VIỆT NAM CỘNG HÒA LỪNG LỮNG ĐI VÀO LÒNG ĐẤT NƯỚC



VIỆT NAM CỘNG HÒA LỪNG LỮNG ĐI VÀO LÒNG ĐẤT NƯỚC
Trần Doãn Nho
****

1.
30/4/1975, Việt Nam Cộng hòa (VNCH)[1] tức tưởi chết!
Đọc được từ một email tình cờ lạc vào inbox tôi:
“Còn nhớ trưa ngày 30/4/1975 dưới bầu trời u ám như muốn đổ lệ, tôi đứng ngay cổng xe lửa số 6 trên đường Trương Minh Giảng – Phú Nhuận. Lúc đó lính Cộng hòa đã trút bỏ quần áo đi bộ từng đoàn thất thểu. Súng ống, ba-lô, quân phục họ vất đầy lề đường. Xe tăng và các binh đoàn Motolova của Cộng sản đã tràn vào Thủ đô Sài Gòn, chạy rầm rầm hướng về Bộ tổng Tham mưu. Chung quanh ai cũng hốt hoảng lo tìm đường chạy về nhà, giờ này đi di tản kể như đã quá trễ. Lâu lâu lại thấy một vài đứa khốn nạn Cách mạng 30/4 đeo băng đỏ ngồi trên xe Jeep cầm súng chĩa lên trời, chúng bắn từng tràng đạn chào mừng ngày Giải phóng. (…) Sau ngày 30/4 vào khoảng tháng 5 khi có chiến dịch Bài trừ văn hóa đồi trụy Mỹ Ngụy, có một vụ chấn động Sài Gòn là vụ nổ ở một tiệm cho mướn sách cũ. Chủ tiệm lùa hết bọn đeo băng đỏ vào trong rồi mở kíp lựu đạn tự sát cho dính chùm. Nghe đâu chết vài mống Cách mạng 30/4, ông chủ cũng chết. Tiệm này nằm trong phường 10, quận Phú Nhuận (chung với phường của nhà mình bên đường Thiệu Trị – Nguyễn Huỳnh Đức). Còn một vụ khác vào khoảng năm 1976, có một gia đình bên khu đường rầy xe lửa hướng đi ra Cống Bà Xếp. Gia đình này có hai vợ chồng và tám đứa con. Vì căm phẫn chế độ Cộng sản, họ đã tìm ra đường thoát. Hôm đó, họ nấu một nồi cháo vịt, bỏ thuốc giết chuột vô, cả nhà cùng ăn chung bữa cuối cùng rồi nắm tay nhau chết hết.[2]
Đọc được từ một nữ bộ đội miền Bắc, sau này là nhà văn nổi tiếng Dương Thu Hương: “Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ”.[3]
2.
Chao ôi, đã bốn mươi lăm năm rồi kể từ cái ngày tang thương 30/4/1975!
Trong những ngày này, khi tất cả chúng ta ngậm ngùi nhớ lại thời điểm bi thảm đó, thì trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc, chính quyền Cộng sản Việt Nam đang cố gắng vô hiệu hóa Công hàm nhượng bộ Trung Quốc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 bằng cách khẳng định tính cách hợp pháp của chế độ VNCH trong cuộc đấu tranh pháp lý giành lại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua hai Công hàm 257-HC năm 2016[4] và A/72/692 năm 2018 do họ gửi cho Liên Hiệp Quốc.[5]
Xin dẫn một trích đoạn liên hệ: “Từ khi quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam năm 1956, chính quyền VNCH đã tiếp quản quần đảo Trường Sa từ Pháp. Bằng Sắc lệnh số 143-NV đề ngày 22 tháng 10 năm 1956, Chính phủ nước Việt Nam Cộng hòa đã chuyển quần đảo Trường Sa từ tỉnh Bà Rịa về tỉnh Phước Tuy. Trong khoảng thời gian giữa 1954 và 1975, Việt Nam tạm thời bị chia thành hai phần. Do vị trí địa lý, vào thời gian này, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được đặt dưới quyền cai trị của Chính phủ VNCH (Miền Nam Việt Nam). Như thế, sự kiện Chính phủ VNCH hành xử việc cai trị lãnh thổ hai Quần đảo trong thời điểm đó là phù hợp với thực tế và luật pháp trong bối cảnh của giai đoạn này. Thông lệ quốc tế chỉ rõ rằng trong thời Chiến tranh Lạnh, có sự hiện diện của hai quốc gia giống Việt Nam như Đức, Yemen…(…) Vào năm 1975, sau khi Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa (vào tháng 1 năm 1974), Chính phủ VNCH đã công bố một Bạch thư đưa ra những bằng chứng lịch sử xác định một cách rõ ràng và đầy thuyết phục chủ quyền lâu dài của Việt Nam trên hai quần đảo này”.[6]
Trong lúc nguy cấp, rốt cuộc, nhà cầm quyền Cộng sản buộc phải bỏ cái thói kiêu ngạo cổ hữu, chính thức thừa nhận sự hiện hữu hợp pháp của VNCH như một cái phao cứu sinh.
Thực tế là, VNCH đã từng là một quốc gia có cương thổ, có quân đội, có chủ quyền pháp lý, được 87 quốc gia trên thế giới công nhận và đã là thành viên của nhiều Uỷ Ban trong Liên Hiệp Quốc, trong lúc vào thời điểm đó, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của miền Bắc chỉ được một số rất ít các quốc gia trong khối Cộng sản thừa nhận.
Khi nói đến VNCH, thường thì người ta chỉ nghĩ đến các chính quyền: chính quyền Ngô Đình Diệm, chính quyền Nguyễn Khánh, chính quyền Nguyễn Cao Kỳ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu… Và khi nghĩ đến các chính quyền, người ta chỉ nhìn thấy một VNCH đầy những hình ảnh tiêu cực: tham nhũng thối nát, thay ngôi đổi chủ xoành xoạch, lệ thuộc ngoại bang… và dựa vào đó, quy cho VNCH là phồn vinh giả tạo, là đầy dẫy các tệ nạn xã hội, là bất công, áp bức, vân vân và vân vân. Thực ra, cũng như những quốc gia khác, VNCH là một tổng thế, có cái tiêu cực, nhưng không thiếu những điều tích cực. Và những điều tích cực đó là hình ảnh của một VNCH khác, đẹp đẽ, nhân bản, dân tộc, thường bị che giấu bởi thiên kiến hay bị xuyên tạc một cách bất công.
Với riêng tôi (mà cũng là cả thế hệ chúng tôi) sinh trưởng trong lòng chế độ VNCH, nơi chúng tôi được trưởng thành như những con người tự do, được học hành, được mơ ước, được tranh đấu chống bất công, áp bức, nói tóm lại, được tự hào là người Việt Nam, thì VNCH không chỉ là một một quốc gia, một dân tộc mà hơn thế nữa, đó là một quá khứ thân thuộc, êm đềm, sinh động, đa dạng và phong phú. VNCH tuy không còn nữa, nhưng với chúng tôi, VNCH không hề biến mất.
3.
Người bạn học thời trẻ của tôi, Lê Hiếu Đằng, một cán bộ Cộng sản hoạt động nằm vùng, trong “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh…”, kể lại:
Nhắc đến đây tôi có một kỷ niệm khó quên: ba tôi và mẹ Lý Thiện Sanh nóng lòng vì đã đến kì thi Tú tài II nhưng chúng tôi vẫn bị nhốt trong tù. Vì vậy ông bà làm đơn hú họa xin hai chúng tôi ra thi. Thế mà chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó lại giải quyết cho ra thi. Tôi theo Ban C Triết học nên chỉ còn vài ngày nữa là thi, ba tôi gửi một số sách vào cho tôi. May mắn lúc đó tôi đã đọc nhiều sách triết học của các Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Toàn và các tạp chí Sáng tạo, Hiện đại của nhà văn Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, nhà thơ Nguyên Sa, Tô Thuỳ Yên, v.v., kể cả quyển sách viết về Nietzsche của Nguyễn Đình Thi trước năm 1975. Gặp đề thi triết khá hay tôi tán đủ điều, đậu hạng thứ dễ dàng. Còn Lý Thiện Sanh học ban B vốn rất giỏi nên đậu hạng bình thứ. (…) Tôi không biết với chế độ gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?”[7]
Những chi tiết Lê Hiếu Đằng trình bày ở trên là hoàn toàn chính xác, theo tôi. Lê Hiếu Đằng học Đệ nhất C, Lý Thiện Sanh và tôi Đệ nhất B, dù không ngồi cùng lớp, nhưng thường hay đi cà phê cà pháo, bàn luận chuyện văn chương thế sự với nhau. Các bạn nào đã từng học Quốc Học vào thời điểm đó (1964) đều ít nhiều biết rõ vụ Lê Hiếu Đằng và Lý Thiện Sanh bị bắt giam vì bị nghi là hoạt động cho Cộng sản, nhưng được chính quyền địa phương cho mang sách vở vào lao Thừa Phủ học thi, được ra đi thi như những học sinh bình thường khác và rồi đậu tú tài II. Được phóng thích sau gần nửa năm bị cầm tù, Lê Hiếu Đằng tiếp tục tham gia hoạt động cho Cộng sản ở các trường đại học Sài Gòn, còn Lý Thiện Sanh theo học Y Khoa, tốt nghiệp bác sĩ, làm việc tại Bệnh viện Nguyễn Văn Học, Gia Định.
Thành thật mà nói, trong nhiều bài viết có tính cách phản tỉnh một cách triệt để vào lúc cuối đời của Đằng, thì những dòng này khiến tôi cảm động, vì anh nêu ra một chi tiết rất nhỏ nhưng lại nói được một điều khá lớn và đầy ý nghĩa. Những cái “ưu việt” của Cộng sản mà Đằng đã từng vì chúng mà theo suốt cuộc đời, hóa ra không thể so sánh được với cái “nghĩa cử” đầy tình người của chính quyền Thừa Thiên-Huế hồi đó. Nghĩa cử này chắc chắn không xuất phát từ lòng xót thương của một cá nhân, hay từ lỗ hổng của luật pháp mà từ cái cơ chế bình thường của nó, của VNCH. Biết đâu chính cái chi tiết nho nhỏ này đã ám ảnh Đằng và là động lực khiến anh chọn lựa ra khỏi Đảng Cộng sản vào lúc cuối đời!
Nhân chi tiết khá lý thú đó, tôi thấy cần phải giới thiệu lại một bài viết, đúng hơn là một phần trong tập hồi ký của một trong những khuôn mặt trí thức tả khuynh nổi tiếng hàng đầu ở miền Nam trước năm 1975, Giáo sư Nguyễn Văn Trung: “Tưởng niệm Việt Nam Cộng hòa” (In memoriam Việt Nam Cộng hòa); hồi ký này được viết từ năm 1993 và được công bố lần đầu tiên trong Tạp chí Văn Học (Cali) năm 2000.[8] Giới thiệu phần hồi ký đặc biệt này, Tạp Chí Văn Học viết, “Chúng tôi xem bài viết của Giáo sư Trung là một biểu hiện của sự liêm khiết và can đảm của người trí thức, vì cho đến nay, trên toàn cầu, giới trí thức khuynh tả vẫn chưa có can đảm “tự phán” một cách sòng phẳng, rốt ráo. Họ không dám nhận rằng chỗ đứng an toàn của họ không đâu khác hơn là xã hội cho phép họ được công khai bày tỏ lập trường khuynh tả, và khi chế độ bị họ khinh miệt tiêu vong, để thay thế bằng một chế độ toàn trị, thì số phận của họ cũng bị tiêu vong theo. Hay nói như Giáo sư Nguyễn Văn Trung, “tham gia Cách mạng là tham gia vào một quá trình tự tiêu diệt sau này”. (Thư tòa soạn)
Qua hồi ký, Nguyễn Văn Trung đã phác họa lại hình ảnh chân xác của VNCH bằng cách hướng cái nhìn vào một số nét cụ thể khá đa dạng và phong phú không lệ thuộc vào các Chính phủ, thường bị bỏ quên hay bị che mờ bởi thiên kiến hay bởi một nhãn quan lệch lạc, thậm chí có tính cách thù nghịch.
Một trong những nền tảng của VNCH là cơ chế công chức.
Theo ông, “Khi người Pháp ra đi, một trong những điều tích cực của họ để lại là một số thể chế nhà nước, cụ thể là một nền hành chánh và một giới công chức được đào tạo theo tinh thần phân biệt tôn giáo và nhà nước”.[9] Trong vòng 20 năm (1955-1975), dù có nhiều thay đổi trong Chính phủ, cái hệ thống hành chánh, guồng máy đó vẫn như thế, vẫn chạy đều như không có gì xảy ra. Công chức cấp dưới có trình độ văn hóa tương đối, còn công chức cao cấp tối thiểu cũng có bằng tú tài hay tốt nghiệp đại học. Và dù ở cấp nào, giới công chức vẫn giữ phong cách của những người làm việc công: mực thước, tôn trọng của công, tôn trọng luật pháp và phục vụ công chúng.
Một đặc điểm khác của VNCH là “xã hội dân sự”. 
“Những “chính quyền” hay [những] thay đổi ở miền Nam cần phân biệt với “chế độ xã hội” miền Nam ít nhiều vẫn duy trì và phát huy những sinh hoạt của điều mà ta gọi là xã hội dân sự (société civile)”.(…) “Nếu phân biệt “xã hội công” (le social public) với “xã hội tư”(le social privé) thì “xã hội dân sự” là một loại hình xã hội trong đó nhà nước không can thiệp vào xã hội tư về các quan hệ nghề nghiệp, giáo dục, tư tưởng, văn hóa, cứu tế, liên đới xã hội và các quan hệ về mặt tình cảm (gia đình, họ hàng, bè bạn, thầy trò…). Xã hội dân sự miền Nam, do đó, là một xã hội đa dạng với vô số tổ chức, hội đoàn tư nhân lớn, nhỏ hoạt động độc lập và hợp pháp, được chính quyền tôn trọng và giúp đỡ từ tôn giáo, nghề nghiệp, cho đến kinh doanh, văn nghệ, vân vân.
Lợi dụng điều này, người Cộng sản đã đứng ra thành lập nhiều hội đoàn, tổ chức hợp pháp để ngụy trang cho các hoạt động của mình.
Có thể đây chính là lý do khiến nhà cầm quyền Cộng sản hiện nay rất sợ hình thức “xã hội dân sự”.
Đề cập đến pháp lý và đạo lý, Nguyễn Văn Trung viết, “Một trường hợp cũng khá phổ biến trước đây ở miền Nam: Trong cái thế đối lập giữa hai trật tự: trật tự pháp lý chính trị và trật tự đạo lý tình người, có những lựa chọn trật tự cao hơn (đạo lý tình người), chẳng hạn anh em, con cháu, bạn bè theo Việt Cộng trà trộn trong cơ quan, trong dân chúng, biết mà không tố cáo, thậm chí còn cho tá túc trong nhà vì coi tình nghĩa ruột thịt, bạn bè cao hơn quyền lợi chính trị, pháp luật…”. Mặt khác, một người có người thân hay họ hàng đi theo Cộng sản, con cái họ chẳng gặp khó khăn gì trong việc học hành, thi cử và những quyền lợi hợp pháp khác và khi lớn lên, nếu không trực tiếp tham gia hoạt động cho Cộng sản thì vẫn được đi làm việc bình thường, không bị phân biệt đối xử. Có người còn được cấp học bổng đi du học nước ngoài, và về sau lại hoạt động chống đối kịch liệt VNCH. Chính vì thế, “Dù người dân có khinh ghét chính quyền Sài Gòn thế nào đi nữa, có lẽ ít ai nghĩ rằng mình đang sống trong vùng Mỹ-ngụy, vùng tạm chiếm mà chỉ nhìn nhận: Việt Nam là một dân tộc, nhưng hiện đang bị chia cắt, có hai thể chế chính trị: Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, và mong muốn một ngày nào đó có thống nhất trong hoà bình,” theo ông.
Nói về quân đội, Nguyễn Văn Trung nhận định, “Trong quân đội ngay từ những khóa hạ sĩ quan Nam Định hồi 1951-1952 đến các khóa học của trường Võ Bị Đà lạt, Nha Trang, Thủ Đức hồi đầu thời Đệ nhất Cộng hòa cũng dần dà tạo được một giới sĩ quan có trình độ tú tài hay đại học không hề mặc cảm là lính đánh thuê của quân đội viễn chinh, trái lại họ có được một điều mà nền Đệ nhất Cộng hòa đã tạo cho họ đó là một bản sắc, một căn cước quốc gia (identité nationale)”.
Một trong những mặt xuất sắc nhất của VNCH là văn học nghệ thuật. Nó thoát thai từ sự kiện: VNCH là một xã hội mở, xã hội tự do.
Theo Nguyễn Văn Trung, trong kinh nghiệm rất riêng của mình, những nhà văn, nhà trí thức miền Nam viết bất cứ cái gì mà không bận tâm mấy về an ninh bản thân. Họ chỉ bận tâm về “viết cái gì” và “viết thế nào”, chứ không phải về “có thể viết được hay không”.
Có được như thế là nhờ phong cách làm việc trí thức của giới công chức trong các bộ liên hệ: Bộ Văn hóa, Bộ Thông tin và Bộ Nội vụ. Về điểm này, cũng theo Nguyễn Văn Trung, trong một bài viết khác, “Hướng về Miền Nam Việt Nam”, thì dưới chế độ VNCH, “Báo thì không phải kiểm duyệt nhưng có thể bị tịch thu đưa ra tòa. Trong khuôn khổ chính sách hạn chế tự do chính trị như vậy, nếu không xuất bản công khai, hợp pháp, vẫn có thể in ronéo, phổ biến, bày bán ngay cả trên các sạp báo và có thể bị tịch thu… Người cầm bút viết những điều cấm kỵ, phê phán chính sách này, chính sách kia của nhà nước, thậm chí họp nhau viết kháng thư phản đối, đăng trên báo mà không lo ngại về an ninh chính trị của bản thân gia đình bạn bè. Nói cách khác, viết phê phán mà không sợ nhà nước”.[10]
Trong bài thuyết trình “Tính “văn học” trong Văn học Miền Nam”[11] đọc trong buổi hội thảo về Văn học Miền Nam tổ chức tại tòa soạn nhật báo Người Việt vào ngày 6/12/2014, tôi đã phân tích kỹ về tính chất đa dạng, tự do, hiện đại, kế tục, nhân bản… của Văn học miền Nam, những tính chất khiến cho tự bản thân, nền văn học đó đã mang một giá trị bất khả bàn cãi và cao hơn hẳn một nền văn học được chỉ đạo bằng các nghị quyết chính trị.
Xin cụ thể hóa nhận định trên của Nguyễn Văn Trung bằng một trích đoạn đề cập đến việc tiếp quản trường Đại học Vạn Hạnh sau ngày 30/4/1975 trong một bài viết ngắn của một người miền Bắc có tham gia vào công việc này:
Nhưng miền Bắc không chỉ Giải phóng miền Nam khỏi những văn bản cổ của văn minh nhân loại hay những trước tác nóng hổi nhất trên thế giới nửa thế kỉ trước, miền Bắc chúng ta đã Giải phóng họ khỏi một nền đại học được xây dựng trên ý niệm tự do. Trong số sách Thư viện Vạn Hạnh còn sót lại, có một loại sách đặc biệt, do trường xuất bản, in những bài phát biểu của các diễn giả được mời đến nói chuyện và tranh luận với giảng viên, sinh viên của trường. Đọc những cuốn sách đó, bạn sẽ nhận ra Đại học Vạn Hạnh đương thời giống như một diễn đàn khổng lồ của xã hội dân sự, nơi tất cả các xu hướng tư tưởng khác nhau đều được cất lên tiếng nói của mình, từ chống Cộng sản đến chống Hoa Kỳ, ủng hộ miền Bắc đến ủng hộ VNCH… Tất cả đều có một không gian bình đẳng để giải thích vì sao họ suy nghĩ và hành động như vậy. Lúc đó tôi đã tự hỏi, giữa Sài Gòn thời đó thì có những tiếng nói chống lại hệ thống Cộng sản là đương nhiên, nhưng tại sao chế độ Việt Nam Cộng hòa lại để cho Đại học Vạn Hạnh (và đương nhiên không chỉ Vạn Hạnh) trở thành nơi những người chống lại mình có thể phát biểu tư tưởng?
Câu trả lời nằm ở Hiến pháp 1967 miền Nam Việt Nam: Đại học là tự trị. (…)
Những trải nghiệm như thế làm cho mọi chàng “miền Bắc có lý luận” cảm thấy mình thuộc về “miền Nam”.[12]
Quy chế “đại học tự trị” quả là một ưu điểm đáng kể của VNCH, góp phần tạo nên một môi trường tri thức thực sự, không thua bất cứ một đại học của một nước tiên tiến nào trên thế giới. Chính vì thế mà dù sống trong thời chiến, các Giáo sư và sinh viên vẫn được hưởng một không khí thoải mái trong nghiên cứu và học tập, thậm chí trong các cuộc đấu tranh đòi dân chủ, hòa bình và chống chính quyền.[13]
Tác giả bài viết trên tỏ ra ngạc nhiên về tính cách “tự do tư tưởng” khi tiếp quản trường Đại học Vạn Hạnh, một trường mới được thành lập sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ. Thực ra, sự cởi mở của VNCH về phương diện tư tưởng đã hiện hữu từ thời Đệ nhất Cộng hòa. Hồi đó, hầu hết các tác phẩm được viết trước năm 1945 của những tác giả đang sống và phục vụ dưới chế độ Cộng sản miền Bắc (trừ một số tác phẩm nặng tính chất tuyên truyền của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi…) từ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Anh Thơ cho đến Thế Lữ, Nguyễn Tuân…đều được tái bản, không những thế, còn được đưa vào chương trình dạy văn của học sinh từ tiểu học đến trung và đại học, được đánh giá xứng đáng với giá trị nghệ thuật và vai trò của chúng trong lịch sử văn học. Các tác phẩm đó được nghiên cứu y như chúng hoàn toàn độc lập đối với lập trường và hành vi chính trị hiện đương của các tác giả. Nhờ thế mà thế hệ chúng tôi lớn lên ở miền Nam biết khá rõ giá trị văn chương của từng tác giả, để làm cơ sở đối chiếu với những sáng tác đầy tính chất tuyên truyền, phi-văn chương sau này của họ. Cũng cần ghi nhận ngay bản “Quốc ca” VNCH (đã đổi lời một phần) được sử dụng tại miền Nam hồi đó và tại hải ngoại hiện nay cũng được ghi tên tác giả là Lưu Hữu Phước vốn là một người Cộng sản.
Nhà thơ Nguyễn Đăng Thường đã từng đưa lên trang mạng “Talawas” một Phụ lục “Thay lời phi lộ” là lời của Nhà xuất bản Hoa Tiên khi cho tái bản tại miền Nam các tác phẩm Lửa thiêng của Huy Cận năm 1967, Tiếng thu của Lưu Trọng Lư năm 1968, Quê ngoại của Hồ Dzếnh năm 1969… Lời phi lộ cho thấy nhà xuất bản đã tách rời văn bản ra khỏi con người tác giả.[14]
Sau 1975, nhà nước Cộng sản tìm mọi cách hủy diệt nền văn học nghệ thuật VNCH qua một chiến dịch rất bài bản, liên tục và quyết liệt bằng cách đốt sách báo và bắt bỏ tù nhà văn, nhà báo và cả những người giữ sách báo, nhưng rốt cuộc, chỉ là công dã tràng. Họ chỉ có thể đốt phá cái hữu hình nhưng không thể đốt phá được cái vô hình: tư tưởng và tấm lòng.
Rốt cuộc, không những nền văn học đó không biến mất mà tồn tại, dai dẳng tồn tại và được trân trọng bảo tồn cả ở trong Nam lẫn ngoài Bắc. Càng về sau, văn học miền Nam càng được đánh giá một cách tích cực, từ những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp cho đến ngay cả từ chính nhà cầm quyền Cộng sản.
Trong bài nghiên cứu khá kỹ và ít thiên kiến, “Chiến tranh, xã hội tiêu thụ và thị trường văn học miền Nam 1954 – 1975”, đăng trên tập san “Nghiên cứu văn học”, một trong những cơ quan nghiên cứu văn học hàng đầu của nhà nước Cộng sản, có đoạn viết:
Thật vậy, những cơ sở báo chí và xuất bản trung thực đã giúp người đọc miền Nam nhìn rõ hơn xã hội ở chung quanh mình, đã liên kết những người thiện chí trong một nỗ lực vận động cho hòa bình, tự do, độc lập dân tộc và một nền văn hóa văn nghệ tiến bộ, cho thấy mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt, sinh hoạt văn hóa miền Nam không có tính chất một chiều mà còn có những mầm mống của dân chủ, thông qua tiếng nói phản biện và phản kháng.
Trong đời sống văn học miền Nam, những sáng tác và công trình nghiên cứu chứa đựng những yếu tố dân tộc, nhân đạo, dân chủ và cách tân, xuất hiện trên cái nền của hoạt động báo chí và xuất bản rất đa dạng và phức tạp của nhiều khuynh hướng khác nhau về tư tưởng cũng như về nghệ thuật. Giữa các khuynh hướng đó không có ranh giới tuyệt đối, mà có sự giao thoa, tương tác và chuyển hóa lẫn nhau. Sách báo thân chính quyền cũng có lúc ấn hành những tác phẩm đả kích quan chức của chế độ, thậm chí bị tịch thu. Sự chuyển biến của sách báo khuynh tả cũng là một quá trình từ tự phát đến tự giác. Trên một tờ báo hay một nhà xuất bản có thể xuất hiện những cộng tác viên đối lập nhau về lập trường chính trị và quan điểm văn học”.[15]
Một nhận định văn học khá lạ, nhất là dưới cái nhìn của kẻ thắng cuộc nhìn về kẻ thua cuộc. Nếu không trích dẫn nguồn, có thể chúng ta sẽ cho đó là bài viết của một cây bút VNCH nào đó tự đánh giá văn học miền Nam. Còn lạ hơn nữa, mới đây, Nhân Dân, tờ báo chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho đi một bài của Hạnh Nguyên, Ứng xử với văn học miền nam trước 1975, trong đó có đoạn:
Từ chỗ bị phê phán gay gắt, bị loại bỏ, cấm phổ biến, văn học miền Nam dần dần đã được coi là một bộ phận không thể tách rời của văn học Việt Nam, được xuất bản và nghiên cứu nghiêm túc. Nhiều tác giả (nhà văn, nhà phê bình) miền nam xuất hiện trở lại trong đời sống văn học đương đại, nhiều tác phẩm (sáng tác, nghiên cứu, phê bình, văn học sử) được in lại và được bạn đọc ghi nhận. Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, Diễn đàn văn nghệ Việt Nam của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam đều từng mở chuyên mục giới thiệu văn học miền nam trước 1975; nhiều tạp chí chuyên ngành ở trung ương và địa phương cũng đăng tải những nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm, hiện tượng văn học, phê bình văn học Sài Gòn trước 1975; không ít luận án, luận văn cao học và không ít đề tài nghiên cứu cấp cơ sở, cấp Bộ, cấp Nhà nước đã lấy văn học, học thuật miền nam 1954-1975 làm đối tượng khảo sát, phân tích, đánh giá; một số nhà xuất bản, công ty văn hóa truyền thông đã chọn lọc giới thiệu những “người lạ mặt quen thuộc”… Nói cách khác, sự thay đổi trong thái độ đối với văn học miền nam diễn ra ở cả khu vực nghiên cứu, xuất bản, lẫn giảng dạy, sưu tầm, giới thiệu, phổ biến đến công chúng. Hoạt động được khuyến khích là vượt qua định kiến, thiên kiến, tỉnh táo chọn lọc những tác phẩm có yếu tố dân tộc, tinh thần nhân đạo, dân chủ, yêu nước và tiến bộ, có giá trị cách tân.
Có thể nói, nếu không có không khí cởi mở, chắc chắn những sáng tác của Du Tử Lê, Trần Thị NgH, Đinh Hùng, Nguyên Sa, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện…; những nghiên cứu của Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Thanh Lãng, Toan Ánh… không có điều kiện tái xuất hiện trong đời sống văn học. Nhờ sự thay đổi trong cách ứng xử, mới có những nghiên cứu về các trường hợp như Lê Tuyên, Thanh Tâm Tuyền… về tư tưởng triết học và các khuynh hướng lý luận – phê bình văn học ở đô thị miền nam 1954 – 1975.
Theo GS Huỳnh Như Phương: “Từ 1975 đến nay, khoảng 160 tác giả và dịch giả ở các đô thị miền nam có tác phẩm được tái bản chính thức trong nước, trong đó có người còn sống, người đã mất và một số ít đang định cư ở nước ngoài. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, việc làm đó chưa thật hệ thống và đầy đủ. Trong thời điểm hiện nay, xúc tiến việc tập hợp, tuyển chọn những tác phẩm, công trình có giá trị là việc làm đúng lúc và cần thiết, không chỉ để cung cấp tài liệu cho các nhà nghiên cứu mà còn góp phần làm phong phú và đa dạng đời sống tinh thần của đất nước”.[16]
Từ chỗ “ngăn chặn, chống, phê phán, đấu tranh, quét sạch văn hóa nô dịch, đồi trụy, lai căng; xóa bỏ những xuất bản phẩm phản động, khiêu dâm; trừng trị nghiêm khắc những ai cố ý vi phạm các quy định của Nhà nước…” đến chỗ thừa nhận văn học miền Nam là “một bộ phận không thể tách rời của văn học Việt Nam”, “không chỉ để cung cấp tài liệu cho các nhà nghiên cứu mà còn góp phần làm phong phú và đa dạng đời sống tinh thần của đất nước” quả là một thay đổi 180 độ. Đâu là động lực của thái độ tích cực đó? Có nhiều lý do, nhưng một trong những lý do chính theo tôi, đó là giá trị thuyết phục của tự bản thân Văn Học Miền Nam. Nhận định về ảnh hưởng của văn hóa nghệ thuật miền Nam đối với miền Bắc, nhà thơ Hoàng Hưng, một trong những thành viên nòng cốt của trang mạng Văn Việt ở trong nước, nhận xét:
Sự tiếp xúc với Văn học miền Nam trước 1975 đã tạo bước ngoặt quyết định về khuynh hướng tư tưởng cho không ít tác giả của nền văn học “chính thống” miền Bắc. Tinh thần tự do, nhân bản và cách tân của nó đã dần dần “tẩy rửa” thói quen “tự kiểm duyệt” và “phục vụ chính trị”, giáo điều “hiện thực xã hội chủ nghĩa”… vốn ngấm sâu vào tâm trí của thế hệ cầm bút “chống Pháp chống Mỹ”. Chắc chắn nó đã khởi hứng cho những ý tưởng thay đổi mạnh mẽ của vài nhà lãnh đạo văn nghệ cuối thập niên 1970 như Trần Độ, Nguyên Ngọc… và của nhiều cây bút thành công từ sau khi có chính sách “Đổi mới”cuối thập niên 1980. Hầu hết những cây bút trẻ hiện nay ở Việt Nam đang đi theo tinh thần ấy.[17 ]
4.
Trong lúc các tác phẩm văn học VNCH vẫn còn được xuất bản hạn chế, thì một hình thái nghệ thuật khác của VNCH, ca nhạc, hay nói theo cách nói phổ biến hiện nay là nhạc vàng, gần như “thống trị” sinh hoạt ca nhạc trong nước.
Ca nhạc miền Nam đã có ảnh hưởng từ đầu, ngay sau ngày 30 tháng Tư. “Sau khi Quân đội miền Bắc tiếp quản miền Nam, dường như nhạc miền Nam lại đổ bộ ra Bắc,” theo Jason Gibbs trong một bài nghiên cứu công phu về loại nhạc này, Nhạc vàng “hóa vàng”.[18] Gibbs viết:
Sau năm 1975, với sự sụp đổ của Sài Gòn, trước sự ra đi của người Mỹ và sự tan rã của Việt Nam Cộng hòa, những quan toà văn hoá Việt Nam đối diện với tình huống khó xử mới. Họ tiếp quản một địa bàn có đến hàng triệu tờ, đĩa và băng – gần hết là nhạc vàng – đã được mua bán trao đổi phân phối. (…) Từng bị tiêm nhiễm một thứ văn hoá, không dễ dàng để một người từ bỏ nó chỉ một sớm một chiều. Mặc dù không có khả năng nghe một bài hát cũ nữa, một người có thể nhớ nó, hát hoặc nhảy với nó trong một thời gian dài trong tương lai. Một bài hát cũ chỉ có thể chắc chắn đã chết khi nó không thể còn được nhớ đến, nhảy múa hay hát hò gì nữa.
Tuy nhiên, ngoài vấn đề làm hồi tỉnh những ai đã nuốt phải thuốc độc của chủ nghĩa thực dân mới, họ phải đối phó với sự lan truyền của những người lính Quân đội miền Bắc khi họ mang theo loại nhạc này khi trở về nhà hay làng quê họ.
Một nhà nghiên cứu giải thích rằng sự quảng bá của loại nhạc này đối với người miền Bắc thành ra một vấn đề cấp thiết hơn là cố ngăn dừng chúng lại ở miền Nam bởi vì người Bắc nghe nhạc ấy như một món mới lạ và chưa được “miễn dịch” chống lại trước đó”. (…) “Lần đầu đến Việt Nam năm 1993 tôi đã rất kinh ngạc là thứ nhạc phổ biến ở Việt Nam Cộng sản lại giống với nhạc mà người Mỹ gốc Việt vẫn nghe, dĩ nhiên là chúng không được phát thanh, và trong mọi trường hợp là bất hợp pháp. Tuy là sản phẩm buôn lậu, những băng cassette và video vẫn được trao đổi tự do, và nhạc này có ở trong gần như mọi nhà tôi đến. Mặc dù nhạc vàng vẫn phải mang tội danh phản động, ít người nghe bình thường để ý đến điều đó”.
Rốt cuộc, nhạc vàng, thay vì hiểu là thứ nhạc vàng vọt, ủy mị thì lại trở thành thứ nhạc với ý nghĩa tích cực: vàng là kim loại quý, như được hiểu trước năm 1975 ở Sài Gòn, cũng theo Gibbs.
Nói về sự “thống trị” của ca nhạc VNCH trong sinh hoạt giải trí hiện nay ở trong nước, nhà thơ Hoàng Hưng, cho biết, “Nhu cầu ca hát, một trong những nhu cầu tự nhiên nhất của con người, sau nhiều năm bị “nhạc đỏ” độc quyền thống trị, đã bùng lên với “nhạc vàng” khắp phố phường ngõ xóm (…) Đến mức bây giờ, nhạc “bolero” một thời vốn không được đánh giá cao lắm bởi giới có học ở Sài Gòn, nay đang “tràn ngập lãnh thổ”, chiếm lĩnh không gian âm nhạc cả chính thống lẫn tự phát!” Tại sao có sự chiếm lĩnh đó? Theo nhận xét của Hoàng Hưng, một trong những điểm đáng nói là phong cách hát. “Các ca sĩ miền Bắc nhìn chung được học bài bản hơn, nhưng sau khi nghe ca sĩ miền Nam, số đông người nghe bỗng nhận ra cái gì đó không thú lắm ở lối hát miền Bắc. Thì ra kỹ thuật thanh nhạc không thay thế được tình cảm tự nhiên, càng không lại được cái hồn gửi vào tiếng hát, và “bel canto” của “opera” không thể cuốn hút bằng cái sự tròn vành rõ chữ tiếng Việt!”[19]
Nói chung là như thế, nhưng nếu đi sâu hơn, ta sẽ nhận ra rằng chuyện nhạc vàng-nhạc đỏ không chỉ thuần túy là vấn đề ca nhạc, mà hàm chứa trong đó một cuộc “đấu tranh chính trị” dai dẳng và quyết liệt. Cứ theo dõi chuyện tranh cãi về việc “cho cho cấm cấm” rồi lại “cấm cấm cho cho” một số các bản nhạc miền Nam như “Con đường xưa em đi”, “Tôi đưa em sang sông, hay “Ly rượu mừng” chẳng hạn, chúng ta sẽ thấy trước sau, nhà nước Cộng sản đứng trước một sự chọn lựa “chẳng đặng đừng”, một chọn lựa đau đớn khi cho phép dòng nhạc miền Nam tiếp tục chiếm lĩnh thị trường giải trí cả nước.
Phải nói là “không ngăn chặn được” chứ không phải là “cho phép”. Dù trực tiếp hay gián tiếp, dù bóng gió xa xôi hay êm đềm gần gũi, nhạc miền Nam nói chung chứa đựng trong đó tất cả cái không khí đa dạng, thấm đẫm tình người, tình nước của Việt Nam Cộng hòa.
Nói như Đỗ Trung Quân, sự thắng thế của nhạc miền Nam là cuộc “phục thù ngọt ngào” của bên thua cuộc. “Khán giả chọn lựa nó, thứ âm nhạc chôn mà không chết. Muốn nó chết, dễ thôi! Các anh hãy làm nhạc hay hơn nó, có tài năng hơn nó để vĩnh cửu như nó …Dèm pha, mai mỉa, xúc phạm nó vô nghĩa! Nó càng bất tử! Chỉ vậy thôi!”[20]
Quả thật là phục thù ngọt ngào! Trong “Trận chiến nhạc vàng”, tác giả Kiva đánh thẳng vào mục tiêu, không ỡm ỡm ờ ờ gì cả khi cho rằng:
Sự hồi sinh mạnh mẽ của dòng nhạc vàng cho thấy âm nhạc VNCH lúc xưa chưa có thua. Sau 40 năm chiến đấu cam go, bằng một sức mạnh mềm, nhạc vàng đã lật ngược được thế cờ, giành chiến thắng trên cả nước. Đầu thế kỷ 21, tôi đã thấy được một cuộc chiến tranh nhân dân ôn hòa, lãng mạn, thú vị mà không do những người Cộng sản điều khiển. Một cuộc chiến tranh không có bom đạn, sắt máu, mà chỉ có lời ca tiếng nhạc du dương, êm đềm, thơ mộng. Nhạc xưa đã trở lại, nhưng không phải là sự thụt lùi mà là sự đáp ứng nhu cầu, phản ảnh tâm thức của người dân muốn hướng đến một xã hội tràn đầy yêu thương, nhân bản, thấm đượm tình quê hương dân tộc”.[21]
Ngay cả trên một trong những tờ báo mạng hàng đầu ở trong nước hiện nay (VnExpress.net), ta cũng tìm thấy những lời ca ngợi âm nhạc miền Nam và thẳng thắng phê phán chính sách cấm đoán của nhà cầm quyền Cộng sản đối với loại nhạc này:
Những thân phận lạc loài vì chiến tranh, kêu đòi hòa bình, kêu gọi chấm dứt chiến tranh là điểm nhấn của cả một thời kỳ người đô thị miền Nam hát vì yêu nước, đến nay cũng vẫn không được phổ biến một cách oan uổng; như ca khúc Da vàng của Trịnh Công Sơn, dù nhạc sĩ sau ngày Thống nhất cho đến tận khi mất vẫn cống hiến rất nhiều cho âm nhạc nước nhà. Nếu nghe thật kỹ ca từ “Một mai giã từ vũ khí” của Trịnh Lâm Ngân, chỉ thấy khắc khoải mơ ước hòa bình để xây dựng lại một xã hội người người thương yêu nhau, vậy mà nó luôn nằm đầu bảng danh sách các ca khúc bị cấm biểu diễn. (…) Quan trọng hơn, một thực tế không thể chối cãi, đó là rất nhiều trong những bài hát bị cấm phổ biến vẫn được mọi người yêu mến. Dù được viết đã rất lâu, bằng cách nào đó, chúng đang và còn nói được tiếng lòng đại chúng ở hiện thời. Việc cấm sử dụng các ca khúc được nhiều người yêu mến là đi ngược quy luật xã hội, vô ích trong quản lý và tốn thêm các chi phí khác cho việc giám sát”.[22]
Nhạc miền Nam trở lại không chỉ bằng nhạc mà bằng cả chính các ca nhạc sĩ một thời xây dựng nên không khí VNCH. Dân miền Nam muốn sống lại những tháng năm xưa êm đềm với các thần tượng của mình, còn dân miền Bắc thì lại muốn được trực tiếp chia xẻ cái không khí chứa chan tình người mà họ không có cơ hội được hưởng vì sự biến mất đau đớn của VNCH. Những chương trình ca nhạc như thế, nhất là ở Hà Nội, là những “biến cố” xưa nay hiếm, đánh động vào một thế giới hoài niệm rưng rưng, xa xót![23]
Văn học nghệ thuật quả đã mang VNCH lừng lững đi vào, đi sâu trong lòng đất nước. Đây không phải là một diễn biến hòa bình. Cũng không phải một vận động thay ngôi đổi chủ. Đơn thuần chỉ là một hiện tượng phục hồi. Sự phục hồi của một giá trị, một giá trị vô cùng lớn lao mà nếu biết vận dụng, nó có thể đưa đến sự thay đổi ngoạn mục dòng sinh mệnh dân tộc.
5.
Ngoài yếu tố tự thân, sự phục hồi này còn được hỗ trợ bởi những yếu tố khách quan khác.
Trước hết là sự phát triển của mạng xã hội, đặc biệt là facebook. Qua mạng xã hội, lần đầu tiên người dân cảm thấy mình được tự do, được thoát ra khỏi sự kềm chế của nhà nước, được nói, được viết, được trao đổi đủ thứ thông tin đa dạng, đa chiều mà không phải thông qua một hệ thống kiểm soát nghiêm ngặt của bộ máy công an. Cũng qua mạng xã hội, họ xây dựng được một xã hội khác với thứ xã hội bị kềm kẹp bên ngoài: xã hội dân sự. Tất cả tạo thành một sức mạnh, làm đối trọng với nhà cầm quyền.
Các tư tưởng dân chủ, tự do được đề cao.
Và đặc biệt, các trang mạng xã hội cũng là nơi chứa đựng hình ảnh và thông tin đáng quý và hữu ích về một VNCH ngày cũ, từ âm nhạc, văn chương, nghệ thuật cho đến quân đội, giáo dục, kinh tế…
Mặt khác, do sự biến mất các yếu tố hấp dẫn của các chiêu bài lý tưởng (độc lập, giai cấp, chủ nghĩa…) cũng như vì sự mâu thuẫn về quyền lợi phát sinh do một đảng cầm quyền quá lâu, “Nền chính trị Việt Nam đã chính thức bước vào chế độ tài phiệt (plutocracy),” theo Đoan Trang và Nguyễn Hữu Long. Phân tích về điểm này, hai tác giả nhận định:
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhân vật trung tâm của chính trị Việt Nam thập kỷ qua, đã phơi bày một phần cuộc đấu đá quyền lực trong đảng ra trước mặt báo và pháp đình, thông qua chiến dịch chống tham nhũng vô tiền khoáng hậu trong lịch sử đảng. Chiến dịch này đã làm thay đổi hẳn cách nhìn về quan chức nhà nước và cơ quan nhà nước trong công chúng nước ta. Trước đây, người ta coi làm quan, làm nhà nước là một công việc ổn định, vừa màu mỡ vừa an toàn, “đến hẹn lại lên”.
Nay, ấn tượng đó đã sụp đổ cùng với những Đinh La ThăngNguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn, v.v. (…) Hai cái chết bí ẩn của Nguyễn Bá Thanh và Trần Đại Quang, cùng với vụ mất tích kỳ lạ của Đinh Thế Huynh, tiếp tục phủ bóng chính trường với nhiều màu sắc ma quái, tạo ra ấn tượng mạnh mẽ trong công chúng về những phương pháp thanh trừng nội bộ cổ xưa. Pháp luật, suy cho cùng, vẫn chỉ là công cụ thanh trừng chứ không phải là nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước. Không có thứ công lý nào đạt được với một thứ pháp luật như vậy”.[24]
Trong tình huống này, phủ nhận cơ chế nhà nước Cộng sản hiện nay tất yếu phải dẫn đến chỗ thừa nhận những giá trị mà VNCH đã từng thể hiện trong thời gian 20 năm trước đây.
Nhìn chiến hạm Mỹ Theodore Roosevelt ghé thăm Đà Nẵng vào tháng 3/2020 vừa qua, nhìn cách nhà nước Cộng sản đang loay hoay đòi biển đòi đảo, loay hoay trườn ra khỏi ảnh hưởng của chế độ bá quyền xảo quyệt phương Bắc, tôi nhận ra một điều vừa khôi hài lại vừa chua chát:
Chính quyền Cộng sản đã mất công chiến đấu, phỉnh gạt và hy sinh bao nhiêu thế hệ để cũng đi đến cái mục tiêu mà VNCH đã từng theo đuổi: thân Mỹ, chống Tàu, biến Việt Nam thành một đất nước pháp trị với tam quyền phân lập, đa nguyên trong sinh hoạt chính trị, tự do trong kinh tế thị trường, cởi mở trong văn học nghệ thuật, đất đai thuộc sở hữu tư nhân, tự trị đại học… Bị giam giữ trong nhà tù ý thức hệ, bị nhốt kín trong nỗi đam mê thành tích quá khứ, Đảng Cộng sản tiếp tục dẫn dắt dân tộc đi vào một con đường “dead-end”, không lối thoát.
Bốn mươi lăm năm bát nháo, ỡm ờ!
Bốn mươi lăm năm loay hoay.
Bốn mươi lăm năm sinh sát.
Rốt cuộc, chính quyền Cộng sản hiện hình là một cơ chế nửa nạc nửa mỡ, tiến thối lưỡng nan.
Hơn thế nữa, cái chính quyền đó tự biến thành một khối u ác tính của chính mình. Nó tự đối đầu với chính nó, tự bào mòn chính nó, tự cắt xé chính nó. Thế lực phản động không còn đến từ bên ngoài, mà mưng mủ từ bên trong.
Biến cố Đồng Tâm chẳng hạn là biểu hiện sinh động, là đỉnh cao của cái ung nhọt tự phát trong lòng chế độ.
Chính những người đã từng hy sinh xương máu của họ để phục vụ chế độ càng ngày càng đứng lên chống lại nó, rạch ròi, dứt khoát và đầy chính nghĩa.
Trong một bối cảnh như vậy, nếu người ta hướng về VNCH cũng là điều rất hiển nhiên. Và hợp lý. Một trong những nhà nghiên cứu văn học tiếng tăm trong nước, Vương Trí Nhàn, đã can đảm nhận định về Tô Thùy Yên và qua đó, về những con người VNCH như sau:
Qua nhiều tài liệu về các trại tù cải tạo được thiết lập sau 75, tôi biết có một nguyên tắc chi phối các trại tù này là làm cho những người bị giam trong đó mất hết cảm giác và suy nghĩ của một con người bình thường, không còn đớn đau mà cũng không còn hy vọng, tóm lại là chỉ biết sống qua ngày như một thứ súc vật bị làm nhục. Trường hợp con người trong Tô Thùy Yên sau khi ra tù bộc lộ qua bài thơ “Ta về” chứng tỏ mọi ý đồ loại đó đã phá sản, đây không phải trường hợp cá biệt ở một hai người mà phổ biến ở rất nhiều người. Sau khi bị tù đầy trở về họ vẫn giữ được lòng khao khát yêu đời và có đủ khả năng gia nhập vào cuộc sống hiện đại khi ra sống ở hải ngoại. Chính họ là niềm hy vọng của dân tộc chúng ta. Mà điều đó không phải là ngẫu nhiên vì nó đã được chuẩn bị từ trong cuộc sống hai mươi năm 1955-1975” (Tôi nhấn mạnh).
Đây là một nhận định chính xác, can đảm của một nhà phê bình văn học, người ở bên phe thắng cuộc. Những người hiện đứng lên tranh đấu cho một nước Việt Nam giàu mạnh, tự do, dân chủ ở trong nước đang đòi hỏi cái mà chúng tôi đã từng tranh đấu để có và đã từng có vào những năm tháng VNCH.
Giá trị VNCH, do đó, không có gì cao xa, cũng chẳng cần phải dựa trên một lý thuyết nào, trái lại, rất đơn giản.
Đơn giản như lao Thừa Phủ ngày nào đã cho phép hai tù nhân học sinh Lê Hiếu Đằng và Lý Thiện Sanh được đi thi Tú Tài để khỏi đánh mất tương lai. Đơn giản như những bài hát bolero VNCH, dân dã, thắm tình. Không cần kinh qua những cuộc đấu tố cải cách long trời lở đất và những năm tháng chiến tranh hao người tốn của. Cũng không cần những bà mẹ anh hùng, những tượng đài, những địa đạo, những thi đua, những sùng bái cá nhân và lăng tẩm, vân vân.
Xin được nhắc lại, nhất định là không thừa: Rốt cuộc, đổi mới là gì, cải cách là gì nếu không muốn nói là con đường dẫn đến những giá trị VNCH. Chả thế mà, Giáo sư Nguyễn Văn Trung nhận định, “Cái gọi là “đổi mới” thực chất là “ đổi mới chẳng qua là trở về những cái cũ đã bị phủ nhận”.[25]
Hiểu như thế, VNCH không phải là quá khứ, mà chính là tương lai. Là mô hình của một Việt Nam đổi mới, dân chủ, tự do.
Khi thừa nhận tính cách hợp pháp của chế độ VNCH, nhà cầm quyền Cộng sản chắc không muốn nghĩ tới điều đơn giản đó.
Không sao!
Lịch sử có những lối đi riêng bất ngờ của nó.
Tháng 4/2020
T.D.N.

.........../.

Reuters: Chính phủ Việt Nam làm giảm tốc độ truy cập Facebook

Reuters: Chính phủ Việt Nam làm giảm tốc độ truy cập Facebook





............

Dương Ngọc Thái
Kỹ sư an ninh mạng đang làm việc tại Google (Hoa Kỳ) 


***


James Pearson, trưởng đại diện Reuters ở Việt Nam, dẫn lời hai nguồn tin cho biết máy chủ của Facebook đặt ở Viettel và VNPT đã bị tắt trong vòng 7 tuần, từ giữa tháng 2 đến đầu tháng 4 năm nay. Các máy chủ này chỉ được mở lại sau khi Facebook đồng ý tăng cường kiểm duyệt các nội dung "chống chính phủ".

Theo VietnamNet, khi người dân than phiền vào Facebook chập chờn, VNPT và Viettel đã giải thích như sau:

Trước những phàn nàn của người dùng Internet, mới đây một số nhà mạng lớn trong nước đã lên tiếng để trấn an người dùng.

Chia sẻ trên fanpage của mình, nhà mạng VNPT đưa ra lời giải thích, hiện tượng đường truyền Facebook không ổn định là do vấn đề kết nối tới máy chủ quốc tế. Đây cũng là cách lý giải được đưa ra bởi nhà mạng Viettel.

Cả VNPT và Viettel đều cho biết đang tích cực phối hợp cùng các đơn vị đối tác liên quan để kiểm tra nhằm khác phục triệt để. Trên fanpage của mình, hai đơn vị này cũng ngỏ lời mong người sử dụng thông cảm.

Tại sao Facebook lại đặt máy chủ ở Việt Nam? Tôi không rõ thiết kế của Facebook, nhưng để tối ưu tốc độ phục vụ người dùng các công ty sẽ muốn đặt máy chủ càng gần người dùng càng tốt. Cách tốt nhất là thuê chỗ ở trung tâm dữ liệu của các nhà cung cấp dịch vụ Internet. Các máy chủ này thường sẽ không có chứa dữ liệu riêng tư của người dùng, mà chỉ chứa những nội dung mà ai cũng xem được. Khi các máy chủ này bị tắt đi, Facebook vẫn hoạt động được, nhưng tốc độ sẽ giảm xuống vì lúc này người dùng sẽ phải kết nối thẳng đến trung tâm dữ liệu của Facebook đặt ở Singapore, Đài Loan hay Hồng Kông.

Nếu thông tin Reuters đưa là chính xác, việc Facebook đồng ý kiểm duyệt đi ngược lại với cam kết bảo vệ tự do ngôn luận mà Mark Zukerberg đã nhấn mạnh trong một bài phát biểu ở Georgetown University hồi tháng 10/2019. Tôi hi vọng Ủy ban Việt Nam của Quốc hội Mỹ sẽ sớm có phiên điều trần về việc này.

Việc Chính phủ Việt Nam yêu cầu Facebook phải kiểm duyệt nội dung "chống chính phủ" mà không thể tự làm, chứng tỏ Chính phủ Việt Nam vẫn chưa thể tự ý xóa nội dung hay truy cập dữ liệu người dùng Facebook để xác định ai đã gửi bài gì, rồi dùng "các biện pháp nghiệp vụ" để ngăn chặn họ. Đây có thể xem là một tin vui cho những ai vẫn đang còn kỳ vọng về một môi trường Internet tự do cho Việt Nam.

Tin Việt Nam tắt máy chủ của Facebook để tăng cường kiểm duyệt sẽ làm lu mờ hình ảnh một Việt Nam đang rất đẹp giữa đại dịch COVID-19. Quyết định này cho thấy rõ bản chất của Luật An ninh mạng. Luật này yêu cầu các công ty Internet quốc tế phải đặt máy chủ và dữ liệu người dùng ở Việt Nam và bây giờ thì chúng ta đã hiểu tại sao những người tạo ra luật này muốn như vậy.

Kể từ đây về sau, có công ty Internet quốc tế nào còn muốn đầu tư lâu dài hay mở văn phòng ở Việt Nam? Máy tính tắt thì thôi, chứ có công ty nào muốn nhân viên của mình trở thành con tin. Tôi đã từng hỏi chính sách của Việt Nam như thế nào để rồi chỉ yêu cầu mở văn phòng thôi, chứ chưa nói đầu tư hay chuyển giao công nghệ gì, mà Facebook vẫn không muốn vào Việt Nam? Hôm nay chúng ta đã có câu trả lời.

Nếu các công ty Internet quốc tế không mở văn phòng, không đầu tư, xây dựng hạ tầng ở Việt Nam để phục vụ người Việt Nam tốt hơn, ai sẽ chịu trách nhiệm về thiệt hại này của người dân? Bao nhiêu người đang kiếm sống nhờ vào Facebook. Việc tắt máy chủ Facebook cũng đặt dấu chấm hết cho hi vọng thuyết phục các nhà cung cấp dịch vụ điện toán đám mây như Amazon đem công nghệ vào Việt Nam. Không ai ngu đến nỗi đầu tư vài trăm triệu USD để rồi người khác muốn tắt là tắt. Thiếu một hạ tầng điện toán đám mây hiện đại sẽ khiến những nghị quyết 4.0 mãi vẫn còn nguyên giá trị.

Vai trò của Facebook ở Việt Nam không chỉ là nơi người ta gặp gỡ, trao đổi, kinh doanh, mua bán mà còn là nơi người dân tìm kiếm tự do và bình đẳng. Người Mỹ có thành ngữ "san phẳng sân chơi" (level the playing field), ý nói muốn tạo ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả mọi người. Bình đẳng ở đây không có nghĩa là bình đẳng đầu ra, tức là làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu theo chủ nghĩa cộng sản duy lý nhã kỳ, mà cũng không có nghĩa là bình đẳng đầu vào, vì không có cách nào khiến người sinh ra ở Chắc Cà Đao cũng có nhiều cơ hội như người sinh ra ở Sài Gòn. Bình đẳng ở đây là bình đẳng về luật chơi.

Luật chơi ở Việt Nam có thể tóm gọn trong bốn câu vè mà ai cũng đã từng nghe:
Thứ nhất hậu duệ
Thứ nhì quan hệ
Thứ ba tiền tệ
Đứng chót trí tuệ

Bao nhiêu bất công, oan trái, trì trệ của xã hội có thể truy ra nguồn gốc từ luật chơi oái ăm này. Đây không phải vấn đề của riêng Việt Nam. Ở đâu và thời nào thì người có tiền, có quyền và có quan hệ cũng muốn thay đổi luật chơi theo hướng có lợi cho họ, nhưng một xã hội thông minh sẽ thiết lập các thể chế để ngăn chặn, phát hiện và xử lý bọn chơi ăn gian. Họ sẽ có tam quyền phân lập. Họ sẽ đặt chính phủ dưới sự kiểm soát của các đảng phái chính trị đối lập. Họ sẽ có những tờ báo độc lập, những tổ chức xã hội dân sự để kiểm soát chính quyền và tất cả những ai muốn chơi xấu. Việt Nam thiếu tất cả những thể chế như vậy, thành ra người Việt chưa bao giờ có một sân chơi bình đẳng.

Mọi chuyện chỉ thay đổi cho đến khi Internet và Facebook (và YouTube) du nhập vào Việt Nam. Lần đầu tiên trong vài chục năm qua, người Việt Nam có một sân chơi mà trí tuệ là tiêu chí hàng đầu. Ai có tài năng hay ý kiến mới, người đó có sân khấu và vài chục triệu khán giả. Nói không ngoa, đây là thay đổi tích cực nhất về tự do dân chủ, công bằng xã hội ở Việt Nam kể từ ngày đổi mới. Tắt máy chủ Facebook là cách nhanh nhất triệt tiêu những thay đổi tích cực này.

Rõ ràng một quyết định gây nhiều thiệt hại như vầy phải được Chính phủ Việt Nam cân nhắc kỹ lưỡng. Tôi hi vọng Chính phủ sẽ công bố lợi ích vĩ đại của việc tắt máy chủ Facebook ngoại trừ tiết kiệm điện và giải thích tại sao người dân Việt Nam phải chấp nhận hi sinh lợi ích kinh tế và tự do cá nhân để Chính phủ kiểm duyệt các nội dung "chống chính phủ" trên Facebook. Người dân hết sức quan tâm đến sức khỏe tâm thần của lãnh đạo, nếu biết lãnh đạo không thích "ăn" chửi, tôi tin họ sẽ không chửi thẳng nữa đâu, mà sẽ chuyển qua chửi đổng. Lợi cả đôi đường, dân vẫn được chửi để giải tỏa, lãnh đạo vẫn được quyền nghĩ "chắc nó chừa mình ra". Ít nhất là cho đến hết Đại hội Đảng.

Khi Luật An ninh mạng còn là bản thảo, tôi đã dự đoán Facebook sẽ không bị chặn hẳn nhưng sẽ bị làm chậm, nhưng thú thật từ lúc nghe tin này đến giờ tôi vẫn còn choáng váng, vì không ngờ cá mập ở Biển Đông lại làm việc cho Chính phủ Việt Nam. Trump có Space Force thì Việt Nam cũng ngạo nghễ có kém gì với Shark Force. Sau khi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kiểm duyệt Facebook, hi vọng Chính phủ sẽ điều động đội quân cá mập này ra cắn bớt tàu chiến và dàn khoan của nước lạ đang ra vô Biển Đông như cái chợ.


......../.

Tan nát Liên Hiệp Quốc!


Tan nát Liên Hiệp Quốc!
MẠNH KIM
****

Đúng thời điểm gần dịp kỷ niệm 75 năm thành lập (ngày 24-10), Liên Hiệp Quốc (UN) đang rơi vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Vai trò và chức năng của tổ chức quốc tế này ngày một suy yếu. Cuộc khủng hoảng đại dịch cho thấy UN trở nên lỏng lẻo, rời rạc và mất phương hướng như thế nào…
Ngày 15-4, UN quyết định không bắt tay với hãng viễn thông Tencent Holdings của Trung Quốc để được cung cấp dịch vụ videoconferencing và tin nhắn phục vụ dịp UN tổ chức kỷ niệm 75 năm ngày thành lập. Nếu không bị sức ép Mỹ cũng như nhiều tổ chức nhân quyền, Tencent sẽ ôm gói thầu béo bở này. Ngày 30-3-2020, UN đã gây cơn bão chính trị khi loan bố Tencent là nhà cung cấp dịch vụ cho UN dịp 75 năm thành lập, nhằm đưa sự kiện đến “hàng triệu người trên toàn cầu, có thể nghe được những suy nghĩ về những gì mà thế giới sẽ trở thành trong 25 năm tới, về những gì mà hợp tác quốc tế đóng góp để giải quyết các thách thức như biến đổi khí hậu và các trận đại dịch như coronavirus”.
Tại sao chọn Tencent? UN nói rằng Google Hangouts hay Facebook không thích hợp cho một sự kiện quốc tế như lễ kỷ niệm 75 năm thành lập vì những dịch vụ này bị chặn tại Trung Quốc, trong khi UN muốn chương trình càng được lan rộng càng tốt. Theo hợp đồng, UN sử dụng các nền tảng của Tencent, từ VooV Meeting, WeChat Work đến mạng phiên dịch tự động. Thật khó có thể tưởng tượng UN không ý thức được rằng Tencent không chỉ là sân sau của bộ máy cộng sản Trung Quốc mà còn là “tay sai” đắc lực của Bắc Kinh với chính sách kiểm duyệt hầu bịt tai và bịt miệng hàng triệu người dân Trung Quốc. WeChat của Tencent đã kiểm duyệt thông tin dịch bệnh tại Trung Quốc từ tháng 12-2019.
Chi phí cho gói thầu (dự kiến) của Tencent với UN nằm trong ngân sách tổ chức lễ kỷ niệm 75 năm. Trong ngân sách chương trình với hơn 7,6 triệu USD, có hơn 3 triệu USD từ Đức, Pháp, Iceland, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Sri Lanka, Hàn Quốc, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Tiểu vương quốc Arab thống nhất. Các tổ chức đóng góp gồm Bill & Melinda Gates Foundation, Ford Foundation, Open Society Foundations, và United Nations Foundation (với tổng cộng gần 4,5 triệu USD). Phần mình, Trung Quốc góp khoảng 300.000 USD; trong khi đó, Mỹ không góp đồng nào (Foreign Policy 15-4-2020).
Câu chuyện Tencent là một trong những ví dụ cho thấy ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc đối với UN. Trong khi đó, hoạt động UN ngày càng chệch choạc. Các thành viên UN không gắn kết và làm việc trên tinh thần một cộng đồng quốc tế cùng chia sẻ những vấn đề thế giới. Nhiều năm nay, UN gần như không có vai trò gì đối với các vấn đề lớn như Syria, Iran, Bắc Hàn… Cho đến nay, từ khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố dịch cúm Vũ Hán là đại dịch toàn cầu vào ngày 11-3-2020, UN vẫn thể hiện như một hình ảnh có tính biểu tượng.
Pháp là nước đầu tiên đề nghị một nghị quyết chung kêu gọi thế giới ngưng chiến tranh để cùng tìm giải pháp chống dịch. Ý kiến này sau đó đóng băng sau khi Thủ tướng Anh Boris Johnson nhập viện vì nhiễm coronavirus. Tiếp đó, Estonia – một trong 10 thành viên không thường trực Hội đồng bảo an (UNSC) – kêu gọi UNSC ra tuyên bố rằng trận đại dịch “có thể trở thành hiểm họa đối với an ninh và hòa bình quốc tế”. Tuy nhiên, ý kiến Estonia bị Nam Phi phản bác, vì “không liên quan đến UNSC”. Lập luận Nam Phi được Trung Quốc ủng hộ, cho rằng vấn đề dịch bệnh đã có WHO lo. Tại sao Trung Quốc tránh né? Có lẽ Bắc Kinh không muốn bị các nước đối chất vấn đề xử lý dịch bệnh của họ trên diễn đàn UN.
Ngày 3-4-2020, Tổng thư ký UN António Guterres, trong buổi họp báo trực tuyến, đã kêu gọi cộng đồng quốc tế chung tay chống dịch. Tuy nhiên, lời kêu gọi của ông lọt thỏm giữa những rối ren mà các quốc gia đối mặt. Trước đó một ngày, sáu nước – Ghana, Indonesia, Liechtenstein, Na Uy, Singapore, và Thụy Sĩ – ủng hộ một nghị quyết Đại hội đồng UN kêu gọi “tăng cường hợp tác quốc tế để khống chế và đánh gục” coronavirus (nhân dịp này, Nga tranh thủ đưa ra một nghị quyết kêu gọi chấm dứt tất cả các cuộc cấm vận và không cần thông qua UNSC; “sáng kiến” này bị bác). Tuy nhiên, nghị quyết Đại hội đồng thường có tính hình thức (so với các nghị quyết UNSC vốn đưa ra cụ thể chương trình hành động) và do vậy nó gần như cũng không mang lại giá trị gì.
Thật ra không phải đến bây giờ mới UN mới rơi vào tình trạng khủng hoảng. Từ thời Bill Clinton đến George W. Bush, UN đã dính hết scandal này đến scandal khác. Năm 2004, thượng nghị sĩ Mỹ Norm Coleman từng viết trên Wall Street Journal, yêu cầu Tổng thư ký Kofi Annan từ chức, sau khi xảy ra vụ con trai ông Kofi – Kojo Annan – bị cáo buộc tham nhũng liên quan Chương trình đổi dầu lấy lương thực Iraq. Vụ tai tiếng này không chỉ dính dáng con trai ông Kofi Annan mà còn cả người nhà cựu Tổng thư ký UN Boutros Boutros-Ghali. Đó là chưa kể nhiều vụ cáo buộc quấy rối tình dục của lực lượng Mũ Nồi Xanh UN.
Vấn đề UN ngày càng cho thấy rõ rằng, bất luận cơ chế quốc tế nào cũng cần điều chỉnh, đặc biệt cấu trúc. Nếu không thay đổi cấu trúc, khó có thể thay đổi đường lối hành động. Trong thực tế, việc cải tổ UN đã được đề cập không biết bao nhiêu lần nhưng vẫn ì ạch dậm chân tại chỗ. Phác thảo kế hoạch cải tổ từng đệ trình lên Kofi Annan đầu tháng 12-2005, chủ yếu với ý tưởng ủng hộ mở rộng UNSC. Công thức năm quốc gia thường trực UNSC – kiểu mẫu sắp xếp trật tự thế giới thời hậu Thế chiến thứ hai – đã trở nên lạc hậu, khi Đức lẫn Nhật không còn là mối đe dọa cho an ninh toàn cầu, mà ngược lại, họ là một phần của xương sống kinh tế thế giới. Trong khi đó, khái niệm quyền lực cũng đã chuyển dịch. Cần nhắc lại, lần mở rộng UNSC “gần đây nhất” là năm 1963 (từ 11 lên 15 thành viên).
Trung Quốc là nước phản đối gay gắt nhất việc cải tổ-mở rộng UNSC vì nếu điều này được thực hiện, Nhật gần như chắc chắn được bầu vào vị trí thành viên thường trực. Tháng 4-2005, khi cuộc thảo luận mở rộng UNSC trở thành đề tài nóng, hàng chục ngàn người Trung Quốc đã được kích động và giật dây để tràn xuống đường tại nhiều thành phố lớn nước này, thể hiện “sự bất bình” bằng cách chửi bới và ném đá vào văn phòng các cơ quan ngoại giao Nhật và sau đó còn đập phá nhà hàng Nhật! Từ đó đến nay, Trung Quốc không chỉ “ném đá” mà còn “giấu tay” trong việc khống chế và khuynh loát UN. Nếu vấn đề cải tổ còn chưa thực hiện, UN sẽ trở thành một hình nộm không hơn không kém.

........../.

ĐỂ CHÚNG TA TRỞ THÀNH NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÍ NHỚ



QUA NẠN DỊCH NÀY, ĐỂ CHÚNG TA TRỞ THÀNH NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÍ NHỚ
______________________
Tác giả: DIÊM LIÊN KHOA

[tuoitrecuoituan]



(..trích)
Trong cuộc sống của chúng ta, trong lịch sử và hiện thực mà chúng ta đang sống, bất luận là kiếp nạn và tai ương của cá nhân, gia đình hay xã hội, thời đại, quốc gia, vì sao luôn cứ cái nọ nối tiếp cái kia như thế?
Vì sao những kiếp nạn và vực thẳm của lịch sử và thời đại luôn luôn do những cái chết và sinh mạng của hàng ngàn hàng vạn người dân chúng ta gánh chịu và lấp đầy?
Trong rất nhiều, rất nhiều nhân tố mà chúng ta không biết, không truy hỏi, không cho truy hỏi thì không hỏi, có một điểm, đó là CHÚNG TA LÀ NHỮNG CON NGƯỜI - HÀNG NGÀN HÀNG VẠN NGƯỜI DÂN CHÚNG TA HAY CON SÂU CÁI KIẾN - NHƯNG BẢN THÂN CHÚNG TA RẤT KHÔNG CÓ TRÍ NHỚ!
Ký ức cá nhân của chúng ta đã bị khoanh vùng, thay thế và xóa bỏ rồi!
Chúng ta thảy đều bị người ta cho ghi nhớ cái gì thì nhớ cái ấy, bắt quên cái gì thì quên cái ấy, bắt im lặng thì im lặng, cho hát ca thì hát ca.
Ký ức cá nhân đã trở thành công cụ của thời đại, còn ký ức của tập thể và quốc gia thì trở thành nơi phụ trách và phân phối cho cái quên hay cái nhớ của mỗi cá nhân.
Thử nghĩ một chút, chúng ta sẽ không thảo luận về những chuyện lịch sử đã được thay đổi nhan đề và áo bìa nữa, mà chỉ cần nói đến những chuyện trong hai chục năm gần đây nhất, và những tai họa gần như toàn quốc mà những bạn trẻ 8X, 9X giống như các bạn đều trải qua và nhớ được: bệnh AIDS, dịch SARS và dịch viêm phổi do virút corona chủng mới này. Rốt cuộc chúng là những tai nạn nhân họa, hay là kiếp nạn do ông trời gây ra mà con người khó có thể cưỡng lại như động đất ở Đường Sơn, Vấn Xuyên?
Trong những tai họa toàn quốc ở điều thứ nhất, yếu tố nhân tạo vì sao lại giống nhau tựa hồ cùng một khuôn đúc ra như thế?
Đặc biệt là sự hoành hành và lây lan của dịch SARS xảy ra 17 năm trước và dịch viêm phổi do virút corona chủng mới hôm nay, NÓ GIỐNG HỆT NHƯ CÙNG MỘT VỊ ĐẠO DIỄN ĐEM CÙNG MỘT VỞ BI KỊCH LẠI MỘT LẦN NỮA SOẠN LẠI VÀ TRÌNH DIỄN.
Là những con người nhỏ bé như một hạt cát, chúng ta đã chẳng những không thể truy vấn vị đạo diễn ấy là ai, mà cũng không có tri thức chuyên ngành để suy tưởng, cấu tứ và sáng tác hoàn nguyên lại kịch bản.
Vậy khi chúng ta lại một lần nữa đứng trước vở kịch sống chết đang soạn lại, ít nhất chúng ta có thể thử hỏi ký ức còn lưu lại về vở diễn bi thương lần trước của chúng ta đã đi đâu cả rồi? Trí nhớ của chúng ta đã bị ai xóa đi, moi đi mất rồi?!
……….

Người không có trí nhớ, về bản chất mà nói, chỉ là đất trên đường đi, trên đồng nội. Một cái giày da muốn giẫm chúng ta thành ra hình dạng thế nào, thì ấy là do hoa văn khắc trên đế cái giày da ấy quyết định.
Người không có ký ức, về bản chất mà nói, chỉ là một khúc gỗ hay tấm ván đã bị cắt đứt khỏi sinh mệnh trước kia của mình, tương lai chúng sẽ thành một đồ vật với hình dáng thế nào là do lưỡi búa và cái cưa quyết định.

………..

Đối với chúng ta mà nói - đối với những người vì say mê viết lách mà khiến cuộc sống trở nên có ý nghĩa, những người cả đời phải sống dựa vào những con chữ chúng ta, nếu như ngay chúng ta cũng đều vứt bỏ ký ức và trí nhớ đến từ máu và sinh mệnh của chúng ta, thuộc về cá nhân chúng ta, như vậy thì sáng tác rốt cuộc còn có ý nghĩa gì đây?
Văn học còn có giá trị gì đây?
Xã hội này của chúng ta còn cần nhà văn làm gì?
Dẫu có viết lách không ngừng, nỗ lực phấn đấu, trước tác đầy mình thì bạn với con rối gỗ bị người giật dây, điều khiển cũng có khác gì nhau đâu?
Nhà báo không viết những gì anh ta chính mắt trông thấy; nhà văn không viết về ký ức cá nhân, những cảm nhận của riêng mình; giữa dư luận của xã hội, những người có thể nói và biết nói, chỉ luôn dùng giọng điệu trữ tình chính thống đơn thuần của quốc gia để nói, để đọc, để hô hào, thì còn có ai có thể nói cho chúng ta biết được sống trên thế giới này, làm một cá thể chân thực chân tướng, và tồn tại với sinh mệnh đầy đủ máu thịt là gì?
Thử nghĩ một chút xem, VŨ HÁN NGÀY HÔM NAY NẾU NHƯ KHÔNG CÓ SỰ TỒN TẠI VÀ GHI CHÉP CỦA NHÀ VĂN PHƯƠNG PHƯƠNG, không có Phương Phương dùng văn tự để viết lại những ký ức và cảm nhận của cá nhân cô ấy, KHÔNG CÓ HÀNG NGÀN HÀNG VẠN NHỮNG NGƯỜI GIỐNG NHƯ PHƯƠNG PHƯƠNG, QUA CHIẾC ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG TRUYỀN TỚI CHO CHÚNG TA NHỮNG TIẾNG KÊU CỨU, NHỮNG TIẾNG GÀO KHÓC SỐNG CHẾT, THÌ CHÚNG TA SẼ NGHE THẤY NHỮNG GÌ ĐÂY, SẼ NHÌN THẤY NHỮNG GÌ ĐÂY?
Trong dòng thác lũ to lớn của thời đại, ký ức của cá nhân thường bị coi là những bong bóng, bọt nước, và tiếng ồn ào thừa thãi của thời đại, sẽ bị thời đại cắt bỏ, ném đi hay vứt sang một bên, khiến cho nó trở nên im lặng, không lời, giống như trước nay nó chưa từng tồn tại, vì vậy mà khi một thời đại giống như một cái guồng nước quay qua thì một sự lãng quên to lớn đã đến rồi.
Máu thịt có linh hồn đã không còn nữa rồi. Tất cả đều đã bình an và tĩnh lặng rồi.
Một điểm tựa có thể nâng cả địa cầu, nhỏ nhưng có sự chân thực của nhỏ, không còn nữa rồi!
Như vậy là lịch sử sẽ trở thành một truyền thuyết không căn không cứ, lãng quên và tưởng tượng.
Từ góc độ này mà nói, VIỆC CHÚNG TA LUÔN CÓ TRÍ NHỚ, SẴN CÓ MỘT KÝ ỨC CÁ NHÂN KHÔNG BỊ THAY ĐỔI, MÀI MÒN, MỚI LÀ MỘT VIỆC QUAN TRỌNG THẾ NÀO, LÀ SỰ CHÂN THỰC VÀ CHỨNG CỨ THẤP NHẤT ĐỂ NÓI MỘT CHÚT SỰ THỰC…
Nếu một ngày, ngay cả chúng ta cũng không còn chút ký ức và chân thực đáng thương ấy thì trên thế giới này, rốt cuộc có còn sự thực và chân tướng của cá nhân và lịch sử nữa hay không?
Nói thật rằng, trí nhớ và ký ức vốn có của chúng ta dẫu cho không thể thay đổi thế giới và hiện thực nhưng chí ít khi đối diện với sự thật được thống nhất, khoanh vùng, chúng ta cũng sẽ thầm nhủ trong lòng mình rằng: “Sự tình không phải như thế này!”. Chí ít khi bước ngoặt của dịch bệnh viêm phổi do virút corona chủng mới thực sự đã đến, trong tiếng trống chiêng ầm ĩ chúc mừng thắng lợi, chúng ta còn có thể nghe thấy, nhớ được những tiếng than khóc kêu gào bên lề của những cá nhân, gia đình.
Ký ức cá nhân không thể thay đổi thế giới, nhưng nó có thể khiến chúng ta có được một nội tâm chân thực.
Ký ức cá nhân không nhất định có thể trở thành sức mạnh thay đổi hiện thực, nhưng khi bắt gặp những lời dối trá chí ít nó có thể giúp chúng ta đặt một dấu hỏi trong lòng mình.
Chí ít là, một ngày nào đó lại có thời đại của đại nhảy vọt, đại luyện gang thép, thì chúng ta tin rằng cát không thể luyện thành thép được, sản lượng một mẫu không thể đạt được một vạn cân, là những hiểu biết thường thức cơ bản nhất của thường thức, chứ không hề có kỳ tích ý thức sáng tạo vật chất, không khí sản xuất ra lương thực đâu. Cũng chí ít là, một ngày nào đó lại có một cuộc cách mạng giống như “mười năm kiếp nạn ấy” thì chúng ta có thể đảm bảo rằng sẽ không đem cha mẹ mình tống vào nhà tù hay lên đoạn đầu đài.
Các bạn thân mến, chúng ta đều là học sinh văn khoa, chúng ta có thể cả đời đều phải dựa vào ngôn ngữ để giao lưu với hiện thực và ký ức.
Nói về ký ức, chúng ta không nói những câu như ký ức của hàng ngàn hàng vạn cá nhân, cũng chính là ký ức của tập thể, ký ức của quốc gia, ký ức của dân tộc, bởi vì trong lịch sử của chúng ta, ký ức quốc gia, ký ức tập thể luôn luôn che đậy, thay đổi trí nhớ và ký ức cá nhân của chúng ta.
Vào hôm nay, lúc này đây, khi bệnh dịch vẫn còn rất lâu mới ngưng kết thành ký ức, nhưng bên cạnh, xung quanh chúng ta, đều đã bắt đầu vang lên những tiếng trống chiêng ca tụng thánh minh, vui mừng khánh chúc rồi. Chính vì một điểm này, tôi hi vọng các bạn, hi vọng chúng ta - những người đã trải qua kiếp nạn dịch bệnh viêm phổi do virút corona chủng mới, từ việc trải qua kiếp nạn này đều có thể trở thành những người luôn có trí nhớ, những người có thể khiến trí nhớ sản sinh ra ký ức.
Trong thời gian không lâu nữa, có thể dự đoán trước được, khi tiếng chiêng trống vang trời, thơ văn tới tấp, bắt đầu vang trời dậy đất ca tụng thắng lợi của cuộc chiến đấu đánh thắng bệnh viêm phổi do virút corona chủng mới, hi vọng mọi người chúng ta không phải là những người sáng tác sáo rỗng ấy, mà chỉ cần là một người có được ký ức cá nhân chân thực.
Khi màn diễn xuất hoành tráng che trời rợp đất diễn ra, hi vọng chúng ta không phải là những diễn viên hay người đọc tấu trên sân khấu, không phải là người vỗ tay cho màn diễn ấy, mà là một người yếu đuối bất lực, đứng cách xa nhất sân khấu ấy, lặng lẽ xem trò diễn mà mắt tràn lệ nóng.
Tài hoa, dũng khí và tâm lực của chúng ta, nếu như không thể khiến chúng ta trở thành một người viết như Phương Phương thì chí ít trong đám đông đang nghi kỵ, chê cười Phương Phương, không được có hình bóng và tiếng nói của mình.
Trong đời thịnh trị êm đềm mà cuối cùng sẽ phải quay về, phải đến ấy, trong tiếng hát ca mênh mang như đại dương, đối diện với căn nguyên và sự lan tràn của dịch bệnh này, NẾU CHÚNG TA KHÔNG THỂ ĐEM CÂU HỎI NGHI VẤN NÓI TO LÊN THÌ NHỎ LỜI THAN THỞ CŨNG LÀ LƯƠNG TRI VÀ DŨNG KHÍ.
Đứng sau trại tập trung Auschwitz (trại tập trung của Đức Quốc xã ở Ba Lan - ND) làm thơ là dã man, nhưng nếu lại không nói không rằng và lãng quên thì chẳng những là dã man, mà còn càng dã man, đáng sợ hơn vậy.
KHÔNG THỂ LÀM MỘT NGƯỜI THỔI CÒI NHƯ LÝ VĂN LƯỢNG THÌ HÃY ĐỂ CHÚNG TA LÀM MỘT NGƯỜI NGHE THẤY TIẾNG CÒI.
KHÔNG THỂ NÓI LỚN THÌ LÀM MỘT NGƯỜI NÓI THẦM, KHÔNG THỂ LÀM MỘT NGƯỜI NÓI THẦM THÌ LÀM MỘT NGƯỜI IM LẶNG CÓ TRÍ NHỚ VÀ KÝ ỨC.
Trong dàn hợp xướng muôn người ca ngợi cuộc chiến tranh thắng lợi trước phát sinh, hoành hành và tràn lan của dịch bệnh lần này sắp diễn ra này, hãy để chúng ta lặng lẽ đứng sang một bên, trở thành một người mang mộ phần trong tim, một người có trí nhớ in sâu, một người có thể trong một ngày nào đó đem trí nhớ ấy sinh ra ký ức cá nhân và trao nó lại cho những người đi sau mình. ■

Châu Hải Đường (dịch)




..........

Chúng ta đang trả giá!



Chúng ta đang trả giá!

 Hồ Hùng


Hạn – mặn ở vùng ĐBSCL ngày càng khốc liệt. Ngoài nguyên nhân do biến đổi khí hậu, các nước phía thượng nguồn như Trung Quốc… giữ lại nước bằng các đập thủy điện, thì nguyên nhân còn do chính quy hoạch, tầm nhìn của chính chúng ta!

Ở rừng U Minh Thượng và U Minh Hạ, trước đây “tài sản” quý nhất chính là lớp than bùn được hình thành do hoạt động đứt gãy địa chất Rạch Giá – mũi Cà Mau xảy ra cách đây trên 4.000 năm. Đĩa than bùn cao hơn mặt đất, có tác dụng giữ nước rất lớn. Như tài liệu nghiên cứu đất than bùn ở Indonesia cho thấy, khả năng giữ nước của lớp ít phân hủy là 500-1.000% trọng lượng khô (tương đương 1 gam của lớp ít phân hủy có thể giữ từ 5-10 gam nước).
Vào mùa mưa, nước tích lũy trong đĩa than bùn. Suốt mùa khô, mực thủy cấp trong địa than bùn vẫn cao hơn mặt đất bên ngoài và nước từ đó sẽ thấm ra, cung cấp cho xung quanh. Do đó, đĩa than này một thời gian dài chính là nơi điều tiết nước và đóng vai trò đẩy xâm ngập mặn vào mùa khô. Nếu giữ nước ngập trên 0,2 mét quanh năm thì quá trình phân hủy tự nhiên bằng với lượng chất hữu cơ của thảm thực vật đóng góp vào (như lá cây rụng, cành khô…). Như vậy, nếu có xảy ra cháy rừng thì lớp than bùn chỉ bị cháy một lớp mỏng bên trên, không ảnh hưởng đáng kể đến khu rừng.
Vì lý do đó, thời chiến tranh nhiều lần Mỹ dùng bom Napal để đốt rừng U Minh không thành công. Sử dụng biện pháp hóa học để tiêu huỷ, cũng không đem lại kết quả “mong muốn” như trên rừng đước… Có thể nói, do thiếu hệ thống kênh đào, lớp than bùn dày là 2 yếu tố quan trọng tạo ra sinh thái đặc thù của U Minh, tạo nên sự oanh liệt của vùng đất này.
Nhưng sau năm 1975, hàng loạt con kênh được xẻ ngang, dọc trong rừng nhằm giữ nước chữa cháy, tạo tuyến giao thông… Nhưng tác động? Nước tích trong đĩa than bùn bị rút tràn xuống các con kênh, khiến mực thủy cấp bình quân cả khu vực giảm mạnh vào mùa khô. Chúng ta cứ nghĩ đào kênh để giữ nước mà không ngờ lại khiến mực nước hạ xuống.
Cộng thêm việc người dân trong vùng đệm đang có khuynh hướng gia tăng tỉ lệ đất nông nghiệp, nuôi tôm… khiến nước từ vùng lỏi mất nhanh. Thảm xanh tại vùng đệm giảm sút, gây nên tình trạng gia tăng nhiệt độ càng khiến nước trong vùng lỏi mau bốc hơi.
Và chính những lý do này đã khiến những năm qua, xảy ra các vụ cháy ở U Minh trong nhiều ngày chỉ vì một mồi lửa nhỏ, mất hàng ngàn héc-ta rừng… vì ẩm độ giảm, lượng chất hữu cơ khô tích luỹ lớn trở thành nguyên liệu cháy.
Vẫn có ý kiến cho rằng, trước đây người ta vẫn xẻ kênh như người Pháp đã hoạch định hệ thống kênh đào cho U Minh gần như hoàn chỉnh vào năm 1940. Nhưng thực ra, người Pháp làm vậy là với mục tiêu phân nhỏ vùng U Minh để kiểm soát an ninh, chứ không phải để giữ nước chữa cháy! Và tác động nguy hiểm không kém của các con kênh còn là chuyện hệ sinh thái bị chia cắt, động vật bị co cụm theo tiểu vùng, người dân càng dễ vào rừng xâm hại…
Nhưng tác động tiêu cực nhất của việc đào hàng loạt kênh thoát nước, rửa phèn, thoát lũ… ở vùng ĐBSCL trong những năm trước đây, là khiến nước tiêu thoát rất nhanh! Và giờ, ở miền Tây, hạn hán và xâm ngập mặn mỗi năm một tăng. Nước ngọt không giữ được, nên hạn hán. Và những con sông đổ ra biển thiếu nước ngọt, nên nước biển mang dòng mặn tràn vào, ngày một sâu, là điều dễ hiểu.
Và vì sao cứ khi có dự báo hạn hán, đâu đâu cũng nghe phát động nạo vét kênh mương, đào thêm kênh thủy lợi. Để nước càng rút mau thêm, hạn càng thêm hạn?
Theo GS.TS Võ Tòng Xuân, hiện tượng khí hậu thay đổi khiến quả đất bị “hâm” nóng lên mỗi năm một cao thêm, tác động dây chuyền là nhiều nước phải đối mặt với hạn hán gay gắt. Và nguyên nhân khiến quả đất bị hâm nóng chính vì những hoạt động của con người như phá rừng,.. Cộng thêm nguồn nước dần cạn kiệt vì con người khai thác nhiều nước, phục vụ việc mở rộng sản xuất nông nghiệp…
Tại vùng ĐBSCL, nguồn nước ngọt được cung cấp chủ yếu từ sông Mêkông. Thời gian qua, một số ý kiến đã cho rằng, hạn hán gay gắt xảy ra trong những năm gần đây ở vùng ĐBSCL chính từ tác động của hàng loạt con đập lớn nhỏ phục vụ thủy điện, nước tưới tiêu… được xây dựng trên sông Mêkông, tại các nước phía thượng lưu như Trung Quốc, Thái Lan, Lào… Như các đập nước của Trung Quốc, vừa qua giữ đến 22 tỉ m3 nước!
Vùng ĐBSCL là nơi chịu tác động trực tiếp phía thượng lưu và điều này nằm ngoài tầm kiểm soát của Việt Nam. Giả như chỉ cần một cái đập mới được xây lên phía thượng lưu là ảnh hưởng ngay đến nguồn nước ở ĐBSCL.
Tiến sĩ Dương Văn Ni, Trường đại học Cần Thơ, cho biết, ngoài biến đổi khí hậu, những đập nước phía thượng lưu sông Mêkông thời gian qua đã gây tác động chính là thay đổi quy luật ngập, hạn, dù khách quan cho thấy tổng lượng nước đổ về ĐBSCL hàng năm không giảm mạnh. Giả như khi mùa mưa bắt đầu tại Trung Quốc, thì do qua nhiều con đập giữ nước, đến ít nhất 1 tháng sau nguồn nước này mới tràn về ĐBSCL. Và theo đó, khi nguồn nước đầy, các con đập được xả đồng loạt khiến nước lũ ở ĐBSCL lên rất nhanh.
Ở hầu hết các lưu vực sông thì các dòng chảy tự nhiên đều bị thay đổi ở phạm vi nào đó nhằm đáp ứng nhu cầu định cư, nước tưới, kiểm soát lũ hoặc tạo ra năng lượng. Từ đó đã phát sinh một số ý kiến cho rằng phải có kế hoạch quản lý và phát triển bền vững các đập, công trình tưới trên cơ sở đối thoại và thảo luận giữa các bên…
“Nhưng chính chúng ta cũng đã tự gây hại”- ông Ni khẳng định. Nước vào mùa lũ thực ra mang nguồn phù sa, thủy sản dồi dào, giúp đẩy xâm ngập mặn ra khỏi đồng bằng. Theo ông, nhưng chính vì quan niệm lũ là thiên tai, phải “tống” đi càng sớm càng tốt trong thời gian qua đã phát sinh hàng loạt công trình đê bao khép kín phía các tỉnh thượng nguồn ĐBSCL như An Giang, Đồng Tháp. Do vậy, thay vì nước lũ được tràn đầy đồng như trước đây, thì nay chúng bị co cụm lại theo các dòng sông và lại theo sông Mêkông rút nhanh về các tỉnh phía hạ nguồn.
Và hàng chục năm qua, các tỉnh phía hạ nguồn cũng ào ạt gia tăng hệ thống kênh, mương, nạo vét sông rạch để thoát lũ nhanh. Hệ quả là nông dân phải gánh khi bắt đầu vào mùa khô: nước đã khan hiếm lại càng rút nhanh hơn khiến hạn hán gay gắt. Và khi dòng chảy yếu đã khiến xâm ngập mặn ngày càng tăng là lẽ đương nhiên.
“Trước đây, ở Đồng Tháp có vùng Láng Biển nước tràn lênh láng hàng ngàn héc-ta. Vào mùa khô, nước ở nơi này vẫn lênh láng. Nhưng rồi hàng loạt kênh rạch tiêu úng, xổ phèn… ra đời, khiến 10 năm qua nơi này chỉ còn trong ký ức”- ông Ni dẫn chứng. Trước đây, khi ĐBSCL chưa đào kênh rạch nhiều, khá nhiều nơi vẫn bị… ngập vào mùa khô.
Ông Ni cho rằng, điều cứu vãn trước mắt là nên có kế hoạch khai thác các tiểu vùng đê bao khép kín, biến nơi đây thành các “hồ” trữ nước vào mùa khô với điều kiện phải đảm bảo lợi ích của người dân trong và ngoài các tiểu vùng.
Đê bao có thể trở thành 1 hồ chứa nước ngọt quý giá, phân phối lại nước sản xuất, sinh hoạt cho các vùng khác. Dĩ nhiên, ở tiều vùng trong đê bao khép kín này, chấp nhận thiệt hại đôi chút về sản xuất nông nghiệp trong vài tháng, nhưng bù lại ta khuyến khích người dân ứng dụng các mô hình sản xuất phù hợp như nuôi trồng thủy sản…
Hiện nay, cả vùng ĐBSCL không quy hoạch được một nơi nào thực sự gọi là nơi trữ nước trong mùa hạn, trong khi điều kiện từ các tiểu vùng đê bao khép kín có sẵn!
Mỗi hệ sinh thái có một cách quản lý khác nhau và chúng ta phải phân biệt điều đó bằng những phương pháp tiếp cận hệ sinh thái.
Chúng ta đã đối xử tàn bạo với thiên nhiên, và giờ đã phải trả giá!

Hồ Hùng
........../.


Sau Covid-19, còn điều gì nữa ?




Sau Covid-19, còn điều gì nữa?

Manh Kim



Dưới đây là bài viết xuất sắc của một nhà văn hóa Trung Quốc mà tiếng nói cũng như những dòng chữ của ông luôn bị kiểm duyệt tại Trung Quốc. Giữa “mùa lũ” dịch bệnh làm lộ lên rất nhiều điều, bài viết này như một liều thuốc tinh thần giúp nhìn lại chúng ta đang làm gì và sẽ để lại gì cho tương lai một khi cơn đại dịch này trở thành một ký ức kinh hoàng…






*********



Ngày 21 tháng Hai, Diêm Liên Khoa, nhà văn, giảng viên và chủ nhiệm khoa Văn hóa Trung Quốc tại Đại học Khoa học Kỹ thuật Hong Kong, đã giảng bài trực tuyến cho lớp sau đại học về coronavirus, ký ức cộng đồng và những người sáng tác sẽ nói về đại dịch này như thế nào. Dưới đây là chuyển ngữ của bài giảng đó, được xuất bản lần đầu tiên trên tờ ThinkChina.
Các trò thân mến,
Hôm nay là ngày học trực tuyến đầu tiên của chúng ta. Trước khi vào bài, cho phép tôi nói lạc đề một chút. Khi tôi còn nhỏ, mỗi lần mắc cùng một lỗi hai đến ba lần, cha mẹ thường lôi tôi ra trước mặt họ, chỉ tay lên trán tôi rồi nói:
“Sao mày nhanh quên thế?”
Trong lớp tiếng Trung, mỗi lần tôi quên bài đọc thuộc lòng sau khi đã đọc đi học lại không biết bao nhiêu lần, giáo viên sẽ yêu cầu tôi đứng lên và hỏi tôi trước cả lớp:
“Sao trò nhanh quên thế?”
Khả năng ghi nhớ là mảnh đất để các ký ức lớn lên, và ký ức là trái cây sinh ra từ mảnh đất đó. Có được ký ức và khả năng ghi nhớ là khác biệt căn bản giữa con người và động vật hay cây cỏ. Đó là điều kiện đầu tiên để chúng ta lớn lên và trưởng thành. Đã bao nhiêu lần, tôi cảm thấy rằng điều đó còn quan trọng hơn là ăn mặc, và cả hít thở... Thế nhưng, những khúc ca chiến thắng đã nổi lên từ nhiều nơi. Tất cả bởi vì các số liệu thống kê đã tốt đẹp hơn.
Xác người còn chưa lạnh và nhân dân vẫn còn than khóc. Thế nhưng các khúc khải hoàn ca đã được cất lên và người ta bắt đầu tuyên bố: “Ôi thật sáng suốt và vĩ đại làm sao!”
Khi đại dịch đã lắng xuống, ta không được giống như thím Tường Lâm (một nhân vật trong tiểu thuyết của Lỗ Tấn, điển hình cho kiểu phụ nữ lao động u mê trong xã hội phong kiến cũ), kêu rên khi đứa con trai bị chó sói ăn thịt: “Tôi chỉ biết bọn thú hoang đi rình mồi vào mùa đông, khi trên núi không có gì ăn; Ai mà biết được là bọn chó sói làm thế cả vào mùa xuân”. Nhưng chúng ta cũng không thể giống như AQ, lần nào cũng tự nhủ thầm rằng mình là kẻ chiến thắng sau khi bị ăn đòn, bị sỉ nhục và bị dồn vào cái chết…
Ký ức của chúng ta đã bị chỉnh đốn, thay thế và xóa bỏ. Ta nhớ những gì người khác bảo ta phải nhớ, và quên những gì người khác bảo ta phải quên. Ta im lặng khi được được yêu cầu làm thế, và hát theo mệnh lệnh. Ký ức đã trở thành công cụ của thời đại, được dùng để tạo ra ký ức tập thể của một quốc gia, được tạo ra bởi những gì ta được bảo rằng phải quên đi hay phải nhớ.
Ai đã xóa sạch ký ức của ta?
Những kẻ hay quên, về bản chất, giống như bụi đất trên đường. Người ta có thể dùng đế giày dẫm đạp lên họ kiểu gì cũng được. Những kẻ hay quên, về bản chất, giống như tấm gỗ đã cắt rời khỏi thân cây đã mang tới sự sống cho chúng. Cưa và rìu hoàn toàn kiểm soát chúng sẽ trở thành gì trong tương lai.
Nếu phóng viên không tường thuật lại những gì họ chứng kiến, và tác giả không viết về những ký ức và cảm xúc; nếu những người còn được lên tiếng trong xã hội, và biết cách để nói ra luôn kể lại đọc lại và công bố mọi thứ trên tinh thần đúng đắn về mặt chính trị, thì ai có thể nói cho chúng ta rằng việc sống như máu thịt trên đời này còn ý nghĩa gì nữa chăng?
Hãy thử nghĩ mà xem: nếu như nhà văn Phương Phương không tồn tại ở Vũ Hán. Cô ấy không ghi chép lại những ký ức cá nhân và cảm xúc của mình. Cũng không có hàng ngàn vạn người giống như Phương Phương đang kêu cứu qua điện thoại. Thì chúng ta nghe thấy gì? Chúng ta nhìn thấy gì?
Giữa dòng nước lũ của thời đại, ký ức của một người giống như bọt nước, bị nhấn chìm hay đánh dạt sang một bên bởi sóng nước và tiếng ồn, làm ký ức đó câm lặng bằng tiếng nói và ngôn từ, giống như chúng chưa bao giờ tồn tại. Chao ôi, khi thời đại qua đi, mọi thứ tan vào quên lãng. Máu và thịt, thân xác và linh hồn đều biến đi.
Trên thực tế, ngay cả khi khả năng ghi nhớ và ký ức của chúng ta không thể làm gì để thay đổi thế giới, ít nhất thì nó cũng giúp chúng ta nhận thức được rằng có gì đó không đúng khi ta phải đối mặt với “sự thật” đã được tập trung chỉnh đốn. Giọng nói nhỏ bé trong ta sẽ cất lên: “Cái đó không đúng!”. Ít nhất, thì trước khi bước ngoặt của đại dịch thực sự đến, ta có thể nghe và ghi nhớ những tiếng lầm than từ những người, những gia đình và những kẻ bị gạt ra bên lề, giữa tiếng hân hoan của khúc ca khải hoàn.
Ký ức không thể thay đổi thế giới, nhưng nó cho chúng ta một tấm lòng chân thật.
Dẫu ký ức có thể không mang cho ta sức mạnh thay đổi thực tại, ít nhất là nó cũng có thể làm lòng ta dấy lên câu hỏi khi ta phải đối diện với dối trá. Nếu như có một ngày, một cuộc Đại Nhảy Vọt nữa lại tới, và người ta lại đắp lò nung ở sân nhà, ít nhất ký ức cũng cho ta biết rằng cát không thể biến thành sắt, và một mẫu ruộng không cho ta trăm nghìn cân lương thực. Ít nhất ta cũng biết rằng đây là lẽ thường cơ bản nhất, và không phải là sức mạnh ý thức tạo ra vật chất, từ không khí biến ra đồ ăn. Nếu có một cuộc Cách mạng Văn hóa nữa diễn ra, ta ít nhất cũng có thể đảm bảo rằng mình sẽ không phải là kẻ đưa cha mẹ ta vào tù hay ra pháp trường.
Đừng để mình nói về ký ức tập thể, về ký ức quốc gia hay ký ức của dân tộc, mà hãy là của chính chúng ta; vì trong lịch sử, ký ức tập thể sẽ luôn che đậy và thay đổi ký ức của chúng ta… Trong tương lai gần có thể dự đoán được, khi mà cả nước mừng chiến thắng đại dịch Covid-19 với ca nhạc, tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ không trở thành những người viết trống rỗng vô hồn, mà sẽ là những người đơn giản sống thật với ký ức của mình. Khi buổi đại nhạc hội diễn ra, tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ không phải là diễn viên hay người kể chuyện trên sân khấu, hay là một trong những người vỗ tay để có cảm giác mình là một phần của hội diễn…
Nếu như ta không phải là một “người thổi còi” như bác sĩ Lý Văn Lượng thì ít nhất hãy để mình là một kẻ biết lắng nghe tiếng còi đó.
Nếu ta không thể nói to thì hãy là những kẻ thầm thì. Nếu ta không thể là những kẻ thầm thì, hãy để chúng ta trở thành những kẻ lặng câm nhưng mang theo ký ức. Trải qua những khởi đầu, những tàn phá và lây lan của Covid-19, hãy để chúng ta là những kẻ lặng lẽ bước ra ngoài lề một bước khi đám đông tụ tập lại để hát khúc khải hoàn ca sau khi chiến thắng—những kẻ mang trong tim mình những nấm mộ với ký ức được khắc trên đó; những người ghi nhớ và một ngày nào đó có thể truyền lại ký ức cho thế hệ tương lai.
Vũ Ngọc Khuê dịch từ bản chuyển ngữ của Grace Chong.
Nguồn: Yan Lianke: What Happens After Coronavirus? |

...../.