“Bỏ hẳn biên chế đi !”





“Bỏ hẳn biên chế đi !”




***


[.... trích ] Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói:

Bộ máy nhà nước của chúng ta hiện nay có khoảng 2,8 triệu cán bộ, công chức (CBCC), viên chức. Nếu cộng cả đối tượng nghỉ hưu, các đối tượng khác hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách nhà nước (NSNN), con số này lên tới 7,5 triệu người, chiếm 8,3% dân số cả nước.
Còn nếu cộng toàn bộ số người hưởng lương và mang tính chất lương thì con số này lên tới 11 triệu người.

Không ngân sách nào nuôi nổi bộ máy ăn lương lớn như vậy.

Nước Mỹ có diện tích lớn xấp xỉ 30 lần nước ta, dân số gần gấp 4 lần, nhưng đội ngũ công chức của họ chỉ có 2,1 triệu. Nhìn sang Trung Quốc thì chúng ta thấy đội ngũ công chức của họ cũng chỉ chiếm 2,8% dân số.
Như vậy, chúng ta thấy 160 người dân Mỹ chỉ nuôi một công chức, trong khi đó 40 người dân Việt Nam phải nuôi một công chức.

Đó là chưa kể người dân chúng ta phải gánh chịu tình trạng quan liêu, sách nhiễu, vòi vĩnh, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ trong số 2,8 triệu công chức này.


VẬT CẢN CHO PHÁT TRIỂN

Khi còn ở cương vị Phó thủ tướng Chính phủ ông Nguyễn Xuân Phúc nói: “Đội ngũ công chức của chúng ta hiện nay chỉ có khoảng 30% là đáp ứng được nhu cầu công việc”.
Tôi bổ sung thêm là 30% nữa là “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về”.
Khi còn là Bộ trưởng Bộ TT&TT ông Lê Doãn Hợp còn thêm: “30% còn lại không chỉ không làm được việc mà còn vòi vĩnh, nhũng nhiễu, đòi hối lộ”.

Tôi hỏi nhiều người là liệu có thể giảm biên chế được không, họ đều nói là không thể giảm được.
Chỉ có một cách thôi. Đó là bỏ hẳn biên chế đi. Chuyển sang chế độ hợp đồng lao động. Đây không phải là vấn đề gì mới mẻ.

Trong vòng 20 năm trở lại đây các chuyên gia đã nói nhiều rồi. Công chức suốt đời sẽ là vật cản cho phát triển.

Cần phải chuyển đổi hình thức biên chế, hợp đồng suốt đời trên cơ sở luật công chức mới. Thay vào “biên chế suốt đời” phải xác định vị trí, việc làm trên cơ sở đó đặt chuẩn cho người làm việc ở vị trí ấy.
Trong chế độ công chức hiện đại, công chức khi vào một vị trí nào đó, họ phù hợp với vị trí ấy về trình độ đào tạo, kinh nghiệm chuyên môn của họ. Chúng ta phải hướng tới một nền công vụ hiện đại như vậy.
Nhiều nước người ta đã làm như vậy rồi. Ví dụ như từ những năm 2000, New Zealand đã thực hiện rồi.
Họ chỉ có hợp đồng công chức chứ không có biên chế suốt đời. Thậm chí, từ cấp Thứ trưởng trở xuống cũng chỉ hợp đồng thôi.
Một nền hành chính công vụ hiện đại, chuyên nghiệp phải bảo đảm được sự năng động, thay đổi, không phải “anh” vào công chức rồi thì cứ ung dung “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về” cũng chả ai làm gì được.

Thực hiện chế độ khoán quỹ lương gắn với giao nhiệm vụ. Ví dụ: Bộ trưởng, Chủ tịch UBND tỉnh, Vụ trưởng, Cục trưởng cần bao nhiêu người thì ký hợp đồng bấy nhiêu, ai giỏi trả lương cao họ sẽ làm, không giỏi thì tự bỏ, hoàn thành nhiệm vụ mới trả lương, không thì không trả, như vậy chỉ có cán bộ giỏi, không có cán bộ yếu kém.

Và như vậy thì cán bộ giỏi mới không bỏ cơ quan ra làm cho các Công ty tư nhân hay Công ty nước ngoài.
Thủ trưởng cơ quan toàn quyền quyết định việc lương cao hay lương thấp. Nếu nhiệm vụ giao không hoàn thành thì xuất toán.
Như thế thì con ông cháu cha, hay ê kíp này nọ cũng không quan trọng nữa, miễn là cạnh tranh lành mạnh, thi nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ.


HỘI ĐOÀN PHẢI TỰ CHỦ VÀ TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ KINH PHÍ

Theo Dự toán chi ngân sách Trung ương năm 2016 được Bộ Tài chính công khai trên website của bộ này thì, tổng chi cho các cơ quan trung ương của 6 tổ chức chính trị – xã hội tới 1.503,740 tỷ đồng, gồm :
Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam (92,435 tỷ đồng);
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (551,505 tỷ đồng);
Trung ương Hội LHPN Việt Nam (158,685 tỷ đồng);
Hội Nông dân Việt Nam (346,515 tỷ đồng);
Hội CCB Việt Nam (80,830 tỷ đồng);
Tổng LĐLĐ Việt Nam (273,770 tỷ đồng).
Nếu tính luôn cả dự toán ngân sách cho Liên minh Hợp tác xã Việt Nam thì tổng chi lên đến 1.615,710 tỷ đồng.

Tuy nhiên, đây mới là phần thông tin chi cho các hội, đoàn thể được công khai. Còn rất nhiều hội đặc thù, ở cả Trung ương và địa phương cũng được ngân sách tài trợ một phần, nhưng chưa được công khai trong dữ liệu của Bộ Tài chính, từ Liên đoàn Bóng đá Việt Nam đến Hội Đông y, Hội Khuyến học, Hội Người cao tuổi, Hội Người mù và rất nhiều hội đoàn khác.

Một trong những nghiên cứu hiếm hoi về ngân sách cho các hội, đoàn thể của Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR), ngân sách (ước tính) chi khoảng 14.000 tỷ đồng cho toàn bộ khối này, tức là lớn hơn dự toán ngân sách năm 2016 của Bộ NN&PTNT (khoảng 11.000 tỷ đồng), một bộ được coi là siêu bộ, gần gấp đôi ngân sách của Bộ Giáo dục và Bộ Y tế, chỉ thua Bộ LĐTB&XH và Bộ Tài Chính.

Nghiên cứu này cũng ước tính, nếu tính đủ cả chi phí kinh tế – xã hội, tức là gồm cả đất đai, nhà cửa, xe cộ và các tài sản khác, chi phí toàn hệ thống của các tổ chức hội đoàn này hàng năm dao động từ 45.600 – 68.100 tỷ đồng, tương đương 1-1,7% GDP.

Hầu hết các hệ thống hội đoàn, trong đó đặc biệt là các tổ chức chính trị- xã hội, được tổ chức theo mô hình hành chính, có biên chế, nhà cửa, trụ sở, xe cộ, với hệ thống tổ chức và mô hình hoạt động hầu như không thay đổi từ thời bao cấp đến nay.

Từ nhiều năm nay các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách đã đặt ra những yêu cầu xác đáng về chuyển các hội đoàn thành những tổ chức tự nguyện, phục vụ nhu cầu của các nhóm cộng đồng.

Hội đoàn phải tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kinh phí hoạt động, bằng cách gây quỹ từ cộng đồng, tìm tài trợ, hội phí.

Nhà nước có thể tài trợ một phần kinh phí hoạt động, nhưng là tài trợ dựa trên các tiêu chí rõ ràng và minh bạch, trên cơ sở cạnh tranh và xét đến hiệu quả hoạt động của từng hội đoàn cụ thể.

Ở nhiều quốc gia khác các tổ chức chính trị có thể phải khai thuế và nộp nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách, hoặc phải dựa vào nguồn thu được cung cấp từ khu vực xã hội dân sự.
Đã đến lúc chúng ta phải quyết tâm thực hiện cho được vấn đề này, nhất là trong bối cảnh nợ công đang ngày càng gia tăng, nguồn thu lại eo hẹp, hết sức khó khăn, chi thường xuyên lại ngày một gia tăng.

Cán bộ khối đoàn thể cũng giống như những CBCC ở các tổ chức nhà nước khác thôi. Tại sao
CBCC thì giảm biên chế được mà cán bộ của khối đoàn thể thì không?

Nếu họ thực sự là vì Đảng, vì dân, vì đất nước thì họ phải biết hy sinh quyền lợi của mình như những công dân khác.
Còn đương nhiên, khi chuyển sang chế độ tự chủ như vậy phải có lộ trình để các tổ chức này thích nghi dần với việc không còn được bấu víu vào “bầu sữa” NSNN nữa.

Để thực hiện được vấn đề này phải có một quyết tâm chính trị rất cao của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng.



Lê Thọ Bình thực hiện
Theo VietTimes.vn

(*) Tựa bài, sapô và tít phụ do Tiếp Thị Thế Giới đặt lại.


........./.

NHỮNG "VINASHIN" CỦA ĐINH LA THĂNG



NHỮNG "VINASHIN" CỦA ĐINH LA THĂNG


Huy Đức



Chiều 13-10-2016, Trần Đức Chính - PTGĐ Điện lực Dầu khí - đã được cơ quan điều tra "điểm danh"; Ninh Văn Quỳnh cũng đã phải trở về từ Mỹ... Danh sách các "yếu nhân" tập đoàn Dầu khí (PVN) liên quan tới tiền lại quả từ Oceanbank chắc chắn không dừng lại đó. Phanh phui bất cứ công ty "con, cháu" nào do Đinh La Thăng "đẻ" ra trong thời gian ông ta làm Chủ tịch PVN (1-2006 -- 9-2011) cũng đều tìm thấy những khoản trăm nghìn tỷ bị "ném qua cửa sổ". Sự thao túng ở tổng công ty Tài chánh Cổ phần Dầu khí (PVFC) lại còn tệ hơn nhưng có lẽ nhờ kịp xóa nhiều dấu vết nên chưa thấy thanh tra, điều tra thụ lý.

TỰ ĐẤU GIÁ MÌNH
Khi về Dầu Khí, Đinh La Thăng đã "cầm cờ tiên phong" biến Tổng công ty Dầu khí thành "tập đoàn kinh doanh đa ngành". Công ty Tài Chánh Dầu Khí được nâng cấp thành Tổng Công ty Tài Chánh Cổ phần Dầu Khí (PVFC) là nằm trong lộ trình tham vọng đó.
Tháng 6-2007, khi cổ phần hóa PVFC, Đinh La Thăng yêu cầu phải tạo ra "thắng lợi chính trị" ngay trong lần đấu giá cổ phần đầu tiên (IPO). Nhằm đạt được "mục tiêu chính trị" này, Đinh La Thăng đã phê duyệt một phương án lấy tiền của nhà nước đấu giá công ty nhà nước.
Theo phương án mà Hội đồng quản trị Tổng công ty Dầu khí lúc đó (do Đinh La Thăng làm Chủ tịch) phê chuẩn, công ty con PVFC đã dùng 500 tỷ "đẻ" ra công ty cháu PVFC Invest và rót 671 tỷ khác để PVFC Invest mua cổ phần công ty mẹ với giá đạt "mục tiêu chính trị"(70.000 đồng/cổ phiếu).
Theo Luật, PVFC chỉ được góp tối đa vào PVFC invest 11%. Nghị quyết của PVN phê duyệt cho PVFC góp 11% (55 tỷ đồng), đồng thời phê duyệt thêm cho cán bộ công nhân viên (CBCNV) góp 38% (190 tỷ đồng).
Trên thực tế, PVFC dùng tiền Nhà nước góp tới 295 tỷ đồng [Ngoài 55 tỷ đồng đứng tên trực tiếp, PVFC còn dùng 240 tỷ góp dưới dạng cho cá nhân (CBCNV) “ủy thác đầu tư trả chậm mua cổ phần PVFC Invest” - Bản chất là cho cá nhân vay trá hình không có tài sản bảo đảm].
Sau đó, bằng hàng loạt "hợp đồng ủy thác đầu tư", PVFC chuyển xuống cho PVFC Invest 671 tỷ, bao gồm các khoản: Chuyển trực tiếp 200 tỷ cho PVFC Invest; Chuyển thông qua công ty con khác, PVFC Land, 400 tỷ; Chuyển thông qua Công ty PV Inconess (PVFC là cổ đông lớn 30%) 71 tỷ.
Vì PVFC Invest cũng không thể dùng hết số tiền 671 tỷ này để mua cổ phần nên phải chuyển 510 tỷ cho CBCNV "vay" dưới dạng nhận ủy thác đầu tư để mua cổ phần với tỷ lệ 50-50 (CBCNV bỏ ra 50%, công ty cho "vay" 50%). Bằng cách này, PVFC Invest đã "thắng" 20 triệu cổ phần với giá 71.000 đồng trong đó có 14 triệu cổ phần do "CBCNV mua"(Sau cổ phần hóa, PVFC là một tổng công ty có vốn điều lệ 5000 tỷ, Tập đoàn PVN nắm 78%; như trên đã nói, 22% còn lại cũng chủ yếu được mua bằng tiền nhà nước).

MỸ KHÊ VN & 762,6 TỶ MỘT ĐI KHÔNG TRỞ LẠI
Năm 2007, sau khi ký với Quảng Ngãi thỏa thuận "hợp tác đầu tư và phát triển bền vững", Đinh La Thăng đã cho bỏ ra 100 tỷ mua lại dự án "du lịch biển Mỹ Khê" (Sơn Tịnh, Quảng Ngãi) từ tay công ty Idico dù công ty này chưa đầu tư gì kể từ khi được Quảng Ngãi "giao dự án". Trước đó, Đinh La Thăng giao cho PVFC lập ra công ty Mỹ Khê Việt Nam có vốn điều lệ trên giấy là 400 tỷ.
Cũng như PVFC Invest, Mỹ Khê Việt Nam đã sai luật ngay từ khi ra đời vì có tới 99,98% vốn ở Mỹ Khê VN được góp từ PVFC trong khi mức cho phép không quá 11% (thực góp 210,1 tỷ trong đó, PVFC góp 210 tỷ, hai cổ đông khác góp 100 triệu).
Mỹ Khê VN sau đó còn được PVFC biến thành một công ty đầu tư bất động sản trái phép với hai dự án: "Đầu tư" 192,5 tỷ vào dự án 99C Phổ Quang (Sài Gòn); "Đầu tư" 360 tỷ vào dự án 168 Nguyễn Đình Chiểu (Sài Gòn).
Với ba "dự án" này, Mỹ Khê VN đã "nướng" của PVFC 762,6 tỷ.
Gần 10 năm trôi qua, phần vốn 210 tỷ đồng đã hết, Biển Mỹ Khê vẫn chỉ có... cát; khoản chi đáng kể nhất của công ty này là để phá 10 hecta rừng dương dọc bãi biển. Mỹ Khê còn: Đưa ngay 192,5 tỷ cho công ty tư nhân Lạc Hồng trong khi 99C Phổ Quang đang là đất của Satraco và Lạc Hồng chưa hề có "mảnh giấy lộn" nào chứng minh công ty này là chủ đầu tư hay đồng sở hữu; Đưa ngay 360 tỷ cho công ty cổ phần Phúc Thịnh chỉ để nắm được một bản photo giấy tờ đất 168 Nguyễn Đình Chiểu trong khi Phúc Thịnh chưa phải là chủ sở hữu và không được cấp phép đầu tư.

XÓA DẤU VẾT
Trước Đại hội XI (12-2010), Đinh La Thăng chỉ đạo không được để bất cứ công ty con nào âm vốn. PVFC đã "xử lý" bằng cách yêu cầu PVFC Invest bán hơn 11 triệu cổ phiếu của PVFC mà công ty này đang nắm giữ cho công ty cổ phần đầu tư và thương mại Sông Đà (SDCON - thuộc Ocean Group, sở hữu 6,65% vốn điều lệ của OceanBank và do mẹ vợ Hà Văn Thắm làm Chủ tịch).
Trên thực tế, thương vụ này chỉ tức thời giúp PVFC làm đẹp sổ sách. SDCON chỉ trả 5% (gần 20 tỷ đồng), 95% còn lại không bao giờ được nói tới nữa.
PVFC còn "xóa dấu vết" một công ty con khác: VN Assets.
Ở thời điểm ấy, trị giá tài sản của VN Assets vẫn còn được ghi là 707 tỷ đồng nhưng PVFC đã bán 23 triệu cổ phiếu của mình trong VN Assets cho một công ty tư nhân, ATC (Công ty cổ phần dầu khí An Thịnh), với giá chỉ 1 đồng/cổ phiếu (Hợp đồng 16/2003/PVFC-ATC) trong khi giá vốn là 10.000 đồng/cổ phiếu (thất thoát khoảng 230 tỷ đồng).
Các thương vụ khuất tất giữa PVFC và ATC không phải tới lúc này mới bắt đầu.
Năm 2007, ATC được PVFC rót vốn để xây nhà máy sản xuất xơ sợi Hưng Yên. Ở nhà máy này, PVFC cho vay tổng số 120 tỷ, trong đó có 40 tỷ làm vốn lưu động. ATC đã dùng số tiền đó để nhập một dây chuyền "nghĩa địa" về. Nhà máy hoạt động được một năm rưỡi thì đóng cửa. Thay vì tìm cách thu hồi nợ, PVFC đã âm mưu "chuyển đổi” 40 tỷ vay làm vốn lưu động này thành vốn góp (do không thực hiện được nên đã phải trích lập 100% dự phòng).
Tháng 6-2009 nhà máy ngưng hoạt động. Tháng 7-2011, PVFC kêu bán thanh lý. Mãi tới 2-2012 mới bán được với giá... 3,9 tỷ.
Trong số 240 tỷ "ủy thác đầu tư" dưới hình thức góp vốn lập nên PVFC Invest qua CBCNV mà Ngân hàng Nhà nước cho là "cố ý làm trái"(công văn 9788 - 2009), tới nay chỉ mới thu hồi được 10 tỷ(gây hậu quả nghiêm trọng, thất thoát 230 tỷ). Trong số 510 tỷ "ủy thác" dưới dạng đưa tiền cho CBCNV mua cổ phần tới nay vẫn chưa thu hồi được 419 tỷ gốc, 86 tỷ tiền lãi.
Các khoản đầu tư bất chấp pháp luật của PVFC - đều phải thông qua Hội đồng thành viên PVN, nơi đang nắm 78% vốn, do Đinh La Thăng làm Chủ tịch - đã làm cho công ty này mất không dưới 2.000 tỷ. Các khoản cho vay, tính tới tháng 2-2012, chỉ riêng 5 "nhóm nợ có vấn đề" của PVFC đã có 8.550 tỷ không có khả năng thu hồi.
Các hành vi làm trái của Đinh La Thăng, đổ tiền nhà nước ra mua cổ phần nhà nước, không chỉ gây hậu quả cho nhà nước (mất hàng nghìn tỷ đồng) mà còn góp phần bóp méo thị trường cổ phiếu. "Bong bóng" tự PVN bơm lên đã nhanh chóng xẹp xuống. Số cổ phiếu từng được tiền của PVN đẩy lên giá 76.000 đồng (mua trung bình 71.000), khi đóng cửa phiên cuối cùng trước khi hủy niêm yết (23-9-2013) chỉ còn 4.200 đồng/Cổ phiếu.
PVN sau đó đã thủ tiêu, xóa dấu vết PVFC - do làm ăn bất chấp pháp luật mà thua lỗ - bằng cách nhập với ngân hàng Phương Tây để trở thành Ngân hàng đại chúng.

SÂN VẬN ĐỘNG CHI LĂNG & OCEANBANK
Không chỉ bắt tay với Thắm Đại Dương, nếu không có 1.510 tỷ của PVFC, Phạm Công Danh khó có thể mua ngân hàng rồi trở thành tội phạm.
Ngày 1-12-2010, để mua sân vận động Chi Lăng Đà Nẵng với giá 1.393 tỷ, Phạm Công Danh lập 10 công ty (con của tập đoàn Thiên Thanh) để đứng tên 10 sổ đỏ [có tổng diện tích 55.061m2, giá 25,3 triệu/m2). Ngay sau khi Đà Nẵng giao sổ đỏ, 28-1-2011, Danh đem cắm cả 10 vào OceanBank để vay 1.254 tỷ đồng.
Hơn một tháng sau đó, 4-3-2011, đất sân Chi Lăng được PVFC - nơi mà PVN của Đinh La Thăng nắm 78% cổ phần - định giá lên hơn gấp đôi: 57 triệu/m2; sau khi "tham chiếu các kết quả tư vấn khác", PVFC đưa giá xuống một chút, 54,9 triệu/m2, và quyết định mua gần phân nửa sân Chi Lăng từ tay Danh với giá 1.510 tỷ (27.000m2, thuộc 5 sổ đỏ).
Hơn 1.306 tỷ được PVFC chuyển thẳng cho OceanBank, thanh toán cả gốc lẫn lãi cho Phạm Công Danh; 20 tỷ được chuyển vào tài khoản của tập đoàn Thiên Thanh; 183 tỷ chuyển trực tiếp vào tài khoản cá nhân của Danh. Như vậy, với thương vụ mua bán sân vận động Chi Lăng, chỉ trong một tháng, Danh lấy lại được vốn, cầm về 5 sổ đỏ "sạch" (28.000m2) và vẫn còn dư 203 tỷ.
Chưa thấy cơ quan điều tra nhắc đến thương vụ này, ít nhất là khoản "trốn thuế" không dưới 160 tỷ. Không chỉ là vấn đề lời lãi, cơ quan điều tra cũng cần làm rõ bản chất của nó và đường đi lắt léo của các dòng tiền [tháng 5-2011, PVFC lại bán 27.000m2 đất này cho Seabank AMC (công ty mua bán nợ của Seabank) với giá không lời, không lỗ].
Khoản tiền 1.510 tỷ mà PVFC trả cho thương vụ nửa sân Chi Lăng đã giúp Phạm Công Danh có "lực" để mua TrustBank từ tay Hà Văn Thắm, có vai trò như bàn tay của một bà đỡ giúp Danh "đẻ ra" ngân hàng Xây Dựng.
Mặc dù Hà Văn Thắm có quan hệ với Nguyễn Xuân Sơn trước, nhưng trên thực tế, Đinh La Thăng là người cung cấp oxy cho Ocean Bank. Nếu Đinh La Thăng không quyết định góp 800 tỷ đồng (20% vốn) và "lái" phần lớn dòng tiền của PVN chảy qua Ocean Bank thì ngân hàng này đã khó mà tồn tại [Từ thời Thăng làm Chủ tịch Tập Đoàn Dầu khí gần như tất cả các công ty thành viên của PVN đều phải mở tài khoản tại Ocean Bank; tổng cộng PVN đã đem hơn 50 nghìn tỷ đồng gửi Thắm].
Khi Thắm "chìm" theo Đại Dương - OceanBank bị mua với giá 0 đồng - PVN không chỉ mất 800 tỷ VND góp vốn (theo quyết định của Đinh La Thăng) mà còn kẹt "dưới đáy" Đại Dương hơn 10 nghìn tỷ (bao gồm cả 70 triệu USD của Vietsopetro). Sau Nguyễn Xuân Sơn, còn có một danh sách đen liên quan đến khoản lại quả - lên đến 544 tỷ đồng - mà Thắm "chi ngoài hợp đồng" cho lãnh đạo của PVN thời Đinh La Thăng làm Chủ tịch.
Xét cả về tính chất vi phạm pháp luật và quy mô tổn thất, Tập đoàn Dầu khí thời Đinh La Thăng không khác gì một Vinashin. Sở dĩ PVN không đắm ngay như Vinashin là nhờ PVN không phải vay ngân hàng. Ngoài khoản PVN được "vay" 500 triệu USD từ tiền bán dầu, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn cho phép PVN "tạm giữ" những khoản tiền khổng lồ mà Tập đoàn này lẽ ra phải nộp vào ngân sách. Nguồn tài nguyên trong lòng biển của quốc gia mà tập đoàn Dầu khí được giao khai thác đã bị Đinh La Thăng đổ trăm nghìn tỷ xuống biển, xuống sông.
PS:
I. Thực tế ở PVN là một Ví dụ điển hình cho thấy, tham nhũng ở VN không chỉ do quyền lực chưa được chế ngự mà còn do những khoảng tối giao thoa giữa khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước, được dung dưỡng bởi các quan chức tha hóa. Những kẻ biết sợ sẽ ráng làm ra chút ít rồi mới "ăn". Những kẻ trâng tráo thì phá tới nơi để "ăn" tàn, "ăn" mạt.
Muốn chống tham nhũng, không chỉ phải tiến tới nhà nước pháp quyền mà nhà nước còn phải từ bỏ vai trò kinh doanh (các công ty nhà nước chỉ được lập ra là chỉ để cung cấp những dịch vụ công mà tư nhân không làm). Tuy nhiên, trước khi có nhà nước pháp quyền, nếu không vạch mặt chỉ tên những kẻ trâng tráo nhất, thì không những không bao giờ có nhà nước pháp quyền, mà còn sẽ phải cúi đầu làm nô lệ cho những tên tham tàn nhất.
II. Khi các thông tin về công trình nhà máy sợi Đình Vũ, PVN đầu tư gần chục nghìn tỷ giờ đang phải trùm mền được công bố, biết việc Đinh La Thăng để cho nhà thầu tráo "dây chuyền thiết bị kéo sợi" xuất xứ Đức, theo thiết kế, thành dây chuyền Trung Quốc, hy vọng các bạn sẽ nhận biết Thăng là người "thân gì".


.........../.

............. ‘đồng chí thù địch’




Đọ sức giữa các nhóm ‘đồng chí thù địch’

https://anhbasam.wordpress.com/2016/10/13/10431-do-suc-giua-cac-nhom-dong-chi-thu-dich/#more-176473



Bùi Tín

Tình hình chính trị trong nước đang nóng hổi. Tin tức, bình luận sôi nổi, đa chiều.  Nhiều ý kiến khác nhau, đối lập nhau. Báo chí lề trái, lề phải đều có những chính kiến, phản biện nhiều màu sắc đậm nhạt khác nhau. Tình hình đang diễn biến khôn lường, vì các phe nhóm cầm quyền độc đảng gầm ghè nhau, khi kín, khi hở, chưa biết cuộc nội chiến giữa các nhóm ‘ ĐỒNG CHÍ THÙ ĐỊCH ‘ rồi sẽ ngả ngũ ra sao.
Cuộc đọ sức ly kỳ quyết liệt diễn ra trong khung cảnh nhiều sự kiện quan trọng xảy ra đồng thời một lúc, rất hiếm có, trong nước, trên thế giới.
Kinh tế gay go. Vựa lúa sông Cửu Long cạn kiệt, nhiễm mặn do các đập nước lớn ở thượng nguồn Vân Nam / Trung Quốc. Bùn đỏ các khu khai thác bô-xít gieo tai họa lâu dài ở Tây Nguyên. Tai họa môi trường Formosa Plastics – Kỳ Anh kéo dài với nan đề có truy tố vụ án ra pháp luật không? Đền bù nửa tỷ đô la ra sao rồi, đã đủ chưa? Dân 4 tỉnh miền Trung còn phẫn nộ, đấu tranh quyết liệt lên đến 20 ngàn người. Dân Kỳ Anh kéo đến trước cổng công ty đòi đóng cửa nhà máy, đuổi Formosa về nước! Bà con leo lên tường bao quanh với khí thế không bạo lực nhưng quyết liệt, khiến một số nhân viên Công an, Cảnh sát cơ động bỏ mũ, cởi áo tháo chạy, trong khi các cô nữ  tu sỹ gan góc dương cao biểu ngữ ‘ ĐỪNG SỢ!’, để thấy nỗi sợ cường quyền của người dân đã chuyển ngược chiều.
506 đơn kiện Formosa bị Tòa án Kỳ Anh từ chối tiếp nhận gây nên phẫn nộ cực lớn. Vụ xử phúc thẩm Anh Ba Sàm, cô Minh Thúy và nhà báo Nguyễn Ngọc Già – Nguyễn Đình Ngọc trưng ra bộ mặt hung bạo của nền tư pháp độc đảng, thúc đẩy đông đảo luật sư dân tộc tham gia đấu tranh chống cường quyền vô đạo. Bão táp biển Đông vẫn tới tấp tăng cường độ, với niềm vui của dân ta khi bọn bành trướng TQ bị Tòa Án quốc tế PCA lên án nhục nhã, khi dân Hồng Kông và dân Đài Loan ngẩng cao đầu đòi quyền tự do, tự trị và đi đến độc lập, vứt xuống biển lá bùa của Tập Cận Bình ‘Một quốc gia, Hai chế độ’.
Cuộc đọ sức nội bộ đảng CS diễn ra khi lòng dân xao xuyến đến mất trọn niềm tin, khinh bỉ các nhóm phe phái đương quyền, bất tài, tham nhũng, làm cho đất nước có nguy cơ vỡ nợ, ngân sách cạn kiệt, giáo dục trì trệ, y tế bệ rạc, đạo đức tha hóa, xã hội xác xơ, bọn tham quan ‘tỷ phú đỏ’ lo vơ vét, chuẩn bị cho vợ con chuyển của cải ra nước ngoài để hưởng thụ thu nhập phi pháp, khi các vụ án kinh tế hàng trăm, nghìn tỷ đồng, ngành tư pháp độc đảng không quan tâm thu hồi tiền của bất minh đồ sộ ấy để trả vào công quỹ.
Lẽ ra các thẩm phán – chánh án ấy phải đứng trước vành móng ngựa vì đã cố tình chà đạp luật pháp vì tư lợi bởi bị mua chuộc, cùng với bọn tỷ phú đỏ coi tiền là Thượng đế, nước và dân cùng hiến pháp, pháp luật chỉ là cỏ rác.

Hiện nay có thể thấy có 3 nhóm ‘đồng chí thù địch’ chủ yếu, chưa kể các nhóm nhỏ vệ tinh bám quanh, tùy theo địa phương, ngành, lợi ích, như các nhóm miền Bắc, miền Trung, miền Nam, nhóm dầu lửa, các nhóm ngân hàng, các đại công ty quốc doanh – các quả đấm thép, nhóm thân Tàu, nhóm thân Hoa Kỳ, nhóm đứng giữa, nhóm thân tình báo Hoa Nam (Nguyễn Chí Vịnh)… Các nhóm luôn chuyển động tùy theo thời cuộc, theo chủ nghĩa thực dụng, chạy theo chức quyền và tư lợi, tiền, đất, nhà, hưởng lạc, lúc hợp tác, khi chống nhau quyết liệt, đến mức dùng súng đạn.

Trong 3 nhóm chủ yếu, có thể gọi NHÓM A là phe nhóm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, đang có quyền lực mạnh nhất, lại trên thế thắng to sau khi lọai được ‘đồng chí X’ vô cùng lợi hại.  Nhóm này có chỗ yếu lớn, tiền ít, nhân sự mỏng, uy tín cực thấp. Chỗ dựa kinh tế tài chính không có mấy. Chỗ dựa lớn nhất là Ban Tuyên giáo bảo thủ giáo điều thân bành trướng, Học Viện Chính trị và Hành chính mang tên ‘HCM’ ăn tiền nhiều, cực kỳ giáo điều, thành quả nghiên cứu rất nghèo nàn.
Ông Trọng lại ở cái thế cuối nhiệm kỳ, do chót hứa chỉ tại chức thêm nửa khóa, 75 tuổi về hưu, tóc bạc da mồi, lên xuống xe phải có kẻ dìu. Nhóm này có phần đơn độc, với 2 trợ thủ là Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đều có thế và lực rất mỏng, uy tín xã hội quá thấp, quyền lực nhiều nhưng thiếu tiền và thiếu uy thế chính trị, thời gian cạn kiệt dần, cận thần rơi rụng từng ngày.

NHÓM B là nhóm của ‘đồng chí X’ tuy thua một keo đo ván, nhưng chưa chịu tháo găng, có thế lực đông, mạnh nhất trong các phe nhóm ‘tỷ phú đỏ’, nhân sự rộng rãi trong Nam ngoài Bắc, trong các đại công ty quốc doanh, trong ngành Công an, ngành Ngân hàng. Có tiền dư dật, nhiều quân sư mưu cao kế sâu, bắt cá 2 tay, ve vãn Tàu rồi ve vãn Tây, đánh rồi xoa, tung hỏa mù.
Có thể nhóm này dùng Trịnh Xuân Thanh làm mũi nhọn phản công nhóm A, và sẽ có lắm chuyện giật gân, ly kỳ, rối rắm.  Lão tướng của phe này là Đinh La Thăng và bộ hạ đã bị sờ gáy. Con gái, con rể, tướng Liêm, em vợ của ‘đồng chí X’ đã trong tầm ngắm của nhóm A.
NHÓM C là nhóm của Trần Đại Quang, Tô Lâm và Đỗ Bá Tỵ, 3 ông tướng từng liên kết với nhau. Lợi thế là nắm trọn lực lượng võ trang, theo quan điểm của Mao, chính quyền từ nòng súng, khi chế độ đang là Công an trị, Cảnh sát trị. Tiền rất nhiều, súng rất nhiều, bạo lực có thừa, lại ở thời kỳ sung sức của Nguyên thủ quốc gia – Thống lĩnh các lực lượng vũ trang, lại có quyền lực quyết định trong chính sách đối ngọai, quan hệ khá rộng với các cơ quan tình báo phương Tây. Đây là thế lực có thể làm một cuộc đảo chính nội bộ hòa bình không hoặc ít đổ máu, răn đe cô lập nhóm A, nhóm B và các phe nhóm nhỏ, khôn ngoan cư xử hòa hõan với TQ, gắn bó từng bước ngày càng chặt với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, Indonesia, Liên Âu…
Rất có thể nhóm này khôn ngoan tranh thủ sự đồng tình của nhóm Nguyễn Chí Vịnh và các thành viên cũ của Tổng Cục II, vốn theo chủ nghĩa thực dụng, gió chiều nào ngả theo chiều ấy. Tình thế Tập Cận Bình ngày càng khó, bị dập mặt ô nhục do bản tuyên án quốc tế, bị bế tắc trước trào lưu dân chủ như Tsunami ở Đài Loan và Hồng Kông, bị khủng hỏang kinh tế tài chính lớn đe dọa… đang giúp cho xu thế Thóat Trung.

Cũng có khả năng nhóm C khôn ngoan bắt tay liên minh với nhóm B để hạ bệ nhóm A nhanh, gọn, chia chác quyền lực, do hiểu rõ thế đi xuống của Bắc triều đang hụt hơi toàn diện, bị ngăn chặn bởi chiến lược Xoay Trục sang vùng châu Á-Thái Bình Dương sẽ  được đẩy mạnh  khi nữ Tổng thống mới của Hoa Kỳ sẽ nhận chức, hầu như ăn chắc.
Có thể nhóm C được khích lệ bởi cảm hứng chính trị từ Myanmar – Miến Điện, khi cánh quân đội của tướng Thein Sein, do hiểu xu thế thời đại và lòng dân, bắt tay với bà Aung San Suu Kyi, xây dựng chính quyền liên hiệp dân tộc, chấm dứt nền chuyên chính cổ lỗ tệ hại đã quá dài. 

Chuyển biến này thật đáng mong chờ.

Tất nhiên nhiều bà con ta khi chưa vùng dậy được để quyết định vận mệnh của nước ta theo hướng dân chủ thì nhân dân  ta rất nên mong và góp sức cho nhóm C thành đạt, làm tiền đề cho những bước dân chủ dân quyền thật sự tiếp theo. Nhanh nhất, gọn nhất, không đổ máu, còn gì bằng!

Ai thuận theo lòng dân thì tất thắng.

Hai năm nay, hãng điều tra dư luận quốc tế rất có uy tín PEW đều cho biết theo điều tra chặt chẽ, ở VN có 82 đến 83% người dân muốn kết bạn thân với Hoa Kỳ, chỉ có 10 đến 12% muốn kết thân vói TQ. Số người VN trẻ tuổi muốn kết thân với Hoa Kỳ còn cao hơn.
Rất có nhiều lý do hợp lý để có chính kiến như trên. Hoa Kỳ không hề có tham vọng một tấc đất, tấc đảo, tấc biển nào ở nước ta. Ngân hàng Quốc tế World Bank, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF theo chính kiến của Hoa Kỳ cấp vốn và viện trợ vô tư rộng rãi cho nước ta. Chính quyền, nhiều hãng, công ty lớn Hoa Kỳ đầu tư lớn với kỹ thuật cao qua các quỹ ODA và FDI cho nước ta. Hợp tác an ninh quốc phòng 2 nước mở rộng dần. Hoa Kỳ tham gia tích cực việc quét mìn, giải quyết hậu quả chất độc màu da cam ở nước ta. Buôn bán giữa 2 nước lên đến 45 tỷ đô la /năm, có lợi cho phía VN. Trong khi đó buôn bán với TQ, ta lỗ đến 35 tỷ đôla, chưa kể buôn lậu hàng giả, hàng độc hại, cả buôn người, buôn trẻ con… Trung Quốc ba hoa chi viện vô tư 200 triệu đôla cho VN, nhưng chỉ bằng 1 phần 18 số tiền lợi nhuận đen tối nói trên.

Hiện có 20 ngàn học sinh VN theo học trên đất Hoa Kỳ, Đại học Fulbright sắp mở ở VN, các thầy cô giáo của Peace Corps sẽ sang VN dạy học. Tất cả chỉ có lợi cho VN.

Tình cảm sâu rộng của dân Việt ta với Tổng thống Barack Obama trong chuyến công du vừa qua cho thấy, đó là thái độ tự nhiên, tự phát, bao trùm, có ý nghĩa lịch sử lâu bền trong lòng người. Chưa bao giờ Hoa Kỳ và các nước liên minh với Hoa Kỳ mong muốn  gắn bó toàn diện về chiến lược với VN, sẵn sàng trợ giúp ta với quy mô lớn nhất. Đây là thời cơ quý hiếm. Là vận nước tuyệt vời ngàn năm mới có.

Ý dân là ý trời. Mỗi người dân Việt xin hãy ghi nhớ điều đó!

Các phe nhóm ‘đồng chí cộng sản thù địch’ đang đọ sức phải nhớ cho kỹ điều đó!

Ông Cả Trọng từng thề thốt: ‘sẽ trọng dân và gần dân’. Ông nói rồi quên, lú lẫn, để đấy.  Bảo thủ, giáo điều là điều dân chúa ghét bỏ thì ông Trọng lại ôm chặt. Phe nhóm ông sẽ bị cô lập, thất bại, bị thải lọai là lẽ đương nhiên.

Hội nghị TƯ 4 vừa khai mạc, bàn về Sự suy thoái và đạo đức của đảng viên đã thất bại ngay khi đặt vấn đề. Lẽ ra phải đặt vấn đề thảo luận then chốt trong xây dựng đảng là ‘Đảng CS phục vụ nhân dân và dân tộc, hay là tranh giành đặc quyền đặc lợi cho riêng phe nhóm trong đảng?’



........./.

ĐỔI TÊN




TỪ ĐỔI TÊN NGƯỜI TỚI ĐỔI TÊN NƯỚC
Trần Văn Chánh


http://viet-studies.net/kinhte/TranVanChanh_TenNguoiTenNuoc.htm



***

     Phong tục và tâm lý người Việt rất coi trọng cái tên, vì tên người biểu lộ nguyện vọng và ý chí tiến thủ của một người. Ở Việt Nam thời xưa, có những sách chuyên khảo về tên họ những người đỗ đạt hoặc có tiếng, như có thể kể quyển Cổ kim trùng danh trùng tính khảo của Mai Phong Đặng Xuân Khanh, chuyên ghi lại những họ tên trùng nhau qua các đời, đủ thấy cái tên người là quan trọng đối với người Việt Nam như thế nào. 
     Tại các vùng nông thôn thời xưa, phần nhiều ít học, người dân có khuynh hướng dễ dãi lấy những tiếng thông tục xấu xí đặt tên cho con, nhưng khi đứa trẻ trưởng thành đi học hoặc ra đời làm ăn, vẫn muốn đổi một cái tên khác nghe cho đẹp hơn, hoặc nếu không thì người khác cũng đổi tên cho. Chẳng hạn các cô gái từ quê lên thành tìm sinh kế, thường đổi một cái tên xấu xí thành tên khác nghe mỹ miều hơn, cho đỡ mặc cảm với người đời; nếu đi ở làm công cho các nhà khá giả, chủ nhà cũng thường lấy những tên như Sen, Nhài, Nụ, Bông, Hoa... để đặt thay cho những tên Lủng, Mẹt, Tẹt... ở quê nhà nghèo khó.
     Thông thường, đặt hay đổi một cái tên nghe cho hay ho, hoặc có ý nghĩa thâm sâu nào đó, người ta muốn người mang tên cũng có được những tính cách, phẩm chất tốt đẹp hàm ý biểu thị trong tên gọi. Tuy nhiên có người tên nghe rất hùng dũng nhưng bản chất lại yếu đuối, và ngược lại. Nhưng dù sao, nói chung cái tên cũng ảnh hưởng đến tâm lý cá nhân rất mạnh. Tục xưa còn kiêng đặt những tên Hoa, Nguyệt cho con gái, vì “hoa nguyệt” có nghĩa bóng là tà dâm, là lẳng lơ...  
     Theo hương tục thời cũ, tuy tên bộ (tên thật ghi trong sổ bộ) đã ghi vào sổ đinh nhưng đôi khi người ta vẫn tự tiện thay đổi và được hương lý chấp thuận một cách dễ dàng với lời ghi “Đổi ra...”, vì nhà cầm quyền cũng muốn dân có tên đẹp, không rắc rối như cách làm của các phường, xã bây giờ. Trong giới trí thức, việc đổi tên thật, tên hiệu, tên tự xảy ra còn nhiều hơn, nhất là khi có một bước chuyển quan trọng nào đó trong cuộc đời (xấu hoặc tốt), như khi đỗ đạt hoặc chuyển đổi lãnh vực hoạt động, trứ tác, nên có nhiều nhà nho, nhà văn có đến mấy tên tự hoặc bút hiệu, chẳng hạn Nguyễn Đình Chiểu tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi bị mù mới đổi hiệu thành Hối Trai...
     Sách Đại Việt lịch triều đăng khoa lục có chép nhiều trường hợp đổi tên, như Dương Hải, trước tên là Mỗi, ngự bút của vua phê đổi tên Hải (đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân trong khoa Quý Dậu, triều Lê Nhân Tông); Dương Bang Bản, vua cho đổi theo quốc tính (họ vua) là Lê, và cho đổi tên là Tung, thành Lê Tung (đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn triều Lê Thánh Tông, người viết bài “Tổng luận” cho sách Việt giám thông khảo của Vũ Quỳnh); Đỗ Lý Khiêm tự đổi tên thành Ích (đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, khoa Kỷ Mùi thời Lê Hiến Tông)... Triều Nguyễn, trong 39 khoa thi hội đã có đến 57 ông nghè ông bảng được tự ý đổi tên hoặc được các vua đương thời tự tiện phê vào danh sách đổi tên, tương tự mấy trường hợp vừa nêu trên.
     Tên người thay đổi là vậy, thì tên đất (tỉnh, phủ, huyện, thủ đô), tên nước (quốc hiệu) có  thay đổi cũng là chuyện rất bình thường, vì thế các sách địa lý cổ thời xưa, trước khi trình bày nội dung chi tiết về một tỉnh, đều có mục “kiến trí duyên cách” (dựng đặt và quá trình biến đổi) để giới thiệu tên gọi thay đổi của địa danh qua các đời. Riêng quyển Sổ tay địa danh Việt Nam của Đinh Xuân Vịnh (NXB. Đại Học Quốc Gia Hà Nội) giới thiệu khoảng trên dưới 8.000 đơn vị địa danh gồm núi sông, làng xã, tổng, huyện, phủ, quận, tỉnh, thành phố..., mà đơn vị nào cũng ghi được vài cái tên thay đổi qua các triều đại.
     Tên thủ đô Việt Nam cũng thay đổi không ít, thường tương ứng với sự thay đổi tên nước, và tồn tại trong một thời kỳ lịch sử dài ngắn khác nhau, được ghi nhận gồm có: Phong Châu (Bạch Hạc-Phú Thọ) thời Hùng Vương; Phong Khê (Cổ Loa-Đông Anh-Hà Nội) thời nhà Thục; Long Biên (Hà Nội) thời Lý Nam Đế; Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) thời nhà Ngô (nửa trước thế kỷ 10); Hoa Lư (Hoa Lư, Ninh Bình) thời Đinh Tiên Hoàng; Thăng Long (Hà Nội) thời Lý-Trần; Tây Đô (Thanh Hóa) thời nhà Hồ (Hồ Quý Ly, 1400-1408); Đông Đô (Hà Nội ngày nay) thời Lê Sơ (Lê Lợi, 1428); Quy Nhơn (Bình Định) thời Tây Sơn giai đoạn Nguyễn Nhạc (1787) và Phú Xuân (Thừa Thiên-Huế) thời Tây Sơn giai đoạn Nguyễn Huệ (1790); Phú Xuân (Huế) thời Nguyễn Gia Long (1802); Hà Nội sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay. Tổng cộng có 11 tên gọi thủ đô khác nhau.
     Sử sách còn ghi lại việc dời đô và thay đổi tên kinh đô của Lý Công Uẩn tức vua Lý Thái Tổ trong bài “Thiên đô chiếu” với những lý lẽ chắc nịch: “Xưa nhà Thương đến Bàn Canh có năm lần dời (đô), nhà Chu đến Thành Vương có ba lần chuyển (đô)... Ấy là vì các vua muốn đóng nơi trung tâm để mưu đồ sự nghiệp lớn làm kế lâu dài cho con cháu muôn vạn đời sau. Các ngài đó trên cẩn thận vâng theo mệnh trời, dưới theo ý nguyện của dân, nếu thấy tiện lợi thì mới sửa đổi, cho nên vận nước dài lâu, phong tục giàu thịnh... Huống chi thành Đại La... ở vào chính giữa bờ cõi, vị trí hợp với bốn phương đông tây nam bắc, tiện cho chiều hướng thuận nghịch của núi sông; đất nầy rộng mà bằng phẳng, vừa sáng sủa vui tươi... Xem khắp cõi Việt ta, đây là thắng địa, thật là nơi hội họp quan trọng then chốt của bốn phương... Trẫm muốn nhân cái địa lợi ấy để dựng chỗ ở của mình, các khanh cho như thế nào?”. Thế là nhà vua quyết định chuyển kinh đô từ Hoa Lư hẻo lánh chật hẹp sang thành Đại La, rồi đổi tên là Thăng Long.
     Về tên nước, sự thay đổi tuy có ít hơn và thường gắn với sự thay đổi của cả một triều đại, nhưng cũng là chuyện không lạ trong lịch sử. Có trường hợp không thay đổi triều đại mà vẫn đổi tên nước, như thời Minh Mạng triều Nguyễn đổi tên nước từ Việt Nam thành Đại Nam hay Đại Việt Nam vào năm 1838 là một thí dụ.
     Điểm lại lịch sử đổi tên nước, chúng ta được biết, trong thời kỳ dựng nước, Hùng Vương gọi tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, dân số cuối thời Văn Lang (khoảng năm 3.000 TCN) chỉ khoảng 500 ngàn người; khi Thục Vương chiếm lấy Văn Lang, đổi tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê. Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, có sự kiện quan úy quận Nam Hải là Triệu Đà nổi lên tự lập, đem quân đánh lấy nước Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt vào năm 206 TCN, nhưng nhiều sử gia sau nầy không cho Nam Việt là quốc hiệu chính thức của nước ta. Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, nước ta được nhà Tây Hán gọi tên Giao Chỉ (111 TCN), thời Đông Hán đổi thành Giao Châu (203 TCN), đến năm 544 Lý Bôn (có sách chép là Lý Bí) xưng Nam Việt Đế, tức Lý Nam Đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, quốc hiệu Vạn Xuân (544 sau CN), đóng đô ở Long Biên (Hà Nội). Năm 679, nhà Đường (Trung Quốc, 618-907) đổi Giao Châu làm An Nam Đô Hộ Phủ, nước ta được gọi tắt là An Nam khởi đầu từ đấy. Trong thời kỳ độc lập tự chủ, năm 968, Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp yên 12 sứ quân cát cứ, lên ngôi hoàng đế,  tức Đinh Tiên Hoàng nhà Tiền Lê, đã đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, dân số cả nước lúc bấy giờ có khoảng 2 triệu người. Lý Công Uẩn (1010-1028) tức Lý Thái Tổ tiếp ngôi nhà Tiền Lê, dời kinh đô về La Thành, lấy tên mới là thành Thăng Long. Sang thời Lý Thánh Tông (1054-1072), khi vừa lên ngôi liền đổi tên nước là Đại Việt, và danh xưng nầy đã tồn tại lâu dài trong suốt cả ba thời Lý, Trần, Hậu Lê, kéo dài từ năm 1054 đến 1802, trong khoảng đó chỉ có một thời gian rất ngắn ngủi (1400-1408) được đổi tên là Đại Ngu trong thời Hồ Quý Ly cầm quyền. Mãi đến khi Nguyễn Ánh tức Gia Long (1802-1819), sau khi dứt được Tây Sơn, thống nhất lãnh thổ, mới sai  Lê Quang Định sang Trung Quốc cầu phong xin đổi quốc hiệu là Nam Việt, nhưng triều đình  nhà Thanh không chấp nhận tên nầy, lấy lẽ rằng hai chữ Nam Việt trùng với tên cũ xưa, và đề nghị sửa thành Việt Nam, nên mãi đến 2 năm sau mới sai sứ  sang phong cho Nguyễn Ánh là Việt Nam Quốc Vương (1904). Năm 1838, vua Minh Mạng (Minh Mệnh) còn đổi tên nước thành Đại Nam, hoặc Đại Việt Nam, lúc dân số đã tăng lên vào khoảng 7.764.128 người. Lời dụ đổi tên nước chép trong Đại Nam thực lụctập 20 có nêu rõ: “Nay bản triều có cả phương Nam, bờ cõi ngày càng rộng..., trước gọi là Việt Nam, nay gọi là Đại Nam, càng tỏ nghĩa lớn, mà chữ Việt cũng vẫn ở trong đó ... để cho đúng tên và sự thực. Chuẩn cho từ nay trở đi, quốc hiệu phải gọi là nước Đại Nam, hết thảy giấy tờ xưng hô, phải chiếu theo đó tuân hành, gián hoặc [thỉnh thoảng] có nói liền là nước Đại Việt Nam, về lẽ vẫn phải... Phải lấy năm Minh Mệnh 20 làm bắt đầu đổi chép chữ Đại Nam ban hành (ghi vào lịch), để chính tên hiệu và khắp các nơi xa gần” (dẫn theo Nguyễn Đình Đầu, Việt Nam, quốc hiệu & cương vực, NXB. Trẻ, 2005, tr. 111). Về việc nầy, tài liệu của GS Bửu Cầm dẫn sách Đỉnh tập quốc sử di biên của Phan Thúc Trực cũng nêu rõ: “Năm Mậu Tuất, Minh Mệnh thứ 19 (1838), tháng 3, ngày mồng 2, đổi tên nước là Đại Nam... hoặc gọi là nước Đại Việt Nam cũng được” (Quốc hiệu nước ta, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1969, tr. 119).
     Tuy đổi tên Đại Nam nghe rất oai, nhưng nước ta vẫn bị xâm chiếm và từ khi bị Pháp đô hộ (1862-1945), cả ba quốc hiệu Việt Nam, Đại Nam và Đại Việt Nam đều bị bỏ theo, chỉ còn gọi Annam (An Nam) hay Trung Kỳ, Tonkin hay Bắc Kỳ và Cochinchine hay Nam Kỳ. Chỉ đến sau Cách Mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2.9.1945 và đến đầu năm 1946, Quốc hội họp quyết định thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1975, đất nước tạm thời chia hai ở sông Bến Hải, một bộ phận thuộc miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào tổ chức thành chính quyền riêng với tên gọi Việt Nam Cộng Hòa, lấy Sài Gòn làm thủ đô. Sau ngày 30.4.1975, chấm dứt cuộc chiến tranh 30 năm, đến cuối năm, tiến hành hiệp thương thống nhất hai miền Nam Bắc, rồi đến đầu năm 1976, Quốc hội khóa VI đã quyết định đổi tên nước thành nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nhưng vẫn gọi tắt theo tên thông dụng bấy lâu nay là Việt Nam.
     Tổng cộng, từ thời Hùng Vương dựng nước đến nay, nếu không kể bộ phận miền Nam trong thời kỳ chia cắt là Việt Nam Cộng Hòa (1954-1975), thì nước ta có  đến tất cả 13 tên gọi, với 12 lần thay đổi.
     Xét lại quá trình đổi tên nước trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, chúng ta thấy việc thay đổi quốc hiệu tuy là quan trọng nhưng cũng chỉ là việc bình thường, ngay cả khi không có sự thay đổi triều đại.
     Mấy năm gần đây người ta nói nhiều đến việc đổi tên Đảng, tên nước, nhưng tên Đảng thật ra là chuyện riêng của Đảng; con đẻ ra, tùy theo nguyện vọng, chí hướng của cha mẹ, chỉ có cha mẹ mới có quyền quyết định đặt tên, người khác chỉ góp ý vào hoặc đặt tên giúp khi cha mẹ đứa trẻ có yêu cầu mà thôi. Riêng tên nước, thì trong thời đại dân chủ, đó lại là chuyện của toàn dân, biểu thị chí hướng, nguyện vọng của cả dân tộc, nên chỉ dân mới có quyền đặt hoặc đổi thông qua các đại biểu dân cử của mình ở Quốc hội (với điều kiện Quốc hội dân cử thực chất, chứ không do đảng cầm quyền cơ cấu sẵn), nếu cần thì mở ra thêm một cuộc trưng cầu dân ý đặc biệt.
     Khoảng 10 năm trước, trong bài “Đảng phải là Đảng của dân tộc” (báo Pháp Luật TP. HCM, 6.3.2006), ông Tương Lai có lẽ là người đầu tiên đặt thẳng vấn đề lên báo chí công khai, khi ông viết: “Để cho Đảng ‘gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta’, nên chăng Đảng trở lại với tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam cùng với tên nước là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.
     Riêng về cụm từ xã hội chủ nghĩa (XHCN) gắn trong tên nước, có ý kiến cho rằng “… chọn định hướng XHCN, mà XHCN ở đây là mô thức tổ chức xã hội, thì trên góc độ nhận thức và thực hành đã và đang không còn cơ sở tồn tại [TVC nhấn mạnh] với sự lựa chọn trong xu thế phát triển chung của thời đại cũng như trong tiến trình đổi mới ở nước ta thì không nên tiếp tục chọn” (xem Đào Công Tiến, “Về định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tư duy phát triển, NXB Thời Đại, 2012, tr. 24).
      Nói thêm về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và định hướng XHCN, nhớ lại gần 3 năm trước, trong ngày 23.10.2013, chính ông Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuyên bố trước Quốc hội:“Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa” (xem Tuổi Trẻ Online, 23.10.2013). Có nghĩa là trong bụng ông Tổng bí thư cũng không dám tin lắm vào CNXH, nhưng ngoài miệng thì vẫn phải luôn nói. Còn ông bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh thì hồi tháng 5 năm kia (2014), khi được mời đến nói chuyện về các vấn đề kinh tế ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, cũng đã từng phát biểu trước đông đảo cử tọa là các nhà lãnh đạo của hầu hết các tỉnh, thành phố, để trả lời cho câu hỏi thắc mắc thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm” (xemThời Báo Kinh Tế Sài Gòn Online, 3.5.2014).
     Thiết nghĩ, sau đúng 41 năm lấy theo tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mà tính chất xã hội chủ nghĩa thực tế lại bị lệch đi do hố ngăn cách giàu nghèo trong xã hội ngày một gia tăng, đời sống nông dân, công nhân và nhân dân lao động nghèo thành thị chậm được cải thiện, nếu không muốn nói ngày càng tồi tệ, cho thấy giữa “danh” với “thực” đã thiếu sự trùng khớp, thì việc đổi tên nước nếu được đặt ra lại trong lúc nầy cũng không phải là ý tưởng lạc điệu. Mai kia, giả định, một khi đã hiện thực hóa được CNXH rồi, dân Việt Nam vẫn có thể đặt lại tên nước của mình một cách thoải mái với cái đuôi XHCN theo sau, vốn hàm chứa lý tưởng chung của cả loài người, thì cũng chẳng muộn màng gì!
     Ở một khía cạnh nhỏ khác, nhưng không kém phần quan trọng, cái tên có tính phổ cập dễ nghe, không có đuôi XHCN theo sau, thì cũng dễ gây được sự gần gũi, tin cậy, chiếm được cảm tình của nhiều người hơn, trong ngoại giao quốc tế… Còn XHCN một cách thực chất, trong đó mọi người dân trong nước đều được hưởng tự do, hạnh phúc, thì nhân dân Việt Nam vẫn phải kiên trì phấn đấu, chứ không bỏ…        
     Cũng có ý kiến cho rằng việc có đổi tên nước hay không và đổi thành tên gì là không quan trọng, vì vấn đề là việc đổi mới, lột xác về thực chất chứ không phải danh hiệu tốt đẹp bề ngoài. Tuy nhiên, như trên đã nói, cái tên cũng có tác động rất lớn về mặt tâm lý, vì vậy nếu đất nước thật sự đang muốn chuyển sang bước ngoặt mới hay sang một cái “nguơn” mới để vươn lên giàu mạnh, thịnh trị, bằng một hệ thống chính sách quyết liệt, đoạn tuyệt với những gì lạc hậu cũ kỹ không còn thích hợp, thì việc đổi tên nước cũng sẽ có ý nghĩa rất quan trọng, mang lại niềm phấn khích, niềm tin và hi vọng trong vận hội mới cho toàn thể nhân dân, và biểu thị một ý chí, quyết tâm mới trên con đường chấn chỉnh đi lên.
     Hẳn cũng là một việc nên làm, và trong chiều hướng ấy, ngay cả việc đổi tên thủ đô luôn một thể cũng có thể coi là một vấn đề đáng xét, chứ không nên quy vào phạm vi của những điều cấm kỵ như một số người từng nghĩ. 
                                                                                                   
                                                                  
13.3.2006 (chỉnh lý bổ sung, 1.10.2016)


Tác giả gởi cho viet-studies ngày 7-10-16

.../.

Bí thư thành ủy


Bí thư thành ủy  

Posted by adminbasam 


Kính Hòa, phóng viên RFA

**


Trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện tại, cũng như các quốc gia cộng sản trong quá khứ, các ông bí thư đảng giữ vai trò rất quan trọng. Ở mọi cấp độ của hệ thống quyền lực đều có những ông bí thư, từ bí thư khu phố, rồi phường xã, quận huyện, tỉnh thành, rồi cuối cùng lớn nhất là ông Tổng bí thư. Đương nhiên những ông bí thư ở các thành phố quan trọng thì cũng rất quan trọng trong bộ máy quyền lực đó.
Một ông bí thư đang được các blogger nhắc đến liên tục trong những ngày cuối tháng chính là đương kim Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, ông Đinh La Thăng.
Ông Thăng từng giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy kinh tế và hành chính của chính phủ do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, như phụ trách Tổng công ty dầu khí, Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải, trước khi ông được bổ nhiệm làm Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, và đắc cử vào Bộ Chính trị của đảng, cơ quan nắm quyền lực thực sự của đất nước.
Trên mạng xã hội bắt đầu bàn tán về ông Thăng sau khi một thuộc cấp của ông trước kia là ông Trịnh Xuân Thanh bị tình nghi tội tham nhũng và biến mất. Một người phó cũ khác của ông Thăng thì bị bắt giam.
Blogger, nhà báo Huy Đức viết liên tục hai bài mang tên Thanh hay Thăng, và Tảng băng nổi, chỉ trích đích danh ông Đinh La Thăng. Trong hai bài viết này tác giả đưa ra rất nhiều những số liệu kinh tế và thống kê, chứng minh rằng ông Đinh La Thăng đã làm tổn hại rất nhiều cho nền kinh tế Việt Nam trong thời gian ông còn phụ trách Tổng công ty dầu khí.
Không thấy báo chí chính thống của nhà nước nói gì về câu chuyện này.
Hai bài viết của nhà báo Huy Đức gây nên một trận tranh cãi giữa những blogger với nhau, có blogger nghi ngờ rằng nhà báo viết để ủng hộ ông Tổng bí thư tấn công đối thủ chính trị của ông là cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà nhiều lời đồn đãi cho rằng chính là người đứng sau lưng ông Đinh La Thăng.
Tác giả Lê Dung viết rằng hai bài viết của nhà báo Huy Đức là để bắt đầu một cuộc chiến truyền thông nhằm hủy diệt ông Đinh La Thăng. Ông Bùi Quang Vơm thì lần ngược lại câu chuyện Trịnh Xuân Thanh mà cho rằng có thể câu chuyện một viên chức nhà nước bị truy tố về tham nhũng sẽ trở thành một trận bão táp về chính trị.
Những ý kiến chống nhà báo Huy Đức tập trung ở một ý lớn cho rằng chuyện tham nhũng của ông này hay ông kia không quan trọng mà quan trọng hơn là cả một hệ thống đang bị hư hỏng.
Blogger Đặng Ngữ viết:
Huy Đức hết sức cổ vũ cho việc chống tham nhũng; anh tin rằng bằng việc loại bỏ những “con chuột” cỡ bự thì bộ máy sẽ trong sạch trở lại, tạo tiền đề khởi động cho thể chế dân chủ. 
Câu hỏi là, có lý nào Huy Đức không biết rằng, sai lầm ở toàn bộ bộ máy này, toàn bộ hệ thống này; và rằng hệ thống là không thể tự sửa chữa dù đại đa số đảng viên đều là đảng viên tốt.
Blogger Kinh Thư tiếp lời:
Ai cũng biết cái gốc của mọi vấn đề là chế độ. Cá nhân cho dù chức này chức nọ cũng chỉ là 1 con ốc trong guồng máy. Đánh vào cá nhân xấu xí, cũng được đi, nhưng đó chỉ là những cú đánh tranh dành quyền lợi giữa các phe nhóm lợi ích. Thay cá nhân này bằng cá nhân khác thì nhân dân đằng nào cũng ngất ngư và nghèo khổ, chả được gì. Trong cuộc hí trường này nhân dân chỉ là khán giả bất đắc dĩ. Thôi thì thằng nào chết nhân dân cũng vỗ tay..
Bà Hồ Thu Hồng, cũng là một cựu nhà báo ở Việt Nam viết rằng Với các tội danh đó (đối với ông Thanh và ông Thăng) thì có thể truy tố hầu hết các lãnh đạo tập đoàn, Tổng công ty nhà nước.
Blogger Thiện Ý hỏi rằng liệu chiến dịch chống tham nhũng của ông Tổng Bí Thư có phải là để diệt trừ các phe phái kình địch với nhau trong đảng cộng sản hay không.
Có những blogger ủng hộ nhà báo Huy Đức.
Một blogger viết rằng nhiều người không thích ông Nguyễn Phú Trọng nên phủ nhận hết mọi cố gắng chống tham nhũng của nhà báo Huy Đức.
Blogger Lê Công dù không đồng ý với Huy Đức nhưng cũng nói rằng: Tuy nhiên, nếu điều mà anh làm là đúng, là ích nước lợi dân thì cho ông ngàn lần xin lỗi.
Khi kết thúc bài viết thứ hai liên quan đến ông Đinh La Thăng, tác giả Huy Đức viết:
Tất nhiên, trách nhiệm không chỉ một mình Đinh La Thăng. Nhưng nếu không xử lý ông Thăng thì bao nhiêu tuyên bố về chống tham nhũng cũng trở nên sáo rỗng.
Có nhiều người hỏi, khi viết về Đinh La Thăng tôi có sợ không. Tôi trả lời: Sợ. Nhưng tôi có một nỗi sợ lớn hơn, đó là, tôi sợ tương lai đất nước tôi rơi vào tay những kẻ tham lam và bịp bợm.
Cuộc chiến thông tin mới trong cuộc chiến quyền lực
Trước những lời đồn đãi phe này phe kia trong nội bộ đảng cộng sản, blogger Kami cho rằng điều đó xuất phát từ một nền truyền thông độc quyền, không minh bạch của đảng:
Trong một xã hội khi thông tin, đặc biệt là thông tin về chính trị đã bị bưng bít như ở Việt Nam hiện nay, khi mà các thông tin đều bị định hướng theo hướng có lợi cho nhà cầm quyền và những thông tin bị coi là “nhạy cảm. Điều đó đã càng kích thích sự thèm khát tin tức trái chiều của dân chúng, đó là lý do vì sao các tin tức chưa được kiểm chứng, đặc biệt là các tin tức mang màu sắc của thuyết âm mưu trở thành món ăn “khoái khẩu” của đa số người dân không ưa chế độ.
Tuy vậy không khí truyền thông ở Việt Nam đã có rất nhiều thay đổi. Nhiều lần báo chí chính thống của nhà nước cũng phải nêu lời giải đáp cho những tin tức được lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội sau một thời gian dài im lặng. Thậm chí nhà báo Phạm Chí Dũng còn cho rằng việc kiểm soát truyền thông của đảng đã không còn tập trung như trước đây nữa.
Trong một lần trao đổi với chúng tôi ông nói:
“Sự phân hóa truyền thông liên quan đến sự phân hóa chỉ đạo, sự phân hóa này liên quan đến lực lượng chỉ đạo truyền thông cũng bị phân hóa nốt. Và tôi cho rằng Ban tư tưởng trung ương, tức là Ban tuyên giáo trung ương không còn đóng vai trò là đầu mối chỉ đạo truyền thông như thời gian trước đây, mà chỉ đạo truyền thông bây giờ bao gồm cả những lực lượng khác.”
Ông Phạm Chí Dũng cũng cho biết thêm rằng lần đầu tiên bài viết của một bí thư thành ủy, kiêm ủy viên bộ chính trị là ông Đinh La Thăng bị gỡ khỏi một tờ báo của nhà nước khi ông trình bày quan điểm của ông về một cựu chiến binh Mỹ.
Theo blogger Lê Diễn Đức thì trong lịch sử đảng cộng sản Việt Nam có hai đương kim Bộ chính trị bị kỷ luật lúc đương chức. Đó là ông Hoàng Văn Hoan bỏ chạy sang Trung quốc vào năm 1979 và bị xử tử hình vắng mặt. Người thứ hai là ông Trần Xuân Bách bị khai trừ đảng vào năm 1990 khi muốn xúc tiến những cải cách dân chủ.
Con đường dân chủ gian nan
Nhận xét về hiệu quả của bộ máy công quyền hiện nay của đảng cộng sản Việt Nam, blogger Nguyễn Thị Từ Huy viết:
Tình trạng độc quyền chính trị đã làm cho bộ máy quyền lực của Việt Nam trở nên bất lực, không thể giải quyết được các vấn đề của quốc gia. Vụ Formosa, thực ra không mấy khó khăn để giải quyết nhưng chính phủ cũng không giải quyết nổi. Chỉ riêng việc chính phủ phải mất đến ba tháng trời mới công bố nguyên nhân của vụ ô nhiễm đã chứng tỏ sự yếu kém của chính phủ đến mức nào. Và việc giải quyết với mức đền bù 500 triệu đô la cho thấy chính phủ bất lực đến mức nào, như nhiều phân tích đã chỉ ra.
Guồng máy chính trị hiện nay không thể che dấu sự yếu kém và bất lực trong việc điều hành quốc gia. Đồng thời lại phạm sai lầm ở chỗ lấy việc đàn áp nhân dân để chứng tỏ quyền lực của mình.
Chống lại bộ máy quyền lực đàn áp đó, theo blogger Song Chi thì hiện nay chỉ là những phản kháng theo kiểu thóa mạ các vị lãnh đạo từ cao tới thấp, và Song Chi nói rằng sự thóa mạ như vậy không đưa đến một sự thay đổi nào.
Trở lại chuyện ông Đinh La Thăng và cuộc tranh cãi nhau giữa các blogger, xin trích lời tác giả Trần Minh Khôi, như lời kết của bài điểm blog này:
Một trong những bí quyết của những kẻ độc tài trong cố gắng duy trì quyền lực độc đoán của họ là làm suy thoái nhân cách của đám có chữ. Khi không còn đủ một lớp người có học và có nhân cách thì những kẻ độc tài không còn lo bị đào thải. Khi đám có chữ vẫn chửi bới nhau, vẫn thóa mạ nhau, vẫn sỉ vả nhau nhân danh những điều tốt đẹp thì chúng ta không có lý do để lạc quan về tương lai tự do. Một đám ma cô có thể nhân danh “quốc gia”, “dân tộc” để “giành độc lập”, để “thống nhất đất nước” nhưng những kẻ chửi vả, thóa mạ nhau thì không thể nhân danh tự do để giành lại cái gì cả. Đấu tranh cho tự do đòi hỏi nhân cách. Khi bạn nghe ai đó thóa mạ, sỉ vả, chà đạp nhân phẩm của ai đó khác thì bạn phải cảnh giác: họ không xứng đáng để nói đến tự do.



......../.