, Ðồng Tháp Mười. Hai ca khúc nổi tiếng khác của họ Nguyễn cũng được ra đời sau đó, là ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới,” khi ông đóng quân gần biến giới Việt-Miên và “Mấy Dặm Sơn Khê,” khi đồn trú ở vùng cao nguyên Trung phần.

Nhưng chân dung hay, hình ảnh người lính trong các ca khúc vừa kể của Nguyễn Văn Ðông, tuy cũng đậm tính thơ mộng... Nhưng đó là cái thơ mộng dung dị, nhân bản, gần với đa số, với đám đông, những người lính vô danh.

“Ðón giao thừa một phiên gác đêm / chào xuân đến súng xa vang rền / xác hoa tàn rơi trên báng súng / ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi /...? Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu / vì mơ ước trắng như mây chiều / tủi duyên người năm năm tháng tháng / mong chờ ánh xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi / Chốn biên thùy này xuân tới chi? / tình lính chiến khác chi bao người / nếu xuân về tang thương khắp lối / thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi! (Trích “Phiên Gác Ðêm Xuân”)

Ông cũng không khẳng định người lính của ông phải là người tạo được những chiến thắng lẫy lừng mà, chỉ là những cá nhân bình thường, với những tâm tình, những khát khao, nhớ thương đời thường:

“Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay / Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng / đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng / người tìm về trong hơi áo âm / gợi niềm xa xăm/ Người đi khu chiến thương người hậu phương / thương màu áo gửi ra sa trường / lòng trần còn tơ vương khanh tướng / thì đường trần còn mưa bay gió cuốn / còn nhiều anh ơi!” (Trích “Chiều Mưa Biên Giới”)

[...] chân dung người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông là một chân dung bình dị, không quá đặc biệt. Không ngoại lệ. Ðó là một con người như bất cứ một con người nào thuộc về đám đông. Vì ngoài bổn phận người lính, thì trong thẩm sâu của tâm hồn người lính, vẫn là một con người (như mọi người,) với cá tính, rung động, cảm nhận chân thật khi đối đầu, cọ sát với thực tế và vận mệnh chung của dân tộc:

“Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng / ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê / non nước ơi, hồn thiêng của núi sông / kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa / Bao ước mơ giữa khung trời phiêu lãng / chờ mùa xuân tươi sáng, nhưng mùa thắm chưa sang / anh đến đây rồi anh như bóng mây / chốn phương trời ấm lạnh, hòa chung mái nhà tranh / Anh như làn gió, ham ngược xuôi theo đường mây / tóc tơi bời lộng gió bốn phương / nước non còn đó, một tấc lòng / không mờ xóa cùng năm tháng / mấy ai ra đi hẹn về / dệt nốt tơ duyên...” (Trích “Mấy Dặm Sơn Khê”)

[...]

Mặc dù họ Nguyễn tình nguyện hiến cuộc đời mình cho quân đội khi ông còn rất trẻ; nhưng bên cạnh tư cách một người lính, ông còn là một nhạc sĩ. Trong vai trò này, ông lại là nhạc sĩ miền Nam, được thế giới biết đến tên tuổi rất sớm.

Ðiển hình là sự kiện ngay từ năm 1961, nghệ sĩ Trần Văn Trạch đã được đài Europe No.1 và Ðài Truyền Hình Pháp thu âm, rồi thu hình ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới” của ông, gây tiếng vang lớn ở Âu Châu. “Biến động” này đã tạo sức dội ngược về Việt Nam, khiến chỉ trong vòng 3 tháng, nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam của nhạc sĩ Lê Mộng Bảo, đã bán hết 60,000 bản nhạc lẻ, phá kỷ lục số ấn bản lớn nhất từ xưa, ở thời điểm đó. [...]

Tôi cho họ Nguyễn là một trường hợp đặc biệt của giới văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam, 20 năm. Khi, một mặt, ông vẫn chu toàn nhiệm vụ “người lính gác giặc” của mình. Mặt khác, ông vẫn can đảm cất lên tiếng nói của lương tri. Tiếng nói của một kẻ sĩ trước thời cuộc. Những ghi nhận từ đáy tầng khát khao của dân tộc, đất nước...

Vì thế, ngay khi lệnh cấm của Bộ Thông Tin được báo chí thời đó đăng tải nơi trang nhất thì dư luận quần chúng khắp nơi đã đồng loạt phản ứng. Họ bênh vực họ Nguyễn, như bênh vực người phát ngôn trung thực nhất, về những mơ ước, khát khao thầm kín của họ. Phản ứng bất ngờ của đám đông cũng khiến nhiều cơ quan ngôn luận nhập cuộc. Lên tiếng bênh vực. Ủng hộ tinh thần tác giả “Chiều Mưa Biên Giới.”

[....]

Riêng ca khúc “Anh” tức “Anh Nhớ Gì Không Anh” của họ Nguyễn thì bị cấm vì các câu như: “Nước mắt dân Hời, thành quách một thời tan tành hệ bởi đâu? Sao ta nỡ xa ta, xẻ chia sơn hà cho Bắc Nam mình xa cách nhau!”

Như đã nói, cái tinh thần kẻ sĩ, cái ý thức đất nước, dân tộc, khiến Nguyễn Văn Ðông chấp nhận thua thiệt trong binh nghiệp, nhưng bảo vệ được khí tiết của một kẻ sĩ thao thức, trằn trọc trước tang thương đất nước. Nhưng đó là sự lên tiếng của một người lính tự nguyện. Một người lính vẫn làm tròn bổn phận của một công dân thời đất nước binh đao, ly loạn... Sự kiện này vẫn khác, hoàn toàn khác với những nhạc sĩ cũng giương cao ngọn cờ phản chiến; nhưng lại là những người từ chối trách nhiệm của một công dân trước thời cuộc.

Hơn một lần, nhạc sĩ Hoàng Thi Thao từng nói với tôi, “Về phương diện nhạc chống chiến tranh thì, Nguyễn Văn Ðông là người thứ nhất, người đầu tiên xông xáo vào con đường nhậy cảm và, gai góc này.”

Tuy nhiên, tôi vẫn thấy cần phải ghi nhận một cách công bình rằng, tiếng nói của Nguyễn Văn Ðông, cách gì, cũng vẫn là tiếng nói phản ảnh tâm tư của một nghệ sĩ đau đáu trước những đau thương, tang chế của đất nước - Song song với con người chọn con đường binh nghiệp khi còn rất trẻ. Ðó là sự khác biệt to lớn, giữa một người đứng trong lửa đạn và, những người đứng ngoài, với những kêu đòi vô trách nhiệm.

Trong đời nhạc Nguyễn Văn Ðông, tình yêu tổ quốc luôn nồng nàn, như thể đó là tình yêu thứ nhất của đời ông:

“Và xin em hiểu rằng, người đi giúp nước nào màng danh chi - Cầu cho đất nước vượt ngàn gian nguy - Lòng anh vẫn nhớ tình người hôm nay - Ðời dâng cho núi sông - Lòng này thách với tang bồng - Ðừng làm má thắm phai hồng, buồn lắm em ơi!...” (Trích “Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp”)

Hoặc:

“Người về đây giữa non sông này - Hội trùng dương hát câu sum vầy - Về cho thấy con thuyền nước Nam - Ði vào mùa xuân mới sang - Xa rồi ngày ấy ly tan - Tôi đi giữa trời bồi hồi - Cờ bay phất phới tôi quên chuyện ngày xưa - Mong sao nước Việt đời đời - Anh dũng oai hùng chen chân thế giới...” (Trích “Hải Ngoại Thương Ca”)

Tôi cho đó là tấm lòng, là trái tim của một nghệ sĩ chọn ở với tổ quốc của mình, bằng một tình yêu một chiều; mà, không một tình yêu nào có thể so sánh hoặc thay thế được.

.............................

Chú thích:
(2) Ðại nhạc hội này do nhà xuất bản Trăm Hoa Miền Nam tổ chức. Nhân đây, cũng xin lưu ý: “Trăm Hoa Miền Nam” và “Tinh Hoa Miền Nam” là hai nhà xuất bản nhạc lẻ khác nhau.
..............................



[...] Về cái mà tôi muốn gọi là “nhạc nghiệp” của nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Văn Ðông, theo một số tài liệu đã được phổ biến ở hải ngoại cũng như tại Việt Nam thì: Nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông chính thức tham dự vào sinh hoạt âm nhạc ở miền Nam Việt Nam vào khoảng giữa thập niên 1950. Ông nổi danh ngay với những ca khúc đầu tay như “Chiều Mưa Biên Giới,” “Phiên Gác Ðêm Xuân,” “Súng Ðàn”... là ba ca khúc ra đời trong năm 1956 và được phổ biến rất rộng rãi. Nhưng ca khúc “Thiếu Sinh Quân Hành Khúc” bài hát được công nhận là ca khúc chính thức của trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, Nguyễn sáng tác năm 1948, khi mới 16 tuổi, mới thực sự là sáng tác đầu tay của người nhạc sĩ đa tài này.

Ngoài bút hiệu và cũng là tên thật, Nguyễn Văn Ðông, họ Nguyễn còn dùng nhiều bút hiệu khác như Phượng Linh, Phương Hà, Ðông Phương Tử, Vì Dân, Hoàng Long Nguyên.
[...]
Nói tới nhạc nghiệp của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông mà, không nói tới thời gian họ Nguyễn làm giám đốc hãng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, nổi tiếng một thời ở miền Nam, tôi cho là một thiếu sót quan trọng.

Ở vai trò này, với sự hợp tác tích cực của những nhạc sĩ như Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Y Vân, Lê Văn Thiện... Hai hãng đĩa của ông đã đem sự giầu có, phong phú cho sinh hoạt tân nhạc cũng như cổ nhạc miền Nam, 20 năm; với những album riêng cho từng ca sĩ.

[...]


.... nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông không chỉ có những đóng góp đáng kể cho phong trào “Tân cổ giao duyên” mà, ông còn là đạo diễn, viết nhạc nền, sáng tác ca khúc lồng trong trên dưới 50 vở tuồng cải lương nổi tiếng ở miền Nam. Ðiển hình như các vở tuồng “Nửa Ðời Hương Phấn” của soạn giả Hà Triều-Hoa Phượng; “Sân Khấu Về Khuya” của soạn giả Năm Châu; “Mắt Em Là Bể Oan Cừu” của soạn giả Vân An v.v...

Theo một tài liệu chúng tôi hiện có thì, vào năm 1960, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông cùng một người bạn vong niên là nhà doanh nghiệp Huỳnh Văn Tứ, đồng sáng lập hãng băng đĩa Continental. Ông Huỳnh văn Tứ đảm trách vai trò Giám đốc sản xuất. Họ Nguyễn đảm nhận trách nhiệm Giám đốc nghệ thuật. Hãng đĩa Continental có 36 chi nhánh, phát hành toàn miền Nam - Chủ trương phát triển cùng lúc 2 bộ môn tân và cổ nhạc. Khi đó, tác giả “Phiên Gác Ðêm Xuân” được rất nhiều soạn giả cải lương nổi tiếng cộng tác. Nhưng các soạn giả này lại không rành lắm về tân nhạc. Do đó, việc dàn dựng kịch bản thường không ăn khớp với tân nhạc. Ðể bổ khuyết, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông phải “lăn lưng” vào cuộc. Ông dành thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi... sau một thời gian ông đâm ra yêu thích bộ môn nghệ thuật ấy.

Ông kể: “Tôi rất nhớ ơn cố soạn giả Hoàng Khâm và các tay danh cầm bên cổ nhạc như Văn Vỹ, Năm Cơ, Hai Thơm... Họ đã chỉ vẽ cho tôi một cách tận tình, không giấu nghề. Vì thế mà chỉ một năm sau, tôi đã có thể tự tin đủ sức bước sâu vào lãnh vực mới mẻ này; cũng với tất cả đam mê, như khi tôi ‘khám phá’ thế giới tân nhạc, trước đó vậy.”

[...]

Trước khi chấm dứt bài viết về con “Thiên lý mã” của dòng âm nhạc miền Nam, 20 năm, chúng tôi muốn ghi lại ở đây, mối tình của họ Nguyễn với một người con gái, nơi quê hương của ông. Ðó là người được xác nhận là linh hồn của ca khúc “Về Mái Nhà Xưa,” một trong những ca khúc “tìm về” mà, tôi cho là hay nhất và, cũng cảm động nhất của nền tân nhạc miền Nam 20 năm.

Quý độc giả theo dõi bài viết này hẳn còn nhớ, Tây Ninh là nguyên quán của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông. Gia đình ông nguyên là điền chủ ở Huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Mỗi năm, vào những dịp giỗ chạp lớn, ông được cha mẹ cho về nguyên quán. Gần bên ngôi từ đường của dòng họ Nguyễn, là nhà ông Hương Cả, một chức sắc lớn nhất làng. Ông Hương Cả có một cô con gái xinh đẹp. Hai bên gia đình cùng giao ước kết thông gia khi hai trẻ lớn lên. Khi ấy tác giả “Về Mái Nhà Xưa” và cô bé kia, mới trên dưới 10 tuổi. Ở tuổi niên thiếu này, cả hai chỉ biết hẹn hò trèo cây, hái trái, hay chơi trò trốn bắt... (Những kỷ niệm ấy là tố chất cho họ Nguyễn sau này, viết được ca khúc nhan đề “Ðom Ðóm”). Tuy thơ dại nhưng tình bạn thắm thiết cũng đã đủ gây thành men nhớ nhung và, đôi khi nước mắt, cho mỗi lần đôi trẻ phải chia tay.

Họ Nguyễn kể, khi cách mạng mùa Thu 1945 bùng nổ, ông Hương Cả bị đưa ra trước tòa án nhân dân; lãnh bản án “cường hào ác bá.” Ông bị xử bắn. Xác ông bị thả trôi sông. Riêng cha mẹ nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông từ Saigon tản cư về, thì bị liệt vào hàng “địa chủ ác ôn.” Ông bà bị bắt làm tù lao công khổ sai. Tịch biên tài sản; sung vào quỹ kháng chiến. Gia đình ly tán. Cửa nhà tan nát. Dôi trẻ trôi giạt, mỗi người một phương. Họ bặt tin nhau!

Cuối thập niên 50, nhớ thương bạn, họ Nguyễn cải trang tìm về chốn cũ... Tận mắt nhìn thấy cảnh xưa điêu tàn và, những người làng còn lại, không một ai cho ông chút tin tức nào về người con gái của ông Hương Cả! Về lại Saigòn, họ Nguyễn viết:
“Về đây ngơ ngác chim bay tìm đàn - Về đây hoang vắng lạnh buốt cung đàn - Tôi lắng nghe tâm tình nhân thế - qua đáy tim chưa đục sông mê (4) - qua ước mơ duyên tình đơn sơ - Về đây đâu phút xưa vui sum vầy - thềm hoang thêu nắng, phượng thắm rơi đầy - anh có nghe trong lòng thu chết - bao lá khô phai nhạt hương đêm - tan tác bay phiêu bạt giữa trời quê - Nơi xưa quê nghèo, nhà tranh nát tiêu điều - tình xưa khôn hàn gắn - người đã đi rồi - người về đâu có hay - đâu vòng tay đắm say?...” (Trích “Về Mái Nhà Xưa.”)

Tôi vẫn nghĩ, những người sinh trong hai thập niên 1930 và, 1940 ít, nhiều đều là nạn nhân của cuộc chiến miền nam 20 năm. Ðổ vỡ, chia ly, tuyệt vọng... là thuộc tính của hoàn cảnh loạn ly này. Nên, tôi mong, người phụ nữ, linh hồn của ca khúc vừa kể, nếu còn đâu đó, tình cờ đọc được những hàng chữ này, xin hiểu rằng, cách gì, sự lỡ làng một đời của bà, chí ít cũng được ghi dấu trong sự nghiệp âm nhạc phong phú, bất tử của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông... Trong khi hàng ngàn, hàng triệu những cuộc tình ly tan, oan khốc khác, cũng chìm vào quên lãng. Dù những cây phượng vĩ, mỗi năm vẫn cho chúng ta những cánh hoa rực rỡ, và, những chiếc lá khô vẫn tiếp tục “phai nhạt theo hương đêm” vậy.

Du Tử Lê
(22 Tháng Mười Hai, 2009)

Chú thích:

(4) Câu hát “qua đáy tim chưa đục sông mê,” có bản chép là “qua trái tim chưa đọng song mê,” theo tác giả là sai và, vô nghĩa. Giải thích về hai chữ “song mê,’ họ Nguyễn kể, Tây Ninh, nguyên quán của tác giả, có Thánh Thất Cao Ðài, rất nổi tiếng. Theo các vị trưởng lão, tín đồ Cao Ðài thì chuyện luân hồi, hóa kiếp theo truyền thuyết của đạo Cao Ðài, có thể tóm tắt như sau:

Con người khi chết, ai cũng bị quỷ sứ dắt hồn xuống âm phủ, để Diêm Vương xét công, luận tội. Kẻ ác bị đưa vào địa ngục thọ hình. Người tốt được trở lại trần thế, làm người. Trên đường đi hóa kiếp, quỷ A tu la dẫn hồn đến một nơi gọi là bến Mê, rồi băng qua một chiếc cầu gọi là cầu Giải kiết. Cầu này bắc ngang qua sông Mê. Ðến giữa cầu, quỷ A tu la xô hồn xuống sông. Hồn gào thét vùng vẫy kêu cứu, làm vẩn đục cả dòng sông. Khi hồn kiệt sức, ngất đi, lúc đó, quỷ A tu la mới vớt hồn lên dẫn đi tiếp về dương gian. Từ đó, hồn không còn nhớ gì về kiếp trước của mình nữa...


......../.