DỦ HỌC DỦ NGU




DỦ HỌC DỦ NGU

Nguyễn Đức Lập


https://www.facebook.com/notes/711938205519010/







  Nghe cái câu “dủ học dủ ngu”, càng học càng ngu, dễ mấy ai tin được.  Càng học thì càng phải khôn ra, cũng như gừng, quế, “dủ lão dủ tân”, càng già càng cay, mới phải cho chớ.
  Hồi nhỏ, tôi học chữ Nho với thân phụ. Cha thì dạy nghiêm túc, nhưng thằng con thì học lơ là, lại thêm cái tánh cắc cớ, rắn mắt đã quen, nên nhiều khi nó cố tình cắt nghĩa những câu chữ Nho học được theo ý của nó để cười chơi. Học tới câu “dủ học dủ ngu”, tôi đã dám ngồi xếp bằng chễm chệ, đã nói là cái tánh rắn mắt cắc cớ đã quen mà, cắt nghĩa cho thằng em tôi như vầy:  - “Dủ học dủ ngu” là “càng học càng ngu”, thành ra, trò học ít thì trò ngu ít, trò học nhiều thì trò ngu nhiều, mà trò không học thì trò không ngu.  Thằng em gật đầu khoái trá. Ai dè cha tôi đang đứng sau lưng. Tôi bị năm roi quắn đít và học một bài học nhớ đời: “Chữ nghĩa thánh hiền không thể đem ra đùa giỡn được.”
Không biết ông Mai Thảo có học một bài học để đời như tôi vậy chăng, nhưng ông cũng nói y như vậy, chỉ có điều ông không dùng “chữ nghĩa thánh hiền”, mà ông dùng hai chữ “văn chương”. Ông nói: “Đối với văn chương phải nghiêm túc, không đùa giỡn được”. Ông có thể lơ ngơ thất thểu ngoài đường phố, đi bộ mà cũng bị cảnh sát công lộ phạt vì tội phạm luật lưu thông. Ông có thể lè nhè nơi tiệm rượu khiến con nít giỡn mặt. Nhưng, khi viết, ông viết rất nghiêm túc, không bao giờ đùa giỡn với văn chương.
  Bị đòn, bị học một bài học để đời, nhưng với tuổi trẻ háo thắng, tôi không bao giờ tin rằng “càng học càng ngu”. Tin làm sao được khi con đường học vấn cứ thẳng tắp, lấy hết văn bằng nầy tới văn bằng kia và ra trường với một nghề vững chắc trong khi mặt còn non choẹt, còn búng ra sữa, phải xin phép cha để râu mép, cho được già giặn thêm một chút (phải xin phép để râu vì cha tôi quan niệm rằng: “cha chưa chết, con không được để râu”). Cho tới khi lăn lộn ngoài đời, tôi mới biết rằng có rất nhiều điều mà học đường và sách vở không hề dạy. Học đường học chợ, học trên báo chí, nghe lóm những bậc trưởng thượng, thấy kiến thức của mình “thiên bất đáo, địa bất chí,” càng học càng thấy ngu. Chưa cần nói tới những chuyện trời cao, đất rộng, biển thẳm, núi cao, sông dài chi cho xa, chỉ những câu ca dao, những câu hát ru em, huê tình, tai vẫn nghe hoài, miệng cũng có khi hát, tưởng rằng đã hiểu cháo chan, ai dè biết ra, không hiểu một cái gì hết.
  Hồi nhỏ, chị tôi ru em, vẫn thường hát câu: “Chim quyên ăn trái ổi tàu. Xứng đôi mẹ gả, ham giàu làm chi”. Tôi nghe câu nầy tới thuộc lòng mà không hề thắc mắc. Dễ quá mà, “ổi tàu” là giống ổi ở bên Tàu chớ còn gì nữa. Giống ổi ở bên Tàu, dĩ nhiên, phải lớn hơn, phải ngon hơn ổi bên mình, cũng giống như con ngựa to lớn thì được gọi là ngựa Bắc Thảo, con gà, con vịt to con, được gọi là gà Tàu, vịt Tàu… Không hề thắc mắc như vậy, cho mãi tới hơn nửa đời người, đọc được một bài của ông Võ Phiến, mới biết rằng “ổi tàu” ở trong câu hát không phải là giống ổi bên Tàu, mà là một loại cây hoang, mọc thành từng lùm, từng bụi ở mấy vùng đất gò miền Trung. Cây nầy ở miền Bắc gọi là hoa cứt lợn, còn ở cái xứ “chó ăn đá, gà ăn muối” của tôi thì gọi là bông ngũ sắc. Tôi đã từng hái trái của nó, lớn chỉ bằng hột tiêu, để ăn, đã từng hái những cái bông của nó để hút chất mật ngọt ngọt ở cuống bông, mà đâu biết tên của nó là ổi tàu. Mẹ tôi vẫn thường hái bông ổi tàu nầy, chưng với đường phèn, cho anh em tôi uống, mỗi khi bị ho.
  Có một câu hát ru em nữa, mà tôi cũng nghe đi nghe lại hoài: “Trách ai ăn giấy bỏ bìa. Khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xa”. Câu nầy thì tôi có thắc mắc. Giấy thì làm sao mà ăn? “Ăn giấy bỏ bìa” là làm sao? Tại sao hạng người “ăn giấy bỏ bìa” khi thương lại thương vội, khi lìa lại một mạch lìa luôn theo kiểu “hạ thủ bất lưu tình?”. Tôi đem những thắc mắc nầy hỏi nhiều người.  Kể cả những ông thầy dạy Việt văn, nhưng không có ai trả lời nghe xuôi tai được. Cho mãi tới sau khi đổi đời, “giả dại qua ải” (mà chút xíu nữa thành dại thiệt), tôi về ở rẫy, tôi mới nghe được giải thích một cách thỏa đáng câu hát nầy. Người dạy tôi là bà Ba Thời. Bà nầy cạo đầu, ăn chay trường, tu tại gia, không ăn trầu, nhưng hút thuốc phun khói còn hơn đầu máy xe lửa. Bà có biệt tài chữa bịnh bằng phương pháp cắt lể rất mát tay. Nhiều người, trong đó có tôi, nhờ bà chữa trị mà lành bịnh. Đặc biệt, bà có ba con dao để lể, một cái bằng vàng, một cái bằng bạc, một cái bằng đồng, cái nào cũng chỉ lớn bằng cây móc tai. Tùy theo con bịnh nặng nhẹ mà bà dùng con dao nào để lể. Bà, người nẩm thấp, hơi nới về chiều ngang, mấy ngón tay mủm mỉm no tròn như nãi chuối cao, nhưng cắt lể cho bịnh nhơn, bà làm coi bộ gọn gàng, nhặm lẹ khéo léo lắm. Tôi khoái nhất là cái màn được bà xe xe mấy sợi tóc, rồi giựt nghe cốc cốc.
  Đọc tới đây, xin độc giả đừng vội lên án tôi là tuyên truyền đề cao những phương pháp chữa bịnh thiếu khoa học hay đúng theo khoa học, biết làm sao mà nói cho cùng. Tôi viết ra đây là theo những điều chính tôi đã từng trải qua, theo kiểu “thấy mà tin”, chớ không hề thuyết phục ai phải tin theo mình cả. Hồi 77, 78, trong nước bị khủng hoảng kinh tế nặng, một trăm thứ bịnh đều chữa bằng xuyên tâm liên, sống ở rẫy, nếu không có những người như bà Ba Thời, bà Tám Thông, có lẽ tôi đã ấm mồ xanh cỏ từ lâu. Bà Tám Thông cũng chuyên về giác lể như bà Ba Thời, nhưng hành nghề chánh thức. Mỗi ngày, bà quảy gánh, đem đồ nghề ra chợ Phú Mỹ (nằm trên quốc lộ 15, đường Sài Gòn-Vũng Tàu), giác lể, ăn tiền. Bà Ba Thời chỉ cắt có một vết nhỏ, rồi nặn ra một chút máu. Bà còn dùng bông gòn sạch, tẩm dầu tràm, chặm lên vết thương đàng hoàng. Còn bà Tám Thông, sau khi cắt, dùng bầu thủy tinh giác hơi để hút máu. Bà nầy làm ăn rất bầy hầy. Bà dùng một nùi giẻ rách bươm, lau máu lau vết thương cho bịnh nhơn. Không biết một năm bà giặt được mấy lần, nùi giẻ dơ hầy, hôi rình. Bởi lối chữa bịnh của bà Tám Thông làm mất máu nhiều quá, trong thời buổi ăn khoai mì cầm hơi, một giọt máu còn quí hơn vàng và bởi cái lối làm ăn của bà thiếu vệ sinh quá, nên tôi chỉ nhờ bà ra tay có một lần. Độ ấy, cứ chiều chiều là tôi cảm thấy bị ớn lạnh, tay chân bải hoải. Bịnh kéo dài cả tháng không hết. Một người hàng xóm là thiếm Sáu Liệt, nói tôi bị trúng nước, nếu không chữa trị cho sớm, để lậm vô phổi, thì chỉ có “bà cứu nị”. Và, thiếm giới thiệu tôi tới bà Tám Thông. Vừa nằm dài, đưa lưng trần cho bà cắt giác, mà tôi nhờm gớm cái gì đâu. Tôi nhủ thầm là tự hậu, không bao giờ tới bà lần thứ hai. Quả thiệt như vậy, tôi không tới gặp bà một lần nào nữa, vì chỉ một lần chữa trị đó, bịnh hết hẳn. Mấy chuyện như vậy, biết nói sao cho cùng?
  Cái chuyện cắt lể khiến cho tôi nói sang đàng, xin trở về đề tài “ăn giấy bỏ bìa”. Bữa ấy, tôi ráng lặn lội qua nhà bà Ba Thời để nhờ bà trị cho cái chứng thiên đầu thống, đau đầu có một bên. Bà lấy cây kim vàng ra lể. Nói không phải để quảng cáo cho bà, bà chữa bịnh đâu có nhận tiền thù lao, chỉ cứu nhơn độ thế mà thôi, vả chăng, bà mất đã mười năm có lẻ, cát bụi trở về với cát bụi lâu rồi, đâu cần tôi phải quảng cáo. Bà cắt lể, giựt tóc nghe cốc cốc cho tôi một hồi, bịnh mười phần nhẹ hết tám, chín. Bà chỉ vô cái võng treo tùng tơn ở góc nhà, biểu tôi: “Thằng Tám mầy nằm đó, đánh một giấc đi. Ngủ một giấc, mầy sẽ hết nhức đầu luôn”. Nằm trên võng, chưa ngủ được, tình cờ mà tôi học được thế nào là “ăn giấy bỏ bìa”. Ngồi trên bộ ván ngựa, bà Ba Thời trải rộng tờ giấy quyến, lớn bằng tờ nhựt trình khổ lớn. Bà cẩn thận xếp đôi chiều dọc của tờ giấy, bà xếp đôi lần nữa, rồi lại xếp đôi nữa. Bà dùng dao rọc theo những lằn xếp. Tờ giấy, như vậy, được rọc ra thành tám mảnh, chiều dài vẫn giữ y nguyên. Tự nhiên, bà nói: - Rọc giấy như vầy kêu bằng ăn giấy. Miếng giấy tao rọc làm tám vun, kêu bằng ăn tám. Nhiều người hà tiện rọc thành mười sáu vun, kêu bằng ăn mười sáu. Nhưng giấy ăn mười sáu, điếu thuốc ngắn ngủn, kéo chưa đủ ba hơi đã hết. Tao thà chịu tốn giấy, ăn tám, đặng vấn điếu nào đáng điếu nấy, hút mới đã.
Không chờ không đợi mà tôi mừng còn hơn là khi không mà bắt được vàng thoi bạc nén vì bỗng dưng, bà ngâm nga: “Trách ai ăn giấy bỏ bìa. Khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xa”. Bà cắt nghĩa liền: - Thằng Tám, mầy thấy không? Giấy quyển đâu có bìa, hổng có cái gì đáng phải bỏ hết. Vậy mà có những kẻ ăn giấy bày đặt bỏ trên, bỏ dưới, bỏ tả, bỏ hữu. Những kẻ ăn giấy bỏ bìa ấy chánh thị là ba cái quân điệu bộ kiểu cách lãng nhách, mà lại kiêu càng phí phạm bạc hãnh không ai bằng. Bà ngậm ngùi ngang: - Tao khổ gần một đời cũng vì ba cái quân “ăn giấy bỏ bìa” nầy đây… Bị, hồi đó, tao nghèo quá…
  Té ra, giấy ở đây là giấy quyến để vấn thuốc và ăn giấy là như vậy đó, chớ giấy không có lẽ bỏ vô miệng mà ăn được. Và, có nghe bà Ba Thời giải thích như vậy, tôi mới hiểu được tại sao cái kẻ “ăn giấy bỏ bìa” lại “khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xa.” Khi tôi cảm ơn vì đã học được, đã được giải thích tường tận những điều thắc mắc ôm ấp từ lâu, thì ba Ba Thời cười, khoe hàm răng ám khói vàng khè: - Tao mà dạy cái gì? Chữ nghĩa của tao vừa đủ để ký tên. Đây là tay tao làm, miệng tao nói, cho vui vậy thôi…
  Có người sẽ trách rằng tại làm sao mà tôi lại chấp nhận lời giải thích của một người phụ nữ quê mùa ít học một cách dễ dàng như vậy. Trách tôi thì tôi chịu. Thú thật, tôi vẫn còn đem những thắc mắc về cái câu “ăn giấy bỏ bìa” ra hỏi nhiều người lắm, có người là nhà ngữ học lừng danh nữa, nhưng không có ai giải nghĩa được hết. Có một lần, đọc trên một tờ báo, nơi mục giải đáp thắc mắc, tôi thấy có người cũng thắc mắc về cái câu “ăn giấy bỏ bìa”, hỏi rằng giấy làm sao mà ăn được. Người giữ mục giải đáp đã trả lời rằng câu đó sai rồi, phải sửa lại là “trách ai được giấy bỏ bìa” mới đúng. Đọc tới đó, tôi bỗng ngậm ngùi, vì phải ai cũng có cơ duyên gặp được bà Ba Thời như tôi vậy đâu. Bà, bây giờ, đã ra người thiên cổ, một chữ cũng là thầy, huống hồ, bà còn dạy cho tôi nhiều điều khác nữa.
  Có lần, bà mời tôi hút thuốc, bà nói thuốc ngon lắm. Thuở đó, chuyện hút thuốc, tôi còn là tay mơ, cứ tưởng thuốc ngon là thuốc nhẹ lâng lâng, như kiểu thuốc vàng sợi ở Lạng Sơn. Nào dè, thuốc của bà, mới rít vô một hơi, tôi đã muốn bể phổi, ho sặc ho sụa. Té ra, thuốc ngon là thuốc nặng, có biết như vậy rồi, mới hiểu được tường tận ý nghĩa câu “thuốc ngon nửa điếu”. Trời ơi, thuốc ngon cỡ như thuốc của bà Ba Thời, mà chỉ còn có phân nửa, quện nhựa của nửa điếu thuốc trước, thì… ngon kể gì. Tôi có cơ duyên may mắn gặp được bà Ba Thời và có gặp được bà rồi mới biết mình còn ngu nhiều lắm. Có nhiều câu thành ngữ, nghe người ta nói, hay đọc trong báo chí, sách vở, riết rồi quen, tôi cũng nói y theo như vậy, không cần biết trúng trật, không cần nghiệm coi nó có hợp lý hay không. Thí dụ như câu “một kiểng hai quê.” Câu nầy, người ta vẫn thường nói và tôi vẫn thường nói theo, để chỉ người đờn ông có hai vợ. Một dịp tình cờ, tôi nghe chị Mũ Đỏ Võ Thị Vui nói khác. Chị Vui là một phụ nữ, có một thời ngang dọc, là một sĩ quan nổi tiếng trong binh chủng Nhảy Dù. Chánh chị làm quan, chứ không phải làm quan tắt. Chị bày tỏ ý kiến một cách nhẹ nhàng, không cần thuyết phục người nghe: - Phải nói là “một kiểng hai huê mới đúng.” - Huê là hoa. Vì kiêng bà Hồ Thị Hoa là vợ vua Minh Mạng, nên chữ “hoa” phải đọc là “huê”, ở miền Trung, có nơi còn đọc là “ba”, miền Nam thì nói là “bông.” Bữa chị Vui nói đó, có mặt cả nhà thơ Lê Giang Trần. Nhà thơ nầy có nghĩ gì không, tôi không biết, riêng tôi, nghe xong, tôi giật mình. Té ra, bấy lâu nay, mình quen miệng nói theo người ta, trật lất mà mình không biết. Một chậu kiểng mà trồng hai loại hoa khác nhau, để chỉ người đờn ông hai vợ là phải quá rồi. Từ cái câu “một kiểng hai huê,” mới hợp với câu ca dao: “Một bồn một kiểng tươi xanh. Một chàng, hai thiếp, khổ anh nhiều bề”. Tại sao mà khổ dữ vậy? Tại vì: “Một chàng hai thiếp, anh xử hiếp tôi rồi Tối, buồng ai nấy ngủ; gạo, hai nồi nấu riêng”. Đó, như đã nói, có nhiều câu nhiều chữ, nói riết thành quen, rồi hiểu cũng theo một thói quen, không cần tìm tới tận gốc cái nghĩa đích thực của nó.
  Hồi nãy, tôi nói tới chữ “ổi tàu,” bây giờ, xin nói tới “thịt kho tàu.” Hồi trước, chỉ có người miền Nam mới biết món thịt kho tàu, ăn với dưa giá trong mấy ngày tết. Bây giờ, bất kỳ Bắc, Trung, Nam không mấy người là không biết món thịt kho tàu. Kho làm sao, không ướp hành ướp tiêu gì hết, mà vẫn thơm tho? Kho làm sao mà miếng thịt mềm rục nhưng không nát? Kho làm sao mà không bỏ nước màu, nước thịt vẫn tươi màu nâu đỏ, trong khe? Mấy điều nầy, xin hỏi mấy bà nội trợ lành nghề. Tôi chỉ nói về điều tôi học được về “thịt kho tàu”. Ăn món thịt kho nầy từ hồi mới mọc ba cái răng cửa, tới hơn nửa đời người, tôi vẫn cứ đinh ninh món nầy là món của người Tàu. Thịt kho tàu là món thịt kho của người Tàu, chắc nhiều người cũng nghĩ như tôi vậy. Nghĩ riết như vậy rồi quen, không hề thắc mắc rằng trong các tiệm ăn do người Tàu làm chủ và đứng làm đầu bếp chánh, kể cả các tiệm ăn bình dân, không hề có món thịt kho tàu, ghi trong thực đơn. Mà thiệt, gẫm cho cùng, bên Tàu, xứ lạnh, làm gì có cây dừa, để có nước dừa tươi đổ vô nồi thịt kho. Mãi cho tới khi đọc một bài của ông Bình Nguyên Lộc, viết cho các em thiếu nhi, mới hiểu rằng chữ “tàu” ở đây, theo nghĩa của người “miền dưới” là “lạt”, như sông cái Tàu thượng, sông cái Tàu hạ, là hai con sông nước lợ. Té ra, kho tàu là kho lạt chớ không phải là kho theo kiểu người Tàu.
  Cũng nói quen miệng mà không cần tìm hiểu là “cây lẻ bạn”. Lẻ bạn là loại cây giống như cây thơm, cây dứa, nhưng thấp hơn, nhỏ hơn, cao độ hai tấc, hai tấc rưỡi là cùng. Tàu lá lẻ bạn màu tím than, bông mọc ra ở dưới gốc, giống như hai cái vỏ sò khép lại. Khi bông nở, hai mảnh hé ra, nhụy là những hột trắng tươi. Ở miền Nam, người ta thường trồng cây lẻ bạn ở những gò mả, ngụ ý một sự thương tiếc ngậm ngùi, người sống cũng lẻ bạn, người chết cũng lẻ bạn. Đó là tất cả những gì mà tôi biết, tôi hiểu về cây lẻ bạn. Tôi chưa một lần trồng cây lẻ bạn bên mộ của ai, nhưng tôi thích cái ý nghĩa nầy. Nào dè, tôi biết, tôi hiểu trật lất. Đọc cụ Vương Hồng Sển mới biết cây nầy tên nó không phải là cây “lẻ bạn”, mà là “lão bạng”, lấy từ câu “lão bạng sanh châu” (con trai, con sò già, sanh ra ngọc). Sở dĩ, cây gọi là vậy vì bông của nó giống như hai vỏ sò úp lại và khi nở bàng nhụy trắng tinh bên trong như những hột minh châu. Cụ Vương còn cho biết ở vùng Ngũ Hành Sơn ở Quảng Nam, cây lão bạng mọc làng khang. Biết thêm một điều gì, đỡ ngu thêm một chút. Nhưng, trường hợp của cây lão bạng nầy, tôi nghĩ, thà là không biết còn hơn. Bấy lâu, tôi vẫn thấy bụi cây màu tím đó, mọc bên cạnh một ngôi mộ, là một hình ảnh nên thơ, nói lên một ý nghĩa thương tiếc ngậm ngùi. “Lẻ bạn” bỗng trở thành “lão bạng”, hình ảnh nên thơ, chan chứa tình cảm đó, bỗng dưng biến mất…
  Tôi, bây giờ, “ai đem tiêu muối vãi lên đầu” rồi, mà muối nhiều hơn tiêu, ngồi mà tiếc lại thời gian đã qua, bỏ lỡ nhiều dịp may để mà học. Nhưng, tiếc là tiếc vậy thôi chớ làm sao níu kéo lại được thời gian. Thế giới càng ngày càng văn minh tấn tới. Khoa học kỹ thuật tiến triển một cách mau lẹ tới mức không theo kịp, tôi vẫn nuôi tham vọng muốn học nhiều, nhưng ngày giờ có chừng, sức người có hạn, học làm sao cho hết. Bà Ba Thời đã về với cát bụi, các ông Bình Nguyên Lộc, Vương Hồng Sển cũng không còn, nhưng các bạn trẻ tấn tới, cái kiến thức về khoa học kỹ thuật của họ, học biết bao giờ rồi? Đức Khổng Tử dạy rằng: “Vi nhơn nan” (làm người thì khó). Nội cái chuyện học để sống làm sao cho ra con người, xứng đáng là một con người, cũng đã hụt hơi.
  Tôi lớn lên trong phong trào Hướng Đạo. Luật phong trào dạy “trong sạch từ tư tưởng, lời nói, tới việc làm”. Cho tới ngày giờ nầy, điều luật vẫn làm cho tôi lao đao, chỉ biết giữ câu châm ngôn “gắng sức” của Sói con, để cho ngựa đừng trở chứng đạp rào. Đức Phật là người đi mà không đến. Cái học của tôi cũng vậy, học thầy học bạn, học sách học báo, học đường học chợ, chỉ đế là học. “Dủ học dủ ngu”. Ngày xưa, thầy Tử Lộ hỏi đức Khổng Tử khi nào thì chấm dứt sự học. Vị Vạn Thế Sư Biểu đã trả lời rằng: - Khi huyệt đã đào nhẵn nhụi rồi, đất đã đắp chắc chắn rồi, người đi đưa đã quay chưn lui gót rồi, lúc đó mới hết học. Và, cái học khó nhứt vẫn là học để sống làm sao cho ra con người…


........../.

Sự Điên Loạn của Hoàng Đế Stalin







Sự Điên Loạn của Hoàng Đế Stalin
http://www.gocnhinalan.com/bai-tieng-anh/su-dien-loan-cua-hoang-de-stalin.html

Tác giả: Alistair Cooke
Theo BBC Vietnamese – 15/6/2007
A-stalinR
Một bức tượng của Stalin “được” Hội đồng thành phố quê nhà Gori (Gruzia) đưa từ Quảng trường trung tâm về “cất” trong một nhà kho.


Alistair Cooke, qua đời năm 2004 ở tuổi 95, là một trong những nhà báo được yêu mến nhất của Anh quốc. Khi ông qua đời, quyền tổng giám đốc BBC khi đó, Mark Byford, mô tả ông Cooke là “một trong những phát thanh viên vĩ đại nhất trong lịch sử đài BBC.”
Xin giới thiệu trích đoạn một lá thư của Alistair Cooke, phát thanh ngày 20-6-2003, với tựa đề “Bạo chúa điên loạn và độc ác nhất”, tìm hiểu vì sao nhiều người Mỹ, Anh vẫn miễn cưỡng khi lên án Stalin, người đứng đầu Liên Xô từ thập niên 1920 đến 1953.


Đến cuối thập niên 1920, Stalin đã sẵn sàng và đủ quyền uy để thực hiện một, hay đúng hơn là hai kế hoạch.
Một là hiện đại hóa công nghiệp và hai là buộc mọi người nông dân, lớn hay nhỏ, giàu hay lụn bại, phải nộp tài sản cho sở hữu tập thể.
Mọi nông trại sẽ bị quốc hữu hóa và đảng – những người Bolshevik ở Moscow thông qua các lãnh đạo vùng – sẽ biến từng người nông dân thành một kẻ tôi tớ có hợp đồng, cày sâu cuốc bẫm để rồi vụ thu hoạch sẽ được phân phát theo sự trung thành của anh với đảng.
Ngay từ đầu, đây là một vấn đề tính cách cho Stalin.
Từ hồi thanh niên, ông ta đã điên loạn. Từ những ngày đầu trong đảng, mắt ông đã láo liên, tai vểnh lên, mọi giác quan đều được huy động để tìm kiếm kẻ bội phản.
Điều này có nghĩa là trong một nhà máy, một người không đúng giờ giấc, một người không biết dùng máy móc mới, bất kì ai để máy hỏng đều bị xem là kẻ phản bội và bị bắn.
Kế hoạch tập thể hóa gặp phải một trở ngại to lớn – hơn 70% của cái gọi là dân vô sản là người nông dân, mà đa số không hề muốn giao nông trại cho cán bộ địa phương.
Ukraina là khu vực rất trù phú, là vựa lúa mì cho một nửa dân số Liên Xô. Những người nông dân cứng cỏi, độc lập ở đây đã nổi loạn chống tập thể hóa.
Stalin biết rõ phải làm gì – không thương lượng, không thỏa hiệp – ông ta đơn giản ra lệnh cho quân đội thu giữ lương thực và hạt giống của nông dân.
1933 là năm đầu tiên đánh dấu chiến thắng của Stalin trong việc thi hành kế hoạch tập thể hóa.
Trong năm đó, 4.2 triệu người Ukraina chết đói, 1.7 triệu người khác bị đầy đến các trại và bị bỏ mặc, để mùa đông giết chết họ.
Không một nhà báo phương Tây nào tôi biết có bài về Ukraina để gửi cho báo của họ.
Chúng ta quả thực có đọc về những phiên xử công khai các phóng viên, đảng viên, trí thức, những người bị nói là đã âm mưu chống đảng. Chắc chắn một số chống đảng, nhưng toàn bộ họ đã bị thanh toán.
Tại London, nhà văn Bernard Shaw bình luận: “Stalin đã đúng, ông bị kẻ thù bao vây.”
Stalin chắc hẳn hết sức tán đồng, ông ta bị nỗi lo ngại ám sát ám ảnh.
Tại Yalta, trong khi Roosevelt có hai vệ sĩ và Churchill một thám tử, Stalin sống và di chuyển cùng cả một sư đoàn lính và vệ sĩ Nga.
Ông ta ngủ vào ban ngày – ban ngày là lúc rủi ro nếu anh để lộ mình.
Ông thức dậy vào đầu giờ tối, ngồi xuống, nhấp ly vodka đầu tiên, và bắt đầu cái mà tôi từng gọi là chữ ký hoàng hôn – tức là lệnh hành quyết: hôm nay, một anh rể; ngày mai đốt sáu ngôi làng; ngày hôm sau nữa, nhờ vào chỉ điểm của một đại sứ rằng hai sĩ quan Nga có âm mưu phản loạn, Stalin ra lệnh bắn luôn 2000 sĩ quan từ cấp tá trở lên vào lúc rạng sáng.
Không lâu sau khi Thế chiến Hai bắt đầu, các văn phòng nước ngoài bắt đầu tính toán xem Stalin đã giết bao nhiêu người. Không kể số thương vong vì trận mạc.
Người Anh đoán chừng bảy, tám triệu.
Những người theo quan điểm tự do tiến bộ ở cả Anh và Mỹ miễn cưỡng, không muốn tin rằng ông ta đã hành quyết người vô tội, mà chỉ là những phần tử chống đảng nguy hiểm thực sự.
Bộ Ngoại giao Mỹ, quá lo ngại về chủ nghĩa Cộng sản, đoán là có 20 triệu người.
Cho mãi đến khi chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ năm 1991, người Nga mở kho tài liệu. Con số đúng của Kremlin là 27 triệu.
Vì sao những người Anh, Mỹ bình thường, có học thức, đàng hoàng lại có chung quan điểm về hai kẻ độc tài?
Hitler được xem là kẻ điên loạn và quái vật, Stalin là một lãnh đạo rất nghiêm khắc và có lẽ hơi tàn nhẫn trong đối xử với kẻ phản loạn, nhưng không đến mức là kẻ diệt chủng tàn ác như Hitler.
Quan điểm này có ở những người theo quan điểm tự do tiến bộ, đàng hoàng trong thập niên 1930, 40, 50 và nhiều người còn giữ nguyên nó cho mãi đến sự sụp đổ của Liên Xô.
Tôi tin rằng có hai lý do – đặc biệt trong và sau Thế chiến Hai – khiến Stalin có vẻ như là một nhà kỷ luật khắt khe đáng sợ hơn là kẻ điên loạn và độc ác nhất trong các bạo chúa.
Tầm mức các tội ác của Stalin, khi ấy mới là tin đồn, quá kinh khủng khiến con người không tin nổi.
Nhưng trên hết, tôi nghĩ, đó là chiến thắng tuyên truyền về một sự cai trị tuyệt đối mà chỉ có thể phá vỡ khi lãnh tụ qua đời đột ngột.
Mọi bộ phim, tấm ảnh về tình hình các nơi đều chỉ được công bố sau khi đã chịu kiểm duyệt.
Mọi thứ phải được ngăn chặn – mọi hình ảnh của trại lao động khổ sai, phòng tra tấn, đội hành quyết, ngay cả hình ảnh về đời sống khổ cực hàng ngày của nhân dân, dòng người xếp hàng mua bánh mì, xà phòng, mọi thứ ngoại trừ những trang trại mẫu dựng lên để khoe với khách nước ngoài.
Tổng kết lại, có thể nói thế này: có thính giả nào lại chưa thấy cả trăm lần những bộ xương người ở Dachau, Buchenwald, Auschwitz?
Nhưng bạn đã thấy một tấm hình nào chụp cảnh những viên đại tá nằm chết trên mặt đất, hình những ngôi làng đỏ lửa và các tử thi bốc khói, hình vụ hành quyết một viên tướng, một con rể, hình của bất kì người nào trong 27 triệu người chết?
Kết quả là chúng ta nhìn thấy Hitler với viễn kiến điên rồ, thành thật của y về chủng tộc hoàn hảo.
So với Stalin – kẻ điên của thế kỷ – Hitler chỉ là một hướng đạo sinh loạn trí.
Alistair Cooke



........./.

Chuyện xưa Sài Gòn



Chuyện xưa Sài Gòn - 1


http://dannews.info/2014/06/17/chuyen-xua-sai-gon-1/


 [...] năm 1976, Sài Gòn bị đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh, nhưng đó chỉ là cái tên bắt buộc dùng cho việc liên quan đến giấy tờ. Người Việt dù đi tận chân trời góc biển hay sống tại quốc nội đều gọi Sài Gòn bằng chính cái tên gốc thân thương, gần gũi.

Loạt bài Dân News giới thiệu sau đây sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm về một “Sài Gòn xưa” nghĩa là từ năm 1975 về trước.


Phần I- Sài Gòn với người Hoa
Có thể nói, bất kỳ một ngôn ngữ trên trái đất này cũng đều trải qua hình thức vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Ảnh hưởng về văn hóa là một trong những tác động chính trong việc vay mượn về ngôn ngữ. Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, chính trị và xã hội trong việc hình thành ngôn ngữ vay mượn. Miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng vốn là một “vùng đất mở”, dễ dàng hòa nhập với các nền văn hóa khác từ tiếng Tàu, tiếng Pháp và cuối cùng là tiếng Anh. Có thể lấy bài hát Gia tài của mẹ của Trịnh Công Sơn để giải thích sự vay mượn của ngôn ngữ Việt: “Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày…”. Như vậy, Việt Nam đã trải qua ba thời kỳ ảnh hưởng, lần lượt theo thứ tự thời gian là của Tàu, sau đó đến Pháp và cuối cùng là Mỹ trong những năm chiến tranh gần đây nhất.





Trước hết, xin được bàn về ảnh hưởng của Trung Hoa mà ta thường gọi nôm na là Tàu cùng những biến thể như Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc. Gia Định Báo (số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870) giải thích:

“…An-nam ta kêu là Tàu, người b
ên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v… Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…”.
“…Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ An-Nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…”.
“…Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-Nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-Nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc …”
Cách giải thích thuật ngữ nói trên của Gia Định Báo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tạm ổn vì đây là một trong những tài liệu xưa có xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê Ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người Hoa. Người Quảng Đông cho là gọi như thế có ý miệt thị, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là chú. Ở miền Nam, “các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn “các chú chệc” người Tiều lam lũ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết có phải vì vậy mới có câu:
Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu!
Người Tiều lại chê dân Quảng không biết ăn cá. Họ nói món cháo cá Tiều khi ăn có vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sạch bên ngoài, giữ lại nguyên si vảy, đầu và cả ruột! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những món cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua… và nhất là món hủ tíu Tiều Châu. Người ta còn dùng các từ như Khựa, Xẩm, Chú Ba… để chỉ người Tàu, cũng với hàm ý miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi: phụ nữ Tàu được gọi là thím xẩm còn nam giới thì lại là chú ba.



Năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) đã có một quyết định khá táo bạo, buộc tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất. Thương nghiệp tại miền Nam sau thời Pháp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soát của Hoa kiều. Vì vậy, chính phủ cố tạo sức mạnh cho doanh nhân Việt bằng cách hạn chế quyền lợi của người Hoa. Đạo luật 53 cấm ngoại kiều (nhắm vào Hoa kiều) tham gia 11 nghề liên quan đến thóc gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được Chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào tháng 9/1956. Đạo luật này đã làm xáo trộn kinh tế trong nước nhưng đã có tác động mạnh đến nền công thương nghiệp của người Việt vào thời kỳ đó. Đa số người Hoa đã nhập tịch Việt, tính đến năm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ còn khoảng 2.000 người giữ lại Hoa tịch.
Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Cũng vì thế, ở Sài Gòn có câu mỉa mai: “Sống phá rối thị trường, chết chật đường chật xá” để ám chỉ người Tàu khi còn sống lũng đoạn nền kinh tế và đến lúc chết lại tổ chức những đám ma một cách rình rang. Cũng như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese) chứ không nói tiếng Quan Thoại(Mandarin) mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới xử dụng.
Người Sài Gòn thường ví những người “ăn nói không đâu vào đâu” là “nói hoảng, nói tiều” thực ra là “nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quảng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền Nam trước năm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu.
Trên thực tế, người Tàu có đến 5 nhóm Hoa kiều, được gọi là Ngũ Bang tại miền Nam: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (người Hẹ). Trong lĩnh vực ăn uống của Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông rất đậm nét. Người ta thường nói về 4 cái thú: “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật Bản, đi xe Huê Kỳ”. Bên Tàu lại ví von: “Thực tại Quảng Châu, Y tại Hàng Châu, Thú tại Tô Châu, Tử tại Liễu Châu” (Cơm ngon ăn tại Quảng Châu, Áo đẹp may vải Hàng Châu, Vợ xinh cưới ở Tô Châu, Hòm chết chôn không bao giờ mục ở Liễu Châu ). Quảng Châu chính là thủ phủ của tỉnh Quảng Đông.
Kết hợp ý nghĩa của hai câu nói Việt-Trung ở trên ta có thể kết luận: ăn uống theo người Tàu gốc Quảng Đông là hết xảy hay số dzách (số một), những từ ngữ đã quá phổ biến trong xã hội miền Nam. Về sau, vào thời chiến tranh Việt Nam, “số dzách” được cải biên theo kiểu Mỹ thành “nâm-bờ oăn” (number one)! Hành trình của ngôn ngữ xem ra rất thú vị. Nói cho công bằng, bên cạnh số đông các tửu lầu, cao lâu của người Tàu gốc Quảng Đông, ở Sài Gòn Chợ lớn cũng có lai rai một số tiệm Tàu khác như tiệm Hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Tường.
Theo nhà văn Bình Nguyên Lộc, thời trước 1945, các phổ ky trong tiệm Tàu còn có kiểu kêu vào bếp những món ăn thực khách gọi y như người ta gọi “lô-tô” (bingo), dĩ nhiên bằng tiếng Quảng Đông:
- Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít sữa nhiều!
- Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá.
- Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ.
- Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to.
Chủ tiệm thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái tên thuộc loại… “hỗn danh”. Khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông, chẳng hạn như:
- Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc
- Bà hai mập, ba đồng sáu cắc
- Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về
Nổi tiếng tại Sài Gòn xưa có các nhà hàng Đồng Khánh, Arc-en-ciel (sau này đổi tên là Thiên Hồng), Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu… Tại đây còn phục vụ loại “ăn chơi”theo cung cách nhất dạ đế vương. Quả thật người viết bài này chưa bao giờ được “làm vua một đêm” nên đoán trong những bữa tiệc như thế phải có mỹ nữ hầu tửu, thực đơn chắc chắn phải có nhiều món huyền thoại danh bất hư truyền về cái chất bổ dương khích dục đi đôi với các thứ rượu quí như whisky, cognac và Mao Đài tửu (Mao Đài hoàn toàn không có liên quan gì đến Mao Trạch Đông dù ông có dùng rượu này để tiếp đãi các nguyên thủ quốc gia).
Cơm Tàu thường được để trong những cái thố nhỏ nên được gọi là cơm thố, chỉ là cơm trắng dùng chung với các món ăn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cách thủy để cho chín gạo. Thông thường một người ăn chừng một hoặc hai thố là no. Có người lại ca tụng ăn cơm thố chỉ cần chan chút hắc xì dầu (nước tương đen) pha với dấm Tiều thêm chút ớt là đã thấy ngon rồi. Nghĩ lại cũng đúng nhưng nếu ăn kiểu này thì những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dương (hình như ở số nhà 61) chắc đã dẹp tiệm từ lâu rồi!



Cơm chiên Dương Châu cũng là món ăn du nhập từ Quảng Đông. Nhiều người rất khoái cơm chiên nhưng ít người biết từ khởi thủy đây chỉ là món tổng hợp các thức ăn dư thừa được chế biến lại. Này nhé, cơm vốn là “cơm nguội” nấu dư từ hôm trước, các phụ gia khác như jambon, trứng tráng, đậu Hòa lan, hành lá…còn dư được xắt lát rồi trộn với cơm mà chiên lên!
Cũng thuộc loại thức ăn dư thừa có món tài páo (bánh bao). Bạn không tin ư? Nhân bánh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lạp xưởng và trứng (sau này được thay bằng trứng cút kể từ khi dịch cút lan truyền khắp Sài Gòn, nhà nhà nuôi cút, người người ăn trứng cút). Vỏ bánh bao được làm bằng bột mì, sau khi hấp chín bột nở phình ra trông thật hấp dẫn. Có người bảo cơm chiên Dương Châu và bánh bao thể hiện tính tằn tiện và tiết kiệm của người Tàu, không bỏ phí thức ăn thừa! Nói cho vui vậy thôi chứ từ cơm chiên, bánh bao đến các loại sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá, yến sào… đều đòi hỏi cách chế biến, đó là nghệ thuật nấu ăn. Các tiệm “cà phê hủ tiếu” của Tàu lan rộng ra nhiều nơi chứ không riêng gì trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cũng thấy những xe mì, xe hủ tiếu, chỉ nhìn cách trang trí cũng có thể biết được chủ nhân là người Tàu. Họ có kiểu cách riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kính tráng thủy có vẽ hình các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam Quốc.
Ăn điểm tâm thì có mì, hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại…Khách thường gọi một ly xây chừng, đó là một ly cà phê đen nhỏ hay tài phế (cà phê đen lớn). Cà phê ngày xưa còn có tên “cá phé vớ (dzớ)”, pha bằng chiếc vợt vải nên còn được gọi là “cà phê vợt” tựa như chiếc vớ (bít tất). Cà phê đựng trong “dzớ” phải được đun nóng trong siêu nên còn có tên là “cà phê kho”, có điều “kho” nước đầu thì có mùi cà phê nhưng những nước sau có vị như… thuốc bắc. Sang hơn thì gọi phé nại (cà phê sữa) hoặc bạt sửu (nhiều sữa nhưng ít cà phê) với sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ (2) hoặc Con Chim (3). Có người lại dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy (người miền Bắc gọi là quẩy) nhúng vào cà phê để ăn thay cho các món điểm tâm đắt tiền.
Người bình dân còn có lối uống cà phê trên đĩa. Mỗi tách cà phê thường được để trên một chiếc đĩa nhỏ, khách “sành điệu” đổ cà phê ra đĩa, đốt điếu thuốc Melia chờ cà phê nguội rồi cầm đĩa lên… húp. Nhà văn Bình-nguyên Lộc trong Hồn Ma Cũ mô tả cách uống cà phê của người xưa: “…Người cha đứa bé rót cà phê ra dĩa cho mau nguội, rồi nâng dĩa lên mà uống”. Đây là cách uống của một số người Sài Gòn vào những thập niên 50-60, đa số họ là những người lớn tuổi, “hoài cổ” nên vẫn duy trì cách uống đặc trưng của Sài Gòn xưa. Vào một quán nước bình dân trong Chợ Lớn ta có thể gọi một ly suỵt xủi và người phục vụ đem ra một ly đá chanh mát lạnh. Có người gọi nước đá chanh là “bất hiếu tử” vì dám cả gan “đánh cha” nhưng nói lái lại là… đá chanh! Tại các tiệm “cà phê hủ tiếu” luôn luôn có bình trà để khách có thể nhâm nhi nhậm xà (uống trà) trước khi gọi phổ ky đến để thảy xu (tính tiền). (Nhậm xà còn có nghĩa là tiền hối lộ, tiền trà nước). Người sành điệu còn “xổ” một tràng “broken Cantonese”:“Hầm bà làng kỵ tố?” (Hết thảy bao nhiêu tiền?).


Những từ ngữ vay mượn của người Tàu dùng lâu hóa quen nên có nhiều người không ngờ mình đã xử dụng ngôn ngữ ngoại lai. Chẳng hạn như ta thường lì xì cho con cháu vào dịp Tết hoặc lì xì cho thầy chú (cảnh sát) để tránh phiền nhiễu, cũng là một hình thức hối lộ. Lạp xưởng là một món ăn có nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quảng Châu là lạp trường: ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cũng vì thế vào dịp giáp Tết các cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt các loại lạp xưởng, nào là lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi…
Chế biến lạp xưởng là nghề của các Chú Ba trong Chợ Lớn. Lạp xưởng được làm từ thịt heo nạc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vì chắc hẳn có thêm chút bột màu. Lạp xưởng ở Sóc Trăng thuộc miền Lục tỉnh cũng rất nổi tiếng cùng với món bánh pía, một món đặc biệt của người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da, thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khác với loại bánh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loại bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn thịt mỡ.
Bánh pía do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như ngày nay. Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối… Tại Sóc Trăng hiện có gần 50 lò chuyên sản xuất bánh pía. Tuy nhiên, số lò bánh và cửa hàng buôn bán tập trung đông nhất tại thị tứ Vũng Thơm (xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng) nơi được xem là khởi thủy của làng nghề bánh pía.
Vịt quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những món “đặc sản” nổi tiếng của Tàu. Đặc trưng của món vịt quay là da vịt mỏng, giòn, màu vàng sậm. Tại miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cũng được người Quảng Đông đưa vào danh sách ẩm thực. Bí quyết gia truyền của các món này là ướpngũ vị hương rồi quay sao cho da giòn tan trong khi phần thịt vừa mềm lại vừa thơm. Vịt quay hoặc heo quay theo đúng kiểu Tàu là phải ăn với bánh bao chay (không nhân) nhưng người Việt cũng chế thêm món bánh hỏi thịt quay ăn với các loại rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay có khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gòn thì khu Chợ Cũ có vài tiệm heo quay của người Tàu. Chuyện kể có một ông cà lăm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp: “Bán… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thì Chú Ba với tay nghề chặt thịt cũng vừa chặt xong đúng 20 đồng!
Hết “ăn” giờ lại sang đến “chơi” trong ngôn ngữ vay mượn của người Tàu. Chuyện cờ bạc trong ngôn từ của người Sài Gòn xưa đã xuất hiện không ít những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu (phiên âm từ tiếng Tàu có nghĩa là Đại – Tiểu) là trò chơi dân gian có từ rất lâu. Chỉ cần 1 cái đĩa, 1 cái bát và 3 hạt xí ngầu cũng có thể lập sòng tài xỉu nên còn có tên là sóc đĩa.
Hột xí ngầu có sáu mặt, mỗi mặt có từ một đến sáu chấm, tương đương từ một đến sáu điểm. Khi ráp sòng, người ta để cả ba hột lên chiếc đĩa sứ, chụp bát lên trên rồi lắc. Tổng số điểm của ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chủ sòng lắc đĩa, người chơi đoán hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tùy thuộc vào tay nghề của người xóc đĩa, còn được gọi là hồ lỳ. Xác suất chủ sòng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vì lỡ mang kiếp đỏ đen nên con bạc vẫn bị thu hút vào sòng xóc đĩa.
Các loại bài và hình thức chơi bài cũng có xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xám (13 cây) có những thuật ngữ như mậu binh (không cần binh cũng thắng), cù lủ (full house) là 3 con bài cùng số và một cặp đôi, ví dụ như 3 con chín + 2 con K (lớn nhất là cù lủ ách (ace), nhỏ nhất dĩ nhiên là cù lủ hai), thùng (flush) là 5 con cùng nước (suit) mà không theo trật tự liền nhau, ngược lại là sảnh (straight) là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cùng nước. Kho từ vựng trong xập xám còn có xám chi (3 con cùng loại – three of a kind), thú (two) hay thú phé (two separate pairs) là 2 cặp và 1 con bất kì nào khác. “Thứ nhất tứ quý (4 con bài cùng số) thứ nhì đồng hoa (cùng một nước như cơ, rô, chuồn, bích)” là một trong số cả rừng từ ngữ của dân binh xập xám.
Ở phần trên đã bàn về hai khía cạnh “ăn” và “chơi”, còn một khía cạnh đóng vai trò không kém phần quan trọng là “làm” của người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất của người Tàu là nghề lạc xoong hay nói theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng nát. Chú Hỏa (1845-1901), người Phúc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lại là một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn xưa: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”. Bốn triệu phú ngày xưa gồm các ông Huyện Sỹ (Lê Phát Đạt), Tổng đốc Phương (Đỗ Hữu Phương), Bá hộ Xường (Lý Tường Quan) và Chú Hỏa (Hui Bon Hoa hay Hứa Bổn Hòa). (Xem Triệu phú Sài Gòn xưa)
Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô với các mặt hàng thuộc loại tả pín lù nhưng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu hàng ngày của người lao động trong xóm. Tiệm chạp phô chỉ có mục đích lượm bạc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bong Cô Ba, quả trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trì trong công việc bán tạp hóa, ông chủ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chạp phô là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ phát hiện điều này khi có phong trào vượt biên. Tính rẻ “3 cây một người” thế mà cả gia đình chủ tiệm chạp phô vẫn thừa sức vượt biển để tìm đến bến bờ tự do.
Cao cấp hơn là những xì thẩu, những người thành công trong kinh doanh mà ngày nay ta gọi là “đại gia”. Điển hình cho giai cấp xì thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hãng bột ngọt Vị Hương Tố rồi các mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, nước tương, tàu vị yểu đã chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”. Xì thẩu Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn: hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông…




Xì thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chủ nợ của các ông chủ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người Sài Gòn thường nói: “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lại có Miếng”.
Xì thẩu Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo sản phẩm trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình. Ông cũng là người đầu tiên biết vận dụng phim võ hiệp và tình báo kiểu Hồng Kông vào quảng cáo. Người dân miền Nam không thể quên hình ảnh tài tử Vương Vũ giải thoát các xe hàng do đoàn bảo tiêu hộ tống thoát khỏi quân cướp: mở thùng ra chỉ toàn kem đánh răng Hynos!
Có rất nhiều xì thẩu được Sài Gòn xưa phong tặng danh hiệu Vua. Trương Vĩ Nhiên, “vua ciné”, là chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné tại Sài Gòn – Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô…; Lý Hoa, “vua xăng dầu”, là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng (một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tại Sài Gòn cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).

Bên cạnh đó lại có Lại Kim Dung là “nữ hoàng gạo”. Giá gạo tại miền Nam là do công ty của bà ấn định, chính phủ đã có lúc phải hợp tác với “nữ hoàng gạo” để ổn định giá gạo trên thị trường. Trong các buổi tiếp tân lớn, bà Kim Dung luôn xuất hiện bên cạnh các mệnh phụ phu nhân. Tạ Vinh là một trường hợp xì thẩu đặc biệt. Năm 1964, Tạ Vinh bị Ủy Ban Hành Pháp Trung ương của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ xử bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành vì tội “gian thương, đầu cơ tích trữ gạo, gây xáo trộn thị trường”.







Nguồn “Ngôn Ngữ Sài Gòn“ của Nguyễn Ngọc Chính (Dân News biên tập)