THƯ CỦA MỘT NÔNG DÂN GỞI TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG



Kính gởi: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng


Tôi tên là Huỳnh Kim Hải, một nông dân làm lúa ở tỉnh Đồng Tháp thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long, có viết một số bài báo để đòi hỏi quyền lợi của nông dân với bút danh Hoàng Kim (Đồng Tháp).
Đầu thư, tôi kính chúc Tổng Bí thư và gia đình được nhiều sức khỏe.

Kính thưa Tổng Bí thư,
Thời Báo Kinh tế Việt Nam Online cho biết trong buổi làm việc hôm 13/9 tại Trung ương Hội Nông dân Việt Nam: “Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị các đại biểu làm rõ thêm nhiều vấn đề. Trong đó có chất lượng, tình hình công ăn việc làm, đời sống vật chất của nông dân; nhận thức, giác ngộ chính trị, ý thức làm chủ của nông dân ra sao, hiện nay nông dân đang có tâm tư, nguyện vọng, đòi hỏi gì đối với Đảng, Nhà nước?”.
Nông dân chúng tôi rất vui mừng, vì Tổng Bí thư quan tâm đến sản xuất, đến đời sống, và tâm tư nguyện vọng của nông dân chúng tôi.
Thế nhưng, đọc Kiến nghị của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam với Đảng, Nhà nước đăng trên báo Dân Việt Online, và một số báo khác, nông dân chúng tôi nhận thấy: ông Nguyễn Quốc Cường Chủ tịch Hội Nông dân, nói những điều mà Tổng Bí thư muốn nghe, chứ không phải những điều mà Tổng Bí thư cần phải biết.
Thưa Tổng Bí thư,
Nông dân chúng tôi hiện không có chỗ để nói, vì Hội Nông dân không phải của nông dân, vậy nếu muốn biết tình cảnh của nông dân xin Tổng Bí thư hãy đến cùng nông dân chúng tôi, xin hãy thân hành mà đến với nông dân để biết sự thật, còn nếu hỏi Hội Nông dân, hay những nông dân mà hội này giới thiệu thì Tổng Bí thư sẽ không bao giờ biết sự thật của nông dân
Vì vậy, tôi mạo muội viết bức thư này gởi đến Tổng Bí thư, như là một sự phản ảnh, báo cáo từ thực tế, như là một sự giãi bày của nông dân với lãnh đạo, với mong muốn: nói cho Tổng Bí thư hiểu rõ về tình cảnh của nông dân hiện nay; trong mong ước: từ thực tế mà nông dân chúng tôi trình bày, Tổng Bí thư hoàn chỉnh Nghị quyết Tam Nông để giúp nông dân thoát nghèo.
Ông bà chúng ta nói rằng: “sự thật mất lòng”. Sự thật thường khó nghe. Vì thế, xin Tổng Bí thư tha lỗi vì những sự thật đầy bức xúc mà tôi trình ra đây.
Kính thưa Tổng Bí thư,
Tôi xin được trình lên Tổng Bí thư một thực trạng đáng buồn trong việc sản xuất và tiêu thụ lúa gạo: Chính phủ đã bỏ rơi nông dân, nên nông dân đang “tự bơi” trong một nền nông nghiệp tự phát, dưới sự bóc lột của các nhóm lợi ích là các hiệp hội ngành hàng, còn Hội Nông dân không phải của nông dân nên không quan tâm bảo vệ quyền lợi cho nông dân. Tôi xin được trình bày cụ thể:

Chính phủ bỏ rơi nông dân
Là một người làm lúa trên 20 năm, tôi xin được thưa với Tổng Bí thư rằng: từ trước đến nay, nông dân chúng tôi hầu như không nhận được những chính sách phát triển lúa gạo có hiệu quả nào từ Chính phủ, những chính sách của Chính phủ chỉ dừng lại ở mức độ xóa đói giảm nghèo.
Chính phủ nói nhiều đến việc cơ giới hóa sản xuất lúa từ 20 năm nay, nhưng Chính phủ không hề có chính sách chế tạo máy móc để cơ giới hóa:
Về khâu làm đất nông dân chúng tôi gian nan trong thời gian dài vì thiếu sức kéo, đến khi máy kéo loại nhỏ, đã qua sử dụng, giá rẻ của Nhật Bản được nhập qua, phù hợp với túi tiền của nông dân, chúng tôi mới cơ giới hóa được khâu làm đất.
Về việc cơ giới hóa khâu thu hoạch cũng vậy, Chính phủ đề ra việc cơ giới hóa khâu thu hoạch, nhưng không có kế hoạch chế tạo máy gặt đập liên hợp, khi hãng Kubota qua Việt Nam bán máy gặt đập liên hợp vài năm gần đây, việc cơ giới hóa khâu thu hoạch mới phát triển mạnh mẽ.
Nếu Tổng Bí thư hỏi ông Bộ trưởng Bộ Công thương rằng Việt Nam ta đang xuất khẩu hàng năm loại gạo gì, số lượng và chủng loại ra sao, tôi dám chắc ông Bộ trưởng Bộ Công thương không trả lời được, vì hiện nay, Hiệp hội Lương thực Việt Nam mua gạo từ thương lái, rồi trộn lẫn các loại gạo với nhau, để xuất với tên gọi gạo trắng hạt dài, phân biệt bởi phần trăm tấm.
Nếu Tổng Bí thư hỏi ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc qui hoạch cơ cấu giống lúa cho nông dân, ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng sẽ không trả lời được, vì Bộ Nông nghiệp có biết chủng loại và số lượng gạo xuất khẩu hàng năm ra sao mà lập kế hoạch cơ cấu giống, với lại, Bộ Nông nghiệp cũng chẳng biết giá từng loại lúa thay đổi ra sao vào vụ thu hoạch sắp tới, thì làm sao mà dám quy hoạch cơ cấu giống. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ khuyến cáo nông dân cách chọn giống trên báo, trên đài còn nông dân nghe hay không tùy ý.
Không những không có chính sách phát triển sản xuất, việc bán lúa gạo giúp cho nông dân Chính phủ cũng không làm được.
Chính phủ giao toàn quyền mua bán lúa gạo cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam là một hiệp hội ngành hàng hoạt động vì lợi nhuận, thế nên, Hiệp hội Lương thực Việt Nam bán gạo xuất khẩu với giá rẻ nhất thế giới, rồi quay vào mua lúa tạm trữ của nông dân với giá rẻ như lấy không.
Ngày 4/11/2010 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Nghị định số 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, có hiệu lực từ ngày 1/1/2011. Nông dân chúng tôi xin thưa với Tổng Bí thư rằng đây là một Nghị định quan liêu và vô trách nhiệm đối với quyền lợi của nông dân, vì Nghị định không hề quan tâm đến giá bán gạo xuất khẩu và giá thu mua lúa, tức là không quan tâm đến thu nhập của nông dân.
Nghị định quan liêu vô trách nhiệm này có hiệu lực từ ngày 1/1/2011, vậy mà mãi cho đến ngày 17/6/2011 Bộ Tài chính mới ban hành Thông tư số 89/2011/ TT-BTC về cách tính giá sàn xuất khẩu gạo, nhưng phải tới 1/8/2011 mới có hiệu lực. Như vậy từ ngày 1/1/2011 đến ngày 1/8/2011 giá sàn xuất khẩu gạo do ai tính và tính ra sao? Từ ngày 1/8 đến nay cũng không thấy ai công bố giá sàn gạo xuất khẩu cả.
Thông tư số 89/2011/TT-BTC là hỗn mang của những ẩn số không đầu không đuôi, tôi dám cam đoan với Tổng Bí thư là chẳng thể dựa vào 2 cách tính trong Thông tư này để tính được giá sàn xuất khẩu gạo.
Không những không giúp được nông dân trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, Chính phủ lại bắt nông dân chúng tôi dùng thu nhập còm cõi của mình để chống lạm phát cho Chính phủ, bằng cách khống chế giá lúa gạo để chống lạm phát.
Việt Nam và Thái Lan xuất khẩu trên 50% lượng gạo thế giới. Thái Lan từ nhiều năm nay, nhiều lần đề nghị hợp tác với Việt Nam để ấn định giá bán gạo trên thị trường thế giới. Vậy mà, Chính phủ Việt Nam luôn từ chối. Năm nay, Chính phủ Thái Lan nâng mức mua lúa cho nông dân Thái Lan lên khoảng 500 đô la Mỹ / tấn, vậy mà Việt Nam năm 2011 này vẫn bán gạo với giá khoảng 500 đô la Mỹ / tấn.
Tôi xin trình lên Tổng Bí thư phát biểu của ông Nguyễn Thành Biên Thứ trưởng Bộ Công thương, kiêm Tổ trưởng Tổ xuất khẩu gạo của Chính phủ, để Tổng Bí thư hiểu vì sao Chính phủ Việt Nam không hợp tác với Chính phủ Thái Lan ấn định giá bán gạo xuất khẩu: “Trong những tháng cuối năm, mục tiêu kiềm chế lạm phát là quan trọng nên điều hành lúa gạo phải hướng tới mục tiêu này, không thể chạy theo mục tiêu đảm bảo có lãi cao cho nông dân”.

Nông dân đang tự bơi
Bị Chính phủ bỏ rơi, nên nông dân chúng tôi phải “tự bơi” để sản xuất, mà “ tự bơi” thì cực khổ, thiệt hại kể làm sao cho xiết!
Trình độ học vấn cấp 1, cấp 2 mà phải lao vào nghiên cứu cải tiến máy móc để phục vụ sản xuất: nông dân làm máy cấy, nông dân làm máy gặt đập liên hợp, nông dân làm máy phun thuốc trừ sâu, nông dân làm máy tách vỏ dừa, nông dân làm máy tách vỏ đậu phộng… thì thất bại ê chề mà thành công hãn hữu.
Thế nhưng, khi thành công cũng không được lợi ích gì.
Tôi xin được lấy việc chế tạo máy gặt đập liên hợp làm thí dụ: phải có tài năng và dũng cảm chấp nhận hao công, tốn của nông dân mới có thể làm ra được máy gặt đập liên hợp, nhưng do thực hiện thủ công với vật liệu tự tìm nên hay hỏng hóc trong quá trình sử dụng. Thế rồi, hãng Kubota vào Việt Nam sản xuất máy gặt đập liên hợp, máy được sản xuất hàng loạt, vật liệu có độ bền cao, sử dụng ít hỏng hóc, dể mua phụ tùng, nên dù giá cao vẫn chiếm lĩnh thị trường.
Từng nông dân sản xuất thủ công, cạnh tranh với hãng Kubota nổi tiếng, khác nào trứng chọi với đá. Và như vậy công sức của nông dân chế tạo máy gặt đập liên hợp dù thành công, đã đổ xuống sông xuống biển, vì không thể cạnh tranh nổi với máy của hãng Kubota.
Thưa Tổng Bí thư,
Vào năm 2004, Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Thái Lan đã soạn thảo chiến lược lúa gạo giai đoạn 2004- 2008. Đây là chiến lược nhằm hoạch định đường lối nâng cao hiệu quả phát triển lúa gạo của Thái Lan trong những năm trước mắt. Bản dự thảo gồm 5 lĩnh vực: 1/ Nâng cao năng suất; 2/ Nâng cao giá trị; 3/ Tiếp thị quy mô toàn cầu; 4/ Đảm bảo đời sống người lao động và tránh rủi ro; 5/ Nâng cao hiệu quả dịch vụ.
Còn ở Việt Nam, từ trước đến nay: trồng giống gì, và bán ra sao là tự nông dân.
Do Bộ Công thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không biết mỗi năm bán loại lúa gì, số lượng ra sao, nên nông dân chúng tôi đang phải tự chọn giống lúa theo kiểu hên xui để gieo sạ. Tôi xin lấy thí dụ: lúa thơm Jasmin 85 có năm hơn lúa ngang IR 50404 đến 1.500 đồng/kg, nhưng có năm chỉ hơn 200 đồng/kg.
Cho nên nông dân hiện đang chọn giống gì, trồng cây gì: cũng chết!
Sản xuất đã tự bơi còn việc tiêu thụ sản phẩm lại thê thảm hơn. Nông dân làm ra lúa gạo, nhưng không có quyền ấn định giá mua bán lúa gạo.
Hiệp hội Lương thực Việt Nam được Chính phủ giao độc quyền mua bán lúa gạo, lại luôn bán gạo xuất khẩu với giá rẻ nhất thế giới, rồi quay trở vào trong nước bày kế mua lúa tạm trữ, để ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân.
Thưa Tổng Bí thư. Xuất khẩu gạo mà không có kho chứa lúa gạo thì làm sao điều tiết được quá trình xuất khẩu, làm sao giữ lúa gạo chờ giá, làm sao không bị khách hàng ép giá. Vậy mà, dù xuất khẩu gạo trên 20 năm nhưng Việt Nam không xây dựng đủ kho chứa lúa.
Thiếu kho chứa lúa, nhưng xi lô chứa lúa gạo hiện đại được xây dựng ở phường 11 thị xã Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp từ khi xây dựng lại bị bỏ hoang, đến hôm nay xi lô chứa lúa đã biến thành Xí nghiệp Sản xuất thức ăn thủy sản Sông Tiền.
clip_image002
Xi lô hiện đại ỏ Đồng Tháp đã biến thành xí nghiệp thức ăn thủy sản


Chính phủ các nước nhập khẩu gạo (điển hình là Philippines) trực tiếp điều hành việc nhập khẩu, với mục đích hạ giá gạo nhập khẩu. Chính phủ các nước xuất khẩu gạo (điển hình là Thái Lan) cũng trực tiếp điều hành việc xuất khẩu, mục đích là nâng cao giá bán gạo, còn ở Việt Nam, Chính phủ giao toàn quyền xuất khẩu gạo cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam, thế nhưng, Hiệp hội Lương thực Việt Nam do thu lợi nhuận đầu tấn nên không quan tâm gì đến giá bán gạo xuất khẩu. Như vậy, chẳng khác nào Chính phủ Việt Nam đang bắt từng nông dân phải cạnh tranh trong xuất khẩu gạo với Chính phủ các nước.
Là nước xuất khẩu gạo mà Chính phủ chẳng có cơ quan nào thực hiện việc phân tích và dự báo giá lúa gạo thế giới, chẳng có kho bãi để trữ lúa gạo chờ giá, Chính phủ giao hết việc mua bán lúa gạo cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam, mà Hiệp hội Lương thực Việt Nam chỉ biết bán lúa gạo theo kiểu sang tay, chẳng biết phân tích dự, báo giá gì cả.
Hay nói một cách hình tượng hơn: với cơ chế xuất khẩu gạo hiện nay, Chính phủ Việt Nam đang xô nông dân Việt Nam ra biển lớn trên xuồng ba lá.


Nền nông nghiệp Việt Nam đang tự phát
Chúng ta có một nền nông nghiệp, mà trong đó Chính phủ không có các chính sách phát triển nông nghiệp, Chính phủ giao cho các hiệp hội ngành hàng độc quyền mua bán lúa gạo, nông sản của nông dân, đổi lại, các hiệp hội ngành hàng khống chế giá lúa gạo, nông sản để giúp Chính phủ kiềm chế lạm phát.
Trong nền nông nghiệp Việt Nam hiện nay, các hiệp hội ngành hàng tước đoạt hết lợi nhuận của nông dân.
Được độc quyền các hiệp hội ngành hàng xuất khẩu nông sản ở dạng thô để ăn chênh lệch đầu tấn, mà không hề quan tâm đến việc nâng cao giá trị nông sản, không xây dựng các nhà máy chế biến, không xây dựng kho bãi, không tạo thương hiệu cho nông sản.
Việt Nam có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới như: gạo, cà phê, cao su, tiêu, điều… thế nhưng trên 90% hàng nông sản xuất khẩu ở dạng thô, giá rất rẻ so với giá mặt hàng cùng loại của nước khác.
Điển hình như gạo, Việt Nam xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới, thời gian xuất khẩu trên 20 năm, nhưng luôn bán gạo với giá rẻ nhất thế giới, thường xuyên rẻ hơn gạo cùng loại của Thái Lan Từ 100 – 150 đô la Mỹ/tấn. Vậy mà, Chính phủ chưa hề đề ra bất cứ chính sách nào để tăng giá trị hạt gạo.
Trồng cây gì, nuôi con gì đều do nông dân tự ý chọn lựa, bán được hay không là do hên xui, may nhờ rủi chịu, chứ nền nông nghiệp không phát triển dựa trên kế hoạch nào cả, Chính phủ không đề ra được bất cứ chính sách phát triển nông nghiệp nào cả.
Khi có dịch bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa, các bộ ngành và các nhà khoa học đều đồng loạt khuyến cáo không nên trồng lúa vụ 3 để cắt dịch bệnh. Thế nhưng hiện nay, diện tích lúa vụ 3 đã tăng lên khoảng 600.000 ha.
Tại sao lại đắp đê để độc canh 3 vụ lúa bấp bênh? Tại sao không thực hiện 2 vụ lúa 1 vụ màu?
Trồng không biết nên trồng giống gì, cây gì. Nuôi không biết nên nuôi con gì. Bán cũng không biết sẽ bán cho ai, giá cả ra sao. Đó là thực trạng của nền nông nghiệp Việt Nam.


Các hiệp hội ngành hàng tước đoạt hết lợi nhuận của nông dân
Chính phủ phát triển nông nghiệp bằng cách dựa hẳn vào các hiệp hội ngành hàng, bắt các hiệp hội ngành hàng làm thay nhiệm vụ cùa Chính phủ. Đổi lại, Chính phủ cho phép hiệp hội ngành hàng độc quyền mua bán các sản phẩm nông nghiệp, vì thế, lợi dụng sự độc quyền này, các hiệp hội ngành hàng tước đoạt hết lợi nhuận của nông dân.
Tôi xin được phép trình lên Tổng Bí thư cách thức buôn bán lúa gạo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam ( Hiệp hội Cà phê Ca cao hoạt động rất giống với Hiệp hội Lương thực Việt Nam)
Hiệp hội Lương thực Việt Nam luôn bán gạo với giá rẻ nhất thế giới:
Báo Tuổi trẻ Online cho biết: “Trong vòng 5 năm 2001-2005 “giá của chúng ta chỉ bằng gần 80% giá bình quân thế giới (220USD/tấn). Đó là giá bán “bèo” nhất trong số 5 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới (xét theo khối lượng) theo thứ tự là Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Pakistan”.
Năm 2006, trong một bài trả lời phỏng vấn trên báo VnExpress, ông Trương Thanh Phong, Tổng giám đốc Công ty Lương thực miền Nam kiêm Chủ tịch VFA, cho biết: “Chỉ trong một thời gian ngắn từ mức giá hơn 260 USD/tấn, loại gạo 5 % tấm liên tục rớt giá và hiện được doanh nghiệp ký bán với giá chỉ 242 – 245 USD/tấn. trong khi giá thành loại gạo này lên đến 248 USD/tấn”.
Năm 2008, ngừng xuất khẩu gạo vì lý do an ninh lương thực, giá gạo xuất khẩu giảm, theo các chuyên gia nông dân thiệt khoảng nửa tỷ đô la Mỹ.
Ngày 21.8.2009 báo Lao động Online cho biết: “Nghịch lý ở chỗ "làm chủ" thị trường gạo, nhưng hiện giá gạo của ta vẫn thấp nhất thế giới...”.
Bán gạo giá đã rẻ nhất thế giới, nhưng không mua lúa cho nông dân từ giá bán gạo này, Hiệp hội Lương thực Việt Nam bày mưu mua lúa tạm trữ, để ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân:
Năm 2008 Hiệp hội Lương thực Việt Nam bán gạo xuất khẩu giá qui ra giá lúa 6.432 đồng/kg, mua lúa nông dân với giá 4.000 đồng/kg. Hiệp hội lời 2.432 đồng/kg, nông dân bán lúa hòa vốn.
Năm 2009, bán gạo xuất khẩu qui lúa giá 6.362 đồng/kg, mua lúa của nông dân với giá 4.000 đồng/kg. Hiệp hội lời 2.362 đồng/kg, nông dân hòa vốn.
Năm 2010, Hiệp hội Lương thực Việt Nam mua lúa tạm trữ cả hai vụ đông xuân và hè thu với giá vẫn 4.000 đồng/kg, nhưng bán gạo với giá qui lúa 5.365 đồng/kg, cả năm này, nông dân lời không đủ sống.
Thật là đau xót khi thưa với Tổng Bí thư rằng: chỉ cần Chính phủ lãnh đạo việc mua bán lúa gạo hiệu quả thì từ năm 2008 đến nay, nông dân luôn bán lúa với giá khoảng 6.000 đồng/kg chứ không phải trồi sụt ở mức 4.000 đồng/kg như hiện nay.
Cùng là mặt hàng bình ổn nhưng khi phân bón tăng giá Chính phủ chẳng hề bình ổn, Hiệp hội Phân bón muốn tăng giá bao nhiêu thì tăng.
Thuốc bảo vệ thực vật cũng vậy, các công ty, xí nghiệp muốn tăng bao nhiêu thì tăng, Chính phủ chẳng kiểm tra kiểm soát gì cả.


Hội Nông dân là của Nhà nước nên chẳng quan tâm gì đến nông dân
Mua bán lúa gạo Hiệp hội Lương thực Việt Nam độc quyền, có 21 vị ủy viên ấn định giá lúa gạo. Mua bán cà phê có Hiệp hội Cà phê Ca cao độc quyền, có 20 vị trong câu lạc bộ 20 ấn định giá mua bán cà phê.
Hội Nông dân đại diện cho tất cả nông dân trồng nhiều loại cây và nuôi nhiều loại con, thế nhưng Hội Nông dân là của Nhà nước chứ chẳng phải của nông dân.
Thực tế hiện nay, cơ quan làm việc của Hội Nông dân do Nhà nước cấp, nhân sự do Nhà nước bổ nhiệm, tiền lương do Nhà nước phát, công việc do Nhà nước phân công, cho nên, Hội Nông dân chỉ làm những việc có tính phong trào, mà không quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ quyền lợi của nông dân trong kinh tế thị trường.
Ở địa phương tôi, năm 1998, UBND xã đến tận nhà phát cho một số nông dân thẻ hội viên Hội Nông dân, rồi từ đó đến nay không hề họp hội gì cả, bản thân tôi đã 20 năm làm lúa mà không biết mình có phải là hội viên Hội Nông dân hay không.
Do lãnh đạo Hội Nông dân là nhân viên của Nhà nước, nên Chính phủ làm sao họ để vậy, không bao giờ dám có ý kiến bảo vệ quyền lợi cho nông dân. Chính phủ khống chế giá lúa gạo để chống lạm phát lãnh đạo Hội nông dân nghe theo, Hiệp hội Lương thực Việt Nam bày ra việc mua lúa tạm trữ để ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân, Hội Nông dân làm thinh…
Trong kinh tế thị trường, Hội Nông dân không bảo vệ quyền lợi của nông dân thì ai sẽ bảo vệ quyền lợi cho nông dân? Hội Nông dân không phản ánh tâm tư nguyện vọng của nông dân lên Đảng và Nhà nước, thì làm sao Đảng và Nhà nước biết tâm tư nguyện vọng của nông dân?
Thưa Tổng Bí thư. Tôi đã trình lên Tổng Bí thư thực trạng bi đát: nông dân đang càng ngày càng nghèo, và sự tự phát của nền nông nghiệp với biểu hiện xuất khẩu thô nông sản.
Với mong ước Tổng Bí thư thay mặt Đảng và Nhà nước thực hiện thành công Nghị quyết Tam Nông, tôi xin được đề đạt lên Tổng Bí thư tâm tư, nguyện vọng và những yêu cầu của nông dân đối với Đảng và Nhà nước.


Xin Tổng Bí thư thay đổi tư duy của Chính phủ
Xin Tổng Bí thư thay đổi tư duy của Chính phủ, làm cho Chính phủ thực sự quan tâm đến quyền lợi của nông dân, đến sự phát triển của nền nông nghiệp, đến việc thực hiện Nghị quyết Tam Nông.
Chính phủ hiện nay có tư duy khống chế giá lúa gạo để chống lạm phát (khống chế cả giá lương thực, thực phẩm), vì thế, Chính phủ để cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam bán gạo với giá rẻ nhất thế giới, và mua lúa của nông dân với giá thấp như lấy không. Xin Tổng Bí thư xóa bỏ tư duy khống chế giá lúa gạo của Chính phủ.
Thái Lan đang thực hiện chính sách mua lúa giá cao cho nông dân, nhưng vẫn đảm bảo cho người ăn gạo, vẫn đảm bảo chống lạm phát, chứ đâu có khống chế giá lúa gạo như Chính phủ Việt Nam.
Chính phủ có tư duy bao đồng trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho thế giới: sang Campuchia rồi sang châu Phi lập liên doanh trồng lúa, để dạy các nước trồng lúa, mà không nghĩ đến việc sẽ thu hẹp thị trường xuất khẩu gạo của nông dân và tạo thêm đối thủ cạnh tranh xuất khẩu gạo cho nông dân Việt Nam. Xin Tổng Bí thư nghiêm cấm mọi hoạt động lập liên doanh dạy nước ngoài làm lúa.


Xin Tổng Bí thư thay đổi cơ chế mua bán lúa gạo bất nhân, bất trí, và bất lương hiện nay
Cơ chế mua bán lúa gạo hiện nay mà Chính phủ giao cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam thực hiện: bất nhân vì làm cho nông dân càng ngày càng nghèo, bất trí vì bán gạo với giá rẻ nhất thế giới, bất lương vì ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân. Xin Tổng Bí thư tháo ách bóc lột của Hiệp hội lương thực Việt Nam với nông dân mà Chính phủ đang quàng lên cổ nông dân.
Điều kiện tiên quyết để xuất khẩu gạo thành công là phải có kho bãi liên hợp với nhà máy xay lúa và máy sấy. Không có đủ kho bãi chỉ nói thánh nói tướng cho vui chứ Chính phủ không thể lãnh đạo được xuất khẩu gạo.


Xin Tổng Bí thư trả lại Hội Nông dân cho nông dân
Điều kiện tiên quyết để Hội Nông dân của nông dân là: lãnh đạo Hội Nông dân phải do nông dân bầu ra, lương do nông dân cấp phát.
Hội Nông dân phải là của nông dân mới bảo vệ được quyền lợi của nông dân trong kinh tế thị trường.
Lãnh đạo Hội Nông dân phải là nông dân hoặc những chuyên gia am tường về nông nghiệp có thiện ý với nông dân, có hai người thích hợp lãnh đạo hội nông dân đó là: Giáo sư Võ Tòng Xuân (đối ngoại) và Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT (đối nội).

Hiện nay, lãnh đạo Hội Nông dân do Chính phủ phân công, tiền lương do Chính phủ trả, cơ quan do Chính phủ cấp, thế nên Hội Nông dân là của Chính phủ chứ chẳng phải của nông dân.
Xin Tổng Bí thư trả Hội Nông dân lại cho nông dân, và giúp đỡ Hội nông dân của nông dân hoạt động hiệu quả trong cơ chế thị trường.
Cụ thể hơn, xin Tổng Bí thư giúp thành lập Hiệp hội của những người trồng lúa để bảo vệ quyền lợi cho người nông dân trồng lúa chúng tôi.



Xin Tổng Bí thư xóa bỏ việc độc quyền của các hiệp hội ngành hàng đối với lúa gạo và nông sản
Hiệp hội Lương thực Việt Nam độc quyền mua bán lúa gạo nên năm nào cũng ép giá, thắt hầu bóp cổ nông dân. Hiệp hội Phân bón và các Công ty thuốc bảo vệ thực vật năm nào cũng tăng giá sản phẩm để móc túi nông dân.
Nếu không xóa bỏ sự độc quyền ép giá của các hiệp hội này, nông dân chúng tôi sẽ không ngóc đầu lên nổi.
Xin Tổng Bí thư xóa bỏ độc quyền của các hiệp hội ngành hàng và có cơ chế kiểm tra, giám sát về giá đối với phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
Xin Tổng Bí thư ra lệnh tổng kiểm toán để biết lợi nhuận hàng năm của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Hiệp hội Phân bón, và các Công ty sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, từ đó thu lại lợi nhuận bất chính mà các hiệp hội này đã tước đoạt của nông dân (như năm 2008 Hiệp hội Lương thực Việt Nam bán lúa giá 6.432 đồng nhưng mua lúa của nông dân có 4.000 đồng/kg).
Xin Tổng Bí thư xem xét hình mẫu mà Chính phủ Thái Lan lo cho nông dân Thái Lan. Xin Tổng Bí thư buộc Chính phủ Việt Nam phải trực tiếp điều hành mua bán lúa gạo vì quyền lợi của nông dân như Chính phủ Thái Lan đang làm.


Xin Tổng Bí thư yêu cầu Chinh phủ đưa ra các chính sách phát triển nông nghiệp và xuất khẩu nông sản hiệu quả
Việc sản xuất lúa nói riêng và nền nông nghiệp Việt Nam nói chung đang phát triển theo kiểu tự phát. Xin Tổng Bí thư yêu cầu Chính phủ đề ra chiến lược lúa gạo và những chính sách phát triển nông nghiệp hiệu quả.
Để phát triển nông nghiệp, Chính phủ phải có những chính sách cụ thể, chứ không thể dựa hoàn toàn vào các hiệp hội ngành hàng.
Các chính sách phát triển nông nghiệp dài hạn là cần thiết, nhưng phải có những chính sách ngắn hạn kèm theo, chính sách phát triển nông nghiệp mà đưa ra cho tới năm 2030, nhưng không biết năm 2012 làm gì, thì cũng như không, do chẳng ai kiểm tra được.


Xin Tổng Bí thư cho phép nông dân quyền sở hữu ruộng đất của mình
Hiện nay, quyền sử dụng đất của nông dân chúng tôi cũng tương đương với quyền sở hữu: nông dân có quyền mua bán, trao đổi, cho tặng… Thế nhưng, đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước.
Trước đây, Việt Nam chỉ kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, mọi tư liệu sản xuất đều là của nhà nước, nên đất đai thuộc sở hữu nhà nước là điều hợp lý.
Nông dân chúng tôi làm lúa, sau khi để lại đủ ăn cho đến thu hoạch vụ sau, số lúa dư bán cho nhà nước và nhận tem phiếu để mua các mặt hàng nhu yếu phẩm. Nông dân đi học, đi bệnh viện không tốn tiền.
Nay, mọi tư liệu sản xuất đã được tư hữu hóa, nông dân phải bỏ tiền ra mua mọi mặt hàng nhu yếu theo giá thị trường, đi học, đi bệnh viện phải tốn tiền, vậy giữ nguyên quy định đất đai thuộc sở hữu Nhà nước tức là không công bằng đối với nông dân.
Mọi thành phần kinh tế đều có quyền tư hữu về tư liệu sản xuất, công nhân có quyền tư hữu xí nghiệp và nhà máy thông qua hình thức cổ phần, nhà tư bản được quyền tư hữu nhà máy và xí nghiệp, vậy tại sao nông dân không có quyền tư hữu về tư liệu sản xuất là ruộng đất của mình?
Mọi thành phần kinh tế đều là hữu sản, tại sao chỉ có nông dân vẩn là vô sản?
Nhà nước lớn sở hữu ruộng đất của nông dân chúng tôi, thì cũng không khác gì nông dân sở hữu, thế nhưng, Nhà nước nhỏ tức chính quyền cấp xã, huyện, tỉnh sở hữu ruộng đất của chúng tôi, chính là nguyên nhân sinh ra dân oan, dân khiếu kiện đông đúc hiện nay, vì nhà nước nhỏ rất khó thoát khỏi tham nhũng từ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân.
Còn nếu ngại khi nông dân được tư hữu hóa ruộng đất sẽ gây khó khăn cho việc quy hoạch và phát triển công nghiệp, phát triển thành thị là một lo ngại không đúng. Thái Lan nông dân họ tư hữu ruộng đất, nhưng Chính phủ Thái Lan vẫn phát triển công nghiệp hóa và thành thị hóa nông thôn mà không có trở ngại gì.
Thưa Tổng Bí thư,
Làm sao thực hiện được Nghị Quyết Tam Nông của Đảng khi mà thu nhập chính đáng của nông dân trong việc bán lúa bị Hiệp hội Lương thực Việt Nam tước đoạt trắng trợn và công khai?
Cuối cùng, xin Tổng Bí thư cho các chuyên gia về nông nghiệp của Đảng và Chính phủ, phân tích đến vạch lá tìm sâu những điều tôi vừa kính trình lên Tổng Bí thư, nếu có gì gian dối không đúng sự thật, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Tổng Bí thư và trước pháp luật.
Còn, nếu những điều tôi kính trình lên Tổng Bí thư là đúng, thì đây là tiếng kêu cứu của hàng triệu nông dân khốn khổ, càng ngày đang càng nghèo hơn một cách phi lý, không còn chỗ dựa, đang trông chờ Tổng Bí thư và Đảng cứu giúp.
Xin Đảng và Tổng Bí thư cứu giúp nông dân Việt Nam.


Người gởi thư,
HUỲNH KIM HẢI

Ghi chú:
Thư này tôi đã gởi cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bằng dịch vụ chuyển phát nhanh của bưu điện.



........../.

Người Phần Lan

Người Phần Lan nói sao làm vậy


http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan//Cuoc-song-muon-mau/517847/Nguoi-Phan-Lan-noi-sao-lam-vay.html





Chuyến đi thực địa tháng 9-2012 trong khuôn khổ một đề án nghiên cứu do Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục (IRED) tổ chức đã cho chúng tôi cơ hội tận mắt chứng kiến cuộc sống học đường, cách thức tổ chức giảng dạy, học tập của người Phần Lan.


Nơi chúng tôi chọn khảo sát là một trường tiểu học trong vùng Mohos, cách TP Oulu ở phía bắc Phần Lan khoảng 35km. Với người Phần Lan, đây là một ngôi trường nông thôn, có thể nói là “vùng sâu vùng xa”. Trong nhiều tuần, chúng tôi đã gặp gỡ, nói chuyện với các thành viên của trường như hiệu trưởng, giáo viên, học sinh, phụ huynh, thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu với một số nhân vật chủ chốt.

Những điều chúng tôi nghiệm thấy rõ nhất trong đợt khảo sát: người Phần Lan hầu như không có bệnh nói hay cày dở, không lý thuyết suông, không lý luận chủ nghĩa gì cao siêu, không có phong trào thi đua khen thưởng gì cả.
Các văn bản luật Phần Lan liên quan đến giáo dục viết ngắn gọn, rõ ràng. Trong văn bản quy định thế nào thì họ thực hành trong thực tế tại các trường như vậy. Tôi lấy vài ví dụ sau đây để chứng minh điều này.


Công bằng cơ hội

Luật giáo dục cơ bản Phần Lan quy định: “Mục tiêu của giáo dục là đảm bảo sự công bằng cơ hội trong giáo dục trong khắp cả nước” (điều 3). Thế là tại các trường học, người ta làm đúng như thế. Trong trường tiểu học chúng tôi quan sát có một học sinh lớp 1 bị khiếm thị, chỉ nhìn được 20%.
Để hỗ trợ học sinh này không thua kém bạn bè, nhà trường, với kinh phí của nhà nước (trung ương và địa phương), phải đầu tư riêng cho học sinh này một hệ thống điện tử trợ giúp đôi mắt, một bộ vi tính có chứa tất cả nội dung học tập để trợ giúp đôi tay (vì em này cầm bút không được), một trợ giáo ngồi sau lưng em trong lớp để kèm và giúp đỡ em ngoài sân chơi (công việc của trợ giáo này chủ yếu kèm riêng học sinh này).
Hội đồng quốc gia giáo dục Phần Lan đưa ra ba mức độ hỗ trợ dành cho tất cả học sinh, trong đó có chương trình hỗ trợ đặc biệt dành cho học sinh học yếu hay có các vấn đề về thể chất hoặc tâm lý. Với những học sinh này, giáo viên đứng lớp phải phối hợp với các chuyên gia giáo dục, với phụ huynh và các tổ chức an sinh xã hội, các câu lạc bộ địa phương để lên kế hoạch cho từng trường hợp, với mục tiêu giúp từng học sinh phát triển tối đa, xóa bỏ khoảng cách với các học sinh giỏi giang khỏe mạnh khác.


Trong ngôi trường chúng tôi đến có một chuyên gia giáo dục đặc biệt chuyên kèm 25 học sinh thuộc diện này của tất cả các lớp. Các học sinh này học với cô một tuần hai tiết, lớp học của cô tối đa bốn học sinh. Với kỹ năng của một chuyên gia được đào tạo, với sự hỗ trợ của các phương tiện sư phạm đặc biệt, các em vừa học vừa chơi, chơi nhưng để học, để thực hiện các bài tập.
Công bằng cơ hội là như vậy, những học sinh không may bị tật nguyền hay kém trí thì trách nhiệm của xã hội là phải tạo mọi điều kiện để các em cũng được nhìn, được viết, được hiểu như các bạn đồng lứa. Kết quả nghiên cứu của PISA (xem box) chỉ ra rằng ngoài chuyện học sinh Phần Lan luôn dẫn đầu thế giới, ở nước này khoảng cách giữa học sinh giỏi và chưa giỏi là không nhiều, chất lượng giữa trường TP và nông thôn không có khoảng cách là mấy.
Đây là hoa trái của những chính sách giáo dục đúng khiến nhiều quốc gia thèm thuồng.


Tự giáo dục - phát triển toàn diện

Luật giáo dục quy định: “... tạo những điều kiện cơ bản cho học sinh để các em tự tham gia vào giáo dục, cũng như tự phát triển bản thân trong suốt cuộc sống” (điều 2).
Người lớn Phần Lan làm đúng như thế.
Quan sát nhiều lớp học, chúng tôi thấy không có giáo viên nào giảng bài suông tổng cộng quá 15 phút cho một tiết dạy 45 phút. Các giáo viên thiết kế giáo án trong đó học sinh là trung tâm, tạo điều kiện cho học sinh tự làm việc một mình hay nhóm.
Một ví dụ về giờ dạy sử lớp 6: Mở đầu bài mới, học sinh được yêu cầu đọc to các đoạn trong sách giáo khoa, các em tự chia nhau đọc, em nào cũng có phần. Kế tiếp, giáo viên đặt các câu hỏi và dành thời gian cho học sinh tự suy nghĩ, sau đó rất nhiều học sinh giơ tay để trả lời. Dựa trên các câu trả lời, giáo viên giải thích và chỉnh lại, sau đó yêu cầu học sinh làm bài tập ngay tại lớp. Các em tự đọc lại tài liệu và điền vào chỗ trống trong cuốn bài tập. Học sinh ngồi gần nhau có thể trao đổi với nhau về nội dung các câu trả lời, trong khi giáo viên trả lời thắc mắc của một số học sinh khác.
Mấy hôm sau, chúng tôi quay lại giờ học sử kế tiếp của lớp 6 này thì thấy học sinh được chia nhóm, mỗi nhóm nhận một đề tài thuyết trình.




Các nhóm kiếm phòng trống trong trường để tự thực tập thuyết trình. Giáo viên giải thích với chúng tôi mục đích thuyết trình không chỉ liên quan đến kiến thức môn sử mà tập cho các em kỹ năng nói trước đám đông, kỹ năng tự nghiên cứu và thẩm tra các nguồn tài liệu, kỹ năng làm việc nhóm... Tạo điều kiện cho học sinh tự học là như thế, giáo dục toàn diện là như vậy.

Luật giáo dục cơ bản quy định hỗ trợ học sinh phát triển (phần 2 - điều 1) về mọi mặt, trong đó có phát triển về thể chất (phần 3 - điều 2).
Theo đó, học sinh được ăn trưa miễn phí ở trường, với bữa ăn được các chuyên gia dinh dưỡng tính toán cẩn thận, bởi chuyện ăn uống liên quan đến sức khỏe, sự phát triển thể chất và trí lực của học sinh nằm trong kế hoạch hành động nhằm đạt được mục tiêu giáo dục tổng thể. Ngoài chuyện ăn uống, các em còn được xe buýt đưa đi bơi hằng tuần, được chơi thể thao đủ mọi hình thức. Cách thức giáo dục thể chất của họ diễn ra như thế...


Thực học - thực làm

Học sinh Phần Lan học gì cũng học thiệt chứ không phải cưỡi ngựa xem hoa.
Trong giờ học thêu - môn thủ công, chúng tôi thấy cô trò cùng nhau thêu thùa các sản phẩm cụ thể với vật liệu và dụng cụ đầy đủ. Giờ học mộc, cũng trong chương trình môn thủ công, thầy trò hì hục bào, đục, cưa trong xưởng mộc của nhà trường, được trang bị đủ máy móc, dụng cụ, vật liệu không thua gì một xưởng mộc chuyên nghiệp bên ngoài. Học nhạc thì có đủ nhạc cụ, phục vụ năng khiếu của từng học sinh. Học về môi trường, giáo viên đưa học sinh vào rừng chơi các trò chơi, thông qua đó các em hiểu biết về đời sống động thực vật, tôn trọng môi trường thiên nhiên.
Tóm lại, người Phần Lan đưa ra mục tiêu chung của giáo dục phổ thông là: đào tạo học sinh phát triển toàn diện về sức khỏe, trí tuệ, có khả năng tự học suốt đời, khả năng phản biện, sáng tạo, tôn trọng sự đa dạng, sự khác biệt, mang các giá trị của xã hội dân chủ, công bằng và nhân quyền.
Những điều này thể hiện trong mục tiêu của từng vùng địa phương, từng trường học, thấm vào tư duy và hành động hằng ngày của hiệu trưởng, giáo viên, học sinh và phụ huynh, tạo ra một sự nhất trí chung thống nhất trong các văn bản chính thức cũng như thực tế. Tôi không thấy có khoảng cách giữa những gì được Luật giáo dục quy định và thực tế đang diễn ra.
Ở đây không có chuyện nói một đường làm một nẻo, không thấy bệnh thành tích, bệnh dối trá. Khác biệt với nền giáo dục Việt Nam là ở chỗ này.
Thành công của giáo dục phổ thông Phần Lan không những chỉ là việc liên tục đứng đầu trong các đợt thi PISA mà hơn thế, với những gì đang xảy ra trong thực tế, họ đào tạo được những công dân tương lai có đầy đủ tố chất cần thiết để bước vào đời, làm chủ cuộc sống bản thân và xã hội trong một thời đại cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Cũng bằng cách đó, họ duy trì và thúc đẩy sự phát triển, tạo ra được một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thật sự.

''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''

Ngay lần đầu tiên (năm 2000) Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International Student Assessment, PISA, nhằm đánh giá thành tích học đường của học sinh 15 tuổi ở các môn toán, khoa học và đọc hiểu) được Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thực hiện, Phần Lan đã dẫn đầu 32 nước tham gia.  

Năm 2006, nước này vẫn dẫn đầu 56 nước tham gia, mặc dù phải chia sẻ vị trí đứng đầu với các quốc gia và lãnh thổ châu Á như Hàn Quốc, Hong Kong về toán và đọc hiểu. 

Lần gần đây nhất (năm 2009), Phần Lan vẫn thuộc tốp đứng đầu trong tổng 65 nước tham gia.  


Thành công của giáo dục Phần Lan còn được tô đẹp bởi tựa đề các công trình nghiên cứu của những nhà nghiên cứu giáo dục trên khắp thế giới, chẳng hạn như: 

*The finnish primary school: ten elements of educational excellence (Nhà trường tiểu học Phần Lan: mười yếu tố của giáo dục trác việt) của Lynn Lahti Hommeyer (2010); 

*The secret to Finland’s success: educating teachers (Bí mật thành công của giáo dục Phần Lan: đào tạo các giáo viên) của Pasi Sahlberg (2010); 

*La Finlande: Un modèle éducatif pour la France? Les secrets d’une réussite (Phần Lan: một mô hình giáo dục cho nước Pháp? Những bí mật của một sự thành công) của Paul Robert (2010); 

*Reussite scolaire enquete PISA: le miracle finlandaise (Sự thành công học đường qua điều tra PISA: phép lạ Phần Lan) của Philippe Deraye (2008).


''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''

Bác sỹ Võ Văn Châu




NGƯỜI KHAI HOANG TRONG NGÀNH VI PHẪU

Nguyễn Thị Ngọc Hải thực hiện


Bác sỹ chuyên khoa 2 Võ Văn Châu, người đầu tiên thành lập đơn vị vi phẫu thuật của bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, khâu ngón tay chân đứt lìa. Ông đã từng tự chế dụng cụ để phẫu thuật trong những thời kỳ khó khăn. Giờ đây, dù đã rời chức vụ, ông làm việc cho nhiều bệnh viện như bệnh viện Nhân dân 115, Triều An…vẫn tiếp tục mổ dưới kính hiển vi những trường hợp phải khâu nối, xử lý những cấu trúc nhỏ như các mạch máu cứu các bộ phận cơ thể bệnh nhân. Ông đã từng nói, cố gắng để không còn “bò sau thế giới 20 năm.”
***********
PV: Người dân thường dễ hiểu với những chuyên khoa chữa các bệnh phổ biến như tim mạch, tiểu đường, hoặc ngành mổ xẻ, còn ít biết về vi phẫu thuật, BS có thể nói một cách thật dễ hiểu?
BS Võ Văn Châu: Trước đây quen gọi là vi phẫu thuật, nôm na là mổ những cái nho nhỏ. Giờ gọi là vi phẫu.Ta vẫn nghe trong phẫu thuật có đại phẫu, trung phẫu (ruột thừa, xương nhỏ…), tiểu phẫu (rách da, nốt ruồi..). Vi phẫu là phẫu thuật dưới kính hiển vi, khâu nối, bóc tách,cắt, xử lý cấu trúc thật nhỏ (có khi tới nửa milimet). Đây là một chuyên khoa sâu của chấn thương chỉnh hình..
PV: Báo chí gọi ông là “người khai hoang“. Như vậy trước đó, ngành này “bị bỏ hoang “sao? Do nhu cầu ít hay do chuyên môn kỹ thuật?
BS Châu: Theo tôi biết thì trên thế giới đã bắt đầu từ năm 1920, nhưng bỏ bẵng một thời gian, mãi năm 1960 mới nghiên cứu lại. Thời kỳ tôi làm, ở Việt Nam có 2 người :Hà Nội có GS Nguyễn Huy Phan học và nghiên cứu ở Liên xô về, áp dụng cho phẫu thuật hàm mặt ở bệnh viện 108. Tại Sài Gòn tôi là người đầu tiên nghiên cứu năm 1982, áp dụng vào khâu ngón chân tay đứt lìa. Trước đó không có ai làm.. Từ việc tự nghiên cứu, rồi được đi đào tạo tại Pháp với thày rất giỏi, tôi phổ biến cho các đồng nghiệp anh em bác sỹ nào có quan tâm, mở lớp chuyên nghành vi phẫu. Cho đến nay, các tỉnh từ Quảng Trị trở vào, đều có người theo học nhiều lớp. Chuyện khâu nối, anh em ở tỉnh cũng đã làm được.
PV: Có thể nói, bác sĩ đã khám phá từ một vùng đất hết sức trống trải để nay có ngành vi phẫu..Cái kính hiển vi do ông làm từ ống nhòm được dùng rất nhiều trong thời gian dài. Có người bảo chìa khóa mở ra nghành vi phẫu là từ sợi chỉ khâu do ông tự chế. Câu chuyện thế nào ạ?
BS Châu: Những năm 80 đó, đất nước nghèo khó. Lương bác sỹ 60 đồng, mà một sợi chỉ khâu nhập 17 đôla (đến bây giờ giá cũng còn 550 ngàn đồng, gần như 100% do Mỹ sản xuất ). Tôi phải dùng sợi chỉ thường ngâm, chế biến cho thành sợi chỉ phẫu thuật nhỏ như sợi tơ nhện đảm bảo đúng yêu cầu. Tôi dùng ống nhòm pháo binh thời chiến để chế ra kính mổ.Được dùng trong thực tế. Nghèo quá mà muốn có dụng cụ hành nghề nên tôi mày mò tự chế.
PV: Nghe nói BS được công nhận bằng sáng chế phát minh độc quyền?
BS Châu: (Cười lớn )Bằng sáng chế Quốc gia thì có thật, tôi nhận vào năm 1987. Nhưng không có chuyện độc quyền trong nghành y, vì sự nghiệp bảo vệ con người. Đã nhiều nơi sử dụng. Trong y khoa, ai tìm ra phương pháp, sáng kiến mọi người áp dụng chữa bệnh. Chỉ rieng những hình ảnh, thí dụ, chứng tỏ của tác giả, Những phương pháp kỹ thuật thì không độc quyền trong nghành y. Sáng chế chỉ khâu của tôi nhiều nơi áp dụng.Nhưng sau này hàng nhập bên ngoài dễ dàng. Năm 93-94 có rất nhiều rồi, khó khăn đã được giải quyết.
PV: Lúc đó ông nói mình cố “bò sau thế giới 20 năm“, bây giờ khoảng cách ấy được rút ngắn thế nào rồi?
BS Châu: Thế giới họ nghiên cứu vào năm 1960, mãi 1982 tôi mới bắt đầu, vậy là bò sau họ hơn 20 năm. Bây giờ dù đã tiến bộ, vi phẫu ở Việt Nam đã tiến hành được những loại phẫu thuật như các nước Âu Mỹ, nhưng chưa theo kịp họ về trình độ y tế, trang thiết bị dụng cụ và nghiên cứu cơ bản. Mình không phải dở, nhưng bị những giới hạn về tài chính.Những vấn đề kỹ thuật đỉnh cao còn nhiều cái khó. Mình cũng làm được nhưng ở mức độ thấp hơn. So với các nước khu vực, mình không kém.
PV: Xin bác sỹ cho biết một số ca khó mà ông đã làm gần đây?
BS Châu: Những trường hợp ngày càng phức tạp ta cũng giải quyết được nhiều rồi. Khâu nối đứt lìa chi. Rơi ngón tay cái, khâu lại cử động như bình thường. Có ca tôi lấy hai ngón chân đưa lên làm hai ngón tay. Một cô giáo được đưa ngón chân lên tay, sau 5 năm vẫn cử động bình thường, rất tốt…Không thể nhớ hết được các trường hợp.Một em bé cho tay vào máy cán đất làm gạch bị cán đứt tới vai, vậy mà người học trò của tôi khâu thành công. Có cả bệnh nhân từ Campuchia nửa đêm gọi, chúng tôi cũng bảo đưa qua để chữa.
PV: Vậy bây giờ, cái gì là khó nhất mà ông muốn chinh phục?
BS Châu: Có nhiều cái khó. Có thể nói cái gì cũng khó. Hiện nay tôi đang theo đuổi một việc khó mà một số nước không làm được, hoặc làm được ở mức độ thấp..
Đó là liệt mạng thần kinh cánh tay.
Chẳng hạn một ngừoi té xe, tay không cử động được, phải tái tạo ra sao.Có người mất gần hết bên tay, thế thì đời chỉ còn làm được mỗi việc đi bán vé số thôi chứ gì? Phải cứu chữa ra sao?. Đó là nói nôm na cho dễ hiểu thế thôi...Nhiều chuyện lắm Nhiều việc đặt ra. Kể cả chuyện đưa khơp ngón chân lên tay, thay thế khớp khuỷu… Tôi phải tìm ra một số phương pháp, những kỹ thuật đặc biệt khâu nối thần kinh, mạch máu. Mạng thần kinh cánh tay bị đứt, phải mổ, ghép giây thần kinh cho người ta sử dụng được tay. Nếu bệnh nhân đến sớm, lâu nhất trong vòng 6 tháng thì tốt, để lâu sẽ khó.Những tìm tòi này tôi dùng phổ biến theo cách nghề truyền nghề để áp dụng trong thực tế.
PV: Mạch máu, thần kinh chằng chịt, như hình ảnh mạng nhện các loại dây điện chăng khắp thành phố…Không hình dung nổi bác sỹ có thể nối ghép “mớ bùng nhùng“ đó. Bằng từ ngữ thông thường, ông có thể giải thích cho người trung bình có thể hình dung ra công việc của ông?
BS Châu: Ví với mạng điện thế đúng đấy. Ví đơn giản như máy phát điện truyền đến mô tơ, mở máy. Đứt trên cao thì như hư nhà máy phát điện, phải kéo dây cắm vào nhà máy khác. Từ máy phát điện lên lưới chia nhánh đến từng nhà.. Dây thần kinh cũng vậy. Năm nhánh cánh tay chạy đan xen đến cơ thể, chỉ huy các cử động. Có những bệnh nhân liệt mạng thần kinh cánh tay đã 20 năm…Những dây thần kinh thay đổi, thế mới khó.
PV: Đã phẫu thuật cho bệnh nhân nhiều năm. Nay bác sỹ đã lớn tuổi, lại mổ nối ghép những thứ nhỏ li ti, tuổi tác, có ảnh hưởng nhiều không?
BS Châu: Mắt tốt thì không lo, nhưng dù mắt tốt hay kém đi cũng đều nhìn qua kính lúp, hiển vi, trừ người chỉ còn 1 mắt mới không làm được. Nhìn 2 mắt nhìn ảnh nổi có độ sâu. Nhưng nếu chỉ có 1 mắt thì chả có ai lại đi làm nghề này. Tôi vẫn mổ nhiều ca mỗi tuần, trung bình 4, 5 ca.Giờ đây tôi không bị ràng buộc ở một bệnh viện nào.
PV: Hồi xưa ông bảo: có tiền cũng không có thì giờ để mà ăn. Bây giờ đỡ chưa, và làm sao chịu đựng được một công việc như vậy?
BS Châu: Nói vậy hết sức chính xác. Bây giờ vẫn thế. Một ca mổ kéo dài 6, 8 tiếng, có khi 12 tiếng là bình thường. Không có lúc nào để ăn. Có cục kẹo bỏ túi phòng khi tụt đường huyết thì bỏ miệng ngậm. Cơm trưa ăn vào đầu chiều tối.. Gần như không ăn cơm trưa. Phải chịu thôi. Không thể bỏ ca mổ giữa chừng được.. Có khi tôi còn cần 4 bác sỹ chia làm 2 kíp mổ, một kíp mổ phía trên, kíp kia đồng thời mổ phía dưới.
PV: Vậy ảnh hưởng tới sức khỏe?
BS Châu: Có bác sỹ phụ mổ xỉu. Người bác sỹ phẫu thuật đứng nhiều, dễ mắc bệnh trĩ. Kém vận động.. Chỉ run tay là sai. Sai số bằng micromet. Có khi nín thở khi khâu, nhịp tim cũng làm kim rung. Trước lúc vào ca mổ không được uống café, phòng tim đập mạnh. Không vận động nặng.
PV: Bác sỹ có mắc bệnh nghề nghiệp gì không?
BS Châu: Ăn uống không điều độ, dạ dày là bệnh đầu tiên. Các bác sĩ rất dễ mắc bệnh trĩ. Đầu cúi suốt trên kính hiển vi, tay giữ cứng, dễ thoái hóa đốt sống cổ, lưng. Tư thế ngồi không thoải mái, phải theo tư thế vết thương bệnh nhân.
PV: Nhiều người thấy bác sỹ lúc ngoài 60 tuổi vẫn lên xe đò ra tận Buôn mê Thuột mổ xong lại về ngay. Bây giờ 66 tuổi, ông còn đi như vậy không?
BS Châu: Rất thường. Nha Trang đi tàu lửa, sáng tới nơi, ăn sáng. Mổ nhiều ca trong 3 ngày liên tiếp rồi mới về.. Đi Buôn Mê Thuột lên xe 9 giờ, sáng đến nơi nghỉ một lúc, ăn sáng rồi mổ đến 9, 10 giờ đêm, rồi về Saigon liền. Làm như thế nhiều năm rồi. Lên xe ngủ.
PV: Bác sỹ nhận xét về tình hình căn bệnh này?
BS Châu: Có sự gia tăng công nghiệp, giao thông và bạo hành, thì căn bệnh tăng. Nhưng phát triển ngành vi phẫu còn vì ý nghĩa khác. Việc sử dụng kỹ thuật vi phẫu giống một vũ khí nữa trong chữa bệnh nói chung, chống bệnh tật.. Một bác sỹ biết thêm kỹ thuật này giống như quân có thêm vũ khí tối tân để chống quân thù. Vi phẫu thuật làm rốt ráo,thí dụ bệnh nhân bị phỏng, cổ co rút, phải cắt da sẹo. Phương pháp cũ làm cuốn da bụng đưa lên xử lý cổ, tốn kém và rất lâu.. Kỹ thuật vi phẫu cho phép lấy da ghép mạch máu cho da sống luôn, không tốn thời gian.
Vi phẫu có 2 mục đích: sáng tạo ra phương pháp kỹ thuật mới và làm tăng cường những phương pháp kinh điển.
PV: Đội ngũ những bác sỹ cho nghành này đã đủ lớn mạnh chưa?
BS Châu: Từ năm 1994 chúng tôi liên tục mở lớp đào tạo cho các tỉnh như Khánh Hòa, Đắc Lắc, Kiên Giang, Cần Thơ…Đại học Y Dược đã mở các khóa đào tạo phẫu thuật viên cho cả nước. Mỗi năm có những đoàn đến các tỉnh mổ cho bệnh nhân. Các hướng dẫn viên, bác sỹ giảng dạy cùng làm thực nghiệm cho học viên làm ngay tại chỗ.. Nhiều phẫu thuật khó, sử dụng kỹ thuật cao được làm ở tỉnh.
Năm 2001 chúng tôi làmở Khánh Hòa, rồi có khi hàng năm ra 3, 4 lượt.. Khánh Hòa đã có một khoa ngoại, có khoa Chấn thương chỉnh hình và một đơn vị vi phẫu thuật..
Đac Lak có bác sỹ theo học khóa đầu tiên. Ở tại bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình là bệnh viện Thành phố nên tôi nghĩ nhiệm vụ đào tạo cho khu vực, không vươn tay rộng được như đơn vị trung ương. Một số bác sỹ trẻ theo tôi làm vi phẫu, có người đã theo tôi cả chục năm. Vi phẫu là kiến thức chuyên sâu, nhiều khoa “dính dáng” tới vi phẫu như niệu khoa, ngoại chung, sản phụ khoa. Mặc dù đào tạo như vậy nhưng số bác sỹ chỉ đi chuyên về vi phẫu cũng chưa thật nhiều lắm.
PV: Ngành này trên thế giới có gặp khó khăn như Việt Nam không?
BS Châu: Gần như ở các nước phát triển đều có Hội chuyên về Vi phẫu, Việt Nam chưa có. Dù vào năm 95-96 tôi đã cố gắng thành lập.
PV: Vì sao ông không thành công?
BS Châu: Con số bác sỹ học và làm vi phẫu còn ít. Nó còn phụ thuộc vào những người quản lý tỉnh nhìn tới. Một số bác sỹ học về rồi không làm vi phẫu vì nhiều lý do như thiết bị dụng cụ tổ chức tốn kém. Cho là không thông thường, không nhiều bệnh nhân. Nhưng giờ có nhiều suy nghĩ lại rồi, thấy tầm quan trọng của nó, khi có bệnh nhân, không cần chuyển về Saigon, xa và đòi hỏi thời gian phải nhanh chóng cấp cứu.. Họ đã có nhận thức thay đổi vì thực tế có những trường hợp bác sỹ chưa học vi phẫu nên phải xử lý bằng phương pháp thông thường, đạt hiệu quả kém, hoặc có những trường hợp không thể xử lý theo cách thông thường được.
PV: Bác sỹ là tác giả đầu tiên và viết nhiều nhất, tới 8 cuốn sách về Vi phẫu thuật của Việt Nam?
BS Châu: Đầu tiên tôi viết để phục vụ các lớp đào tạo. Tôi có đi dự hội thảo và nghiên cứu học tập tại một số nước như Pháp, Anh, Thái lan, có nhiều bài viết báo cáo tham gia hội nghị hội thảo, và công tác thực tiễn cần ghi lại phục vụ chuyên nghành.
PV: Vậy ông viết sách vào lúc nào trong một ngày bận rộn?
BS Châu:  Chỉ viết vào đêm khuya, một vài tiếng, khi đầu óc thanh thản, dễ tập trung suy nghĩ. Ban ngày bận việc rồi.. Tôi đang tập trung viết về điều trị liệt mạng thần kinh cánh tay. Kế hoạch của tôi chỉ là tập trung phát triển ngành vi phẫu.
PV: Công việc đó theo ông, có những thách thức gì?
BS Châu: Ngành muốn tiến bộ phải có nghiên cứu cơ bản. Sự nghiên cứu ở Việt nam rất ít. Không đủ tài chính, trang thiết bị phục vụ. Trước đây, để tiến hành nghiên cứu, tự tôi phải nuôi chuột lấy. Nhà tôi như trại chuột, 200 con chuột trắng. Tôi mong Vi phẫu lớn mạnh tiến lên áp dụng cho phẫu thuật. Quỹ thời gian còn lại ít, tôi tập trung hoàn thiện những kỹ thuật tái tạo vận động cho người liệt.
PV: Là TS ( sau giải phóng học vị này không được công nhận), BS y khoa trước giải phóng, lao động hết mình, được tặng Huân chương Lao động Hạng 3…Có vẻ đời ông chỉ toàn công việc, không có vui chơi hay sở thích riêng??
BS Châu: Sở thích ư? Tôi đi chơi mút chỉ. Chủ nhật không làm việc, xách xe đi chơi nơi nào mình thích. Có khi chạy ra Vũng Tàu cùng với một số bạn bác sỹ, ngắm cảnh trên đường đi. Tới nơi, chỉ cùng nhau ngồi uống ly café đá cũng thích. Tôi không ghiền thuốc lá, rượu, bài bạc, chỉ đi mổ là vui thôi.
PV: Các con ông có ai theo nghề của cha không?
BS Châu: Cả 3 con tôi đều vào nghề của cha, trong đó một người theo chuyên ngành của tôi.
PV: Bác sỹ có theo dõi xã hội đang bàn luận lời bà bộ trưởng Y tế kêu gọi mọi người đừng đưa phong bì cho bác sỹ. Là người trong ngành, ông nghĩ sao?
BS Châu: Tôi xin khẳng định trong nghề này, sự hồi phục của người bệnh, sự thành công của điều trị là niềm vui lớn nhất của bất kỳ bác sỹ nào. Phần thưởng lớn vô cùng, đừng nói tiền bạc..
Thứ hai, không phải bác sỹ nào cũng giống nhau. Không phải tất cả đều quan trọng hóa tiền bạc, dù ai cũng phải ăn, phải sống, lo cho vợ con và những mối quan hệ phải lo.. Thứ ba, vì lý do có những người này người kia xấu tốt thì một ngành nghề có thể bị mang tiếng, nhưng hãy nghĩ lại. Nếu một ngành nghề đều tốt hết thì chỉ có trong mơ.
Chính sự khác biệt tạo nên toàn cảnh xã hội.
Cảnh sát giao thông cũng thế. Không có họ, chết người tệ gấp ngàn lần. Chỉ nhìn một số để đánh giá một ngành nghề, bôi bẩn người làm tốt là không nên. Thày cô cũng thế. Đừng suy nghĩ quá đáng. Nếu chúng ta đặt lại vấn đề, liệu có thể nhìn lỗi nhỏ, vài chấm đen vất luôn tờ giấy trắng, là bất công.. Phải chấp nhận cái muôn mặt.
PV: Giờ đây dù công việc nhiều, nhưng chính thức ông đã nghỉ hưu. Ông thấy cuộc sống của mình có khác trước nhiều không??
BS Châu: Về hưu cực hơn, vì trước ở một bệnh viện, nay chạy tới lui. Công việc thì tôi không thấy khác. Tôi không lo nhiều. Vì như người lớn tuổi thường có 2 vấn đề: tôi sống đủ rôi,và cuộc sống đã giúp ích, để lại cho nghề nghiệp những người giỏi thay thế. Có câu nói tôi đọc ở trên tường quán café ở Bình Định, trên đường vào sân bay Phù Cát, tôi không nhớ tên tác giả nhưng biết đó là câu nhiều người thích, đại ý: Lúc sinh ra, mình khóc, thiên hạ cười. Khi mình chết đi, mỉm cười trong lúc thiên hạ khóc. Được người đời yêu và nhớ, phần thưởng lớn biết bao. Phong bì nhiều, chết cũng không mang theo.. Ý nghĩa cuộc đời đâu phải tiền bạc.
PV: Xin cảm ơn bác sỹ rất nhiều về những việc làm và suy nghĩ về cuộc sống thật ý nghĩa.



NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI (thực hiện )

...../.





Danh vọng




Danh vọng bịt mắt tầm nhìn văn hóa của mấy nhà thơ


Hữu Lý phỏng vấn Nguyễn Hoàng Đức


PV: Chào Nguyễn Hoàng Đức, tôi cho rằng văn chương thì phải dấn thân.

NHĐ: Hiển nhiên rồi. Vì văn chương duy nhất là bác sĩ của tâm hồn, nếu văn chương ngại ngùng thì ai sẽ bắt bệnh cho tâm hồn của người ta. Chẳng hạn, tu sĩ thì cứu rỗi linh hồn, thầy giáo thì dạy chữ làm khôn cho tâm hồn, nhạc sĩ thì sáng tác nhạc làm vui cho tâm hồn, còn họa sĩ thì vẽ tranh tạo ra vẻ đẹp mầu sắc cũng làm vui tâm hồn. Nhưng còn cái tâm hồn sâu kín ở bên trong, nó bị oan trái hay đau khổ, thì ai có thể bắt bệnh, chạy chữa an ủi nó nhiều bằng văn chương?!

PV: Tôi muốn tin như vậy. Đó là lý do tại sao lẽ ra hôm nay tôi muốn hỏi anh tiếp về bút pháp và tư tưởng. Nhưng có một sự kiện khá là sự kiện, nó hot, nhà thơ Vi Thùy Linh tối 1/12/2012 mới đây có biểu diễn thơ tại nơi hoành tráng long lanh nhất Việt Nam là Nhà hát lớn. Tôi thấy việc này không ổn về mặt văn hóa nên muốn hỏi anh cho rõ ràng hơn. Không biết anh có sẵn sàng cho chuyện này không?

NHĐ: Thực ra tôi không sẵn sàng lắm, vì khi bàn về các cây bút ở Việt Nam, tôi cảm thấy nó rất nặng nề, y như mình đang chơi khăm họ vậy. Mặc dù mình chỉ nói sự thật. Nhưng sự thật là cái người Việt không bao giờ muốn làm quen, họ chỉ thích sống à uôm, tình cảm bao che xuê xoa lẫn nhau. Tóm lại họ rất muốn được ưu tiên tha bổng cho nhau. Chính thế mà cái nước Việt Nam mới nhếch nhác, yếu ớt, hổ lốn và lạc hậu như ngày nay.

PV: Tôi và nhiều người vẫn đánh giá anh là người dũng cảm. Nếu bản thân anh còn sợ sệt không dám vượt qua mặc cảm bị thù ghét, thì ai trong chúng tôi phải làm điều đó đây. Thôi anh là người đang xung phong rồi, tiện thể anh xung phong luôn.

NHĐ: Và tiện thể tôi cũng hy sinh luôn ấy gì?

PV: Đấy có phải thứ thiếu văn hóa không?

NHĐ: Thật ra nên gọi đó là lạc điệu về văn hóa. Rất thấp! Thấp đến mức không thể thể tất được. Việc này khởi đầu từ nhà thơ Nguyễn Duy. Ông là người triển lãm thơ đầu tiên ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Nguyễn Duy là một nhà thơ đại ca của hệ mậu dịch, hầu hết các bài thơ của ông được đăng đi đăng lại nhiều nhất như có thể, vậy mà ông còn khao khát triển lãm thơ, đủ thấy ông “mót nổi tiếng” đến thế nào? Ở đời có câu “Được lòng ta xót xa lòng người”, thơ ông tem phiếu làng nhàng gọi là, lại được đăng ngược đăng xuôi, thử hỏi những người như ông có bao giờ đặt câu hỏi, còn những người khác bị đánh chặn từ mọi kẽ hở quản lý của mậu dịch thì người ta thiệt thòi cỡ nào?
Về mặt kinh điển không cãi được (có nghĩa mấy anh nho nhe nho học đừng có ti toe định nghĩa theo cách của mình). Có hai loại nghệ thuật:
1- Nghệ thuật sáng tạo: là chủ nhân đứng cao nhất.
2- Nghệ thuật biểu diễn: là diễn xướng theo sáng tạo. Là thứ hạng hai, nô bộc. Dù người hát, người chơi đàn, người biểu diễn có được vỗ tay bao nhiêu thì cũng chẳng bao giờ được đặt ngang hàng nhạc sĩ sáng tác hay tác giả của tác phẩm.
Thơ là nghệ thuật sáng tạo! Việc Nguyễn Duy mót nổi tiếng quá lại đem nó đi triển lãm là sai lầm và thấp kém, về hai lý do:
Một: Triển lãm là loại hình giành cho tranh ảnh hay đồ vật.
Hai: Thơ là chữ nghĩa, nó xâm chiếm chinh phục bạn đọc qua não qua tim như những lớp sóng ngầm. Khi người ta ngừng xem biểu diễn dư âm còn rất ít. Nhưng khi người ta gấp cuốn sách lại thì những con chữ tiếp tục sống còn ăn sâu vào não vào tim người ta. Chính thế văn học mới được coi là cao nhất. Ngay cái tên Liên hiệp các hội văn học và nghệ thuật toàn quốc Việt nam đã được nhiều nghệ sĩ bàn rằng: một mình văn học còn đứng trên tất cả các môn nghệ thuật. Vậy mà nhà thơ Nguyễn Duy chỉ vì khao khát mót danh của mình, lại đem mạch máu bên trong của văn học ra muốn phô như làn da bên ngoài, chẳng phải thấp kém tột bậc về văn hóa sao? Chính triết gia kinh điển Aristote đã nói : “Văn học cao nhất chỉ vì mình nó đạt tới vẻ đẹp bên trong của tâm hồn”.

Nhà thơ Vi Thùy Linh đã thể hiện nhiều sáng tác của mình.


PV: Như vậy, việc nhà thơ Vi Li đem thơ của mình ra trình diễn có phải cũng là đem nghệ thuật giá trị bên trong của ông chủ ra đổi lấy nghệ thuật khoe mẽ môi miệng của nô bộc?

NHĐ: Bên trên tôi đã nói ra phần thước cứng rồi. Tôi cũng không theo dõi sự việc này nhiều, xin bạn hãy tự soi chiếu và áp dụng.

PV: Có một phóng viên viết Vi Li làm việc này để chứng tỏ, thời của mình chưa hết. Đó là cách bắn pháo hoa cho sự bế mạc không?

NHĐ: Về thơ ca muốn thành công như bà Sym-bos-ka của Ba lan ấy, bà ấy lầm lũi đi tới đích cho đến cuối đời, dăm bảy chục năm hành trình mới có thể giành giải Nobel. Bà ấy luôn luôn để thơ sống như mạch máu của chữ nghĩa chứ có bao giờ biểu diễn thơ như thứ ngoài da đâu. Hơn ba mươi tuổi mà đã bắn pháo hoa bế mạc trong cao trào phóng hỏa tiễn đến vòm cung Nhà hát lớn thì lần sau chẳng nhẽ đứng trên nóc nhà hát đội mưa đọc thơ?

PV: Tuổi ba muơi với nhà thơ là đã quá già hay còn quá trẻ, theo anh?

NHĐ: Điều đó tùy thuộc vào hành trình văn hóa của nhà thơ. Nếu con đường còn dài, thì tuổi đó còn quá trẻ, nhưng nếu anh biến nhà thơ thành một ngôi sao ca nhạc hay bóng đá, thì tuổi ba mươi đã bị gọi là lão tướng. Tôi hy vọng nhà thơ Vi Thùy Linh sẽ kịp cứu vãn giấc mộng “sân khấu thơ” của mình để tìm những vỉa quặng thơ sâu hơn dưới những lớp vỏ của cuộc sống. Không phải sự khao khát danh vọng, cũng không phải marketing, chính sự kiên nhẫn với là mẹ của thành công.

PV: Tôi xin hỏi anh thêm câu này nữa…

NHĐ: Thôi xin anh tha cho tôi, đây là cuộc phỏng vấn mà tôi miễn cưỡng, như đã nói tôi rất ngại bàn về tài năng của những người khác, đặc biệt những cây bút thuộc tầm cao mậu dịch thuộc Hội nhà văn. Văn hóa cơ bản chưa có nói gì đến những chân trời siêu việt. Càng nói về họ có nghĩa là càng moi cái kém của họ ra. Anh tha cho tôi đi!

PV: Lần này tôi tạm tha cho anh. Lần sau tôi vẫn tiếp tục bắt anh phải dấn thân.

NHĐ: Tại sao?

PV: Vì ở tầm cao kinh điển như anh mới có thể thấu suốt những giá trị của các tranh-tre-nứa-lá… Tôi vẫn nhớ anh nói “mây tre đan xuất khẩu không cách gì cho ra lò tầu vũ trụ”…

Hữu Lý thực hiện 03/12/2012






......../.

Vương Đình Huệ




Hãy để cho dân cái lai quần (!?)

MINH DIỆN


Khi Vương Đình Huệ đặt chân vào “nhà đỏ” rồi ngồi lên ghế Bộ trưởng Tài chính, ít người biết ông, vì trước đó ông làm trong ngành kiểm toán chả mấy khi xuất hiện trước công chúng.

Chỉ đến khi Vương Đình Huệ tuyên bố với nhóm doanh nghiệp xăng dầu: “Chúng tôi điều hành thị trường xăng dầu không vì quyền lợi của 11 doanh nghiệp đầu mối xăng dầu, mà vì lợi ích chung của gần 90 triệu dân!” thì tiếng tăm ông mới nổi.




Bấy giờ, tương phản với một gương mặt ngây ngô như trẻ con, bộc lộ tính hiếu thắng, của Bộ trưởng giao thông vận tải Đinh La Thăng, là một gương mặt điềm đạm, kín đáo của Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ. Nhiều bài báo ca ngợi, có bài đặc tả tuổi thơ kém may mắn của Vương Đình Huệ, nhằm cắt nghĩa tính quyết đoán, và tố chất làm công bộc cho dân của ông. Những em học sinh ngây thơ, và cả những vị giám đốc doanh nghiệp từng trải, đã viết thư ngỏ cho Bộ trưởng Vương Đình Huệ, người coi ông là thần tương, kẻ hy vọng ông có thể cứu nguy cho doanh nghiệp! Người ta kháo nhau, đây chính là gương mặt sáng giá trong hàng bộ trưởng nhiệm kỳ này.

Nhưng rồi giá xăng dầu tăng liên tục, Vương Đình Huệ vẫn cho là hợp tình, giá điện nhảy “Lam ba đa”, vẫn cho là hợp lý, và mới đây ông ra sức chứng minh rằng, chính sách thuế của Việt Nam "ưu viêt", là khoan sức dân, là làm cho nhà nước thất thu hàng chục, hàng trăm ngàn tỷ, thì hình như ông đã quên lời tuyên bố vì lợi ích của gần 90 triệu dân rồi!?
Thật tức cười khi Vương Đình Huệ lấy tỷ lệ thuế thu nhâp doanh nghiệp Việt Nam so sánh với tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp Mỹ, rồi bảo rằng thuế Việt Nam nhẹ hơn thuế Mỹ!
Đã nhiều lần người ta lên tiếng cảnh tỉnh các chính khách nước nhà cẩn thận khi sử dụng phép so sánh, kẻo bia miệng tiếng đời, mà hình như các vị vẫn bỏ ngoài tai.
Còn nhớ 51 năm trước, nhà thơ chính trị Tố Hữu huyênh hoang “trông Bắc, trông Nam trông cả địa cầu”  không đâu bằng Viêt Nam “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng!” làm người ta nhổ bọt. Cứ tưởng cái thời những gì của CNXH đều tốt, những gì của tư bản đều xấu, kém: “Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ / Trăng Trung Quốc tròn hơn mặt trăng nước Mỹ” đã vĩnh viễn bị chôn vùi, thì mới đây bà phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan còn lại huyênh hoang hơn cả Tố Hữu rằng “chế độ xã hội chủ nghĩa chúng ta dân chủ gấp vạn lần chế độ tư bản chủ nghĩa!”. Thời trước dối trá dễ vì bưng bít được thông tin, bây giờ cố tình bưng bít cũng không nổi!

 
Vì vậy khi Bộ trưởng Vương Đình Huệ so sánh thuế Việt Nam với thuế Mỹ, rồi thuộc cấp của ông là Thứ trưởng Vũ Thị Mai phụ họa “Thuế như vậy là khoan sức dân lắm rồi” thì mọi người ngán ngẩm bảo nhau: “Vương Đình Huệ cũng không hơn Đinh La Thăng!”

Nước Mỹ, dù trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, thu nhập bình quân đầu người (GDP) vẫn đạt 47.094 đô la, trong khi Việt Nam đến năm 2014 may ra mới đạt 1.811 đô la. Phải chăng Vương Đình Huệ không biết sự chênh lệch một trời một vực ấy, hay ông cố tình lờ đi, chỉ so sánh một vế để lừa dân?
Ai cũng biết, khoan thư sức dân được phản ảnh bằng tỷ lệ thu ngân sách nhà nước trên tổng sản phẩm quôc nội, tỷ lệ càng cao thì khoan thư sức dân càng thấp.
Hiện tại, tỷ lệ đó ở :
Trung Quốc 17,3%,
Thái Lan và Malaysia 15,5 %,
Philipines 13%,
Indonesia 12,1%,
Mỹ 11% và Ấn Độ 7,8%,
trong khi
Việt Nam 28%.

Việt Nam đã và đang duy trì chính sách bảo hộ thuế, thuế chồng lên thuế, bắt doanh nghiệp và người dân phải gánh chịu tỷ lệ thuế trên GDP gấp 1,4 đến 3 lần so với các nước trong khu vực. Thuế cao cộng lãi suất ngân hàng ngất ngưởng, khiến các doanh nghiệp không còn nguồn lưc tích lũy đầu tư dẫn đến suy kiệt. Chỉ trong nửa đầu năm 2012 đã có hơn 200.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa phá sản và ngừng hoạt động, kéo theo gần một triệu người thất nghiệp.

Bức tranh sỉn màu ấy phản ảnh trung thực chính sách tài chính Việt Nam: Thuế và phí bủa vây, bóp nghẹt mức thu nhập ngày càng teo tóp của người dân và doanh nghiệp, làm cho cuộc sống nghẹt thở.
 
Thử hỏi, trên thế giới có nơi nào nhiều loại phí như Việt Nam? Và ngược dòng lịch sử, khi thực dân Pháp đô hộ dân ta, có bao giờ thuế chồng thuế, phí chồng phí như bây giờ?

Hãy nhìn bản thống kê các loại phí giành cho phương tiện giao thông đường bộ, một phương tiện ảnh hưởng trực tiếp đến cái ăn, cái mặc của mỗi người dân, để thấy nó nặng nề và vô lý cỡ nào?

 _____ Phí trước bạ,
 _____ phí đăng kiểm,
 _____ phí xăng dầu,
 _____ phí bình ổn giá xăng dầu,
 _____ phí bảo hiểm,
 _____ phí bảo trì đường bộ,
 _____ phí ô nhiễm môi trường.

Nếu nay mai phí lưu hành và phí vào nội đô được áp dụng, sẽ là chín loại phí.

 
Nhưng nào đã hết nợ! Mỗi khi lưu thông trên mỗi cung đường, còn phải bỏ tiền đề vượt qua một cái barie của trạm thu phí BOT. Những trạm thu phí BOT nhan nhản trên các tuyến đường còn gập gềnh ổ gà, ổ trâu, mà mỗi trạm bán vé từ 10 đến 200.000 đồng tùy cung đoạn và phương tiện lưu thông. Muốn xe chạy nhanh hơn, êm hơn một chút trên đường cao tốc, thì giá đắt đỏ gấp ba lần. Ví dụ, chỉ vài chục cây số đường cao tốc Sài Gòn – Trung Lương, phải bỏ ra 320.000 đồng mua vé.
Nhưng như thế vẫn chưa hết tội! Mỗi phương tiện lưu thông còn phải chi tiền mãi lộ cho cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông, như một thứ luật bất thành văn, như một loại phí bắt buộc, được hạch toán vào giá thành sản phẩm.
Bây giờ lại mới phát sinh một thứ phí nữa, “ưu tiên” cho bà con nông dân, với cái tên mỹ miều là “ nhà nước và nhân dân cùng làm”. Đó đóng góp xây dụng hệ thống giao thông liên thôn xóm, trường tiểu hoc, bệnh xá, nâng cấp di tích văn hóa.
Trung ương khuyến khích địa phương làm bằng được. Các cấp chính quyền, các ban ngành đoàn thể báo cáo với trung ương, rằng đó là kết quả của công tác vận động quần chúng, là người dân tự nguyện, là sự đồng thuận(!?)
Sự thực đâu phải thế ! Có rất ít người tự nguyện, mà sự thật là người dân phải góp tiền, góp thóc theo tỷ lệ, bổ trên từng hộ, từng đầu người. Hãy thử về một vùng quê hỏi xem, người dân nào không chịu đóng góp vào những công trình “nhà nước và nhân dân cùng làm” ấy có sống nổi với chính quyền thôn xã?
Nước Mỹ, với chế độ tư bản chủ nghĩa, tất nhiên không "ưu việt" bằng chế độ xã hội chủ nghĩa như nước ta! Nhưng, người Mỹ ngoài mức thuế phải đóng theo luật, không phải đóng bất kỷ khoản phí vô lý nào.
Và khi người dân đóng thuế thì nhà nước nước phải lo cho dân từ A tới Z.
Trẻ con được ăn học từ nhỏ đến hết phổ thông trung học không mất tiền, không phải chạy trường chạy lớp, không phải học thêm, học kèm; phụ huynh không phải lo bồi dưỡng thầy cô, và nhà trường không có bất kỳ khoản phụ thu nào. Người lớn, không phân biệt công chức, tư chức hay thường dân, mất việc được hưởng trợ cấp thất nghiệp, khi nghỉ hưu được lĩnh lương, mức thấp nhất cho một người mới có thẻ xanh, nghĩa là chưa chính thức làm công dân Mỹ, cũng được 400 đô la/tháng, bảo đảm được nhu cầu cân fthiết nhất trong cuộc sống.
Người dân Mỹ đóng thuế là để bảo trì cuộc sống hiện tại và tương lai của chính họ, còn người dân Việt Nam đóng thuế, đóng phí để nuôi ai?
Ông Đinh La Thăng bảo rằng: “Việc đóng phí thể hiện sự yêu nước nên người dân phải thấy hạnh phúc và tự hào” (!?) . Cái cách hô hoán theo thói quen của một anh cán bộ phong trào đó chỉ làm người ta thêm tức cười.
Cũng như những lời nói, việc làm của người được coi là có trình độ chuyên môn như Vương Đình Huệ làm cho người ta không nghĩ ông vô tình, mà là ông đang quay lưng lại với nhân dân!
Chưa có bằng chứng nào về việc Vương Đình Huệ tình nguyện hay bị một nhóm lợi ích nào khống chế, nhưng những chính sách thuế, phí và giá do ông hoạch định và bảo vệ đang đè nặng lên đầu lên cổ người dân, nó trái ngược với lời ông đã nói là vì lợi ích của gần 90 triệu dân.

Một bà má Nam Bộ, từng chỉ huy đội quân tóc dài thời kháng chiến đã nói với người viết bài này: “Tụi tao trước kia theo gương Út Tịch, còn cái lai quần cũng đánh giặc, để bây giờ tụi bay thu luôn cả cái lai quần của đàn bà hay sao” (!?).

Với chính sách tân thu, triệt thu ngân sách hiện tai, không phải khoan cưu sức dân mà là “ khoan” thủng ruột dân.
Lời trăng trối của Trần Hưng Đạo với vua Trần Anh Tông, như còn văng vẳng: “ Nay lúc bình, thời phải khoan cưu sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc, ấy là thượng sách để giữ nước!”
Người dân bình thường không có được lời cao ý sâu, như bậc Thánh nhân, chỉ khuyên Vương bộ trưởng một lời mộc mạc: Hãy để cho dân cái lai quần, nhỡ khi “bộ phận không nhỏ đe dọa sự an nguy của chế độ” người dân còn lo đánh giặc!

M.D