Tâm trạng một dân tộc & dấu hiệu một cơn bão




Tâm trạng một dân tộc & dấu hiệu một cơn bão 

 http://www.viet-studies.info/kinhte/NQuangDy_TamTrangDanToc.htm


NGUYỄN QUANG DY



“Cuộc sống bắt đầu khi nỗi sợ kết thúc - Life begins where fear ends” (Osho)

Gần đây ngày càng có nhiều dấu hiệu bất thường về tâm trạng của cộng đồng dân tộc. Nó giống như những dấu hiệu của một cơn bão hay sóng thần. Nếu đúng vậy, thì đây là một vấn đề lớn chứ không nhỏ. Phủ nhận hay bưng bít thông tin về một cơn bão hay sóng thần là dại dột như tự sát tập thể. Không phải chỉ các chính khách hay thương gia mà cả các nhà tâm lý xã hội học cũng cần quan tâm, vì hệ quả khôn lường của nó. Người ta có thể tháo ngòi một quả bom nổ chậm chứ không thể tháo ngòi một cơn bão hay sóng thần. Đài Khí tượng Thủy văn (như Ban Tuyên giáo) chỉ có thể dự báo hay cảnh báo, chứ không thể ngăn chặn hay đối phó được với thảm họa môi trường hay khủng hoảng xã hội.
Hãy thử điểm lại vài dấu hiệu điển hình gần đây.  
Từ đám cháy Bình Dương và Vũng Áng
Chắc nhiều người chưa quên khi Trung Quốc đem dàn khoan khổng lồ HD 981 vào hải phận Việt Nam tại Biển Đông (5/2014), đã tạo ra phản ứng dây chuyền, làm toàn dân phẫn nộ. Sự kiện đó không chỉ là bước ngoặt mới trong quan hệ Việt-Trung mà còn thúc đẩy xu hướng “thoát Trung” trong tâm thức người Việt. Tuy kinh nghiệm lịch sử đã chứng minh, thân Tàu quá hay chống Tàu quá đều nguy hiểm, nhưng xu hướng cực đoan khó tránh khỏi. Chỉ cần một số kẻ xấu giấu mặt xúi dục là có thể biến cả khu công nghiệp Bình Dương hay Vũng Áng thành biển lửa chống Tàu (và Đài Loan). Tại sao lại như vậy?
Có nhiều nguyên nhân, nhưng nói một cách dễ hiểu, tâm trạng dân chúng như đám cỏ khô. Đối với hàng vạn công nhân làm việc trong các doanh nghiệp nước ngoài thì chống Tàu đồng nghĩa với chống giới chủ, vì họ bị bóc lột và đối xử bất công, nhưng không được bênh vực. Tâm trạng đó của dân chúng không phải chỉ có ở Việt Nam mà có ở khắp nơi. Nhưng đám cỏ khô ở Việt Nam dễ cháy hơn vì vai trò công đoàn mờ nhạt. Vì vậy, khi tham gia TPP chính phủ Việt Nam phải chấp nhận vai trò công đoàn độc lập như một cơ chế mới.
Đến biểu tình “cá cần biển sạch, dân cần minh bạch”
Có thể nói sự kiện lớn thứ hai sau vụ dàn khoan HD 981 là sự kiện cá chết hàng loạt tại bờ biển mấy tỉnh miền Trung, không chỉ đánh dấu một thảm họa môi trường mà còn là một bước ngoặt mới về tâm thức chống Tàu (hay Formosa) và bất bình với cách ứng xử loanh quanh khó hiểu của chính quyền. Tuy phản ứng lần này của dân chúng ôn hòa hơn nhưng lại bị đàn áp bạo lực hơn. Đây là một chuyển biến đáng lưu ý trong diễn biến chính trị tại Việt Nam, cần được nghiên cứu và lý giải nghiêm túc. Thái độ phản ứng của dân chúng đối với thảm họa môi trường làm cá chết gắn liền với thái độ độc đoán của chính quyền đối với quyền ứng cử và bầu cử của người dân. Hai vấn đề tưởng khác nhau, nhưng có cùng một mẫu số chung.       
Thực ra, thái độ phản ứng của dân chúng hiện nay là muốn tham gia (xây dựng) chứ không muốn chống đối (phá hoại). Họ bất bình chẳng qua vì cuộc sống và môi trường sống bị đe dọa, trong khi chính quyền đáp ứng quá chậm và quá ít (too little too late), thậm chí bị nghi ngờ là bao che cho nghi phạm (Formosa). Tuy xu hướng giảm cực đoan trong phản ứng của dân chúng là một dấu hiệu đáng mừng (như đang trưởng thành), nhưng xu hướng gia tăng bạo lực đàn áp của chính quyền là một dấu hiệu đáng lo (như đổ thêm dầu vào lửa). Hành động bưng bít thông tin, trì hoãn kết luận, tăng cường đàn áp bằng bạo lực, từ chối quốc tế (Mỹ) giúp đỡ, làm cho chính quyền ngày càng bị cô lập và mất lòng dân. Nếu không kịp thời tháo gỡ tình trạng bế tắc đó (như “standoff”) thì một cơn bão tố hay sóng thần có thể ập tới.   
Hiện tượng Tạ Bích Loan và Tôn Nữ Thị Ninh
Tại sao MC Tạ Bích Loan lại bị “ném đá” như vây? Đây không chỉ đơn giản là “tại nạn nghề nghiệp” vì người làm chương trình chủ quan không chuẩn bị kỹ hay kinh nghiệm truyền thông còn non kém, mà chủ yếu là do thái độ (vô ý hay chủ ý) như châm lửa vào một đám cỏ khô chứa chất tâm trạng bức xúc như bột lưu huỳnh. Format chương trình “60 phút mở” không tồi (bắt chước “60 Minutes” của CBS News), nhưng thái độ của MC Tạ Bích Loan và người phụ họa đã biến nó thành một chương trình “60 phút đóng” (như “đấu tố” MC Phan Anh) làm công chúng bất bình. Với tâm trạng bức xúc, công chúng sẵn sàng “ném đá” bất cứ ai hoặc cái gì làm cho họ cảm thấy bị coi thường hay xúc phạm, như một dám cỏ khô dễ cháy.
Tiếp theo Tạ Bích Loan là Tôn Nữ Thị Ninh. Cả hai đều là “người của công chúng” (celebrity) nên khi làm công chúng thất vọng, họ càng dễ bị “ném đá”. Có lẽ vấn đề của hai vị này không phải là trình độ mà là thái độ: Không nên coi thường công chúng! Cần lưu ý dư luận phản ứng hai bài của bà Ninh không phải là công chúng bình dân, mà hầu hết là trí thức (cả hai phía). Thái độ phản ứng của họ khác với phản ứng của dân chúng đã từng đốt các doanh nghiệp Trung Quốc (hay Đài Loan) tại Bình Dương và Vũng Áng trước đây. Với tâm trạng đầy bức xúc, người ta có thể biến “Tôn Nữ” thành “Thị Ninh” với một “coup de grace”…
Và những chuyện lạ khác…
Không biết do bức xúc hay vì lý do gì khác mà nhân “ngày báo chí cách mạng Việt Nam”, tổng biên tập báo Petro Times đã đăng một bài với cái tít gây sốc, “Nghề phóng viên là phải như con chó ấy” (Nguyễn Như Phong, Petro Times, 10/6/2016). Ông Phong kết luận, “chó muốn giỏi thì cũng phải nuôi dạy và phóng viên muốn giỏi thì ngoài năng khiếu trời cho, cũng phải được dạy dỗ, rèn luyện tử tế. Và chó khôn nhờ chủ, muốn có phóng viên giỏi cũng phải nhờ chủ”.  Không biết đọc xong bài này có bao nhiêu phóng viên muốn trả thẻ nhà báo?
Trong chương trình truyền hình trực tiếp của VTV2 (tối 11/6/2016) về lễ trao giải cuộc thi “những tấm gương bình dị mà cao quý” của báo Quân đội Nhân dân, người ta thấy xuất hiện trên nền phông sân khấu bức tranh cổ động “học tập trước tác Mao Trạch Đông”. Tuy chưa biết sự cố này là do vô ý hay cố ý, nhưng nó lập tức lan truyền trên mạng và gây phản ứng mạnh, do tâm trạng bức xúc của công chúng, như đám cỏ khô dễ bắt lửa. 
Cùng ngày 11/6/2016, báo chí “lề phải” và “lề trái” đồng loạt đưa tin “TBT Nguyễn Phú Trọng đã giao Ủy ban Kiểm tra TƯ chủ trì, phối hợp với Ban Nội chính TƯ, Ban Tổ chức TƯ, Bộ Công an, Ban Cán sự Đảng bộ Công thương, bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước, Ban Thi đua Khen thưởng TƯ, tỉnh ủy Hậu Giang và Tập đoàn Dầu khí VN khẩn trương kiểm tra, xem xét, kết luận những nội dung mà báo chí đã nêu đối với ông Trịnh Xuân Thanh, Phó chủ tịch Hậu Giang”… Những nội dung TBT yêu cầu kiểm tra không chỉ là việc ông Thanh đi xe Lexus cá nhân biển trắng đổi thành biển xanh mà còn là quá trình bổ nhiệm ông Thanh… Sau Đại hội Đảng, phải chăng đây là phát súng khởi đầu cho chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” kiểu Việt Nam, mà điểm dừng hay hệ quả của nó chưa biết trước sẽ ra sao.   
Hệ quả không định trước
Một điều nữa cần lưu ý là các cuộc biểu tình tại Hà Nội và Sài Gòn gần đây cho thấy tầng lớp trung lưu và trí thức (gồm cả quan chức) không còn ngồi yên hay đứng ngoài cuộc, mà đã bắt đầu tham gia và xuống đường. Có lẽ vấn đề bảo vệ môi trường và quyền bầu cử - ứng cử của công dân đã dẫn đến phân hóa xã hội sâu sắc, bao gồm cả các tầng lớp trên. Không thể dễ dàng chụp mũ nói rằng họ bị thế lực thù địch nào đó xúi dục. Đàn áp bằng bạo lực là một sai lầm lớn, có thể dẫn đến một bước ngoặt mới (game changer).
Công chúng nghèo (công nhân và nông dân) có thể không biết hoặc ít sự lựa chọn, nên dễ chấp nhận và cam chịu số phận. Nhưng tầng lớp trung lưu và trí thức thì khác. Nếu quá bất bình và bất an, họ có thể bỏ ra nước ngoài, đem theo tài sản. Con cái họ du học có thể không về nước. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan có lần thốt lên, “lấy ai xây dựng đất nước đây?” Nhưng chính con cháu hầu hết các quan chức lãnh đạo các cấp đều ở nước ngoài (nhưng không phải Trung Quốc). Mặc dù họ có thể thân Tàu hay “chống Mỹ”, nhưng chẳng quan chức nào cho gia đình sang Trung Quốc cư trú, mà chỉ đi Mỹ, Canada, Australia hoặc Tây Âu…
Thực tế phong trào di cư như “bỏ phiếu bằng chân” (và bằng tiền) đã và đang âm thầm diễn ra. Theo thống kê, dòng người và dòng tiền từ Việt Nam (cũng như Trung Quốc) đang ra đi ồ ạt. 64% người giàu Trung Quốc (có trên 1,6 triệu USD) đã hoặc định di cư ra nước ngoài. Trong 10 năm qua, 14.000 tỷ USD đã chạy khỏi Trung Quốc (riêng năm 2015 là 1.000 tỷ USD). Còn Việt Nam thì sao? Năm 2015, riêng loại visa EB-5 (dành cho các doanh nhân muốn đầu tư và định cư ở Mỹ) đã tăng vọt lên 17.662 suất (so với 6.418 suất năm 2014). Người ta nói đồng tiền không những “biết nói” (money talks) mà còn “biết đi” (it walks). Theo tiến sỹ Vũ Quang Việt, trong 6 năm (2008-2013) 33 tỷ USD đã chạy khỏi Việt Nam bất hợp pháp…
Hai năm qua xu hướng này càng tăng nhanh, như một nghịch lý đầy bi kịch của đất nước này. Trong bối cảnh ngân sách quốc gia đang bị thâm hụt và khủng hoảng thiếu do bội chi ngân sách và nợ công quá nhiều, trong khi nguồn vay ODA cạn kiệt, thì xu hướng này có thể là một thảm họa. Nhưng không ai ngăn cản được người dân ra đi khi thực thẩm và nước uống không an toàn, khi không khí bị ô nhiễm, khi các dòng sông và nước biển bị nhiễm độc làm tôm cá chết, và các quyền cơ bản của người dân trong hiến pháp bị tước đoạt.  
Đổi mới thể chế hay là chết
Bối cảnh trong nước và quốc tế đang thay đổi, với tam giác Mỹ-Trung-Việt đang chuyển động, từ khi Việt Nam quyết định ra nhập TPP sau Đại hội Đảng XII, nhất là sau chuyến thăm Mỹ của TBT Nguyễn Phú Trong (7/2015) và chuyến thăm Viêt Nam của TT Barack Obama (5/2016) với triển vọng đối tác chiến lược Viêt-Mỹ. Vấn đề đặt ra hiện nay là muốn hay không Việt Nam buộc phải đổi mới thể chế và tăng cường hợp tác với Mỹ, vì sự sống còn của nền kinh tế (nguy cơ vỡ nợ) cũng như an ninh quốc gia (nguy cơ mất hết chủ quyền biển đảo).
Trong khi đó kinh tế Trung Quốc đang khủng hoảng và suy tàn, có thể suy sụp nhanh hơn dự kiến. Một dấu hiệu mới là Tỷ phú George Soros đang “tái xuất giang hồ” sau khi dự đoán Trung Quốc sẽ “hạ cánh cứng” (hard landing). Thực ra Mỹ không sợ Trung Quốc quá mạnh, mà lại sợ Trung Quốc khủng hoảng và sụp đổ, vì họ được lợi lộc nhiều hơn là thiệt hại khi kinh tế Trung Quốc phát triển. Trung Quốc khủng hoảng sẽ đe dọa kinh tế Mỹ cũng như kinh tế toàn cầu, với “cái bẫy phụ thuộc lẫn nhau” (economic co-dependency trap). Trong bối cảnh đó, Việt Nam làm gì và đi về đâu, hay cứ đứng ngẩn ngơ tại ngã ba đường?  



NQD. 14/6/2016

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 14-6-16

......../.


CHUYỆN XUẤT KHẨU GẠO VÀ ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP




CHUYỆN XUẤT KHẨU GẠO VÀ ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP

https://www.facebook.com/vu.k.hanh.52/posts/10154356305411122









Đề tài họp mặt nhóm doanh nghiệp tiêu biểu và chuyên ngành chế biến nông sản của TP Cần Thơ tối 13/6/2016 khá mộc mạc: “Hàng Thái và sức cạnh tranh của hàng Việt”. Giáo sư tiến sĩ Võ Tòng Xuân không nói chuyện học thuật, ông chiếu phim do chính ông tự quay, làm powerpoint, viết lời bình về Hội Chợ Lương thực-thực phẩm-đồ uống mấy tuần qua ở Bangkok. 

Góc quay thật sành điệu và sắc sảo. Ông kể, về gạo, phía Thái có hơn 100 nhà sản xuất lúa gạo dự triển lãm nhưng tất cả họ chỉ trồng có 3 hay 4 loại giống. Ngược lại, VN có hàng mấy trăm loại giống được đặt tên loạn xạ, người bán còn nhớ không nổi (chỉ chi tiết này thôi cũng thấy, làm sao xây dựng thương hiệu gạo ?! )

Nông dân Thái làm ruộng theo sự dẫn dắt của doanh nghiệp. TS Võ Tòng Xuân nói vui, thực tế khiến ta bây giờ phải nói: “QUỐC GIA HƯNG VONG, DOANH NHÂN HỮU TRÁCH”.

Nước Thái tự nhận là “nhà bếp của thế giới” và cả nước Thái rung chuyển, vận hành rập ràng theo niềm tự hào đó. Nền giáo dục đào tạo đặt nền cho kiến thức vững, song song đó, nghiên cứu khoa học được nhà nước đầu tư tới nơi tới chốn. Không có tình cảnh giao cho Viện nghiên cứu lấy thu bù chi phải luôn chạy dự án kiếm thêm vì ngân sách quá hẻo. Doanh nghiệp tổ chức vùng nguyên liệu, nắm kỹ thuật chế biến và sau đó làm xúc tiến thương mại cho tốt, đưa sản phẩm ra được thị trường . 

Tôi thấy vui, cảm động khi xem những thước phim nóng hổi thời sự kinh doanh của nhà khoa học đã trên 70 tuổi mà toàn câu chuyện cho thấy ông hiểu sâu chuyên ngành cũng như thấu đáo chuyện kinh doanh nông sản thị trường toàn cầu .
Ông nhấn mạnh, nông dân Thái biết rõ xu hướng nhập khẩu gạo của thế giới hiện nay là gạo có thương hiệu, đảm bảo an toàn, thân thiện môi trường và tốt cho sức khỏe.
Nông dân mình có nắm chắc vậy không?

Trên đường về, tôi nghĩ tới câu chuyện nhà báo Hoàng Tuyên vừa nói. Do hạn mặn vừa qua, sản lượng mất nhiều, Cục trồng trọt đang chỉ đạo : để đạt chỉ tiêu 25 triệu tấn lúa/ năm nay phải tăng diện tích thu đông.

Ngày 30/5, Cục trồng trọt đã ký với cơ quan đồng cấp Trung Quốc cho phép TQ (nức danh thế giới về làm hàng bẩn) vào tận ruộng, nhà máy kiểm tra quy trình sản xuất và chế biến gạo trước khi nhập khẩu.
Bao nhiêu câu hỏi đặt ra: đóng gói tại Việt Nam để thương nhân TQ xuất sang nước thứ ba với nhãn hiệu TQ sẽ là vấn nạn cho gạo VN?

Tại sao phải sống chết duy trì sản lượng?

Tại sao cứ vắt kiệt sức ĐBSCL và tiếp tục đến chừng nào?
Bám giữ thành tích và sản lượng trong điều kiện biến đổi khí hậu sẽ còn đẩy nông nghiệp VN thụt lùi, lạc hậu đến đâu với thế giới? 

Đã có khá nhiều nhà khoa học can ngăn cơn say thành tích, sản lượng mà không ăn thua.Tiếng nói các nhà khoa học chân chính vẫn lọt thỏm đi đâu còn doanh nhân thì đang quá lao đao. 

“Quốc gia hưng vong, doanh nhân hữu trách”. Tôi lại nghĩ đến chuyện làm ăn của doanh nghiệp.
Mấy hôm nay, đọc tiểu sử ông PCT Trịnh Xuân Thanh của tỉnh Hậu Giang ĐBSCL tôi cứ nghẹn đắng ở chi tiết ông là Vụ trưởng Vụ đổi mới doanh nghiệp - Bộ Công Thương trước khi luân chuyển về tỉnh. Trước đó nữa là cú lỗ 3000 tỉ ở PVC. Và sau đó là cú được Đảng tin tưởng cử để dân bầu là Đại biểu quốc hội.

Chẳng ai để ý cái chức danh quèn vụ trưởng vụ đổi mới doanh nghiệp.

Vậy mà tôi cứ bị ám ảnh mãi.

Ông ta đổi mới gì nhỉ ? Hô biến khỏi vụ lỗ khủng.
Và đổi biển xe trắng thành xanh chỉ trong một ngày. Còn nhiều thứ đổi mới nữa nên lên vù vù vậy?
Tự dưng chuyện bảng số giả xe Lexus lại tự thú kiểu quan niệm và điều khiển cuộc đổi mới doanh nghiệp của Bộ Công Thương.

Tội nghiệp cho tiến trình đổi mới doanh nghiệp !


........./.

.... lãnh đạo huyện cho vay tiền tỷ xây nông thôn mới



Về nơi lãnh đạo huyện cho vay tiền tỷ xây nông thôn mới

http://www.tienphong.vn/xa-hoi/ve-noi-lanh-dao-huyen-cho-vay-tien-ty-xay-nong-thon-moi-1014282.tpo

Khó hình dung nổi, huyện Phước Long xa xôi, hẻo lánh, còn nghèo đã lột xác thành huyện nông thôn mới đầu tiên, nức tiếng khắp vùng nhưng để nợ khủng. Trong đó, lãnh đạo chủ chốt huyện Phước Long lúc bấy giờ cho vay xây dựng nông thôn mới tiền tỷ, cộng lãi càng tăng gánh nặng ngân sách.



Một trong những khu vườn ông Trần Hoàng Duyên mà người dân gọi là “Vườn thượng uyển Bí thư”.



Vì sao cán bộ nơi “Cánh đồng Chó ngáp” lại có cả chục tỷ đồng cho vay? Ông Phạm Văn Thiều, Trưởng Ban tổ chức Tỉnh ủy Bạc Liêu nói: “Những cán bộ này có kê khai tài sản thì do sở nội vụ nắm”. 

Phóng viên Tiền Phong liên hệ với Sở Nội vụ, Ủy ban Kiểm tra tỉnh Bạc Liêu đều không trả lời vì “bí mật nội bộ” nên đành tìm về Phước Long.


Về trang trại nguyên Bí thư

Gọi vào số máy, ông Trần Hoàng Duyên (Út Duyên), nguyên Bí thư Huyện ủy Phước Long, sống có vẻ khép kín từ khi bị rút về tỉnh, không hồ hởi như ngày nào: “Tôi đang ở nhà, chưa được phân làm gì, chờ giải quyết. Tập thể xử sao chịu vậy, không có gì để nói trong lúc này!”.
Rồi ông Duyên cúp máy, chắc ông đang ở ngôi nhà cấp 4, tại thị trấn Phước Long, được hóa giá. Nhưng đất đai ông nguyên Bí thư thì người dân nói rất nhiều.
Tại thị trấn Phước Long, ông Duyên có khu đất rộng, kín cổng cao tường, có người canh giữ, trông coi. Một người dân ở gần nói: “Bà con tôi gọi là “Vườn thượng uyển Bí thư” nhưng không ai biết trong đó làm gì, trồng cây gì. Thỉnh thoảng, người giúp việc mang đồ vào, chắc có lẽ nuôi cá sấu”.
Men theo con đường bê tông ngoằn ngoèo, chạy ra ngoại ô thị trấn Phước Long, trang trại của Nguyên Bí thư Trần Hoàng Duyên ở ấp Phước Thạnh, xã Phước Long. Trang trại của Bí thư Duyên trải dài mấy chục mét theo bờ một con kinh, được trồng hàng cây xanh tôt.
Dưới hàng cây cổ thụ, nhà cửa, sân bãi, lán trại, chuồng cá sấu nối tiếp. Trang trại cá sấu của ông Duyên  sử dụng lao động của 5 gia đình ruột rà với ông. Anh Nguyễn Văn Dương, xưng là em vợ ông Duyên, cho biết cá sấu nuôi xen nhiều lứa, có bán quanh năm, kiếm vài tỷ đồng.
Liền kề với trang trại cá sấu vài ngàn con là 20 ha vuông tôm quảng canh cải tiến.
Trang trại của ông  Phan Thành Đông, Chủ tịch UBND huyện Phước Long,  ở ấp Long Hải, thị trấn Phước Long, gần 10 ha sản xuất tôm - lúa. Trang trại tôm - lúa của ông Đông nhờ người cháu quản lý, trông coi. Tranh thủ lúc rảnh, tối tối ông chạy xe máy đến trang trại tính chuyện làm ăn với con cháu” - anh Trương Văn Lợi, người nhận là cháu ông Đông, nói. Được biết, ngôi nhà 5 tầng cao nhất thị trấn này chính là tư gia của vợ chồng ông Đông.
Ông Lâm Thành Sáo, Phó Bí thư, Chủ tịch HĐND huyện Phước Long cũng không kém cạnh ngoài nhà cao cửa rộng, còn có nhà cho thuê làm trụ sở ngân hàng, rồi gần 10 ha trồng tràm, làm lúa và nuôi cá sấu, do vợ quản lý, thu hơn 1 tỷ đồng mỗi năm.

Huyện nông thôn mới đầm đìa nợ

Khi được chọn làm huyện điểm xây dựng nông thôn mới, lãnh đạo huyện Phước Long triển khai ồ ạt các công trình xây dựng, báo cáo thành tích ghi tổng giá trị lên đến 5.000 tỷ đồng. Cố chạy theo thành tích, huyện Phước Long ngập trong nợ vì kêu gọi các nhà thầu bỏ vốn xây trước.

Nhà riêng ông Phan Thành Đông, Chủ tịch UBND huyện Phước Long cao nhất tại thị trấn Phước Long.

Cụ thể, năm 2013, nợ đọng khoảng 124 tỷ đồng, đến năm sau tăng lên hơn 211 tỷ đồng và đến cuối năm 2015 con số này là gần 400 tỷ đồng. Lãnh đạo huyện lúc bấy giờ tạm ứng ngân sách trả tiền mua vật tư, chỉ định thầu, không đấu thầu cạnh tranh.
Cao điểm xây dựng nông thôn mới năm 2013-2014, ông Trần Hoàng Duyên là Bí thư Huyện ủy, ông Phan Thành Đông là Phó Chủ tịch nay là Chủ tịch, ông Lâm Thành Sáo, Phó Chủ tịch nay là Phó Bí thư, Chủ tịch HĐND huyện Phước Long đều vừa chỉ đạo vừa ứng tiền tỷ trong túi ra cho huyện vay xây nông thôn mới.
Khi ngân sách rót về huyện Phước Long, đã chuyển trả cho vợ chồng ông Trần Hoàng Duyên gần 11,717 tỷ đồng, rồi chuyển trả cho ông Lâm Thành Sáo trên 5,5 tỷ đồng, chuyển cho ông Phan Thành Đông 1,4 tỷ đồng... Ông Trần Hoàng Duyên cho biết, có thời điểm cho ngân sách vay đến 13,450 tỷ đồng.
Hiện ngân sách huyện vẫn còn nợ ông Trần Hoàng Duyên 2 tỷ đồng dù ông đã thu lãi được 267 triệu đồng. Ông Lâm Thành Sáo cho vay 5,3 tỷ đồng, thu lãi được là 216 triệu đồng và ông Phan Thành Đông cho vay 1,4 tỷ đồng, thu lãi 80 triệu đồng.
 Hiện nay, huyện Phước Long nợ lương giáo viên, cán bộ công chức hơn 4 tháng, khoảng 100 tỷ đồng, nợ tiền xây dựng cơ bản hơn 200 tỷ đồng, trong khi thu ngân sách khoảng 50 tỷ đồng/năm.

____________________________________________

Ngày 9/6, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bạc Liêu triển khai quyết định kỷ luật cảnh cáo về Đảng đối ông Phan Thành Đông, Phó bí thư, Chủ tịch UBND huyện và Lâm Thành Sáo, Phó bí thư, Chủ tịch HĐND huyện Phước Long. Dự kiến, ngày 10/6, BCH Tỉnh ủy Bạc Liêu xem xét kỷ luật ông Trần Hoàng Duyên, nguyên Bí thư Huyện ủy Phước Long do nôn nóng xây dựng nông thôn mới, xảy ra nợ đọng kéo dài lên đến 400 tỷ đồng.

Ông Trần Hoàng Duyên cho huyện vay trên 13,450 tỷ đồng, đã trả hơn 11,717 tỷ đồng, còn nợ 2 tỷ tiền vốn và lãi trên 260 triệu đồng. Ông Lâm Thành Sáo cho huyện vay trên 5,3 tỷ đồng, đã lấy lại vốn và nhận tiền lãi 216 triệu đồng. Ông Phan Thành Đông cho huyện vay 1,4 tỷ đồng, đã lấy lãi 80 triệu đồng.



........./.

“DI SẢN” CỦA ÔNG PHÓ CHỦ TỊCH


“DI SẢN” CỦA ÔNG PHÓ CHỦ TỊCH

http://thanhnien.vn/thoi-su/xe-tu-nhan-gan-bien-so-xanh-va-di-san-cua-pho-chu-tich-hau-giang-709466.html






Ông Trịnh Xuân Thanh (50 tuổi, quê ở H.Đông Anh, TP.Hà Nội) từng tốt nghiệp Đại học Kiến trúc và giữ nhiều chức vụ khác nhau tại Tổng công ty Sông Hồng. Năm 2007, ông Thanh được điều về làm Phó tổng giám đốc Tổng công ty CP xây lắp dầu khí VN (PVC) - Tập đoàn dầu khí quốc gia VN, đến năm 2009 được bổ nhiệm làm Chủ tịch HĐQT PVC.






Từng được phong danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới năm 2011 nhưng PVC rơi vào thua lỗ liên tiếp các năm 2012 - 2013. Báo cáo của ban kiểm soát tại Hội đồng cổ đông thường niên của PVC năm 2014 cho biết năm 2013 PVC thua lỗ 2.228,5 tỉ đồng, trong đó riêng công ty mẹ lỗ 1.927 tỉ đồng. Lũy kế cuối năm 2013, công ty mẹ - PVC lỗ hơn 3.262 tỉ đồng.

Trong năm 2013, hoạt động sản xuất kinh doanh tại các công ty con của PVC gặp rất nhiều khó khăn, nhiều đơn vị gần như không có việc làm.

Dưới thời điều hành của Chủ tịch Trịnh Xuân Thanh, PVC sử dụng phần lớn vốn điều lệ (3.428,68 tỉ đồng/4.000 tỉ đồng vốn điều lệ, tương đương 85,72%) đầu tư góp vốn vào các công ty con, công ty liên kết. Tuy nhiên, báo cáo của ban kiểm soát cho hay việc chỉ đạo và giám sát hoạt động của các đơn vị còn yếu, hiệu quả vốn đầu tư thấp. Đặc biệt từ cuối năm 2011, khi nền kinh tế khủng hoảng, các đơn vị bộc lộ toàn bộ các yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn đến tình trạng thua lỗ. Riêng năm 2012, một số dự án trọng điểm bị ngừng, giãn tiến độ hoặc vướng mắc chưa triển khai được khiến PVC thua lỗ hơn 1.848 tỉ đồng.


Trong khi PVC rơi vào tình cảnh thua lỗ trầm trọng và có nguy cơ mất vốn, thì ông Thanh bất ngờ rời ghế lãnh đạo doanh nghiệp và được Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng bổ nhiệm làm Phó chánh văn phòng Bộ - Trưởng đại diện Văn phòng miền Trung của Bộ Công thương tại Đà Nẵng vào tháng 9.2013.

Cùng với sự “chuyển ngành” của ông Trịnh Xuân Thanh, ông Vũ Đức Thuận, Tổng giám đốc PVC, cũng được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Sở GTVT Thái Bình, trước khi về làm Chánh văn phòng Bộ GTVT.
Đến tháng 1.2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tại hội nghị tổng kết công tác năm 2013 và triển khai kế hoạch năm 2014 của Tập đoàn dầu khí quốc gia VN (PVN), đã yêu cầu PVN phải kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của tập thể và từng cá nhân trong việc kinh doanh thua lỗ của PVC, gây khó khăn cho PVN, cần xử lý nghiêm các hành vi sai phạm, báo cáo Bộ Công thương và yêu cầu Bộ xem xét, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Thế nhưng, một tháng sau chỉ đạo này của Thủ tướng, ông Trịnh Xuân Thanh tiếp tục được Bộ trưởng Bộ Công thương bổ nhiệm lên chức vụ cao hơn: Vụ trưởng - Trưởng ban Đổi mới doanh nghiệp Bộ Công thương.

Và trong khi kết luận về trách nhiệm với vai trò người đứng đầu của PVC liên quan đến các khoản thua lỗ hàng nghìn tỉ đồng cho đến tận giờ vẫn chưa được công bố công khai, thì tháng 5.2015, ông Trịnh Xuân Thanh tiếp tục được luân chuyển làm Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang.


********************************************************

THÁNG 1.2014, HÀNG CHỤC CÁN BỘ CHỦ CHỐT
CỦA PVC -ME  ĐÃ BỊ KHỞI TỐ ĐIỀU TRA VỀ CÁC
HÀNH VI LẬP VÀ KÝ KHỐNG MỘT LOẠT HỢP ĐỒNG, 
CHỨNG TỪ THANH TOÁN, RÚT GẦN 100 TỈ ĐỒNG
ĐỂ TIÊU XÀI TẠI CÁC CÔNG TRÌNH LỚN NHƯ
DỰ ÁN NHÀ MÁY ETHANOL PHÚ THỌ, NHÀ MÁY
PVTEX HẢI PHÒNG, NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN VŨNG ÁNG...


********************************************************

Theo báo cáo tài chính của PVC, tính đến đầu năm 2013, tổng công ty này đã đầu tư vào 16 công ty con, 13 công ty liên kết, liên doanh, đầu tư tài chính dài hạn vào 15 công ty. Tuy nhiên, đa số các công ty mà PVC góp vốn, thậm chí còn âm vốn chủ sở hữu như PVC - ME, PVC - Hà Nội, PVC - Miền Trung, PVC - Land, PVC Thanh Hóa, Xi măng Hạ Long, PVC Sài Gòn...

Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước về kết quả quản lý vốn doanh nghiệp nhà nước năm 2012 cũng cho hay, nhiều công ty liên doanh, liên kết của PVC thua lỗ, mất vốn như Công ty liên kết PVC - SG lỗ 85,8 tỉ đồng (PVC đầu tư 83,8 tỉ đồng), PVC - Land lỗ 66,4 tỉ đồng (PVC đầu tư 203 tỉ đồng), Công ty Sopewaco lỗ 48,5 tỉ đồng (PVC đầu tư 10,2 tỉ đồng), Công ty CP xi măng Hạ Long lỗ lũy kế đến hết 2011 là 1.090 tỉ đồng, vượt vốn điều lệ (PVC đầu tư 147,3 tỉ đồng vào Công ty CP xi măng Hạ Long)..


............/.


...Bỏ biên chế



Bỏ biên chế để giảm gánh nặng 11 triệu người ăn lương nhà nước

http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/309270/bo-bien-che-de-giam-ganh-nang-11-trieu-nguoi-an-luong-nha-nuoc.html


40 người nuôi một công chức, nuôi sao nổi
Bà Phạm Chi Lan nói: “Bộ máy nhà nước của chúng ta hiện nay có khoảng 2,8 triệu cán bộ, công chức (CBCC), viên chức. Nếu cộng cả đối tượng nghỉ hưu, các đối tượng khác hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách nhà nước (NSNN), con số này lên tới 7,5 triệu người, chiếm 8,3% dân số cả nước. 
Còn nếu cộng toàn bộ số người hưởng lương và mang tính chất lương thì con số này lên tới 11 triệu người. Không ngân sách nào nuôi nổi bộ máy ăn lương lớn như vậy.

Nước Mỹ có diện tích lớn xấp xỉ 30 lần nước ta, dân số gần gấp 4 lần, nhưng đội ngũ công chức của họ chỉ có 2,1 triệu. Nhìn sang Trung Quốc thì chúng ta thấy đội ngũ công chức của họ cũng chỉ chiếm 2,8% dân số.
Như vậy, chúng ta thấy 160 người dân Mỹ chỉ nuôi một công chức, trong khi đó 40 người dân Việt Nam phải nuôi một công chức. Đó là chưa kể người dân chúng ta phải gánh chịu tình trạng quan liêu, sách nhiễu, vòi vĩnh, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ trong số 2,8 triệu công chức này.
Hàng năm trung bình chi thường xuyên của Việt Nam ở mức 68-69% tổng chi ngân sách, có lúc lên đến 72% tổng chi ngân sách. Năm nay Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký phê duyệt chi thường xuyên có ít hơn đôi chút, nhưng vẫn ở con số 65%. Khoảng 30% dùng để trả nợ. Đầu tư cho phát triển năm nay chỉ vào khoảng 17%.

[...]

KHÔNG GIẢM ĐƯỢC THÌ BỎ HẲN BIÊN CHẾ ĐI

Vấn đề cải cách hành chính, giảm biên chế, giảm số người hưởng lương từ NSNN đã nhiều lần được nói tới. Tuy nhiên qua 4 lần cải cách, số CBCC không những không giảm mà còn phình to hơn. Chẳng lẽ chúng ta bó tay?

Tôi hỏi nhiều người là liệu có thể giảm biên chế được không, họ đều nói là không thể giảm được.

Chỉ có một cách thôi. Đó là bỏ hẳn biên chế đi.


Chuyển sang chế độ hợp đồng lao động. Đây không phải là vấn đề gì mới mẻ. Trong vòng 20 năm trở lại đây các chuyên gia đã nói nhiều rồi. 
Công chức suốt đời sẽ là vật cản cho phát triển. Cần phải chuyển đổi hình thức biên chế, hợp đồng suốt đời trên cơ sở luật công chức mới. Thay vào “biên chế suốt đời” phải xác định vị trí, việc làm trên cơ sở đó đặt chuẩn cho người làm việc ở vị trí ấy.
Trong chế độ công chức hiện đại, công chức khi vào một vị trí nào đó, họ phù hợp với vị trí ấy về trình độ đào tạo, kinh nghiệm chuyên môn của họ. Chúng ta phải hướng tới một nền công vụ hiện đại như vậy. 
Nhiều nước người ta đã làm như vậy rồi. Ví dụ như từ những năm 2000, New Zealand đã thực hiện rồi. Họ chỉ có hợp đồng công chức chứ không có biên chế suốt đời. Thậm chí, từ cấp thứ trưởng trở xuống cũng chỉ hợp đồng thôi.
Một nền hành chính công vụ hiện đại, chuyên nghiệp phải bảo đảm được sự năng động, thay đổi, không phải “anh” vào công chức rồi thì cứ ung dung “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về” cũng chả ai làm gì được.


Nếu thực hiện được như bà nói thì quỹ lương sẽ được phân bổ như thế nào, theo bà?

Thực hiện chế độ khoán quỹ lương gắn với giao nhiệm vụ. Ví dụ: Bộ trưởng, Chủ tịch UBND tỉnh, Vụ trưởng, Cục trưởng cần bao nhiêu người thì ký hợp đồng bấy nhiêu, ai giỏi trả lương cao họ sẽ làm, không giỏi thì tự bỏ, hoàn thành nhiệm vụ mới trả lương, không thì không trả, như vậy chỉ có cán bộ giỏi, không có cán bộ yếu kém. 
Và như vậy thì cán bộ giỏi mới không bỏ cơ quan ra làm cho các công ty tư nhân hay  nước ngoài.
Thủ trưởng cơ quan toàn quyền quyết định việc lương cao hay lương thấp. Nếu nhiệm vụ giao không hoàn thành thì xuất toán. Như thế thì con ông cháu cha, hay ê kíp này nọ cũng không quan trọng nữa, miễn là cạnh tranh lành mạnh, thi nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Cán bộ đoàn vì nước, vì dân phải biết hy sinh quyền lợi của mình

Thưa bà, ai cũng biết các tổ chức chính trị, tổ chức đoàn thể, hội, hiệp hội cũng đang là “gánh nặng” cho NSNN, nhưng không phải ai cũng hiểu tường tận “gánh nặng” đó như thế nào. Bà có thể cho biết khái quát được không?


Theo Dự toán chi ngân sách Trung ương năm 2016 được Bộ Tài chính công khai trên website của bộ này thì, tổng chi cho các cơ quan trung ương của 6 tổ chức chính trị - xã hội tới 1.503,740 tỉ đồng, gồm
Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam (92,435 tỉ đồng);
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (551,505 tỉ đồng);
Trung ương Hội LHPN Việt Nam (158,685 tỉ đồng);
Hội Nông dân Việt Nam (346,515 tỉ đồng);
Hội CCB Việt Nam (80,830 tỉ đồng);
Tổng LĐLĐ Việt Nam (273,770 tỉ đồng).
Nếu tính luôn cả dự toán ngân sách cho Liên minh Hợp tác xã Việt Nam thì tổng chi lên đến 1.615,710 tỉ đồng.
Tuy nhiên, đây mới là phần thông tin chi cho các hội, đoàn thể được công khai.
Còn rất nhiều hội đặc thù, ở cả Trung ương và địa phương cũng được ngân sách tài trợ một phần, nhưng chưa được công khai trong dữ liệu của Bộ Tài chính, từ Liên đoàn Bóng đá Việt Nam đến Hội Đông y, Hội Khuyến học, Hội Người cao tuổi, Hội Người mù và rất nhiều hội đoàn khác.

Một trong những nghiên cứu hiếm hoi về ngân sách cho các hội, đoàn thể của Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR), ngân sách (ước tính) chi khoảng 14.000 tỉ đồng cho toàn bộ khối này, tức là lớn hơn dự toán ngân sách năm 2016 của Bộ NN&PTNT (khoảng 11.000 tỉ đồng), một bộ được coi là siêu bộ, gần gấp đôi ngân sách của Bộ Giáo dục và Bộ Y tế, chỉ thua Bộ LĐTB&XH, và Bộ Tài Chính.
Nghiên cứu này cũng ước tính, nếu tính đủ cả chi phí kinh tế - xã hội, tức là gồm cả đất đai, nhà cửa, xe cộ và các tài sản khác, chi phí toàn hệ thống của các tổ chức hội đoàn này hàng năm dao động từ 45.600 - 68.100 tỷ đồng, tương đương 1-1,7% GDP. 
Hầu hết các hệ thống hội đoàn, trong đó đặc biệt là các tổ chức chính trị- xã hội, được tổ chức theo mô hình hành chính, có biên chế, nhà cửa, trụ sở, xe cộ, với hệ thống tổ chức và mô hình hoạt động hầu như không thay đổi từ thời bao cấp đến nay.

Để giảm gánh nặng cho NSNN, đồng thời cũng “trả lại” vai trò thực chất của các tổ chức đoàn thể, hội, hiệp hội như thời kỳ ban đầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương là “Hội đoàn thể thành lập trên cơ sở tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kinh phí hoạt động”. Theo bà, phải chăng đã đến lúc phải nghiêm túc thực hiện chủ trương này?

Từ nhiều năm nay các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách đã đặt ra những yêu cầu xác đáng về chuyển các hội đoàn thành những tổ chức tự nguyện, phục vụ nhu cầu của các nhóm cộng đồng. 
Hội đoàn phải tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kinh phí hoạt động, bằng cách gây quỹ từ cộng đồng, tìm tài trợ, hội phí. 
Nhà nước có thể tài trợ một phần kinh phí hoạt động, nhưng là tài trợ dựa trên các tiêu chí rõ ràng và minh bạch, trên cơ sở cạnh tranh và xét đến hiệu quả hoạt động của từng hội đoàn cụ thể.
Ở nhiều quốc gia khác các tổ chức chính trị có thể phải khai thuế và nộp nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách, hoặc phải dựa vào nguồn thu được cung cấp từ khu vực xã hội dân sự.
Đã đến lúc chúng ta phải quyết tâm thực hiện cho được vấn đề này, nhất là trong bối cảnh nợ công đang ngày càng gia tăng, nguồn thu lại eo hẹp, hết sức khó khăn, chi thường xuyên lại ngày một gia tăng.

Nếu thực hiện điều này thì sẽ có hàng triệu cán bộ của các khối đoàn thể, hội, hiệp hội mất việc làm. Liệu đây có là “áp lực chính trị” đối với xã hội không, thưa bà?
Cán bộ khối đoàn thể cũng giống như những CBCC ở các tổ chức nhà nước khác thôi. Tại sao CBCC thì giảm biên chế được mà cán bộ của khối đoàn thể thì không? Nếu họ thực sự là vì Đảng, vì dân, vì đất nước thì họ phải biết hy sinh quyền lợi của mình như những công dân khác. 
Còn đương nhiên, khi chuyển sang chế độ tự chủ như vậy phải có lộ trình để các tổ chức này thích nghi dần với việc không còn được bấu víu vào “bầu sữa” NSNN nữa. 
Để thực hiện được vấn đề này phải có một quyết tâm chính trị rất cao của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng.

Cần "Khoán 10"

Ở thời điểm cực kỳ khó khăn về lương thực thì ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (thường gọi là khoán 10) đã làm nên bước đột phá trong nông nghiệp nước nhà, từ chỗ thiếu ăn Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn. Có thể nói hiện nay chúng ta cũng đang ở thực trạng của những năm 80 về thu, chi NSNN. Liệu chúng ta có cần một “Khoán 10” trong giảm bộ máy hưởng lương từ NSNN?
Ngày 17/4/2015, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã nhận được quan tâm đặc biệt của dư luận cả nước.
Bộ Chính trị, Trung ương đã đánh giá một cách toàn diện và thực chất vấn đề về đội ngũ CBCC, viên chức của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta cần đẩy mạnh, đẩy nhanh hơn nữa cuộc cải cách này. Nợ công tăng cao, nguồn thu đang gặp rất nhiều khó khăn, đầu tư thì thất thoát lớn… 
Tuy nhiên đây cũng là cơ hội để Đảng và Nhà nước ta tiến hành cải cách một cách triệt để công cuộc CCHC và giảm số người hưởng lương từ NSNN và có nguồn từ NSNN. Và rất có thể, cần một “Khoán 10” như đã nói.

Theo VietTimes


 ....../.

MÓN NỢ KHÔNG THỂ ĐÒI






MÓN NỢ KHÔNG THỂ ĐÒI
Nguyễn Ngọc Tư


https://www.facebook.com/nguyenngoc4/?fref=nf

Ảnh đại diện của Nguyễn Ngọc Tư

Mẹ đi đằng trước, con lẽo đẽo theo sau, buổi chợ sớm mai thưa người nhưng chộn rộn vì những câu hỏi ríu ran của thằng nhỏ. Mẹ ơi, con cá gì mà có cái mỏ dài quá vậy, thằng con chỉ tay vào con... vịt, hỏi. Nhưng khi mẹ trả lời đấy là con vịt, nó giãy nảy, con vịt phải có lông chứ. Dằng dặc sau đó là những câu hỏi khác, tại sao con cá kia lại nằm im re, vì sao nó chết, ai làm nó chết. Tại sao cọng rau này màu tím còn rau kia màu xanh. Mẹ vẫn nhẫn nại trả lời con và diễn đạt làm sao cho giản dị, dễ hiểu. Chỉ câu hỏi: “Mẹ ơi, tại sao người ta đem bán cá em bé? Sao người ta không cho cá em bé đi học mẫu giáo mà ăn thịt tụi nó làm chi, tội nghiệp...”, mẹ phải ngẩn ra rất lâu, phân vân tìm câu trả lời.
Nhưng không thể lờ đi, vì thằng con ngước con mắt đầy vẻ xót thương nhìn mẹ, như chờ đợi, như van xin, như cầu cứu. Trong cái thau gần đầy nước, hàng triệu con cá con (mà thằng nhỏ xem như bạn đồng trang lứa với nó) đang chen chúc nhau đớp không khí một cách tuyệt vọng. Lứa cá nhỏ hơn đầu đũa này thường là từ 15-30 ngày tuổi, người ta gọi là rồng rồng. Hơi giống trẻ con, lúc mới chào đời rồng rồng có màu đỏ, và ngả sang đen khi chúng lớn dần lên. Lúc ấy, chúng sẽ từ bỏ cái tên cúng cơm của mình, xúng xính với tên mới: cá lóc.
Rồng rồng được cá mẹ sinh khi trời bắt đầu rải xuống những sợi mưa. Nước hớn hở dâng lên, tắm mát những ao, đìa đã mỏi mê vì những ngày khô kiệt. Sấm chớp vẫn lừ đừ, gầm gừ trong những đám mây nặng trĩu nước. Sa mưa! Những nụ mầm mới bắt đầu nhú lên trên những cọng rau muống, rau đắng, rau ngổ... già nua. Những sinh vật của ruộng đồng như cá, ếch... vào mùa sinh sản. Lúc này, trong ao hay xuất hiện những bầy rồng rồng - những quầng đỏ lâm nhâm trên mặt nước, to như cái nia, di chuyển lấp lánh, nhịp nhàng.
Đây cũng là khoảng thời gian mẹ đi chợ, hay thấy lòng buồn rợn ngợp. Đầu chợ là cá rồng rồng, cuối chợ cũng cá rồng rồng. Trên nền chợ đẫm nước, bên mớ rau đồng xanh non, là những con ếch, nhái đã bị lột da tuyệt vọng chắp tay lạy lia lịa, ọc ạch nhảy trên mâm, na cái bụng trứng lặc lè. Ai cũng có thể nhìn thấy muôn vạn hạt trứng nhỏ lấm tấm bên trong. Dài theo lối đi, người ta bày bán mấy con cá lóc ốm nhom vật vờ bên cạnh lũ cá rô, cũng lép kẹp, chỉ bụng là quá khổ vì phải bọc lấy trứng. Cá quãng này ăn không béo, nhiều nhớt, tanh, thịt cứng, dai nhách. Dường như lũ cá đã cố ép xác, tự làm mình xấu đi, già đi, nhếch nhác, xóa dấu của sự hấp dẫn để bảo vệ lũ con sắp chào đời nhưng cũng không thoát khỏi bàn tay của con người.
Nhưng giữa chợ đời, chẳng mấy ai để tâm mà cám cảnh cho phận rồng rồng, cho con cá... có bầu, như mẹ. Hay ai cũng thấy bất nhẫn, nhưng họ cũng im lặng làm ngơ, như mẹ. Khi lấy đũa gắp mớ rồng rồng kho tiêu thơm lựng, họ cũng thấy áy náy, quá nhiều sinh vật mất cơ hội sống chỉ vì một miếng ăn của con người? Hay họ vô tư, chẳng nghĩ gì cả, bằng chứng là những sinh vật tội nghiệp ấy đã bị tận diệt hết sa mưa này đến sa mưa khác, bất chấp lệnh cấm của chính quyền (cũng phải, ngang nhiên bày bán mà có thấy ông chính quyền nào lên tiếng đâu, mắc gì phải sợ).
Mẹ đắn đo rất lâu, mẹ sợ suy nghĩ kia được nói nên lời sẽ là quá tàn nhẫn đối với đứa trẻ. Cuối cùng, mẹ nói, tại bà con mình còn nghèo. Vì nghèo, nên phải dầm mình kéo từng bầy rồng rồng, lội ròng rãi trên khắp đồng bãi tìm bắt từng con nhái, con ếch để đổi lấy ít gạo. Vì nghèo, nên đang cạy cơm cháy bữa sáng đã lo ngay ngáy bữa chiều, hơi sức đâu nghĩ tới tương lai xa vời. Và vì bụng chưa no, nên những gì người ta rao trên đài, nào là phát triển và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, giữ gìn hệ sinh thái... chỉ là những ngôn ngữ xa vời.
Mẹ buộc phải nói những điều quá phức tạp, đối với thằng con năm tuổi. Nhưng đó là câu trả lời bao dung nhất, ít đau đớn nhất... Chắc chắn, lớn lên nó sẽ hiểu. Chỉ sợ, lúc đó, những sản vật của ao đồng trở thành hàng quý hiếm. Và vĩnh viễn thằng con không biết âm thanh ếch, nhái kêu ran ngoài đồng sau mưa, cảnh cá rô, thác lác ục sôi dưới đìa mùa hạn, tiếng cá lóc táp lụp bụp như dừa rụng xuống ao.
Tất cả những thứ ấy, như một món nợ mà lớp con cháu không thể đòi lại từ những thế hệ đi trước. Có trả nổi đâu mà đòi...







......./.

VỀ TRƯỜNG HỢP BOB KERREY





VỀ TRƯỜNG HỢP BOB KERREY



Nguyên Ngọc





Những ngày qua, trên các báo và các trang mạng, nhiều người đã lên tiếng tranh cãi về việc cựu chiến binh Mỹ Bob Kerrey được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Tín thác của trường Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) mà chúng ta đều mong đợi với rất nhiều hy vọng, mới được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tranh cãi đến nay chưa xong.
Quả thật Bob Kerrey là một nhân vật không hề đơn giản. Và cũng có thể, trong một chừng mực nhất định, trường hợp của ông là rất tiêu biểu cho việc, dù muốn hay không, thì ta vẫn còn phải nghĩ rất nhiều và cố mà thấu hiểu hơn nữa về cuộc chiến tranh đã qua. Về những con người, từng con người, đã đi qua cái lò lửa địa ngục ấy, bị nó đốt cháy và trui rèn. Số phận của họ, nỗi đau và trằn trọc không dễ nguôi của họ. Nhất là những người còn sống sót và đang đối mặt với cuộc sống hôm nay.


Tôi, tôi cũng từng đi qua đó, và nay còn sống sót. Nên tôi cũng muốn hiểu. Tôi quan tâm đến Bob Kerrey, trường hợp kinh hoàng của ông ngày ấy, và cuộc đối mặt của ông hôm nay với thách thức ông đang đảm nhận. Và cũng muốn tự nghĩ cả về chính mình.
Nhiều người đã nói các chi tiết rồi, tôi chỉ xin nhắc lại vắn tắt: Đầu năm 1969, Bob Kerrey là đại úy, chỉ huy một trung đội SEALs, kiểu đơn vị biệt kích tinh nhuệ nhất hải quân Mỹ. Phân đội của ông được báo có lãnh đạo cao cấp của Việt cộng sẽ họp cùng bí thư chi bộ địa phương ở Thạnh Phong, một ấp nhỏ ven biển thuộc tỉnh Bến Tre. Ông cho đơn vị của mình tập kích vào Thạnh Phong. Ông nói rằng ông không tự tay giết người, điều ấy có thể tin, một người chỉ huy không nhất thiết phải tự mình bắn. Nhưng ông thừa nhận ông chịu trách nhiệm toàn bộ: họ đã giết chết 24 người, trong đó có 14 phụ nữ và trẻ em cùng một ông già. Bob nói: “Cuối cùng vẫn là những người phụ nữ đã chết, những đứa trẻ đã chết… vẫn là cái chết.” Và là tội ác. “Tội lỗi đối với tôi là cảm giác đầy hủy diệt…”. Suốt 32 năm nay. Suốt đời…
Sau chiến tranh, Bob Kerrey từng là thượng nghị sĩ, là thống đốc bang, là ứng viên tổng thống Hoa Kỳ, và trên tất cả các cương vị đó, ông đã có đóng góp quan trọng và lâu dài cho quan hệ Việt – Mỹ và trao đổi giáo dục giữa hai nước, ông cũng là một trong những nhân vật hàng đầu thiết kế chương trình kiên trì suốt nhiều năm cho sự ra đời của FUV hôm nay. Có thể nói không quá, ông đã làm tất cả cho Việt Nam, cho giáo dục Việt Nam… Nhưng chưa bao giờ ông coi là có thể bù đắp tội lỗi đã gây ra.
Tôi chưa từng gặp Bob Kerrey, nhưng tôi may mắn có một người bạn thân, Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard, Chủ tịch Quỹ Sáng kiến Đại học Việt Nam (the Trust for University Innovation in Vietnam – TUIV), đơn vị chịu trách nhiệm huy động vốn để đầu tư cho FUV, cũng là người đã trực tiếp chọn Bob Kerry cho vị trí Chủ tịch Hội đồng Tín thác FUV. Thomas Vallely kể với tôi rằng, khi những người bạn cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam của Bob Kerrey là thượng nghị sĩ McCain và ngoại trưởng John Kerry đến gặp Bob để giúp ông trước nỗi ám ánh tội lỗi đeo đẳng, thì Bob đưa ra cho các bạn một yêu cầu buộc họ phải cam đoan: tuyệt đối không được bào chữa cho ông! Tôi nói với Thomas Vallely: “Vậy thì ông đã chọn rất đúng người lãnh đạo FUV!”.
Tôi cũng nói với Vallely rằng, nhưng phần tôi, là một người cũng từng có mặt trong suốt cuộc chiến tranh ấy, tôi thấy tôi cũng có bổn phận nói điều này khi tôi đọc được câu Bob Kerrey trả lời phóng viên Vietnamnet. Ông nói: “Hành động của tôi ở Việt Nam là kinh khủng và tôi tin đã được điều tra kĩ càng. Đó không phải là Mỹ Lai. Tuy nhiên, như bộ phim tài liệu sẽ sớm được phát của Ken Burns cho thấy: Chiến thuật của chúng tôi đã khiến ít nhất một triệu người vô tội thiệt mạng.”
Bob Kerrey không để cho ai bào chữa cũng quyết không tự bào chữa cho mình, ông biết ông là một tội phạm không cầu mong được tha thứ, nhưng đồng thời bằng trải nghiệm đau đớn nhất của mình, ông cũng chỉ ra mâu thuẫn chết người trong cái mà ông gọi là “chiến thuật của chúng tôi”, tức của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam: để tiêu diệt Việt Cộng phải đánh bật họ ra khỏi dân thường, ra khỏi “phụ nữ và trẻ con” (còn được gọi là chiến thuật “tát nước để bắt cá”). Mà điều ấy là vô phương, bởi vì, đặc biệt ở nông thôn, thời ấy, hai thực thể đó về căn bản là một.
Không thể đánh trúng cái này mà không đánh trúng cái kia! Không thể diệt Việt Cộng mà không giết dân, đàn bà và trẻ con!
Cho nên, cho phép tôi nói điều này: Bob Kerrey là tội phạm, điều ấy ông đã đau đớn nhận, nhưng ông cũng là nạn nhân. Nạn nhân bi thảm của cái “chiến thuật” nghe rất hay ho kia.
Bob Kerrey nhận ra mâu thuẫn chết người ở chiến thuật ấy, nhưng không dùng nó để bào chữa cho mình. Điều đó là vĩ đại.
FUV có được một người đứng đầu như vậy là tuyệt đẹp. Và tôi cho lựa chọn của FUV là thật nhân văn.

Còn riêng đối với chúng tôi thì sao, chúng tôi, những người từng là lính Việt Cộng thời thảm khốc ấy, khi chúng tôi vẫn từng “nấp” trong nhân dân vô tội, để họ có thể cùng chết với chúng tôi? Kể cả, ngày ấy, như chính tôi từng được trải nghiệm, có bao bà mẹ, và cả các em bé nữa, sẵn sàng chết để che cho chúng tôi?

Hóa ra tự chúng tôi cũng còn một câu hỏi…

2-6-2016


.............../.