............. ‘đồng chí thù địch’




Đọ sức giữa các nhóm ‘đồng chí thù địch’

https://anhbasam.wordpress.com/2016/10/13/10431-do-suc-giua-cac-nhom-dong-chi-thu-dich/#more-176473



Bùi Tín

Tình hình chính trị trong nước đang nóng hổi. Tin tức, bình luận sôi nổi, đa chiều.  Nhiều ý kiến khác nhau, đối lập nhau. Báo chí lề trái, lề phải đều có những chính kiến, phản biện nhiều màu sắc đậm nhạt khác nhau. Tình hình đang diễn biến khôn lường, vì các phe nhóm cầm quyền độc đảng gầm ghè nhau, khi kín, khi hở, chưa biết cuộc nội chiến giữa các nhóm ‘ ĐỒNG CHÍ THÙ ĐỊCH ‘ rồi sẽ ngả ngũ ra sao.
Cuộc đọ sức ly kỳ quyết liệt diễn ra trong khung cảnh nhiều sự kiện quan trọng xảy ra đồng thời một lúc, rất hiếm có, trong nước, trên thế giới.
Kinh tế gay go. Vựa lúa sông Cửu Long cạn kiệt, nhiễm mặn do các đập nước lớn ở thượng nguồn Vân Nam / Trung Quốc. Bùn đỏ các khu khai thác bô-xít gieo tai họa lâu dài ở Tây Nguyên. Tai họa môi trường Formosa Plastics – Kỳ Anh kéo dài với nan đề có truy tố vụ án ra pháp luật không? Đền bù nửa tỷ đô la ra sao rồi, đã đủ chưa? Dân 4 tỉnh miền Trung còn phẫn nộ, đấu tranh quyết liệt lên đến 20 ngàn người. Dân Kỳ Anh kéo đến trước cổng công ty đòi đóng cửa nhà máy, đuổi Formosa về nước! Bà con leo lên tường bao quanh với khí thế không bạo lực nhưng quyết liệt, khiến một số nhân viên Công an, Cảnh sát cơ động bỏ mũ, cởi áo tháo chạy, trong khi các cô nữ  tu sỹ gan góc dương cao biểu ngữ ‘ ĐỪNG SỢ!’, để thấy nỗi sợ cường quyền của người dân đã chuyển ngược chiều.
506 đơn kiện Formosa bị Tòa án Kỳ Anh từ chối tiếp nhận gây nên phẫn nộ cực lớn. Vụ xử phúc thẩm Anh Ba Sàm, cô Minh Thúy và nhà báo Nguyễn Ngọc Già – Nguyễn Đình Ngọc trưng ra bộ mặt hung bạo của nền tư pháp độc đảng, thúc đẩy đông đảo luật sư dân tộc tham gia đấu tranh chống cường quyền vô đạo. Bão táp biển Đông vẫn tới tấp tăng cường độ, với niềm vui của dân ta khi bọn bành trướng TQ bị Tòa Án quốc tế PCA lên án nhục nhã, khi dân Hồng Kông và dân Đài Loan ngẩng cao đầu đòi quyền tự do, tự trị và đi đến độc lập, vứt xuống biển lá bùa của Tập Cận Bình ‘Một quốc gia, Hai chế độ’.
Cuộc đọ sức nội bộ đảng CS diễn ra khi lòng dân xao xuyến đến mất trọn niềm tin, khinh bỉ các nhóm phe phái đương quyền, bất tài, tham nhũng, làm cho đất nước có nguy cơ vỡ nợ, ngân sách cạn kiệt, giáo dục trì trệ, y tế bệ rạc, đạo đức tha hóa, xã hội xác xơ, bọn tham quan ‘tỷ phú đỏ’ lo vơ vét, chuẩn bị cho vợ con chuyển của cải ra nước ngoài để hưởng thụ thu nhập phi pháp, khi các vụ án kinh tế hàng trăm, nghìn tỷ đồng, ngành tư pháp độc đảng không quan tâm thu hồi tiền của bất minh đồ sộ ấy để trả vào công quỹ.
Lẽ ra các thẩm phán – chánh án ấy phải đứng trước vành móng ngựa vì đã cố tình chà đạp luật pháp vì tư lợi bởi bị mua chuộc, cùng với bọn tỷ phú đỏ coi tiền là Thượng đế, nước và dân cùng hiến pháp, pháp luật chỉ là cỏ rác.

Hiện nay có thể thấy có 3 nhóm ‘đồng chí thù địch’ chủ yếu, chưa kể các nhóm nhỏ vệ tinh bám quanh, tùy theo địa phương, ngành, lợi ích, như các nhóm miền Bắc, miền Trung, miền Nam, nhóm dầu lửa, các nhóm ngân hàng, các đại công ty quốc doanh – các quả đấm thép, nhóm thân Tàu, nhóm thân Hoa Kỳ, nhóm đứng giữa, nhóm thân tình báo Hoa Nam (Nguyễn Chí Vịnh)… Các nhóm luôn chuyển động tùy theo thời cuộc, theo chủ nghĩa thực dụng, chạy theo chức quyền và tư lợi, tiền, đất, nhà, hưởng lạc, lúc hợp tác, khi chống nhau quyết liệt, đến mức dùng súng đạn.

Trong 3 nhóm chủ yếu, có thể gọi NHÓM A là phe nhóm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, đang có quyền lực mạnh nhất, lại trên thế thắng to sau khi lọai được ‘đồng chí X’ vô cùng lợi hại.  Nhóm này có chỗ yếu lớn, tiền ít, nhân sự mỏng, uy tín cực thấp. Chỗ dựa kinh tế tài chính không có mấy. Chỗ dựa lớn nhất là Ban Tuyên giáo bảo thủ giáo điều thân bành trướng, Học Viện Chính trị và Hành chính mang tên ‘HCM’ ăn tiền nhiều, cực kỳ giáo điều, thành quả nghiên cứu rất nghèo nàn.
Ông Trọng lại ở cái thế cuối nhiệm kỳ, do chót hứa chỉ tại chức thêm nửa khóa, 75 tuổi về hưu, tóc bạc da mồi, lên xuống xe phải có kẻ dìu. Nhóm này có phần đơn độc, với 2 trợ thủ là Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đều có thế và lực rất mỏng, uy tín xã hội quá thấp, quyền lực nhiều nhưng thiếu tiền và thiếu uy thế chính trị, thời gian cạn kiệt dần, cận thần rơi rụng từng ngày.

NHÓM B là nhóm của ‘đồng chí X’ tuy thua một keo đo ván, nhưng chưa chịu tháo găng, có thế lực đông, mạnh nhất trong các phe nhóm ‘tỷ phú đỏ’, nhân sự rộng rãi trong Nam ngoài Bắc, trong các đại công ty quốc doanh, trong ngành Công an, ngành Ngân hàng. Có tiền dư dật, nhiều quân sư mưu cao kế sâu, bắt cá 2 tay, ve vãn Tàu rồi ve vãn Tây, đánh rồi xoa, tung hỏa mù.
Có thể nhóm này dùng Trịnh Xuân Thanh làm mũi nhọn phản công nhóm A, và sẽ có lắm chuyện giật gân, ly kỳ, rối rắm.  Lão tướng của phe này là Đinh La Thăng và bộ hạ đã bị sờ gáy. Con gái, con rể, tướng Liêm, em vợ của ‘đồng chí X’ đã trong tầm ngắm của nhóm A.
NHÓM C là nhóm của Trần Đại Quang, Tô Lâm và Đỗ Bá Tỵ, 3 ông tướng từng liên kết với nhau. Lợi thế là nắm trọn lực lượng võ trang, theo quan điểm của Mao, chính quyền từ nòng súng, khi chế độ đang là Công an trị, Cảnh sát trị. Tiền rất nhiều, súng rất nhiều, bạo lực có thừa, lại ở thời kỳ sung sức của Nguyên thủ quốc gia – Thống lĩnh các lực lượng vũ trang, lại có quyền lực quyết định trong chính sách đối ngọai, quan hệ khá rộng với các cơ quan tình báo phương Tây. Đây là thế lực có thể làm một cuộc đảo chính nội bộ hòa bình không hoặc ít đổ máu, răn đe cô lập nhóm A, nhóm B và các phe nhóm nhỏ, khôn ngoan cư xử hòa hõan với TQ, gắn bó từng bước ngày càng chặt với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, Indonesia, Liên Âu…
Rất có thể nhóm này khôn ngoan tranh thủ sự đồng tình của nhóm Nguyễn Chí Vịnh và các thành viên cũ của Tổng Cục II, vốn theo chủ nghĩa thực dụng, gió chiều nào ngả theo chiều ấy. Tình thế Tập Cận Bình ngày càng khó, bị dập mặt ô nhục do bản tuyên án quốc tế, bị bế tắc trước trào lưu dân chủ như Tsunami ở Đài Loan và Hồng Kông, bị khủng hỏang kinh tế tài chính lớn đe dọa… đang giúp cho xu thế Thóat Trung.

Cũng có khả năng nhóm C khôn ngoan bắt tay liên minh với nhóm B để hạ bệ nhóm A nhanh, gọn, chia chác quyền lực, do hiểu rõ thế đi xuống của Bắc triều đang hụt hơi toàn diện, bị ngăn chặn bởi chiến lược Xoay Trục sang vùng châu Á-Thái Bình Dương sẽ  được đẩy mạnh  khi nữ Tổng thống mới của Hoa Kỳ sẽ nhận chức, hầu như ăn chắc.
Có thể nhóm C được khích lệ bởi cảm hứng chính trị từ Myanmar – Miến Điện, khi cánh quân đội của tướng Thein Sein, do hiểu xu thế thời đại và lòng dân, bắt tay với bà Aung San Suu Kyi, xây dựng chính quyền liên hiệp dân tộc, chấm dứt nền chuyên chính cổ lỗ tệ hại đã quá dài. 

Chuyển biến này thật đáng mong chờ.

Tất nhiên nhiều bà con ta khi chưa vùng dậy được để quyết định vận mệnh của nước ta theo hướng dân chủ thì nhân dân  ta rất nên mong và góp sức cho nhóm C thành đạt, làm tiền đề cho những bước dân chủ dân quyền thật sự tiếp theo. Nhanh nhất, gọn nhất, không đổ máu, còn gì bằng!

Ai thuận theo lòng dân thì tất thắng.

Hai năm nay, hãng điều tra dư luận quốc tế rất có uy tín PEW đều cho biết theo điều tra chặt chẽ, ở VN có 82 đến 83% người dân muốn kết bạn thân với Hoa Kỳ, chỉ có 10 đến 12% muốn kết thân vói TQ. Số người VN trẻ tuổi muốn kết thân với Hoa Kỳ còn cao hơn.
Rất có nhiều lý do hợp lý để có chính kiến như trên. Hoa Kỳ không hề có tham vọng một tấc đất, tấc đảo, tấc biển nào ở nước ta. Ngân hàng Quốc tế World Bank, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF theo chính kiến của Hoa Kỳ cấp vốn và viện trợ vô tư rộng rãi cho nước ta. Chính quyền, nhiều hãng, công ty lớn Hoa Kỳ đầu tư lớn với kỹ thuật cao qua các quỹ ODA và FDI cho nước ta. Hợp tác an ninh quốc phòng 2 nước mở rộng dần. Hoa Kỳ tham gia tích cực việc quét mìn, giải quyết hậu quả chất độc màu da cam ở nước ta. Buôn bán giữa 2 nước lên đến 45 tỷ đô la /năm, có lợi cho phía VN. Trong khi đó buôn bán với TQ, ta lỗ đến 35 tỷ đôla, chưa kể buôn lậu hàng giả, hàng độc hại, cả buôn người, buôn trẻ con… Trung Quốc ba hoa chi viện vô tư 200 triệu đôla cho VN, nhưng chỉ bằng 1 phần 18 số tiền lợi nhuận đen tối nói trên.

Hiện có 20 ngàn học sinh VN theo học trên đất Hoa Kỳ, Đại học Fulbright sắp mở ở VN, các thầy cô giáo của Peace Corps sẽ sang VN dạy học. Tất cả chỉ có lợi cho VN.

Tình cảm sâu rộng của dân Việt ta với Tổng thống Barack Obama trong chuyến công du vừa qua cho thấy, đó là thái độ tự nhiên, tự phát, bao trùm, có ý nghĩa lịch sử lâu bền trong lòng người. Chưa bao giờ Hoa Kỳ và các nước liên minh với Hoa Kỳ mong muốn  gắn bó toàn diện về chiến lược với VN, sẵn sàng trợ giúp ta với quy mô lớn nhất. Đây là thời cơ quý hiếm. Là vận nước tuyệt vời ngàn năm mới có.

Ý dân là ý trời. Mỗi người dân Việt xin hãy ghi nhớ điều đó!

Các phe nhóm ‘đồng chí cộng sản thù địch’ đang đọ sức phải nhớ cho kỹ điều đó!

Ông Cả Trọng từng thề thốt: ‘sẽ trọng dân và gần dân’. Ông nói rồi quên, lú lẫn, để đấy.  Bảo thủ, giáo điều là điều dân chúa ghét bỏ thì ông Trọng lại ôm chặt. Phe nhóm ông sẽ bị cô lập, thất bại, bị thải lọai là lẽ đương nhiên.

Hội nghị TƯ 4 vừa khai mạc, bàn về Sự suy thoái và đạo đức của đảng viên đã thất bại ngay khi đặt vấn đề. Lẽ ra phải đặt vấn đề thảo luận then chốt trong xây dựng đảng là ‘Đảng CS phục vụ nhân dân và dân tộc, hay là tranh giành đặc quyền đặc lợi cho riêng phe nhóm trong đảng?’



........./.

ĐỔI TÊN




TỪ ĐỔI TÊN NGƯỜI TỚI ĐỔI TÊN NƯỚC
Trần Văn Chánh


http://viet-studies.net/kinhte/TranVanChanh_TenNguoiTenNuoc.htm



***

     Phong tục và tâm lý người Việt rất coi trọng cái tên, vì tên người biểu lộ nguyện vọng và ý chí tiến thủ của một người. Ở Việt Nam thời xưa, có những sách chuyên khảo về tên họ những người đỗ đạt hoặc có tiếng, như có thể kể quyển Cổ kim trùng danh trùng tính khảo của Mai Phong Đặng Xuân Khanh, chuyên ghi lại những họ tên trùng nhau qua các đời, đủ thấy cái tên người là quan trọng đối với người Việt Nam như thế nào. 
     Tại các vùng nông thôn thời xưa, phần nhiều ít học, người dân có khuynh hướng dễ dãi lấy những tiếng thông tục xấu xí đặt tên cho con, nhưng khi đứa trẻ trưởng thành đi học hoặc ra đời làm ăn, vẫn muốn đổi một cái tên khác nghe cho đẹp hơn, hoặc nếu không thì người khác cũng đổi tên cho. Chẳng hạn các cô gái từ quê lên thành tìm sinh kế, thường đổi một cái tên xấu xí thành tên khác nghe mỹ miều hơn, cho đỡ mặc cảm với người đời; nếu đi ở làm công cho các nhà khá giả, chủ nhà cũng thường lấy những tên như Sen, Nhài, Nụ, Bông, Hoa... để đặt thay cho những tên Lủng, Mẹt, Tẹt... ở quê nhà nghèo khó.
     Thông thường, đặt hay đổi một cái tên nghe cho hay ho, hoặc có ý nghĩa thâm sâu nào đó, người ta muốn người mang tên cũng có được những tính cách, phẩm chất tốt đẹp hàm ý biểu thị trong tên gọi. Tuy nhiên có người tên nghe rất hùng dũng nhưng bản chất lại yếu đuối, và ngược lại. Nhưng dù sao, nói chung cái tên cũng ảnh hưởng đến tâm lý cá nhân rất mạnh. Tục xưa còn kiêng đặt những tên Hoa, Nguyệt cho con gái, vì “hoa nguyệt” có nghĩa bóng là tà dâm, là lẳng lơ...  
     Theo hương tục thời cũ, tuy tên bộ (tên thật ghi trong sổ bộ) đã ghi vào sổ đinh nhưng đôi khi người ta vẫn tự tiện thay đổi và được hương lý chấp thuận một cách dễ dàng với lời ghi “Đổi ra...”, vì nhà cầm quyền cũng muốn dân có tên đẹp, không rắc rối như cách làm của các phường, xã bây giờ. Trong giới trí thức, việc đổi tên thật, tên hiệu, tên tự xảy ra còn nhiều hơn, nhất là khi có một bước chuyển quan trọng nào đó trong cuộc đời (xấu hoặc tốt), như khi đỗ đạt hoặc chuyển đổi lãnh vực hoạt động, trứ tác, nên có nhiều nhà nho, nhà văn có đến mấy tên tự hoặc bút hiệu, chẳng hạn Nguyễn Đình Chiểu tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi bị mù mới đổi hiệu thành Hối Trai...
     Sách Đại Việt lịch triều đăng khoa lục có chép nhiều trường hợp đổi tên, như Dương Hải, trước tên là Mỗi, ngự bút của vua phê đổi tên Hải (đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân trong khoa Quý Dậu, triều Lê Nhân Tông); Dương Bang Bản, vua cho đổi theo quốc tính (họ vua) là Lê, và cho đổi tên là Tung, thành Lê Tung (đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn triều Lê Thánh Tông, người viết bài “Tổng luận” cho sách Việt giám thông khảo của Vũ Quỳnh); Đỗ Lý Khiêm tự đổi tên thành Ích (đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, khoa Kỷ Mùi thời Lê Hiến Tông)... Triều Nguyễn, trong 39 khoa thi hội đã có đến 57 ông nghè ông bảng được tự ý đổi tên hoặc được các vua đương thời tự tiện phê vào danh sách đổi tên, tương tự mấy trường hợp vừa nêu trên.
     Tên người thay đổi là vậy, thì tên đất (tỉnh, phủ, huyện, thủ đô), tên nước (quốc hiệu) có  thay đổi cũng là chuyện rất bình thường, vì thế các sách địa lý cổ thời xưa, trước khi trình bày nội dung chi tiết về một tỉnh, đều có mục “kiến trí duyên cách” (dựng đặt và quá trình biến đổi) để giới thiệu tên gọi thay đổi của địa danh qua các đời. Riêng quyển Sổ tay địa danh Việt Nam của Đinh Xuân Vịnh (NXB. Đại Học Quốc Gia Hà Nội) giới thiệu khoảng trên dưới 8.000 đơn vị địa danh gồm núi sông, làng xã, tổng, huyện, phủ, quận, tỉnh, thành phố..., mà đơn vị nào cũng ghi được vài cái tên thay đổi qua các triều đại.
     Tên thủ đô Việt Nam cũng thay đổi không ít, thường tương ứng với sự thay đổi tên nước, và tồn tại trong một thời kỳ lịch sử dài ngắn khác nhau, được ghi nhận gồm có: Phong Châu (Bạch Hạc-Phú Thọ) thời Hùng Vương; Phong Khê (Cổ Loa-Đông Anh-Hà Nội) thời nhà Thục; Long Biên (Hà Nội) thời Lý Nam Đế; Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) thời nhà Ngô (nửa trước thế kỷ 10); Hoa Lư (Hoa Lư, Ninh Bình) thời Đinh Tiên Hoàng; Thăng Long (Hà Nội) thời Lý-Trần; Tây Đô (Thanh Hóa) thời nhà Hồ (Hồ Quý Ly, 1400-1408); Đông Đô (Hà Nội ngày nay) thời Lê Sơ (Lê Lợi, 1428); Quy Nhơn (Bình Định) thời Tây Sơn giai đoạn Nguyễn Nhạc (1787) và Phú Xuân (Thừa Thiên-Huế) thời Tây Sơn giai đoạn Nguyễn Huệ (1790); Phú Xuân (Huế) thời Nguyễn Gia Long (1802); Hà Nội sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay. Tổng cộng có 11 tên gọi thủ đô khác nhau.
     Sử sách còn ghi lại việc dời đô và thay đổi tên kinh đô của Lý Công Uẩn tức vua Lý Thái Tổ trong bài “Thiên đô chiếu” với những lý lẽ chắc nịch: “Xưa nhà Thương đến Bàn Canh có năm lần dời (đô), nhà Chu đến Thành Vương có ba lần chuyển (đô)... Ấy là vì các vua muốn đóng nơi trung tâm để mưu đồ sự nghiệp lớn làm kế lâu dài cho con cháu muôn vạn đời sau. Các ngài đó trên cẩn thận vâng theo mệnh trời, dưới theo ý nguyện của dân, nếu thấy tiện lợi thì mới sửa đổi, cho nên vận nước dài lâu, phong tục giàu thịnh... Huống chi thành Đại La... ở vào chính giữa bờ cõi, vị trí hợp với bốn phương đông tây nam bắc, tiện cho chiều hướng thuận nghịch của núi sông; đất nầy rộng mà bằng phẳng, vừa sáng sủa vui tươi... Xem khắp cõi Việt ta, đây là thắng địa, thật là nơi hội họp quan trọng then chốt của bốn phương... Trẫm muốn nhân cái địa lợi ấy để dựng chỗ ở của mình, các khanh cho như thế nào?”. Thế là nhà vua quyết định chuyển kinh đô từ Hoa Lư hẻo lánh chật hẹp sang thành Đại La, rồi đổi tên là Thăng Long.
     Về tên nước, sự thay đổi tuy có ít hơn và thường gắn với sự thay đổi của cả một triều đại, nhưng cũng là chuyện không lạ trong lịch sử. Có trường hợp không thay đổi triều đại mà vẫn đổi tên nước, như thời Minh Mạng triều Nguyễn đổi tên nước từ Việt Nam thành Đại Nam hay Đại Việt Nam vào năm 1838 là một thí dụ.
     Điểm lại lịch sử đổi tên nước, chúng ta được biết, trong thời kỳ dựng nước, Hùng Vương gọi tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, dân số cuối thời Văn Lang (khoảng năm 3.000 TCN) chỉ khoảng 500 ngàn người; khi Thục Vương chiếm lấy Văn Lang, đổi tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê. Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, có sự kiện quan úy quận Nam Hải là Triệu Đà nổi lên tự lập, đem quân đánh lấy nước Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt vào năm 206 TCN, nhưng nhiều sử gia sau nầy không cho Nam Việt là quốc hiệu chính thức của nước ta. Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, nước ta được nhà Tây Hán gọi tên Giao Chỉ (111 TCN), thời Đông Hán đổi thành Giao Châu (203 TCN), đến năm 544 Lý Bôn (có sách chép là Lý Bí) xưng Nam Việt Đế, tức Lý Nam Đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, quốc hiệu Vạn Xuân (544 sau CN), đóng đô ở Long Biên (Hà Nội). Năm 679, nhà Đường (Trung Quốc, 618-907) đổi Giao Châu làm An Nam Đô Hộ Phủ, nước ta được gọi tắt là An Nam khởi đầu từ đấy. Trong thời kỳ độc lập tự chủ, năm 968, Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp yên 12 sứ quân cát cứ, lên ngôi hoàng đế,  tức Đinh Tiên Hoàng nhà Tiền Lê, đã đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, dân số cả nước lúc bấy giờ có khoảng 2 triệu người. Lý Công Uẩn (1010-1028) tức Lý Thái Tổ tiếp ngôi nhà Tiền Lê, dời kinh đô về La Thành, lấy tên mới là thành Thăng Long. Sang thời Lý Thánh Tông (1054-1072), khi vừa lên ngôi liền đổi tên nước là Đại Việt, và danh xưng nầy đã tồn tại lâu dài trong suốt cả ba thời Lý, Trần, Hậu Lê, kéo dài từ năm 1054 đến 1802, trong khoảng đó chỉ có một thời gian rất ngắn ngủi (1400-1408) được đổi tên là Đại Ngu trong thời Hồ Quý Ly cầm quyền. Mãi đến khi Nguyễn Ánh tức Gia Long (1802-1819), sau khi dứt được Tây Sơn, thống nhất lãnh thổ, mới sai  Lê Quang Định sang Trung Quốc cầu phong xin đổi quốc hiệu là Nam Việt, nhưng triều đình  nhà Thanh không chấp nhận tên nầy, lấy lẽ rằng hai chữ Nam Việt trùng với tên cũ xưa, và đề nghị sửa thành Việt Nam, nên mãi đến 2 năm sau mới sai sứ  sang phong cho Nguyễn Ánh là Việt Nam Quốc Vương (1904). Năm 1838, vua Minh Mạng (Minh Mệnh) còn đổi tên nước thành Đại Nam, hoặc Đại Việt Nam, lúc dân số đã tăng lên vào khoảng 7.764.128 người. Lời dụ đổi tên nước chép trong Đại Nam thực lụctập 20 có nêu rõ: “Nay bản triều có cả phương Nam, bờ cõi ngày càng rộng..., trước gọi là Việt Nam, nay gọi là Đại Nam, càng tỏ nghĩa lớn, mà chữ Việt cũng vẫn ở trong đó ... để cho đúng tên và sự thực. Chuẩn cho từ nay trở đi, quốc hiệu phải gọi là nước Đại Nam, hết thảy giấy tờ xưng hô, phải chiếu theo đó tuân hành, gián hoặc [thỉnh thoảng] có nói liền là nước Đại Việt Nam, về lẽ vẫn phải... Phải lấy năm Minh Mệnh 20 làm bắt đầu đổi chép chữ Đại Nam ban hành (ghi vào lịch), để chính tên hiệu và khắp các nơi xa gần” (dẫn theo Nguyễn Đình Đầu, Việt Nam, quốc hiệu & cương vực, NXB. Trẻ, 2005, tr. 111). Về việc nầy, tài liệu của GS Bửu Cầm dẫn sách Đỉnh tập quốc sử di biên của Phan Thúc Trực cũng nêu rõ: “Năm Mậu Tuất, Minh Mệnh thứ 19 (1838), tháng 3, ngày mồng 2, đổi tên nước là Đại Nam... hoặc gọi là nước Đại Việt Nam cũng được” (Quốc hiệu nước ta, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1969, tr. 119).
     Tuy đổi tên Đại Nam nghe rất oai, nhưng nước ta vẫn bị xâm chiếm và từ khi bị Pháp đô hộ (1862-1945), cả ba quốc hiệu Việt Nam, Đại Nam và Đại Việt Nam đều bị bỏ theo, chỉ còn gọi Annam (An Nam) hay Trung Kỳ, Tonkin hay Bắc Kỳ và Cochinchine hay Nam Kỳ. Chỉ đến sau Cách Mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2.9.1945 và đến đầu năm 1946, Quốc hội họp quyết định thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1975, đất nước tạm thời chia hai ở sông Bến Hải, một bộ phận thuộc miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào tổ chức thành chính quyền riêng với tên gọi Việt Nam Cộng Hòa, lấy Sài Gòn làm thủ đô. Sau ngày 30.4.1975, chấm dứt cuộc chiến tranh 30 năm, đến cuối năm, tiến hành hiệp thương thống nhất hai miền Nam Bắc, rồi đến đầu năm 1976, Quốc hội khóa VI đã quyết định đổi tên nước thành nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nhưng vẫn gọi tắt theo tên thông dụng bấy lâu nay là Việt Nam.
     Tổng cộng, từ thời Hùng Vương dựng nước đến nay, nếu không kể bộ phận miền Nam trong thời kỳ chia cắt là Việt Nam Cộng Hòa (1954-1975), thì nước ta có  đến tất cả 13 tên gọi, với 12 lần thay đổi.
     Xét lại quá trình đổi tên nước trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, chúng ta thấy việc thay đổi quốc hiệu tuy là quan trọng nhưng cũng chỉ là việc bình thường, ngay cả khi không có sự thay đổi triều đại.
     Mấy năm gần đây người ta nói nhiều đến việc đổi tên Đảng, tên nước, nhưng tên Đảng thật ra là chuyện riêng của Đảng; con đẻ ra, tùy theo nguyện vọng, chí hướng của cha mẹ, chỉ có cha mẹ mới có quyền quyết định đặt tên, người khác chỉ góp ý vào hoặc đặt tên giúp khi cha mẹ đứa trẻ có yêu cầu mà thôi. Riêng tên nước, thì trong thời đại dân chủ, đó lại là chuyện của toàn dân, biểu thị chí hướng, nguyện vọng của cả dân tộc, nên chỉ dân mới có quyền đặt hoặc đổi thông qua các đại biểu dân cử của mình ở Quốc hội (với điều kiện Quốc hội dân cử thực chất, chứ không do đảng cầm quyền cơ cấu sẵn), nếu cần thì mở ra thêm một cuộc trưng cầu dân ý đặc biệt.
     Khoảng 10 năm trước, trong bài “Đảng phải là Đảng của dân tộc” (báo Pháp Luật TP. HCM, 6.3.2006), ông Tương Lai có lẽ là người đầu tiên đặt thẳng vấn đề lên báo chí công khai, khi ông viết: “Để cho Đảng ‘gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta’, nên chăng Đảng trở lại với tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam cùng với tên nước là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.
     Riêng về cụm từ xã hội chủ nghĩa (XHCN) gắn trong tên nước, có ý kiến cho rằng “… chọn định hướng XHCN, mà XHCN ở đây là mô thức tổ chức xã hội, thì trên góc độ nhận thức và thực hành đã và đang không còn cơ sở tồn tại [TVC nhấn mạnh] với sự lựa chọn trong xu thế phát triển chung của thời đại cũng như trong tiến trình đổi mới ở nước ta thì không nên tiếp tục chọn” (xem Đào Công Tiến, “Về định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tư duy phát triển, NXB Thời Đại, 2012, tr. 24).
      Nói thêm về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và định hướng XHCN, nhớ lại gần 3 năm trước, trong ngày 23.10.2013, chính ông Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuyên bố trước Quốc hội:“Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa” (xem Tuổi Trẻ Online, 23.10.2013). Có nghĩa là trong bụng ông Tổng bí thư cũng không dám tin lắm vào CNXH, nhưng ngoài miệng thì vẫn phải luôn nói. Còn ông bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh thì hồi tháng 5 năm kia (2014), khi được mời đến nói chuyện về các vấn đề kinh tế ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, cũng đã từng phát biểu trước đông đảo cử tọa là các nhà lãnh đạo của hầu hết các tỉnh, thành phố, để trả lời cho câu hỏi thắc mắc thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm” (xemThời Báo Kinh Tế Sài Gòn Online, 3.5.2014).
     Thiết nghĩ, sau đúng 41 năm lấy theo tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mà tính chất xã hội chủ nghĩa thực tế lại bị lệch đi do hố ngăn cách giàu nghèo trong xã hội ngày một gia tăng, đời sống nông dân, công nhân và nhân dân lao động nghèo thành thị chậm được cải thiện, nếu không muốn nói ngày càng tồi tệ, cho thấy giữa “danh” với “thực” đã thiếu sự trùng khớp, thì việc đổi tên nước nếu được đặt ra lại trong lúc nầy cũng không phải là ý tưởng lạc điệu. Mai kia, giả định, một khi đã hiện thực hóa được CNXH rồi, dân Việt Nam vẫn có thể đặt lại tên nước của mình một cách thoải mái với cái đuôi XHCN theo sau, vốn hàm chứa lý tưởng chung của cả loài người, thì cũng chẳng muộn màng gì!
     Ở một khía cạnh nhỏ khác, nhưng không kém phần quan trọng, cái tên có tính phổ cập dễ nghe, không có đuôi XHCN theo sau, thì cũng dễ gây được sự gần gũi, tin cậy, chiếm được cảm tình của nhiều người hơn, trong ngoại giao quốc tế… Còn XHCN một cách thực chất, trong đó mọi người dân trong nước đều được hưởng tự do, hạnh phúc, thì nhân dân Việt Nam vẫn phải kiên trì phấn đấu, chứ không bỏ…        
     Cũng có ý kiến cho rằng việc có đổi tên nước hay không và đổi thành tên gì là không quan trọng, vì vấn đề là việc đổi mới, lột xác về thực chất chứ không phải danh hiệu tốt đẹp bề ngoài. Tuy nhiên, như trên đã nói, cái tên cũng có tác động rất lớn về mặt tâm lý, vì vậy nếu đất nước thật sự đang muốn chuyển sang bước ngoặt mới hay sang một cái “nguơn” mới để vươn lên giàu mạnh, thịnh trị, bằng một hệ thống chính sách quyết liệt, đoạn tuyệt với những gì lạc hậu cũ kỹ không còn thích hợp, thì việc đổi tên nước cũng sẽ có ý nghĩa rất quan trọng, mang lại niềm phấn khích, niềm tin và hi vọng trong vận hội mới cho toàn thể nhân dân, và biểu thị một ý chí, quyết tâm mới trên con đường chấn chỉnh đi lên.
     Hẳn cũng là một việc nên làm, và trong chiều hướng ấy, ngay cả việc đổi tên thủ đô luôn một thể cũng có thể coi là một vấn đề đáng xét, chứ không nên quy vào phạm vi của những điều cấm kỵ như một số người từng nghĩ. 
                                                                                                   
                                                                  
13.3.2006 (chỉnh lý bổ sung, 1.10.2016)


Tác giả gởi cho viet-studies ngày 7-10-16

.../.

Bí thư thành ủy


Bí thư thành ủy  

Posted by adminbasam 


Kính Hòa, phóng viên RFA

**


Trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện tại, cũng như các quốc gia cộng sản trong quá khứ, các ông bí thư đảng giữ vai trò rất quan trọng. Ở mọi cấp độ của hệ thống quyền lực đều có những ông bí thư, từ bí thư khu phố, rồi phường xã, quận huyện, tỉnh thành, rồi cuối cùng lớn nhất là ông Tổng bí thư. Đương nhiên những ông bí thư ở các thành phố quan trọng thì cũng rất quan trọng trong bộ máy quyền lực đó.
Một ông bí thư đang được các blogger nhắc đến liên tục trong những ngày cuối tháng chính là đương kim Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, ông Đinh La Thăng.
Ông Thăng từng giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy kinh tế và hành chính của chính phủ do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, như phụ trách Tổng công ty dầu khí, Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải, trước khi ông được bổ nhiệm làm Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, và đắc cử vào Bộ Chính trị của đảng, cơ quan nắm quyền lực thực sự của đất nước.
Trên mạng xã hội bắt đầu bàn tán về ông Thăng sau khi một thuộc cấp của ông trước kia là ông Trịnh Xuân Thanh bị tình nghi tội tham nhũng và biến mất. Một người phó cũ khác của ông Thăng thì bị bắt giam.
Blogger, nhà báo Huy Đức viết liên tục hai bài mang tên Thanh hay Thăng, và Tảng băng nổi, chỉ trích đích danh ông Đinh La Thăng. Trong hai bài viết này tác giả đưa ra rất nhiều những số liệu kinh tế và thống kê, chứng minh rằng ông Đinh La Thăng đã làm tổn hại rất nhiều cho nền kinh tế Việt Nam trong thời gian ông còn phụ trách Tổng công ty dầu khí.
Không thấy báo chí chính thống của nhà nước nói gì về câu chuyện này.
Hai bài viết của nhà báo Huy Đức gây nên một trận tranh cãi giữa những blogger với nhau, có blogger nghi ngờ rằng nhà báo viết để ủng hộ ông Tổng bí thư tấn công đối thủ chính trị của ông là cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà nhiều lời đồn đãi cho rằng chính là người đứng sau lưng ông Đinh La Thăng.
Tác giả Lê Dung viết rằng hai bài viết của nhà báo Huy Đức là để bắt đầu một cuộc chiến truyền thông nhằm hủy diệt ông Đinh La Thăng. Ông Bùi Quang Vơm thì lần ngược lại câu chuyện Trịnh Xuân Thanh mà cho rằng có thể câu chuyện một viên chức nhà nước bị truy tố về tham nhũng sẽ trở thành một trận bão táp về chính trị.
Những ý kiến chống nhà báo Huy Đức tập trung ở một ý lớn cho rằng chuyện tham nhũng của ông này hay ông kia không quan trọng mà quan trọng hơn là cả một hệ thống đang bị hư hỏng.
Blogger Đặng Ngữ viết:
Huy Đức hết sức cổ vũ cho việc chống tham nhũng; anh tin rằng bằng việc loại bỏ những “con chuột” cỡ bự thì bộ máy sẽ trong sạch trở lại, tạo tiền đề khởi động cho thể chế dân chủ. 
Câu hỏi là, có lý nào Huy Đức không biết rằng, sai lầm ở toàn bộ bộ máy này, toàn bộ hệ thống này; và rằng hệ thống là không thể tự sửa chữa dù đại đa số đảng viên đều là đảng viên tốt.
Blogger Kinh Thư tiếp lời:
Ai cũng biết cái gốc của mọi vấn đề là chế độ. Cá nhân cho dù chức này chức nọ cũng chỉ là 1 con ốc trong guồng máy. Đánh vào cá nhân xấu xí, cũng được đi, nhưng đó chỉ là những cú đánh tranh dành quyền lợi giữa các phe nhóm lợi ích. Thay cá nhân này bằng cá nhân khác thì nhân dân đằng nào cũng ngất ngư và nghèo khổ, chả được gì. Trong cuộc hí trường này nhân dân chỉ là khán giả bất đắc dĩ. Thôi thì thằng nào chết nhân dân cũng vỗ tay..
Bà Hồ Thu Hồng, cũng là một cựu nhà báo ở Việt Nam viết rằng Với các tội danh đó (đối với ông Thanh và ông Thăng) thì có thể truy tố hầu hết các lãnh đạo tập đoàn, Tổng công ty nhà nước.
Blogger Thiện Ý hỏi rằng liệu chiến dịch chống tham nhũng của ông Tổng Bí Thư có phải là để diệt trừ các phe phái kình địch với nhau trong đảng cộng sản hay không.
Có những blogger ủng hộ nhà báo Huy Đức.
Một blogger viết rằng nhiều người không thích ông Nguyễn Phú Trọng nên phủ nhận hết mọi cố gắng chống tham nhũng của nhà báo Huy Đức.
Blogger Lê Công dù không đồng ý với Huy Đức nhưng cũng nói rằng: Tuy nhiên, nếu điều mà anh làm là đúng, là ích nước lợi dân thì cho ông ngàn lần xin lỗi.
Khi kết thúc bài viết thứ hai liên quan đến ông Đinh La Thăng, tác giả Huy Đức viết:
Tất nhiên, trách nhiệm không chỉ một mình Đinh La Thăng. Nhưng nếu không xử lý ông Thăng thì bao nhiêu tuyên bố về chống tham nhũng cũng trở nên sáo rỗng.
Có nhiều người hỏi, khi viết về Đinh La Thăng tôi có sợ không. Tôi trả lời: Sợ. Nhưng tôi có một nỗi sợ lớn hơn, đó là, tôi sợ tương lai đất nước tôi rơi vào tay những kẻ tham lam và bịp bợm.
Cuộc chiến thông tin mới trong cuộc chiến quyền lực
Trước những lời đồn đãi phe này phe kia trong nội bộ đảng cộng sản, blogger Kami cho rằng điều đó xuất phát từ một nền truyền thông độc quyền, không minh bạch của đảng:
Trong một xã hội khi thông tin, đặc biệt là thông tin về chính trị đã bị bưng bít như ở Việt Nam hiện nay, khi mà các thông tin đều bị định hướng theo hướng có lợi cho nhà cầm quyền và những thông tin bị coi là “nhạy cảm. Điều đó đã càng kích thích sự thèm khát tin tức trái chiều của dân chúng, đó là lý do vì sao các tin tức chưa được kiểm chứng, đặc biệt là các tin tức mang màu sắc của thuyết âm mưu trở thành món ăn “khoái khẩu” của đa số người dân không ưa chế độ.
Tuy vậy không khí truyền thông ở Việt Nam đã có rất nhiều thay đổi. Nhiều lần báo chí chính thống của nhà nước cũng phải nêu lời giải đáp cho những tin tức được lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội sau một thời gian dài im lặng. Thậm chí nhà báo Phạm Chí Dũng còn cho rằng việc kiểm soát truyền thông của đảng đã không còn tập trung như trước đây nữa.
Trong một lần trao đổi với chúng tôi ông nói:
“Sự phân hóa truyền thông liên quan đến sự phân hóa chỉ đạo, sự phân hóa này liên quan đến lực lượng chỉ đạo truyền thông cũng bị phân hóa nốt. Và tôi cho rằng Ban tư tưởng trung ương, tức là Ban tuyên giáo trung ương không còn đóng vai trò là đầu mối chỉ đạo truyền thông như thời gian trước đây, mà chỉ đạo truyền thông bây giờ bao gồm cả những lực lượng khác.”
Ông Phạm Chí Dũng cũng cho biết thêm rằng lần đầu tiên bài viết của một bí thư thành ủy, kiêm ủy viên bộ chính trị là ông Đinh La Thăng bị gỡ khỏi một tờ báo của nhà nước khi ông trình bày quan điểm của ông về một cựu chiến binh Mỹ.
Theo blogger Lê Diễn Đức thì trong lịch sử đảng cộng sản Việt Nam có hai đương kim Bộ chính trị bị kỷ luật lúc đương chức. Đó là ông Hoàng Văn Hoan bỏ chạy sang Trung quốc vào năm 1979 và bị xử tử hình vắng mặt. Người thứ hai là ông Trần Xuân Bách bị khai trừ đảng vào năm 1990 khi muốn xúc tiến những cải cách dân chủ.
Con đường dân chủ gian nan
Nhận xét về hiệu quả của bộ máy công quyền hiện nay của đảng cộng sản Việt Nam, blogger Nguyễn Thị Từ Huy viết:
Tình trạng độc quyền chính trị đã làm cho bộ máy quyền lực của Việt Nam trở nên bất lực, không thể giải quyết được các vấn đề của quốc gia. Vụ Formosa, thực ra không mấy khó khăn để giải quyết nhưng chính phủ cũng không giải quyết nổi. Chỉ riêng việc chính phủ phải mất đến ba tháng trời mới công bố nguyên nhân của vụ ô nhiễm đã chứng tỏ sự yếu kém của chính phủ đến mức nào. Và việc giải quyết với mức đền bù 500 triệu đô la cho thấy chính phủ bất lực đến mức nào, như nhiều phân tích đã chỉ ra.
Guồng máy chính trị hiện nay không thể che dấu sự yếu kém và bất lực trong việc điều hành quốc gia. Đồng thời lại phạm sai lầm ở chỗ lấy việc đàn áp nhân dân để chứng tỏ quyền lực của mình.
Chống lại bộ máy quyền lực đàn áp đó, theo blogger Song Chi thì hiện nay chỉ là những phản kháng theo kiểu thóa mạ các vị lãnh đạo từ cao tới thấp, và Song Chi nói rằng sự thóa mạ như vậy không đưa đến một sự thay đổi nào.
Trở lại chuyện ông Đinh La Thăng và cuộc tranh cãi nhau giữa các blogger, xin trích lời tác giả Trần Minh Khôi, như lời kết của bài điểm blog này:
Một trong những bí quyết của những kẻ độc tài trong cố gắng duy trì quyền lực độc đoán của họ là làm suy thoái nhân cách của đám có chữ. Khi không còn đủ một lớp người có học và có nhân cách thì những kẻ độc tài không còn lo bị đào thải. Khi đám có chữ vẫn chửi bới nhau, vẫn thóa mạ nhau, vẫn sỉ vả nhau nhân danh những điều tốt đẹp thì chúng ta không có lý do để lạc quan về tương lai tự do. Một đám ma cô có thể nhân danh “quốc gia”, “dân tộc” để “giành độc lập”, để “thống nhất đất nước” nhưng những kẻ chửi vả, thóa mạ nhau thì không thể nhân danh tự do để giành lại cái gì cả. Đấu tranh cho tự do đòi hỏi nhân cách. Khi bạn nghe ai đó thóa mạ, sỉ vả, chà đạp nhân phẩm của ai đó khác thì bạn phải cảnh giác: họ không xứng đáng để nói đến tự do.



......../.

NHÓM LỢI ÍCH QUÂN ĐỘI VÀ BI KỊCH SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT


NHÓM LỢI ÍCH QUÂN ĐỘI VÀ BI KỊCH SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT
[Người Việt]

Phạm Chí Dũng
*****



“SÂN BƠI TÂN SƠN NHẤT”
Tương tự tình trạng “ngập” của đảng cầm quyền từ năm 2012 đến nay, sân bay Tân Sơn Nhất đang ở vào thời kỳ bi kịch sắp tới điểm cuối của nó.
Năm 2016, sân bay này đã chính thức được dân gian đặt tên “sân bơi Tân Sơn Nhất.” Nếu những năm trước sân bay này còn chưa bị ngập sau những trận mưa lớn, thì vào năm nay chỉ sau một trận mưa khoảng 150 mm, Tân Sơn Nhất đã biến thành một biển nước mênh mông.
Mới đầu, giới lãnh đạo sân bay Tân Sơn Nhất còn phủ nhận về tình trạng nước ngập bao la, nhưng sau đó đã phải thừa nhận trước những tấm ảnh mang tính bằng chứng không thể chối cãi.
Thậm chí một thứ trưởng giao thông vận tải chủ quản của sân bay Tân Sơn Nhất – ông Nguyễn Nhật – còn thừa nhận rằng trong chuyến bay từ Hà Nội đi TP.HCM hôm 11 tháng 9, 2016, ông cùng hơn 200 hành khách đã phải bay vòng trên trời hơn 40 phút do trời mưa to do sân bay Tân Sơn Nhất bị ngập nặng khiến máy bay không thể hạ cánh được.
Bi kịch đang hiện hình tồi tệ. Có lúc đến 9 chuyến bay phải bay vòng trên trời trong tổng số 670 -750 chuyến bay trong và ngoài nước cất cánh, hạ cánh mỗi ngày. Ai cũng biết nguyên nhân tắc trên trời trước hết là do tắc ở dưới mặt đất.
Thêm nữa, sân bay này chỉ có 51 vị trí đỗ, trong khi nhu cầu cần khoảng 80 vị trí. Có 2 đường băng nhưng chỉ 1 đường lăn ra vào 2 chiều. Máy bay khi hạ cánh đi vào nhà ga thì máy bay khác phải chờ. Có tình trạng hết vị trí đỗ nên máy bay phải chờ trên đường lăn.
Tất nhiên, nếu không có sân golf quân đội thì Tân Sơn Nhất sẽ có được 80 vị trí đỗ và thêm một đường băng nữa.

QUÂN ĐỘI NÀO?
Từ sau 1975, sân bay Tân Sơn Nhất bị lấn chiếm diện tích méo mó. Hàng loạt đại gia nhóm lợi ích quân đội đã thẳng tay chiếm đoạt một phần Tân Sơn Nhất để làm sân golf, nhà hàng, khách sạn, chung cư.
Dù đất trống trong sân bay vẫn còn, nhưng một bàn tay đen đúa nào đó vẫn quyết cắt 157 ha đất vàng trong sân bay cho tập đoàn Him Lam làm sân golf, mặc cho sân bay này bị tắc nghẽn nghiêm trọng.
Được biết, dự án sân golf trong sân bay bận rộn nhất Việt Nam do tập đoàn Him Lam của ông Dương Công Minh làm chủ đầu tư. Tập đoàn nổi tiếng với loạt scandan như: xây không phép sân tập golf và nhà hàng Him Lam; tự ý lấn chiếm hành lang sông Sài Gòn, xây vượt tầng trái phép; coi thường pháp luật, ngang nhiên cưỡng đoạt tài sản của doanh nghiệp khác; lọt vào danh sách đen cưỡng chế nợ của Bộ Tài Chính với số tiền nợ lên tới 34.8 tỷ đồng… Nổi tiếng với những bê bối tày đình như thế nhưng không hiểu sao tập đoàn này vẫn được bảo kê để lập lãnh địa riêng trên 157 ha đất trong sân bay. Thậm chí chủ tập đoàn này còn nhẫn tâm đầu độc người dân thành phố bằng 200 tấn thuốc trừ sâu đổ xuống sân golf Tân Sơn Nhất mỗi năm nhưng vẫn không bị truy cứu trách nhiệm.
Cũng phải kể đến một nhân vật có máu mặt khác – Đại Tá Phùng Quang Hải – “chủ” một doanh nghiệp lớn trong quân đội mà được biết đã chiếm được rất nhiều khu đất vàng ở nhiều địa phương trên toàn quốc, trong đó có đất ở sân bay Tân Sơn Nhất.
Sau vụ “tướng Thanh đi Pháp chữa bệnh” vào tháng 6, 2015, và từ đó Phùng Quang Thanh gần như “mất tích” trên bàn cờ chính trị, nghe nói số phận của Đại Tá Phùng Quang Hải cũng không tốt lành hơn. Còn có đồn đoán rằng ông Hải đang phải chịu một chế độ quản thúc nào đó hoặc đã bị bắt.
Tuy nhiên dù hai ông Thanh và Hải “không còn nữa,” lợi ích nhóm quân sự vẫn là một bí mật kinh khủng và là một thách thức khủng khiếp đối với chính quyền dân sự.
Chỉ từ tháng 10, 2015 mới bắt đầu những cuộc bàn bạc giữa phía quân sự với đại diện nhà chức trách dân sự về việc dùng đất quân sự để mở rộng Tân Sơn Nhất.
Một lần nữa, nhu cầu mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất được “đảng ta” đặt ra một cách đầy quyết liệt, trong bối cảnh dự án sân bay Long Thành còn lâu mới được khởi công do chưa tìm ra “tiền đâu.”
Chỉ mới đây, trước tình trạng quá tải và hết chỗ thoát nước của sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Quốc Phòng mới chịu “nhả” gần 20 ha để mở rộng sân bay này. Tuy nhiên trong lúc việc bàn thảo còn chưa đâu vào đâu, một liên danh nhà đầu tư gồm tổng công ty 319 (Bộ Quốc phòng), công ty dịch vụ thương mại, sản xuất, xây dựng Đông Mêkông và công ty cổ phần hạ tầng Đông Á lại đề xuất dự án xây dựng hệ thống đường trên cao kết nối sân bay Tân Sơn Nhất (Q.Tân Bình) với đường Nguyễn Văn Trỗi – Hoàng Văn Thụ (Q.Phú Nhuận) theo hình thức đầu tư PPP (nhà nước và tư nhân hợp tác) nhằm giải quyết ùn tắc giao thông ở khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, dự kiến vốn đầu tư đến 3.500 tỷ đồng.
Dự án trên về thực chất là nhằm né sân golf của nhóm lợi ích quân đội!






TẤN BI KỊCH CÒN LÂU MỚI CHẤM DỨT
Ngay lập tức đã xuất hiện hàng loạt ý kiến phản bác dự án trên: Liệu rằng khi xây xong, tình trạng kẹt xe trước ngõ vào sân bay có được giải quyết? Hay lại tăng thêm áp lực cho khu vực này khi không chỉ 3, 4 tuyến đường đổ về cùng lúc mà tận 6,7 tuyến? Liệu rằng khi đề xuất dự án “điên rồ” này, người ta có tính đường giải quyết nút thắt ngay cửa ngõ Tân Sơn Nhất không? Hay chỉ chăm chăm “vẽ” dự án nghìn tỷ “trên trời,” dự án càng nhiều, càng lớn lại càng có lợi?
Tại sao cứ phải vay hàng chục, hàng trăm ngàn tỷ để xây mới sân bay quốc tế mà không phải là mở rộng diện tích sử dụng tại sân bay Tân Sơn Nhất, trả lại quy hoạch đồng bộ ban đầu cho khu vực sân bay, xây thêm các Terminal tại những cửa ngõ khác đi vào sân bay để tăng cường và khai thác hết công năng của Tân Sơn Nhất? Tại sao lại cắt đất sân bay làm sân golf, vừa lấn chiếm diện tích làm đường băng mới, vừa tạo thêm chướng ngại vật cho các phi công trong quá trình hạ cánh sau một chuyến bay dài đầy mệt mỏi và căng thẳng? Tại sao phải giữ dự án sân golf vốn chỉ dành phục vụ vài ông chủ của giới thượng lưu, cổng vào rộng thênh thang không một bóng người, mà không biến nó thành một cửa ngõ vào sân bay quốc tế, vừa giảm tải cho nhà ga sân bay, vừa giảm áp lực tại các cửa ngõ và các tuyến đường đổ về khu vực này?
Tại sao cứ đổ lỗi cho hệ thống mương cũ kỹ, không đáp ứng được nhu cầu khi người ta đã cắt xén và lấp không ít mương trong hệ thống để tạo nên những thảm cỏ sân golf xanh mướt hay bê tông hóa chúng thành những con đường rải nhựa phục vụ cho các ông chủ thỉnh thoảng đến giải trí? Tại sao người ta chỉ đề xuất chi hàng trăm tỷ đồng cho dự án làm kênh thoát nước chống ngập cho sân bay Tân Sơn Nhất, trong khi phần gốc của vấn đề vẫn còn đó? Tại sao không phải là trả lại quy hoạch ban đầu cho sân bay, nâng cấp mương thoát nước vốn cũ kỹ, phục hồi hệ thống thoát nước khổng lồ trong sân bay mà tiếp tục “né” sân golf, đào xới ngang dọc khiến sân bay như một chiếc áo chắp vá cũ nát?
Tại sao vẫn kiên quyết giữ cái sân golf chỉ chuyên phục vụ giới nhà giàu, rồi lại rút cạn ngân sách, tiền mồ hôi nước mắt của dân để “vẽ” ra những dự án trên trời, chẳng những không giải quyết được mà còn khiến vấn đề thêm trầm trọng?
Những người quan tâm cũng nêu ra một hướng giải quyết vô cùng đơn giản, ít tốn kém nhưng không hiểu sao các nhà quy hoạch không ai “nhìn ra” hay người ta “thấy” nhưng cố tình né tránh: Tại sao không xây thêm cổng vào từ các tuyến đường Cộng Hòa – Hoàng Hoa Thám, Trường Chinh, Tân Sơn (khu vực cổng vào sân golf trong sân bay Tân Sơn Nhất)?
Chỉ có điều, nếu làm đúng nguyện vọng của dân và trả lại cho sân bay Tân Sơn Nhất về chính nó thì ai sẽ là người dẹp loạn lấn chiếm đất đai sân bay của tập đoàn Him Lam và tổng công ty 319?
Như người đời bình phẩm, trong tất cả những ông lớn kinh doanh bất động sản, Bộ Quốc Phòng là một “cá mập” vào loại khủng nhất.
Bi kịch của sân bay Tân Sơn Nhất cũng bởi thế vẫn còn lâu mới chấm dứt!



........./.

TẢNG BĂNG NỔI


TẢNG BĂNG NỔI
Huy Đức
*******




Hôm qua, khi Phó thủ tướng Trương Hòa Bình yêu cầu phải tìm cho ra những "tảng băng chìm" tham nhũng, ông đang ngồi cạnh "tảng băng nổi khổng lồ" Đinh La Thăng. Nếu "không đủ chứng cứ" về những khoản "chênh lệch lãi suất" và phần "lại quả 1%" trong vụ PVN góp vốn vào Ocean Bank, chỉ tính 800 tỷ PVN chịu mất đứt cho "Thắm Đại Dương" đã có "hậu quả nghiêm trọng" đủ để truy cứu trách nhiệm Đinh La Thăng. Tất nhiên, ở PVN thời Đinh La Thăng còn nhiều "tảng băng" rất to, đủ sức làm đắm nhiều Titanic.

LẠI "NỘI LỰC"
Năm 2007, Trung Quốc gây áp lực buộc BP phải từ bỏ hai mỏ khí Hải Thạch & Mộc Tinh nằm trong vùng biển Trường Sa của Việt Nam (cách bờ 370 km). PVN đã được giao tiếp quản lại hai mỏ khí này. Đây không chỉ là một cơ hội kinh tế cho PVN mà còn có một vai trò to lớn về chủ quyền cho đất nước.
Công ty Điều hành Dầu khí Biển Đông (POC) được thành lập.
Để mang được khí vào bờ, POC phải lắp đặt một đường ống dẫn khí. Trong số các phần việc quan trọng, có gói thầu cung cấp khoảng 22 km đường ống bọc hai lớp. Ngày 9-4-2010, khi đóng thầu, Chủ đầu tư (PTSC-MC là công ty được ủy quyền) nhận được hồ sơ chào thầu từ Marubeni (Nhật) và POTS (công ty Thương mại và Dịch vụ dầu khí Biển - thuộc PVN).
Chỉ có Marubeni đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Biết mình bị loại, ngày 25-5-2010, POTS gửi công văn lên Tập đoàn đề nghị tái xem xét.
Vì đây là gói thầu có yêu cầu công nghệ cao chứ không phải thứ "cây nhà lá vườn", nhằm ngăn chặn sự can thiệp từ Đinh La Thăng, ngày 7-6-2010, PTSC-MC đã phải báo cáo lên lãnh đạo Tập đoàn khẳng định, "Marubeni là nhà thầu duy nhất đạt kỹ thuật".
Thế nhưng vào ngày 11-6, PTSC-MC vẫn bị buộc phải lập một tổ thẩm định khác, đánh giá lại, rồi công nhận "cả hai nhà thầu đều đạt về kỹ thuật".
Ngày 22-7-2010, Đinh La Thăng phê duyệt việc trao gói thầu cho POTS vì lý do POTS đưa ra giá thấp hơn (40,8 triệu so với 49,8 triệu USD của Marubeni).
Không phải tự nhiên, Đinh La Thăng gây sức ép loại "nhà thầu duy nhất đạt kỹ thuật". Nhân danh "phát huy nội lực, ưu tiên sử dụng dịch vụ trong ngành", khi chưa có quyết định giao thầu (5-2010) Đinh La Thăng đã yêu cầu POC "giao dịch vụ bọc ống cho PVID" - một công ty thuộc PVGas được "đẻ ra" dưới thời Đinh La Thăng. PVID sau đó được chỉ định thầu phần bọc ống, "bóc" ra từ gói thầu của POTS.
Ngay từ khi dự thầu, nội lực mà POTS thể hiện chỉ là như vai trò một anh "cò". Gói thầu được POTS chia đôi cho Canadoil tại Thái Lan (phần chế tạo ống) và Bredo Shaw tại Malaysia (phần bọc ống). Nhưng do phải nhường phần bọc ống cho PVID nên công việc chưa bắt đầu, POTS đã phải mất thời gian đàm phán để loại Bredo Shaw ra khỏi cuộc chơi.
Canadoil cũng chỉ là một nhà thầu liều mạng. Nhận một gói thầu trị giá hàng chục triệu đô là để làm ống mà vừa thiếu thép tấm, thiếu máy hàn, thiếu cả nhân công có tay nghề... Vì sốt ruột, Chủ đầu tư (PTSC MC) đã nhiều lần phải đưa nhân công sang Thái Lan hỗ trợ.
Thế nhưng thời hạn giao ống vẫn liên tục bị Canadoil trì hoãn. Mặc dù được Đinh La Thăng đầu tư thêm 1,1 triệu để lắp đặt "dây chuyền bọc ống", PVID vẫn không thể nào thực hiện đúng hợp đồng, buộc PTSC MC phải mang gần một nửa ống mà Canadoil sản xuất đưa sang Malaysia nhờ bọc.
Không phải tự nhiên ngay từ đầu Chủ đầu tư đã khẳng định "Marubeni là nhà thầu duy nhất đạt yêu cầu kỹ thuật". Đối với những gói thầu đòi hỏi công nghệ cao thì giá chưa phải là yếu tố quyết định.
Chủ trương "nhà làm được" của Đinh La Thăng khi chọn POTS để "tiết kiệm 9 triệu USD" chênh lệch giá với Marubeni, kết cục đã làm phát sinh giá thành của gói thầu này thêm 11 triệu, cao hơn giá bỏ thầu của Marubeni 1 triệu USD (PVN phải bỏ thêm 1,1 triệu đầu tư dây chuyền bọc ống cho PVID và các nhà thầu phụ đòi phát sinh thêm 5,44 triệu USD - riêng Canadoil đòi phát sinh 3,6 triệu USD, cùng với chi phí PTSC-MC đưa nhân công sang Thái).
Con số phát sinh không dừng lại ở mức gần 11 triệu USD. Sự can thiệp của Đinh La Thăng, buộc POTS phải chọn những nhà thầu kém năng lực, thiếu uy tín, đã làm cho việc giao ống bị chậm 10 tháng; ngày giao khí đầu tiên lẽ ra phải là 31-12-2012 đã bị chậm mất gần 6 tháng (tới 28-6-2013). Sự chậm trễ này đã buộc POC phải phá vỡ hợp đồng với các nhà thầu khác, khiến cho chi phí phát sinh thêm những khoản rất lớn.
Tàu Seamac được thuê để rải ống vào năm 2012 bị chuyển sang 2013 khiến cho POC phải bồi thường 25,7 triệu USD. Các phương tiện lắp ống phải chờ ngoài biển trong giai đoạn rủi ro thời tiết buộc POC phải bồi thường 8 triệu. Phát sinh chi phí quản lý và thuê kho chứa khí thêm gần 5 triệu USD; Mất doanh thu do chậm đưa khí vào bờ gần 6 tháng (28-6-2013 thay vì 31-12-2012) lên đến gần 38 triệu USD (270 nghìn USD/ngày).
PTSC-MC không thể buộc POTS hay Canadoil bồi thường vì ngay từ đầu hợp đồng đã bị vỡ do Đinh La Thăng đưa PVID chen ngang vào. Chỉ vì nhân danh "phát huy nội lực" cho vài công ty con mà Đinh La Thăng đã làm tổn thất gần 90 triệu USD cho Dự án Biển Đông I.

VENEZUELA & 2 TỶ USD
Chưa tới một năm sau khi PDV- 39 "chọc mũi khoan đầu tiên", tháng 4-2013, PVN đã phải đầu hàng trước Venezuela, bỏ lại nơi đây dự án Junin-2.
Trở lại hơn 6 năm trước đó, ít ai biết vai trò kiến tạo mối quan hệ khăng khít giữa Việt Nam với Venezuela không phải nhờ vào thành tích của ngành ngoại giao mà phần lớn nhờ vào Đinh La Thăng.
Đánh đúng "khẩu vị" của không ít nhà lãnh đạo khoái một Hugo Chavez vừa chống Mỹ vừa thân với "người bạn gác" thành trì xã hội chủ nghĩa ở bên kia bán cầu. Đinh La Thăng đã tạo ra "một mốc son trong mối quan hệ quan hệ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Venezuela" sau chuyến thăm Việt Nam của Hugo Chavez vào năm 2006 bằng cách bằng mọi giá liên doanh với một đơn vị của Công ty Dầu quốc gia Venezuela, "Khai thác và Nâng cấp dầu nặng ở lô Junin-2".
Để thuyết phục Chính phủ cho phép PVN bỏ 1,8 tỷ USD sang Venezuela, Đinh La Thăng đã đưa ra đánh giá: "Junin-2 là mỏ có trữ lượng dầu lớn nhất trong vành đai dầu mỏ khí đốt Oricono - vành đai có trữ lượng lớn thứ nhì thế giới. Việc khai thác dầu tại lô Junin-2 sẽ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng cho Việt Nam ít nhất trong 25 năm nữa".
Chiều ngày 19-4-2012, tại Venezuela, khi khởi động giàn khoan PDV-39, PVN còn cứng cỏi tuyên bố: "Sang năm, Junin 2 sẽ cho sản lượng khoảng 200.000 thùng/ngày". Nhưng, vừa đúng "sang năm", khi Đinh La Thăng đang lo "trảm tướng" bên ngành giao thông, những người kế nhiệm Thăng ở PVN tái mặt khi lượng dầu khai thác được, cả sản lượng và chất lượng, không đạt giá trị thương mại. Họ đã có một quyết định dũng cảm là gần như "bỏ chạy".
Trong hợp đồng mà Đinh La Thăng cho ký với Venezuela vào ngày 29-6-2010 có một điều kiện rất "quái gở" là 6 tháng sau khi ký kết, phía Việt Nam phải bắt đầu "bonus" cho Venezuela khoảng 1 USD trên một thùng dầu (không phải thùng dầu khai thác được mà là thùng dầu trữ lượng theo dự đoán). Ngay trong 2 năm đầu, bất kể có dầu hay không, phía Việt Nam vẫn phải nộp đủ cho Venezuela 584 triệu USD bằng tiền mặt.
Trước ngày 12-5-2011, trong khi Liên doanh chưa hoàn thành thủ tục đăng ký với cơ quan chức năng Venezuela, 300 triệu USD tiền mặt đã được "bonus" cho đối tác; Đúng một năm sau, 142 triệu USD khác cũng đã được thanh toán(12-5-2-12)[tổng cộng 442 triệu USD chưa kể hàng trăm triệu đã đầu tư vào công tác thăm dò, khai thác].
Tháng 4-2013, PVN (đại diện trực tiếp là PVEP) đứng trước lựa chọn khó khăn khi tới hạn nộp tiếp 142 triệu USD tiền mặt trong khi lượng dầu ở mỏ Junin-2 hoàn toàn "không như dự đoán".
Hợp đồng mà Đinh La Thăng ký không chừa cho Việt Nam cửa lùi. Cho dù không kiếm được thùng dầu nào đáng giá, 15 ngày sau thời hạn "bonus", nếu không nộp đủ tiền, toàn bộ cổ phần của PVN trong liên doanh sẽ tự động chuyển cho đối tác Venezuela. Việt Nam cũng sẽ không được quyền thanh toán hoặc đền bù bất cứ đồng nào từ các khoản đã đóng góp, vay vốn hay đầu tư ở Junin-2.
Những người gánh di sản của Đinh la Thăng đã phải cứu 3000 tỷ (142 tiền bonus đóng lần thứ 3), thay vì ném tiếp sang Caracas để nó chết chìm cùng các khoản đã đầu tư vào Junin-2.
Cùng với các tổn thất ở những dự án "hợp tác quốc tế" khác như Peru-67; SK-305; SK-304, PVN đã ném xuống đại dương không dưới 2,1 tỷ USD.
Tất nhiên, trách nhiệm không chỉ một mình Đinh La Thăng. Nhưng nếu không xử lý ông Thăng thì bao nhiêu tuyên bố về chống tham nhũng cũng trở nên sáo rỗng.
PS: Có nhiều người hỏi, khi viết về Đinh La Thăng tôi có sợ không. Tôi trả lời: Sợ. Nhưng tôi có một nỗi sợ lớn hơn, đó là, tôi sợ tương lai đất nước tôi rơi vào tay những kẻ tham lam và bịp bợm.

........./.