“Tau chưởi”





“Tau chưởi” - một bài thơ kinh dị và khốc liệt

Nam Đan


**************
nhà thơ Trần Vàng Sao


Theo tiểu sử tôi tìm được trên mạng, nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật là Nguyễn Đính, sinh năm Tân Tỵ 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên – Huế, sống từ thuở ấu thời đến nay tại phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Thời gian này ông bắt đầu tham gia phong trào chống Mỹ ở Huế. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng chiến đấu. Năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh an dưỡng. Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc (đưa thư) rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Vào thời điểm này, bài thơ “Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình” của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương.
? hải ngoại, năm 1994, nhà xuất bản Tân Thư (California, Hoa Kỳ) cũng cho in tập “Bài thơ của một người yêu nước mình” của ông.
Sáng nay tình cờ tôi đọc bài thơ “Tau chưởi” dưới đây, và nghĩ rằng có lẽ trong văn học Việt Nam (và thế giới?!) khó tìm ra một bài thơ nào kinh dị, khốc liệt như bài thơ này. Điều gì làm cho tâm hồn con người – thi sĩ – phải đau đớn, quằn quại, căm hận, phẫn nộ đến vậy?
Tôi rất thú vị với lời bình của nhà báo Mặc Lâm (“Những bài thơ xé lòng…”, RFA 01.12.2012) về bài thơ này:
“Trong văn học dân gian, không hiếm những bài vè, lục bát dùng để chửi bới người mình ghét. Nhưng đối với các nhà thơ vốn quen thuộc và trân trọng những con chữ thì việc chửi bới là một điều phạm húy. Trần Vàng Sao chẳng những không sợ chữ nghĩa đau đớn mà ông còn bóc trần, nạo hết nét vàng óng bên ngoài của chúng để phục vụ cho một bài thơ mà ông cảm thấy hả hê. Ông dùng thơ để chửi cả một chế độ. Chửi từng sự việc, từng con người. Cách chửi của bà nhà quê mất gà được ông “biên đạo” lại thành của riêng, gây sốc lẫn gây cười cho người đọc bài thơ.

Có điều là cười xong thì người ta lại chảy nước mắt...”
Tôi chỉ xin góp thêm vài ý.
Bài thơ “Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình” làm cho Trần Vàng Sao nổi tiếng, nhưng theo tôi, bài “Tau chưởi” mới là bài đáng kể nhất trong thơ của ông.
Về ngôn từ, ông lật đổ quan niệm “duy mỹ trong ngôn ngữ” lâu nay trong thơ Việt, nhưng điều khác biệt là ông không sử dụng đến những từ tục tĩu như nhiều nhà thơ đương thời đang dùng. Ông ác miệng, cực kỳ ác miệng, nhưng không tục tĩu.
Chửi là 1 trong 2 hành vi của kẻ yếu, của người thấp cổ bé miệng mà có chữ (nhà văn, nhà thơ chẳng hạn), nhưng không có cách gì để tự vệ, để phản ứng trước kẻ mạnh. Họ không thể phản ứng bằng hành động, bằng bạo lực, nên họ chọn cách phát ngôn bằng lời nói hay chữ viết. Hành vi còn lại sau chửi là đặt ra, viết ra những chuyện tiếu lâm đen mà chúng ta thường đọc, hay nghe kể. Tôi chưa từng gặp Trần Vàng Sao, nhưng tôi mơ hồ nghĩ rằng với cái tâm tính bộc trực và tâm hồn mẫn cảm của mình, ông chỉ có thể bày tỏ cảm xúc bằng cách chửi thẳng chứ không thể dùng ẩn dụ né tránh, hay nói kiểu móc họng, sâu xa, thâm thúy như nhiều người khác.
Điển hình là bài thơ “Tau chưởi” này. Bài thơ nói thẳng, nói thật cảm xúc và suy nghĩ của một con người bị vùi dập, bị thể chế Cộng Sản đàn áp thô bạo đến chỗ tàn tệ nhất.
Ban đầu, tôi suýt hiểu nhầm rằng bài thơ như phát ngôn của một con người vì quá đau đớn, quá phẫn nộ mà đứng ở chỗ mấp mé sự điên loạn, nhưng khi tôi đọc kỹ lại thì thấy không phải vậy. Bài thơ có một cấu trúc chặt chẽ, diễn đạt một tiến trình tâm lý rất lớp lang.
Từ dòng đầu của bài thơ, ông chưa chửi, mà ông nói. Ông bình tĩnh nói thiệt hơn về nỗi ấm ức vì phải câm nín trước sự tàn độc, bất công và dối trá cho tới khi chịu không nổi nữa:
... tau phải câm miệng hến
không được nói
không được la hét
nghĩ có tức không...
Từ đó, sự phẫn nộ kết tụ rồi bùng vỡ dữ dội thành tiếng gào thét. Ông quyết định phải chửi, nhưng không chửi vòng vo, vông khống, ông chửi thẳng. Không chỉ chửi thẳng, ông còn kêu đối tượng, thậm chí cả dòng họ thân tộc của chúng ra để nghe ông chửi. Không chỉ chửi, ông vừa chửi vừa kể tội chúng, và sau cùng, ông nguyền rủa, những lời nguyền rủa vô cùng độc địa.
Tôi tự hỏi, với một cảm xúc khốc liệt như thế, trong thơ, thì cái thiện ở đâu, cái đẹp ở đâu? Tính nhân văn ở đâu? Lương tri con người ở đâu?
Phải chăng khi đặt những tiêu chí có vẻ cao đẹp đó ra cho thơ – cho thi ca – của một tâm hồn bị tổn thương đến tận cùng như Trần Vàng Sao thì chúng ta đang bắt đầu cho một sự dối trá khác?

Nam Đan

thơ Trần Vàng Sao
TAU CHƯỞI

tau tức quá rồi
tau chịu không nổi
tau nghẹn cuống họng
tau lộn ruột lộn gan
tau cũng có chân có tay
tau cũng có đầu có óc
có miệng có mắt
có ông bà
có cha mẹ
có vợ con có ngày sinh tháng đẻ
có bàn thờ tổ tiên một tháng hai lần
rằm mồng một hương khói bông ba hoa quả
tau đầu tắt mặt tối
đổ mồ hôi sôi nước mắt
vẫn đồng không trự nõ có
suốt cả đời ăn tro mò trú
suốt cả đời khố chuối Trần Minh
kêu trời không thấu
tau phải câm miệng hến
không được nói
không được la hét
nghĩ có tức không
tau chưởi
tau phải chưởi
tau chưởi bây
tau chưởi thẳng vào mặt bây
không bóng không gió
không chó không mèo
mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước
giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây
đặng nghe tau chưởi
tau kêu thằng khai canh khai khẩn tam đợi mười đời
cao tằng cố tổ ông nội ông ngoại cha mẹ chú bác cô dì
con cháu thân hơi cật ruột bây tau chưởi
tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống
hết nối dõi tông đường
tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp
tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu
tam giáo đạo sư bây
cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây
hà hơi trún nước miếng cho bây
bây ỉ thế ỉ thần
cậy nhà cao cửa rộng
cậy tiền rương bạc đống
bây ăn tai nói ngược
ăn hô nói thừa
đòn xóc nhọn hai đầu
ngậm máu phun người
bây bứng cây sống trồng cây chết
vu oan giá hoạ
giết người không gươm không dao
đang sống bây giả đò chết
người chết bây dựng đứng cho sống
bây sâu độc thiểm phước
bây thủ đoạn gian manh
bây là rắn
rắn
toàn là rắn
như cú dòm nhà bệnh
đêm bây mò
ngày bây rình
dưới giường
trên bàn thờ
trong xó bếp
bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật lúc bây giả
khi bây ẩn khi bây hiện
lúc người lúc ma
lúc lên tay múa ngón sủi bọt mép gào thét
lúc trợn mắt khua môi múa mỏ đả đảo muôn năm
lúc như thầy tu vào hạ
lúc như con nít đói bụng đòi ăn
hai con mắt bây đứng tròng
bây bắt hết mọi người trước khi chết phải hô
cha mẹ bây ông nội ông ngoại bây tiên sư cố tổ bây
sống dai đời đời kiếp kiếp
phải quỳ gối cúi đầu
nghe bây nói không được cãi
phải suốt đời làm người có tội
vạn đợi đội ơn bây
đứa nào không nghe bây hớt mỏ chôn sống
thằng nào không sợ bây vằm mặt thủ tiêu
bây làm cho mọi người tránh nhau
bây làm cho mọi người thấy nhau nhổ nước miếng
đồ phản động
đồ chống đối
đồ không đá bàn thờ tổ tiên
đồ không biết đốt chùa thiêu Phật
thượng tổ cô bà bây
mụ cô tam đợi mười đời bây
tau xanh xương mét máu
thân tàn ma dại
rách như cái xơ mướp chùi trách nồi không sạch
mả ông bà cố tổ bây kết hết à
tụi bây thằng nào cũng híp mắt hai cằm
bây ăn chi mà ăn đoản hậu
ăn quá dã man
bây ăn tươi nuốt sống
mà miệng không dính máu
người chết bây cũng không chừa
năm năm mười năm hai mươi năm
xương chân xương tay sọ dừa vải liệm`
bây nhai bây khới bây mút
cả húp cả chan bây còn kêu van xót ruột
bao nhiêu người chết diều tha quạ rứt xương
khô cốt tàn dọc bờ dọc bụi giữa núi giữa rừng
để bây xây lăng đắp mộ dựng tượng dựng đài cho
cha mẹ cố tổ bây
hỡi cô hồn các đảng
hỡi âm binh bộ hạ
hỡi những kẻ khuất mặt đi mây về gió
trong am trong miếu giữa chợ giữa đường
đầu sông cuối bãi
móc họng bóp cổ móc mắt bọn chúng nó
cho bọn chúng nó chết tiệt hết cho rồi
bây giết người như thế
bây phải chết như thế
ác lai thì ác báo
tau chưởi ngày chưởi đêm
mới bét con mắt ra tau chưởi
chập choạng chạng vạng tau chưởi
nửa đêm gà gáy tau chưởi
giữa trưa đứng bóng tau chưởi
bây có là thiền thừ mười tám con mắt tau cũng chưởi
mười hai nhánh họ bây
cao tằng cố tổ bây
tiên sư cha bây
tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén
xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng
tau chửi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ
mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm
tau chưởi cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc
đoạ xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu
tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàn
đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ
bốc đất mà ăn xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra
cũng phải tránh xa
tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn
sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn
chết không được mà sống cũng không được
tau chưởi cho dứt nọc dòng giống của bây cho bây chết sạch hết
không bà không con
không phúng không điếu
không tưởng không niệm
không mồ không mả
tuyệt tự vô dư
tau chưởi cho bây chết hết
chết sạch hết
không còn một con
không còn một thằng
không còn một mống
chết tiệt hết
hết đời bây

TRẦN VÀNG SAO, 29 tháng 6 năm 1997


............/.


MỘT CÁCH HIỂU VỀ CHIẾN DỊCH ĐỐT LÒ CỦA ÔNG TRỌNG





MỘT CÁCH HIỂU VỀ CHIẾN DỊCH ĐỐT LÒ CỦA ÔNG TRỌNG

***

LỬA TỪ ĐÂU ĐẾN?
Hai năm qua kể từ sau Đại hội, nhân vật nổi bật nhất trên chính trường Việt Nam không ai khác chính là Nguyễn Phú Trọng.
Màn đốt lò của ông là chiến dịch chính trị đáng chú ý nhất trong nội bộ đảng cầm quyền vài ba thập kỷ trở lại đây, chẳng những đã thiêu rụi sinh mệnh chính trị của hàng chục cán bộ, tướng tá cao cấp, mà lúc đạt nhiệt độ cao nhất thậm chí còn hóa củi một đương kim ủy viên Bộ Chính trị.
Trong khi các nhà quan sát có thể nhanh chóng đồng thuận về mức độ chưa có tiền lệ của chiến dịch chính trị này, không dễ để có được tiếng nói chung về động cơ và viễn cảnh của nó.
Không ít người tin rằng mục tiêu hàng đầu của chiến dịch là chống tham nhũng, theo đúng cách mà ông Trọng muốn dư luận nhìn nhận. Tuy nhiên, chẳng cần là quan chức chính quyền để nhận ra tham nhũng ở Việt Nam đặc thù cho hệ thống chính trị thiếu vắng kiềm chế và đối trọng hiện hành và được biện minh như là giải pháp cho một chế độ lương bổng bất hợp lý; bởi vậy, sẽ chẳng thể nào có chuyển biến chỉ bằng việc bỏ vài thanh củi vào lò, trong khi những nguyên nhân căn bản tạo ra quá trình “củi hóa” trên diện rộng vẫn chưa được giải quyết.
Ngay cả khi có nghe được những lời tán dương trong nội bộ, hơn ai hết, ông Trọng thừa hiểu đa phần những đồng chí đang tung hô và đứng về phía ông trong chiến dịch gọi là chống tham nhũng này - các đảng viên cao cấp - đều vượt tiêu chuẩn trở thành đối tượng của chính chiến dịch. Việc họ chọn chỗ đứng như thế đơn giản chỉ vì ‘ở đời phù thịnh chứ ai phù suy’, còn ông Trọng, như bao chính khách khác, luôn cần đồng minh cho chiến dịch chính trị của mình.
Nhưng không phải vì thế mà có thể cho rằng ông Trọng giống đa số những đồng chí cùng thời với ông, tức là chỉ đang tìm kiếm lợi ích kim tiền cho cá nhân, gia đình và phe nhóm của mình. Ngay những người hồ nghi nhất cũng khó có thể tin là ông Trọng đang làm mọi thứ vì tiền bạc, trong khi chẳng có dấu hiệu gì dù là nhỏ nhất cho thấy ông đang sắp đặt một vương triều cho thân nhân tiếp quản.
Chuyện thâu tóm quyền lực để ôm ghế suốt đời như Tập Cận Bình lại càng xa lạ với thực tế chính trị Việt Nam khi mà bộ máy được thiết kế để chẳng ai có đủ quyền để làm điều gì đó lớn, như là kết quả từ cơn ám ảnh chưa bao giờ dứt về bóng ma Gorbachez trong lòng người cộng sản Việt Nam.
Cũng có nhiều đồn đoán chiến dịch của ông Trọng nhắm trực tiếp vào cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và mạng lưới thân tín của ông ta, song thực tế chiến dịch cho thấy phạm vi, tính chất của nó chẳng hề giới hạn nơi một cá nhân cụ thể nào.
Vậy thì động lực thực sự của chiến dịch là gì? Hay nói cách khác, lửa đốt lò từ đâu mà đến?

NGOÀI ĐẢNG CHẲNG CÓ TRỜI
Để trả lời câu hỏi trên, trước tiên cần một nỗ lực phác thảo chân dung ông Trọng. Không khó để nhận ra qua các bài viết, bài nói và cả hành động của ông Trọng một cán bộ quan liêu cộng sản kiểu cũ điển hình - một kiểu người mà ngoài Đảng ra thì không có trời.
Đắm chìm cả đời trong phương pháp luật mác-xít về chính trị, nhãn quan chính trị của ông Trọng bị kẹt trong trật tự kiểu cũ của thể chế cộng sản, nơi mà “sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng” được diễn dịch là “sự lãnh đạo tuyệt đối của hệ thống quan liêu trong Đảng - tức các thiết chế nội bộ Đảng như các Ban đảng” (có thể tạm gọi là “Phe Đảng”). Trật tự này gắn liền với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nơi chỉ thị và nghị quyết của cấp ủy đảng là công cụ điều hành xã hội chính yếu, và đồng nghĩa với đó, các Ban đảng trở thành nơi tập trung quyền lực của hệ thống.
Tất cả đã khác đi khi Việt Nam bắt đầu chuyển đổi mô hình sang kinh tế thị trường (một phần), dẫn đến nhu cầu quản lý kinh tế - xã hội bằng pháp luật. Mà muốn thế thì vai trò của các cơ cấu tạo ra và thi hành pháp luật trở nên ngày một quan trọng.
Từ Võ Văn Kiệt đến Phan Văn Khải đã chứng kiến sự chuyển dịch quyền lực từ Văn phòng Trung ương Đảng sang Văn phòng Chính phủ. Quá trình chuyển dịch này đạt cao điểm dưới thời Nguyễn Tấn Dũng khi hàng loạt Ban Đảng đã phải giải thể hoặc sáp nhập.
Phe Chính phủ bằng cách đó đã hình thành và lớn mạnh bằng một tốc độ gây chóng mặt Phe Đảng. Họ chiếm cứ lợi ích kim tiền gắn liền với vai trò quản lý nguồn lực quốc gia mà họ được giao phó, chỉ nhường lại Phe Đảng những trận địa truyền thống bao gồm nhân sự, tổ chức bộ máy và tuyên truyền. Thậm chí, dưới thời Nguyễn Tấn Dũng, Phe Chính phủ còn không ít lần lấn sân cả sang cả những trận địa này.
Sự suy yếu của Phe Đảng ngay lập tức gia tăng mức độ ly khai của các cơ cấu khác khỏi vòng kiềm tỏa của nó, trong đó nổi bật lên là Phe Công an, Phe Quân đội và Thế lực địa phương với động lực đến từ xung đột cấu trúc (structural conflict) cố hữu cộng với mức độ tự chủ nhất định của các thế lực ly khai, nhất là về mặt tài chính.
Nếu xu hướng này tiếp tục, trật tự kiểu cũ của thể chế cộng sản như nó nên là trong nhãn quan Nguyễn Phú Trọng chắc chắn sẽ sụp đổ. Bởi thế, chẳng phải tham nhũng, cũng không hề là một cá nhân cụ thể, hay động lực kim tiền, mà chính nguy cỡ đổ vỡ trật tự khi mà các cơ cấu ly khai khỏi vòng kiềm tỏa của Phe Đảng, mới đích thị là mối bận tâm lớn nhất của ông Trọng khi người bôn-sê-vích cuối cùng của Việt Nam này tin rằng ông đang mang trọng trách bằng mọi giá phải giữ cho Đảng được trường tồn.

BỐN HƯỚNG TẤN CÔNG
Không cần đợi đến Đại Hội XII, ông Trọng, trong vài năm trước đó, đã có những động thái nhằm tái lập trật tự: Chuyển Ban Chỉ đạo Phòng Chống Tham nhũng từ Chính phủ sang Đảng, tái lập Ban Nội chính và Ban Kinh tế TW, trước khi dùng lá bài luân chuyển cán bộ đưa hàng chục Ủy viên TW là Bí thư các tỉnh thành về củng cố quyền lực cho các Ban Đảng.
Tuy nhiên, phải đến sau Đại Hội với sự thúc thủ của đối thủ chính trị nguy hiểm nhất, ông Trọng mới rảnh tay để thực hiện những bước đi chiến lược. Là bậc thầy về quy chế Đảng, ông Trọng dễ dàng có được sự đồng thuận của BCHTW đối với các nghị quyết khẳng định quyền lực tối cao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư với sinh mệnh chính trị của tất cả đảng viên cao cấp. BCHTW, dưới quy chế mới, sẽ chẳng thể nào làm phao cứu sinh thêm được nữa cho những cán bộ đã bị Bộ Chính trị quyết định kỷ luật, như từng xảy ra với Nguyễn Tấn Dũng trong nhiệm kỳ trước đây.
Sắp xếp quy chế nội bộ chưa đủ, ông Trọng còn phải tiến hành những đợt tấn công ra bên ngoài để thu phục các thế lực ly khai. Có 4 hướng tiến công chính:
Đầu tiên để kiểm soát Phe Chính phủ vốn được coi là nguy hiểm nhất, ông ủng hộ một người mà ông tin là dễ bảo nhất - Nguyễn Xuân Phúc. Để an tâm hơn, ông trực tiếp tham gia Phiên họp Chính phủ thường kỳ trong một động thái có tính biểu tượng, đồng thời tước quyền của Thủ tướng trong việc bổ nhiệm lãnh đạo các Tập đoàn nhà nước, chuyển về cho Phe Đảng.
Tiếp theo ông nhắm vào các thế lực địa phương được coi là cứng đầu nhất (nhiều lần bất tuân trung ương), bao gồm Đà Nẵng và TPHCM, đào xới tận gốc rễ mạng lưới cố kết quyền lực tại từng địa phương này nhằm gửi thông điệp tới các địa phương khác.
Hai thế lực Công an và Quân đội chắc chắn khiến ông Trọng nhức đầu hơn rất nhiều, đơn giản là cả hai đều có súng. Bởi thế, đầu tiên ông dọa hất đổ nồi cơm của Quân đội bằng cách nói gần nói xa về việc cấm làm kinh tế. Tuy nhiên đây chỉ là đòn gió để thu phục Phe Súng Lớn, để rồi sau đó dùng nó để tấn công Phe Súng Bé - Công an.
Đối với Phe Súng Bé, một mặt ông tham gia Đảng ủy Công an Trung ương để dễ bề kiểm soát từ nhân sự, tổ chức cho tới vận hành, mặt khác tấn công ngay vào mạng lưới kinh tài của họ - các công ty bình phong. Mất chỗ dựa tài chính, việc các tướng công an phải quy phục Phe Đảng chỉ còn là vấn đề thời gian.
Chưa có dấu hiệu gì cho thấy 4 hướng tấn công này sẽ sớm ngưng lại, nghĩa là, nhiều khả năng sẽ tiếp tục ít nhất đến hết nhiệm kỳ này. Riêng Phe Súng Lớn - Quân đội, trong nửa nhiệm kỳ đầu, vì nhiều lý do mà chưa bị nhắm đến nhiều dù nguy cơ và mức độ ly khai chẳng hề kém cạnh Phe Công an, được dự đoán sẽ chứng kiến nhiều đợt tấn công hơn, với nhiều hơn những tướng tá bị đưa vào lò.

VẤN ĐỀ ‘HÔN QUÂN’
Tóm lại, trong một thời gian không quá dài, bằng việc âm thầm cải sửa quy chế nội bộ lẫn dồn dập tiến công chính trị theo 4 hướng trên, ông Trọng đã tương đối thành công trong việc ngăn chặn xu hướng ly khai của các thế lực cơ cấu trong hệ thống, đồng thời từng bước tái lập trật tự kiểu cũ với Phe Đảng làm trung tâm.
Tuy nhiên thành công này lại tiềm ẩn bên trong một thất bại nghiêm trọng: Đã chẳng có bất kỳ cải cách đột phá nào về mặt thể chế nhằm chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả trong khi vẫn giữ được vị thế độc tôn của đảng.
Điều này buộc ông Trọng phải quay về với giải pháp lỗi thời là kêu gọi đức trị và tự mình, dựa trên thanh danh bản thân, sắm vai minh quân với một mức độ tập trung quyền lực cao hơn.
Nhưng đó cũng là lúc ông Trọng lót đường cho một cuộc khủng hoảng người kế nhiệm trong hơn hai năm tới, khi mà chiếc áo đức trị ông để lại có vẻ quá rộng với tất cả các ứng viên, còn quyền lực của vị trí Tổng Bí thư thì lại không ngừng được mở rộng trong suốt nhiệm kỳ.
Nghĩa là, vấn đề ‘hôn quân’ (‘bad emperor’ problem) - vấn đề cốt tử của mọi nền chính trị thiếu vắng bầu cử tự do dân chủ, sẽ nhanh chóng xuất hiện với những hệ quả chưa thể báo trước.

............./.
PS: Sẽ bổ sung phần references cho bài khi có thời gian.



HỒ CHÍ MINH ĐÃ CHUẨN BỊ CUỘC CHIẾN NHƯ THẾ NÀO ?




NGƯỢC DÒNG LỊCH SỬ :

HỒ CHÍ MINH ĐÃ CHUẨN BỊ CUỘC CHIẾN NHƯ THẾ NÀO ?

Ngô Nhật Đăng

***

Sau khi đảo chính người Pháp, nước Nhật đã làm chủ Đông Dương, một cơ hội độc lập cho Việt Nam được mở ra với việc thành lập chính phủ Trần Trọng Kim, tuy người Nhật không thực lòng nhưng với sự khéo léo trong ngoại giao, quan điểm nhất quán trong vấn đề độc lập cho đất nước của chính phủ TTK, cuối cùng Nhật đã phải giao quyền kiểm soát cho người Việt trên toàn quốc nhất là ở những thành phố quan trọng như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng… trong một thời điểm lịch sử đặc biệt nhạy cảm và với thời gian ngắn ngủi, chính phủ TTK đã làm được những việc to lớn mà lịch sử ngày càng soi tỏ.
Lực lượng mạnh nhất được đông đảo dân chúng ủng hộ đang hoạt động “bất hợp pháp” trong thời kỳ này là cộng sản nhưng núp dưới bóng “Việt Minh” để tránh sự kinh sợ của dân chúng khi nghe từ "cộng sản". Thay vì hợp tác, VM ra tối hậu thư với chính phủ TTK bắt phải giao toàn bộ quyền lực nếu không họ sẽ dùng sức mạnh, trang sử đen tối của dân tộc bắt đầu mở ra. Một lãnh tụ kiệt xuất của họ xuất hiện, một cái tên xa lạ mà trước đó không ai biết : Hồ Chí Minh.
Sau bước lùi “tổng tuyển cử” năm 46 với việc thành lập chính phủ nhiều đảng phái, ông Hồ sửa chữa khuyết điểm này bằng việc ban hành Sắc lệnh về quyền hạn Chủ tịch nước ngay sau khi nắm quyền, Chủ tịch nước sẽ không phải chịu trách nhiệm trước bất cứ hành động nào của Quốc hội, chính phủ trừ “tội phản quốc”. Và thanh trừng đối lập bắt đầu bằng cả những thủ đoạn đê tiện như bôi nhọ, bắt cóc, ám sát vv…
Một cơ hội độc lập nữa được mở ra, đó là Hiệp định Sơ bộ năm 46, nước Pháp bại trận trong thế chiến 2, các tư tưởng triết học mới ra đời ở Tây Âu, dân chúng châu Âu đã học được bài học đẫm máu của thế chiến vv…đã mở ra một thời kỳ “xả thuộc địa”, chủ nghĩa thực dân cũ đang bước vào giai đoạn cáo chung. Nếu khéo léo, mềm dẻo và chịu nhượng bộ giai đoạn đầu trong chính sách ngoại giao thì Việt Nam sẽ được “trao trả độc lập” như một số thuộc địa của Anh và Pháp là điều chắc chắn. Nhưng ông Hồ đã chọn chiến tranh. Những tư liệu về thời kỳ này lúc ông HCM sang Pháp và phái đoàn VN gặp gỡ phía Pháp tại Đà Lạt với những chỉ thị của ông Hồ về quan điểm cứng rắn quyết không chịu lùi đã chứng tỏ chiến tranh là điều không thể tránh khỏi.
9 năm kháng chiến với giá của 2,5 triệu sinh mạng người Việt gồm binh lính và dân thường của cả 2 phía đã đưa lại kết quả : Đất nước bị chia cắt thực sự. Điều sẽ không xảy ra nếu năm 46 VN có một chính phủ đa đảng thật sự. Một bước lùi với giá máu xương.
Với tham vọng của mình, HCM nhất định sẽ không chịu lùi bước. Ông ta đã chuẩn bị chiến tranh ngay từ trên đống hoang tàn đổ nát. Những tư liệu chứng minh về vai trò quyết định của HCM chưa được bạch hóa hết, nhưng nó cũng được phát lộ qua những người thân cận ông. Trong “Chân dung và đối thoại”- Trần Đăng Khoa, Tố Hữu kể, khi mọi người đang say sưa với Điện Biên Phủ, ông Hồ đã nói : “Làm gì mà các chú hoắng lên thế ? Phải chuẩn bị đánh nhau với thằng Mỹ”. Quả nhiên là vậy, Tố Hữu đã ca ngợi “Bác có tầm nhìn xa thiên tài”.
Ở miền Bắc, sau khi tiêu diệt mọi sự đề kháng của xã hội với các cuộc “cách mạng long trời lở đất” được tiến hành vô cùng tinh vi, bài bản như : Chỉnh huấn, chỉnh quân, cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, chính sách “kinh tế mới” hồi đó gọi là “đi khai hoang xây dựng quê hương mới”, đàn áp trí thức qua vụ “Nhân văn Giai phẩm” vv…Nền đạo đức lâu đời của dân tộc bị xóa sổ, môi trường sống đảo lộn, những thành phần tiềm ẩn nguy hiểm ở thành thị được đưa về những vùng xa xôi “ma thiêng nước độc”….hơn 150.000 người đã bị hành quyết trong thời gian này, sức đề kháng của toàn bộ xã hội bị tê liệt.
Ông Hồ bắt đầu xây dựng thiên đường cho giai cấp ít học, bần cố nông có sức mạnh man rợ, tàn ác, vô nhân tính để thay thế cho các giai cấp khác bị liệt vào thành phần : “Kẻ thù của nhân dân”. Coi đồng bào như “kẻ thù” để thẳng tay giết hại, nhưng lương tâm vẫn thanh thản vì đinh ninh là đang xây dựng một xã hội mới, đám kia chỉ là “sâu bọ” hoặc “cục phân”…quả là HCM đã đạt đến đỉnh điểm của một bạo chúa, vượt xa tất cả các bạo chúa khác từng có mặt trong lịch sử.
Với sự viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô, miền Bắc bắt đầu “xây dựng CNXH ở miền Bắc và giải phóng miền Nam”. Các khu công nghiệp như Gang thép Thái Nguyên, thành phố công nghiệp Việt Trì và một số nhà máy được xây dựng vừa phát triển kinh tế vừa chuẩn bị cho chiến tranh như nhà máy Phân đạm Bắc Giang vừa sản xuất phân bón nhưng quan trọng hơn là sản xuất thuốc súng, một số nhà máy cơ khí, bên ngoài là làm máy cày, nhưng sau lưng là chuẩn bị chế tạo xe tăng, công trình thủy nông vĩ đại Bắc- Hưng- Hải hoàn thành biến những cánh đồng “chiêm khê, mùa thối” của 3 tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương thành vùng lúa 2 vụ năng suất cao. Năm 60, kinh tế miền Bắc đã bắt đầu tăng trưởng dương, cuộc sống của những người theo đảng được cải thiện đáng kể, họ được ưu tiên trong công việc,trong học tập, được chiếm nhà, tài sản của những chủ cũ là những giai cấp “tàn dư”vv… và yên tâm rằng mình xứng đáng được hưởng điều đó. Tố Hữu đã ca ngợi thời kỳ này với những câu thơ : “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng” và cảm thán : “Ôi! Miền Bắc, thiên đường của các con tôi”. Đúng là không còn gì rõ hơn, nhất là nhìn vào cuộc sống của các COCC (con ông cháu cha), các Thái tử Đảng ngày nay.
Ở miền Nam, việc chuẩn bị chiến tranh cũng được tiến hành. Một kế hoạch vô cùng thâm độc được thực hiện, hàng chục vạn cán binh ở miền Nam được “tập kết ra Bắc” với tiêu chí : Trẻ, có sức khỏe (những người này góp phần rất lớn trong việc xây dựng miền Bắc, đặc biệt trên công trình thủy nông Bắc- Hưng- Hải), những người có uy tín, những trí thức cảm tình với cộng sản. Để lại những người già yếu, thương phế binh làm gánh nặng cho VNCH. “Mưu” cao hơn, hàng loạt các đám cưới được tổ chức, có những đám cưới tập thể hàng trăm cặp được tiến hành dưới sự chủ tọa của các “thủ trưởng”. Hàng chục vạn cô dâu mới đã mang trong tim mình hình ảnh người chồng thân yêu ra miền Bắc với lời thề “Sau 2 năm sẽ trở lại”, cùng với họ là người thân, gia đình, cha mẹ, bà con vv…đông gấp nhiều lần, một lực lượng tiềm năng của ông HCM.
Sau 2 năm, từ năm 56 đã có những người tập kết “vượt tuyến về Nam” trong hành trang của họ là những bức thư, những tấm hình của người thân ở miền Bắc, ca ngợi cuộc sống tốt đẹp của “thiên đường XHCN”, công ơn và tấm lòng của Bác Hồ với “miền Nam ruột thịt”, yêu cầu giúp đỡ những “đồng chí” của mình. Ngả về phía nào, chắc không khó đoán, với những người không chịu hợp tác thì thân nhân sẽ trở thành “con tin” trong việc cưỡng ép họ. Việc một số đông đảo “nằm vùng”, “ăn cơm Quốc gia thờ ma Việt cộng”, các cơ sở quần chúng “nuôi VC” xuất hiện… là điều khó mà cưỡng được. Một số đã len lỏi, nắm những chức vụ khá cao trong chính quyền, mạng lưới tình báo được hoàn thiện, với những người “kiệt xuất” như điệp viên Phạm Xuân Ẩn.
VNCH bắt buộc phải tìm cách đối phó, một số trường hợp đơn lẻ xử lý vụng về, quá đà như bắt bớ, giam cầm, tra tấn…được khai thác triệt để. Miền Bắc bắt đầu xuất hiện “Những lá thư từ miền Nam gửi ra” tố cáo “chế độ tay sai” được tuyên truyền ầm ĩ. Một sự kiện gây xúc động trên toàn miền Bắc vào năm 1957, đó là “Vụ đầu độc Phú Lợi”. Một chiến dịch truyền thông vĩ đại, các cuộc mít-tinh, biểu tình được tổ chức khắp các tỉnh thành miền Bắc tố cáo tội ác Ngô Đình Diệm đã đầu độc làm chết hàng nghìn tù nhân ở trại giam Phú Lợi, những người có con em đang tập kết. Tố Hữu làm bài thơ gây xúc động , với câu kết : “Thù muôn đời, muôn kiếp không tan”, đọc lên ai cũng khóc ròng ròng.
Người miền Bắc chít lên đầu vành khăn tang trắng, những người miền Nam tập kết lũ lượt trích máu viết đơn xin “về Nam” để trả thù, thanh niên miền Bắc phát động phong trào “Ba sẵn sàng” chuẩn bị “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai” vv….với sự chuẩn bị của các cán bộ phái vào Nam từ trước và sự ủng hộ của một bộ phận dân chúng, miền Nam thành lập các đơn vị vũ trang tại chỗ, “Mặt trận giải phóng Dân tộc miền Nam” được thành lập, phong trào Đồng khởi nổ ra….Ông HCM xoa tay chờ đợi.( Sau năm 75 vào SG, tôi có tìm hiểu sự việc này, thì ra có mấy người tù ăn phải thức ăn bị thiu, ông Diệm cho xe chở đi cấp cứu. Có một nhân chứng là Sơn Nam, nhưng nhà văn này chưa bao giờ nói ra).
Với tầm nhìn chiến lược và bài học từ cuộc chiến ở Cao Ly (Triều Tiên), ông HCM dự đoán khả năng người Mỹ sẽ vào cuộc. Một lý do trời cho để ông giành lấy “Chính nghĩa”. Có người nhận định : “HCM đã dụ người Mỹ nhảy vào VN”, chính xác, một cái bẫy do một người thông minh đã được đặt ra, cành đào gửi TT Ngô Đình Diệm vào dịp Tết, cuộc gặp bí mật của Ngô Đình Nhu với cán bộ CS được tổ chức, ông Nhu ngây thơ tuyên bố với phóng viên Mỹ : “Tôi không coi những người cộng sản là kẻ thù, mà là những người anh em lầm đường lạc lối”- VN thiên lịch sử truyền hình. Đệ nhất VNCH bị đảo chính mà vai trò quyết định là người Mỹ. Đỉnh điểm, khi người Mỹ vụng về ngụy tạo ra “Sự kiện vịnh Bắc Bộ” để lấy lý do ném bom miền Bắc, chỉ chờ có thế, ông Hồ lập tức lên đài phát thanh, với tài hùng biện của mình tuyên bố : “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác có thể bị tàn phá. Nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ. KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO”.

Khi người Mỹ đổ quân vào miền Nam, các đơn vị chủ lực của miền Bắc với chính danh “đánh đuổi xâm lược” được lên đường, những chỉ thị tuyệt mật là tuyệt đối tránh giao chiến với quân lực VNCH, khẩu hiệu “Tìm Mỹ mà đánh” được quán triệt. Các cuộc giao tranh với VNCH thường là quân VC, người Mỹ cũng bị thương vong cao hơn trong thời gian này. Một nhân chứng là bộ đội miền Bắc kể với người viết bài này rằng anh đã bị shock khi lần đầu đụng độ với binh sỹ VNCH, đối phương hô xung phong bằng tiếng Việt, có cả tiếng miền Bắc, chính vì thế mà anh đảo ngũ.
Một người như HCM, không thể không tính đến việc ông sẽ bị lịch sử phán xét. Một “hình nhân thế mạng” được nhắm đến để chạy tội, một người miền Nam sắt máu là Lê Duẩn được đưa ra miền Bắc với cương vị Bí thư thứ nhất (ĐCS).Những ý kiến ôn hòa như xây dựng miền Bắc, thống nhất đất nước bằng hòa bình bị dập tắt, hàng loạt cán bộ, trí thức bị bắt trong vụ án nổi tiếng : “Xét lại chống Đảng”.
Một huyền thoại được dựng lên : “Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã vô hiệu hóa quyền lực của HCM”, tiếc thay một số mang danh “trí thức” vẫn còn tin vào luận điểm này. Một điều mà người viết vô cùng đau đớn là, hiện nay nhiều người vẫn chưa nhìn ra, làm đổ VNCH, góp phần lớn nhất chính là những người miền Nam, những kẻ nằm vùng, những người ngây thơ chưa hiểu rõ cộng sản, những kẻ nội tuyến “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”, những người đào hầm bí mật nuôi cán bộ, cả những người tu hành nữa trong “phong trào Phật giáo miền Nam” góp phần lớn trong vụ đảo chính TT Ngô Đình Diệm vv…
KHÔNG PHẢI LÀ TRÁCH MÓC VÌ NÓ CHỈ GÂY THÊM CHIA RẼ, NHƯNG CHÚNG TA HÃY NHÌN THẲNG VÀO LỊCH SỬ DÙ CÓ ĐAU ĐỚN ĐỂ ĐỪNG MẮC MƯU MỘT LẦN NỮA.
SỰ KÍCH ĐỘNG CHIA RẼ VÙNG MIỀN HIỆN NAY ĐÃ TRÁNH CHO THỦ PHẠM CHÍNH BỊ ĐƯA RA ÁNH SÁNG ĐÓ LÀ HỒ CHÍ MINH.

Nhà văn Võ Phiến viết trong “Bắt trẻ đồng xanh” :
" Năm 1954, sau chín năm ê chề mòn mỏi vì chiến tranh, thấy hòa bình ai nấy nhẹ nhõm; nếu có kẻ nào lúc đó mà xếp đặt một cuộc tàn sát nữa, kẻ ấy tất gan đồng dạ sắt. - Thì Hồ Chí Minh đã xếp đặt cuộc tàn sát ngay vào thời kỳ ấy.
Năm 1968, sau hăm ba năm chiến tranh thảm khốc, nghe nói hòa bình mọi người mừng rơn. Nghĩ tới hàng triệu người đã bỏ thây trong thời gian qua, ai cũng tưởng làm người Việt Nam mà có kẻ dám để ý nghĩ mon men đến chiến tranh nữa, kẻ ấy thật mặt dày mày dạn, tán tận lương tâm. - Thì Hồ Chí Minh chính đang xếp đặt thêm một cuộc chiến tranh.
Vậy mà ông ta vẫn an nhiên hưởng sự trọng vọng của bao nhiêu người, kể cả người Việt Nam!".
Mong lắm thay.

.........../.