Hà Triều Hoa Phượng



Soạn giả Hà Triều Hoa Phượng


Ngành Mai



Trong hoạt động sân khấu cải lương, cái tên Hà Triều Hoa Phượng đã quá quen thuộc với khán giả, do bởi những vở tuồng nổi tiếng của 2 soạn giả này được lần lượt cho ra đời từ những năm cuối thập niên 1950 và dài cho đến hết thập niên 1960.

Soạn giả Hà Triều Hoa Phượng


Cặp bài trùng

Lúc đầu người ta tưởng đâu Hà Triều Hoa Phượng là một người. Và cũng có người nói rằng Hà Triều Hoa Phượng là đôi vợ chồng, hoặc cặp tình nhân khắn khít với nhau, nhứt là chữ “Phượng”, người ta cho là nữ.
Nhưng thời gian dần dần báo chí khai thác, tìm hiểu và tiết lộ sự liên hệ giữa hai soạn giả này, nên thiên hạ mới rõ biết Hà Triều Hoa Phượng là hai người. Và họ chỉ mới biết nhau từ lúc hợp soạn viết tuồng, chớ trước đó cả hai chẳng hề quen nhau. Vậy Hà Triều quê quán từ đâu và Hoa Phượng xuất thân ở nơi nào? Tôi xin trình bày sau đây, mời quí vị theo dõi...
Hà Triều quê quán miền Tây, tỉnh Rạch Giá, rời ghế nhà trường rất sớm. Thời chiến tranh Việt – Pháp, Hà Triều gia nhập phong trào Thanh Niên Tiền Phong vào những năm đầu kháng chiến ở vùng U Minh Thượng và U Minh Hạ. Nhưng khoảng một hai năm gì đó thì chịu không nổi với cảnh bưng biền, Hà Triều bí mật lén trở về Thành sống nương tựa với một thân hữu ở Phú Thọ Hòa, gần trường đua Phú Thọ. 
Người thân nầy đã lo giấy tờ hợp pháp và đồng thời chạy cho Hà Triều vào làm công chức một cơ quan thông tin ở Sài Gòn. Làm việc ở cơ quan nầy ông thường được tặng vé hát và đi coi cải lương nhiều lần, do đó nảy sinh ra ý định viết tuồng cải lương. 
Còn Hoa Phượng là người sinh trưởng ở vùng Núi Sập, An Giang và cũng đi kháng chiến ở đất Long Châu Hậu. Sau Hiệp Định Genève 1954 hai người gặp nhau ở Sài Gòn và hợp tác viết tuồng cải lương; “cặp bài trùng” này đã một thời làm mưa làm gió sân khấu ca kịch qua các vở tuồng mà soạn giả mang tên hai người. 

Kiếm hiệp Nhật Bản

Vở tuồng đầu tiên làm cho hai soạn giả nầy được nổi tiếng là tuồng Nhật Bản có tên “Khi Hoa Anh Đào Nở”trình diễn trên sân khấu Thúy Nga, và kép Thành Được nổi tiếng cũng nhờ vở tuồng này. 

Khởi đầu vào khoảng 1957 người ta thấy tên Hà Triều Hoa Phượng xuất hiện trên tấm bảng quảng cáo của đoàn ca kịch Thúy Nga treo trước rạp hát, trình bày hình ảnh hoạt cảnh của vở tuồng “Khi Hoa Anh Đào Nở”, với hình vẽ các nhân vật trang phục theo kiểu mấy chàng kiếm khách Phù Tang và các cô gái Nhật mặc kimono, tương tợ như người ta thấy trong phim Nhật được nhập vào thời bấy giờ. 
Đây là vở tuồng đầu tiên mở đầu cho thời kỳ mà các tuồng loại kiếm hiệp Nhật Bản tràn lan, gánh hát nào cũng khuyến khích soạn giả viết tuồng Nhật để lôi kéo khán giả. Từ khi có tuồng Nhật thì số người đi coi hát hằng đêm tăng cao, nên hai soạn giả Hà Triều Hoa Phượng tiếp tục tung ra thêm một số tuồng cùng loại như: Đợi Anh Mùa Lá Rụng – Yêu Anh Đã Muộn Rồi...
Lúc bấy giờ người Nhật không tốn một giọt nước miếng tuyên truyền quảng cáo, mà trên sân khấu các rạp cải lương đêm nào cũng ca ngợi cái đẹp của núi Phú Sĩ, nói lên cái thơ mộng của hoa anh đào bên sườn đồi, đồng thời những cảnh chia ly, tao ngộ của những chàng kiếm khách với cô gái Phù Tang, cũng luôn nhắc tới cái hương vị thơm nồng của rượu sa kê... 
Người Nhật cũng không cần phải mướn người mẫu phô trương trưng bày bộ quốc phục kimono, vẫn được các cô đào cải lương Việt Nam mặc biểu diễn hằng đêm trên sân khấu, coi như vô tình mà Hà Triều Hoa Phượng đã gián tiếp giới thiệu đặc thù văn hóa xứ Phù Tang đến với dân tộc mình. Nhưng có điều chắc chắn là hai soạn giả nhà ta đã không được Nhật Bản trả tiền công, mà chỉ được các bầu gánh cải lương Việt Nam trả tiền bản quyền mà thôi! 

Tình cảm xã hội

Được một thời gian thì tuồng Nhật hết ăn khách, con số khán giả lơi dần nên hai soạn giả Hà Triều Hoa Phượng chuyển sang viết tuồng xã hội và vở hát “Nửa Đời Hương Phấn” được ra mắt khán giả trên sân khấu Thanh Minh đã gây chấn động một dạo. Khác hẳn với tuồng xã hội của Năm Châu dùng lời văn đối thoại cao sâu bóng bẩy, tuồng xã hội của Hà Triều Hoa Phượng có lối hành văn đối thoại thông thường, đi thẳng vào thực tế ngoài đời. 
Tình tiết của tuồng Nửa Đời Hương Phấn rất dễ xảy ra trong bối cảnh xã hội của thời đó, cái thời mà gái quê do hoàn cảnh phải ra Tỉnh hoặc lên Sài Gòn, do đó người coi hát có cảm tưởng như là đã có thật vậy. Hơn nữa lời văn đối thoại của tuồng cũng được hai soạn giả chuyển đổi đưa thẳng vào trong bài bản ca cổ nhạc một cách linh hoạt, khiến người đi coi hát vừa hồi hộp, lại vừa giải tỏa được tình huống ngay trong một vài giây đồng hồ. 
Cái tài tình của Hà Triều Hoa Phượng trong vở hát Nửa Đời Hương Phấn là đưa lên sân khấu các nhân vật điển hình trong một xã hội tuy an bình nhưng lại bon chen hỗn tạp, những hạng người xấu xuất hiện gây sóng gió. Cũng như tình tiết cùng bố cục nhân vật trong Nửa Đời Hương Phấn dễ làm cho người ta chú ý, dễ ăn sâu vào lòng khán giả, do đó đã đem lại uy tín cho Hà Triều Hoa Phượng, đồng thời tạo một thế đứng khá vững vàng cho hai soạn giả trong lãnh vực cải lương. 
Vở tuồng Nửa Đời Hương Phấn ra đời, khán giả ùn ùn đi coi, hát cả tháng trời tại một rạp Nguyễn Văn Hảo vẫn còn đông khách, và ngay cả bây giờ nếu tuồng nầy được trình diễn trở lại vẫn có khán giả như thường. Sau đó tuồng còn được thu thanh vào dĩa hát phát hành khắp nước, được phổ biến rộng rãi đến đỗi đi đâu cũng nghe hát. Bản ca Phụng Hoàng trong tuồng được rất nhiều ca sĩ tài tử học thuộc lòng và ca trong những buổi sinh hoạt đình đám ở thôn quê, hoặc các quán tiệm có sinh hoạt đờn ca cổ nhạc. 


Út Bạch Lan và Thành Được trong vở Nửa Đời Hương Phấn năm 1959.


Ngoài ra các nhà buôn đã khai thác đưa dĩa hát sang Nam Vang bên Miên, đưa lên tận Vạn Tượng ở Lào, nên kiều bào ta ở bên đó cũng khá rành tình tiết vở tuồng Nửa Đời Hương Phấn. Về sau Hà Triều Hoa Phượng cho tung ra vở tuồng Nỗi Buồn Con Gái, có đề cập đến cuộc biến động ở bên Lào vào thời đó (nhân vật là Nguyễn Trung Bình từ Lào về do nghệ sĩ Tám Vân đóng). 

Sau khi thành công vở hát Nửa Đời Hương Phấn, sẵn trớn Hà Triều Hoa Phượng tiếp tục cho ra đời các tuồng xã hội khác cũng ăn khách và nổi tiếng luôn, trong đó có tuồng Tấm Lòng Của Biển, Con Gái Chị Hằng... 
Tuồng xã hội Con Gái Chị Hằng sau khi thành công ở địa hạt sân khấu cải lương, được hãng dĩa hát hợp đồng khai thác, mà còn lấn sang lãnh vực điện ảnh, được quay thành phim. Phim do Kim Cương đóng vai Chị Hằng, nghệ sĩ Hữu Phước vai cậu Tư Kiên, được chiếu ở các rạp chiếu bóng trên toàn quốc cũng khá ăn khách. 
Sau gần một thập niên viết chung, tên Hà Triều Hoa Phượng luôn luôn đi đôi, nhưng đến khoảng 1965 thì Hoa Phượng tách ra cùng với Ngọc Điệp viết tuồng Tuyệt Tình Ca, tức Ông Cò Quận 9, và đến lúc này thì thiên hạ biết rõ Hà Triều Hoa Phượng là hai người, chứ không phải một người như đã lầm tưởng trước kia. 
Về cuộc đời tình cảm của Hà Triều là cả những chuỗi ngày dài cô độc, ông lại thích ngựa đua hơn là thích đàn bà con gái, do đó mà suốt mấy chục năm sống một mình luôn cho tới ngày chết! Tuy là soạn giả nổi danh, tiền làm ra cũng khá nhiều nhờ chia tiền bản quyền tác phẩm tuồng tích, nhưng lại không có hình bóng đàn bà bên cạnh để xài bớt, mà phần nhiều đổ vô quán nhậu và trường đua Phú Thọ. 
Có người hỏi tại sao ông không chọn một bà để lo cơm nước, an ủi bầu bạn, chăm sóc thuốc men mỗi khi trái gió trở trời, thì ông chỉ cười hoặc vui miệng lắm thì cũng nói một câu: “Nhậu nhẹt như tôi nếu có vợ thì sớm muộn gì bà xã cũng bỏ, nên tôi ở một mình tốt hơn!” 
Nghe nói năm 40 tuổi Hà Triều có cưới vợ một lần, nhưng chỉ sống chung có một tháng thì đường ai nấy đi, và Hà Triều ở vậy cho đến ngày từ giã cõi đời, coi như tuyệt tự! 
Nhờ là soạn giả nổi tiếng nên sau 1975 Hà Triều được cho vào làm ở Sở Văn Hóa Thông Tin Sài Gòn, và được cấp một căn trong chung cư Nguyễn Thành Niệm, cạnh rạp Hưng Đạo. Những lúc sau nầy ông bị bệnh mờ mắt không còn hoạt động gì nữa, và ở đây luôn cho đến khi bệnh nặng và qua đời tại Bệnh Viện Nguyễn Trãi, Quận 5 Chợ Lớn vào năm 2003. 
Về phần soạn giả Hoa Phượng thì khác xa với Hà Triều, trong khi Hà Triều sống độc thân thì Hoa Phượng có nhiều vợ. Về viết tuồng thì người trong giới đều thấy rõ cái uy của một ông thầy tuồng (khán giả bình dân gọi soạn giả là thầy tuồng). 



Thanh Nga - Hữu Phước - Thành Được trong vở Con Gái Chị Hằng.

Khi xưa đào kép rất nể nang thầy tuồng, nhứt là ông soạn giả kiêm bầu gánh Mộng Vân từng cho ra đời cả mấy chục vở hát ở thời thập niên 1940. 

Nhưng về sau thì đào kép chánh nổi danh được khán giả ái mộ, họ đã lấn quyền của soạn giả, coi thầy tuồng chẳng có ký lô nào cả. Đôi khi soạn giả trao role tuồng, họ chỉ coi sơ qua rồi liệng trở lại soạn giả, nói rằng tuồng này không hát được, hoặc đòi hỏi này nọ, như bảo sửa lời đối thoại này, hoặc thay đổi bản ca kia... 
Soạn giả vì cuộc sống phải nhẫn nhục làm theo ý của đào kép chánh cho tuồng của mình được hát để có tiền, chớ bằng như tuồng không hát được thì treo nồi cơm. 
Tóm lại thời thập niên 1960 thì đa số thầy tuồng trở thành “Tớ Tuồng” chịu lép trước cái hào quang của nghệ sĩ. 
Thế nhưng, chỉ có một người là áp đảo được cái hào quang của nghệ sĩ tên tuổi, đó là Hoa Phượng. 
Đối với soạn giả Hoa Phượng thì chẳng đào kép nào dám thắc mắc về role tuồng, chê khen một tiếng thì coi như mất chỗ đứng trong vở hát, vai trò sẽ được giao người khác. Do đó mà mỗi lần Hoa Phượng phát role tuồng là hầu hết đào kép có vai trò đều im re, chẳng ai dám hó hé gì hết. Hoa Phượng mất năm 1984. 
Hà Triều và Hoa Phượng ra đi, nhưng những tác phẩm nghệ thuật cải lương của hai soạn giả vẫn còn đó, hai ông đã để lại cho đời những tuyệt phẩm cải lương vô cùng quý giá vậy! 

 ../.

Nguyễn Trường Tộ & Fukuzawa Yukichi



Nguyễn Trường Tộ phải chết!

Đặng Ngữ
tambabonbay
Trong bài viết mới đây có nhan đề "Học gì từ Nguyễn Trường Tộ", tiến sĩ Giáp Văn Dương viết:
"Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên “Trí thức cận thần” để đi trên con đường mới -con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân- thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần” và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.
Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi. Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ". Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.

Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại? Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người".


“Từ ngày đi sứ tới Tây-kinh
Thấy việc Âu-châu phải giật mình
Kêu tỉnh đồng-bang mau kíp bước
Hết lời năn-nỉ chẳng ai tin”
Tiếng kêu não lòng của bác Phan Thanh Giản sau khira ngoài nhìn thấy thế giới và về kể lại cho các quan vua trong triều đình.


Tiến sĩ Giáp Văn Dương tìm cách giải thích nguyên nhân, vì sao cùng một việc mà Fukuzawa thì thành công mà Nguyễn Trường Tộ lại thất bại. Ông Giáp Văn Dương cho rằng:
"Fukuzawa thành công bởi lẽ: "Trí thức độc lập: Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình".
Nguyễn Trường Tộ thất bại bởi lẽ:
“Trí thức cận thần: Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà Vua."
Ông Giáp Văn Dương nói như thế không có gì sai nhưng cá nhân tôi cho rằng nói như thế là chưa đủ, chỉ nêu lên phần ngọn, phần bề mặt mà không thấy được phần gốc, bản chất của vấn đế như bao lâu nay.
Tôi tự hỏi rằng, nếu không phải Nguyễn Trường Tộ mà là Fukuzawa sống ở Việt Nam vào thời kỳ đó và "sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình" thì có thành công không?
Xin thưa rằng, ông cũng chịu chung một số phận như Nguyễn Trường Tộ mà thôi.
Hoặc ngược lại, nếu Nguyễn Trường Tộ sinh ra ở Nhật Bản.
"Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà Vua" thì có được Minh Trị nghe theo không?
Xin thưa, tôi cho rằng, khác hẳn với Tự Đức, vua Minh Trị sẽ tin dùng kế sách ấy của Nguyễn Trường Tộ để duy tân tự cường. Tôi tin thế và dám chắc như thế.
.........................
Người ta thường đặt ra hai câu hỏi khi xem xét lại công cuộc duy tân vào thời kì đấy.
Hai câu hỏi đặt ra là:
- Tại sao lại là Nhật Bản mà không phải là Trung Quốc hay là Việt Nam?
- Tại sao Nhật Bản cũng như Việt Nam, mà Nhật Bản có thể duy tân tự cường mà Việt Nam thì không?
Xin thưa, cách đặt vấn đề như thế là sai bét.
Nhật Bản chả có cái gì giống Việt Nam như cách chúng ta thông thường vẫn nghĩ.
Nhật Bản chả có cái gì giống Trung Quốc như cách chúng ta thông thường vẫn nghĩ.

Hạt giống Nhật Bản đã nằm sẵn ở dưới lớp đất rồi, đến lúc gặp thời tiết thúc giục, tự nhiên nó phải nảy mầm đâm ngọn mà trồi đầu lên thành cây. Nhật Bản duy tân được không phải bởi họ may mắn có Minh Trị và Fukuzawa, cũng chả phải may mắn, ngẫu nhiên như nhiều người lầm tưởng. Nhật Bản duy tân được bởi họ có đủ "hạt giống tư tưởng, văn hóa cần dùng". Những thứ "hạt giống tư tưởng, văn hóa" này, cả Trung Quốc và Việt Nam đều không có hoặc nếu có thì quá ít, không đủ dùng. Và dĩ nhiên không đủ để nảy mầm đâm ngọn mà trồi lên thành cây "duy tân tự cường" như Nhật Bản được.
Theo tôi, bất kể đất nước Nhật Bản có sinh ra Minh Trị và Fukuzawa hay không thì họ cũng sẽ tiến hành "duy tân tự cường" thành công bởi ba yếu tố sau đây:
- Nhật Bản có tinh thần cải cách.
- Nhật Bản có tinh thần dung hóa.
- Nhật Bản có tinh thần quốc gia.
Hãy khoan nói đến tinh thần cải cách, cho đến tận bây giờ, tôi dám cả gan mà xác nhận rằng:
- Việt Nam mình hoàn toàn không có tinh thần dung hóa.
Ngược lại, người Việt Nam mình hủ lậu, bảo thủ, cố chấp... Nói tóm lại, người Việt Nam chứa đầy tinh thần "bất dung".
- Việt Nam mình hoàn toàn không có tinh thần quốc gia.
Cả dân tộc Nhật Bản có cái hồn chung - hồn nước - Đại Hòa hồn (người Nhật vẫn thường hay tự gọi mình là người Đại Hòa); cái hồn ấy - cái tinh thần đấy, mỗi người dân nước Nhật phải tâm niệm, kính thờ, giữ gìn, thao luyện. Cũng một tinh thần Khổng Mạnh (tinh thần Khổng Mạnh cũng như nhiều tinh thần khác, tức là có cái hay, cái dở và cả cái nhảm nhí) nhưng người Nhật Bản hấp thụ cái phần tinh túy nhất để rồi phối hợp với cái hồn Đại Hòa mà sản sinh ra tinh thần Võ Sĩ Đạo; cũng một tinh thần Phật Giáo mà người Nhật sản sinh ra đạo Thiền-Zen hoàn toàn khác biệt với tinh thần Phật Giáo của người Trung Hoa và người Việt Nam; cũng là kung-fu nhưng những món võ Aikido, Karate, Kendo... không lẫn với các món võ Tàu được; cũng một việc uống trà mà người Nhật đem về từ Trung Nguyên mà bây giờ thành Trà Đạo; và còn nhiều thứ khác nữa.
Nhiều người có dịp đến thăm thú nước Nhật thường phàn nàn rằng đường phố toàn treo bảng chỉ dẫn bằng tiếng Nhật, rất khó đọc mà người Nhật lại đa phần không biết ngoại ngữ... rồi bảo rằng người Nhật bảo thủ, cứng nhắc. Nói như thế tức chưa hiểu người Nhật mấy. Cái bản sắc, cái truyền thống của cha ông, người Nhật kính ngưỡng và giữ gìn ghê lắm. Họ không muốn sử dụng ngoại ngữ trên đất Nhật chứ không phải họ không biết ngoại ngữ. Họ nghe và hiểu cả đấy nhưng họ không muốn sử dụng ngoại ngữ mà thôi.

Đấy, họ bảo thủ một cách sáng tạo như thế đấy.

Sống bên cạnh Trung Quốc, cùng bị chung một ảnh hưởng nhưng người Nhật biết rút tỉa cái hay của người ta rồi biến cải cái hay đó, phối hợp với cái mạch sống bản địa mà đưa chúng thành tinh hoa, đặc sắc của riêng mình. Trên thế giới này ai dám bảo tinh thần Võ-Sĩ-Đạo, Thiền Zen, Trà Đạo, Hoa Đạo, Kịch Nô... trông nó giông giống Tàu nào?

Thật lòng, tôi cố đi tìm những thứ tương tự như Võ-Sĩ-Đạo, Thiền Zen, Trà Đạo, Hoa Đạo, Kịch Nô... trong cái văn hóa, bản sắc Việt mà không thể. Cái gì của mình nó cũng ngai ngái mùi Tàu, không phân biệt được. Nói ra thì động chạm, phật lòng nhau, ắt có nhiều người giận, mà bản thân tôi cũng thấy giận: "Cái văn hóa mình nó cứ như một bản copy rẻ tiền, chất lượng kém của cái văn hóa Tàu; tức là thay vì đi học cái phần hay, phần tinh túy của văn hóa Trung Hoa thì chúng ta toàn hấp thụ cái dở, cái nhàm nhí của người".

Tự hỏi tinh thần Đại Việt là cái chi?

 Đố ông nhân sĩ trí thức nào ở Việt Nam có thể giải thích được. Cho nên, Nguyễn Trường Tộ phải chết là vì vậy.

Đặng Ngữ

Bẫy Việt Vị


 

 

Bẫy Việt Vị của Thủ Tướng

bởi Osin HuyDuc vào ngày 7 tháng 9 2012 lúc 6:26 ·


Osin Huy Đức

Ủy ban Tài chính của Quốc hội cần yêu cầu Ngân hàng Nhà nước công bố danh sách các tổng công ty, tập đoàn nhà nước đã mở tài khoản và ồ ạt chuyển một lượng tiền lớn vào VietCapital Bank ngay sau khi con gái của Thủ tướng, bà Nguyễn Thanh Phượng, thôn tính ngân hàng này từ tên gốc của nó là Gia Định. Những con số ấy có thể là một ví dụ thú vị về “lợi ích nhóm” mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc tới trong đợt kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương Bốn. Nhưng, quan trọng hơn, Quốc hội cần biết công cụ chủ đạo của nền kinh tế đang được sử dụng như thế nào.

Kinh Doanh Đa Ngành

Ý tưởng thành lập tập đoàn không chỉ đến từ thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng, cần có đủ thông tin để phân biệt mô hình tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng với mô hình tập đoàn áp dụng từ những người tiền nhiệm.

Năm 1994, khi những nỗ lực phát triển kinh tế tư nhân chững lại vì bị các nhà lý luận “cánh tay phải” của ông Đỗ Mười như Đào Duy Tùng, Nguyễn Hà Phan, Nguyễn Đức Bình, coi là chệch hướng. Sau Hội nghị giữa nhiệm kỳ, 1-1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký hai quyết định thành lập tổng công ty 90, 91. Trong đó, quyết định 91 có nói đến “thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh”.

Ý tưởng thành lập tập đoàn là từ ông Đỗ Mười với quan niệm nền kinh tế cần những quả đấm thép. Nhưng cả ông Kiệt và nhiều ủy viên bộ chính trị đều tán thành. Lúc ấy, hơn một nửa ủy viên bộ chính trị đã được đưa tới Hàn Quốc tham quan và gần như ai cũng choáng ngợp mô hình Cheabol của họ.

Nhưng, từ 1994 cho đến 2005, chưa có tập đoàn nào được thành lập theo quyết định 91. Cuối nhiệm kỳ thứ II, Thủ tướng Phan Văn Khải cho lập 3 tập đoàn: Ngày 26-12-2005, tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam; Ngày 09-01-2006, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông; Ngày 15-5-2006, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin.

Thủ tướng Phan Văn Khải thừa nhận, ông là người quyết định cho Vinashin vay 700 triệu USD từ tiền bán trái phiếu chính phủ. Ông Khải cho rằng, Việt Nam, một nước có hơn 3000 km bờ biển không thể không phát triển ngành vận tải biển. Suy nghĩ về tiềm lực biển của ông Phan Văn Khải không sai nhưng đầu tư bằng tiền cho quốc doanh không phải là một cách làm tốt. Nhưng, sự sụp đổ của Vinashin bắt đầu từ khi tập đoàn này được phép kinh doanh đa ngành.

Trước Đại hội Đảng lần thứ X, ông Nguyễn Tấn Dũng được giao làm Tổ trưởng biên tập báo cáo kinh tế của Ban chấp hành Trung ương trước Đại hội. Ông đòi ghi vào báo cáo chủ trương cho doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh đa ngành. Các thành viên trong tổ phản đối vì điều này ngược với quan điểm phát triển doanh nghiệp nhà nước xác lập từ thời thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Thay vì tiếp thu, ông Nguyễn Tấn Dũng đã viết ra giấy, buộc các thành viên trong tổ phải ghi vào Báo cáo kinh tế nguyên văn: “Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối”.

Nguyễn Tấn Dũng nhận chức thủ tướng ngày 27-6-2006. Ngày 29-8-2006, ông cho ngành dầu khí được nâng lên quy mô tập đoàn; Ngày 30-10-2006 ông cho thành lập thêm Tập đoàn Công nghiệp Cao su… Tốc độ thành lập tập đoàn có chững lại sau khi ông Võ Văn Kiệt khuyến cáo tính ít hiệu quả của mô hình này trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 26-7-2007.

Ông Võ Văn Kiệt mất gần 11 tháng sau đó và từ đó cho đến năm 2011, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đẩy con số tập đoàn từ 5 lên tới 13. Nhưng, không phải số lượng các tập đoàn mà số lượng ngành nghề mà các tập đoàn này được làm mới là nguyên nhân đẩy các doanh nghiệp nhà nước và nền kinh tế đến bên bờ vực. Rất nhiều tập đoàn có ngân hàng, công ty tài chính và chúng ta có thể nhìn thấy đất của Vinashin ở sâu trong đất liền và hầu như không có tỉnh nào không có một tòa PetroLand mọc lên dưới thời Đinh La Thăng.

Đại Nhảy Vọt

Không có một vị thủ tướng nào thừa kế một cơ ngơi có thể ngồi mát ăn bát vàng như Nguyễn Tấn Dũng: Tốc độ tăng trưởng cao, lạm phát thấp; lần đầu tiên Việt Nam có dự trữ ngoại tệ lên tới 23 tỷ đô la; đặc biệt, chính phủ Phan Văn Khải đã hoàn tất đàm phán để Việt Nam chỉ cần làm thủ tục kết nạp là trở thành thành viên WTO. Nhưng, ngôi nhà tưởng là vững chãi ấy đã bị đốt cháy chỉ hơn một năm rưỡi sau đó.

Thoạt tiên, khu vực kinh tế nhà nước được Nguyễn Tấn Dũng sử dụng như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng. Ông Phan Văn Khải nói: “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn tạo ra một thành tích nổi bật ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, muốn hoàn thành kế hoạch 5 năm chỉ trong 4 năm. Ngay trong năm 2007, ông đầu tư ồ ạt. Tiền đổ ra từ ngân sách, từ ngân hàng. Thậm chí, để có vốn lớn, dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại tệ cũng được đưa ra. Bội chi ngân sách lớn, bất ổn vĩ mô bắt đầu”.

Thời Thủ tướng Phan Văn Khải, mỗi khi tổng đầu tư lên tới trên 30% GDP là lập tức Thủ tướng được báo động. Trước năm 2006, năm có tổng đầu tư lớn nhất cũng chỉ đạt 36%. Trong khi, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngay sau khi nhận chức đã đưa tổng mức đầu tư lên 42% và đạt tới 44% GDP trong năm 2007. Năm 2006, tăng trưởng tín dụng ở mức 21,4% nhưng con số này lên tới 38,7% trong năm 2007. Kết quả, lạm phát cả năm ở mức 12,6%. Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã gần như hốt hoảng. Những cú shock được áp dụng sau đó đã làm cho nền kinh tế trở nên vô phương cứu chữa.

Đầu quý I-2008, khi con số lạm phát lên tới gần 3% mỗi tháng, thay vì chẩn bệnh để có phương thuốc đúng, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã buộc các ngân hàng nâng mức dự trữ bắt buộc từ 10 lên 11%, các ngân hàng nháo nhào tìm kiếm thêm 20.000 tỷ khiến lãi suất qua đêm thị trường liên ngân hàng mấy ngày cuối tháng 1-2008 tăng vọt lên tới 27%, trong khi đầu tháng, con số này chỉ là 6,52%.

Ngày 13-2-2008, Ngân hàng Nhà nước lại ra quyết định, buộc các ngân hàng thương mại phải mua một lượng tín phiếu trị giá 20.300 tỉ đồng. Cung tiền ngay lập tức lên tới hơn 40.000 tỉ đồng đã làm náo loạn các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng cổ phần buộc lòng phải tăng lãi suất huy động. Sự chênh lệch về lãi suất đã khiến cho các tổng công ty nhà nước rút tiền, đang cho vay lãi suất thấp ở các ngân hàng quốc doanh, gửi sang ngân hàng cổ phần.

Chỉ trong ngày 18-2-2008, các tổng công ty nhà nước đã rút ra hơn 4.000 tỉ đồng. Các ngân hàng quốc doanh, vốn vẫn dùng những nguồn tiền lãi suất thấp từ nhà nước đem cho các ngân hàng nhỏ vay lại. Nay thiếu tiền đột ngột, vội vàng ép các ngân hàng này, rút về. “Cơn khát” tiền mặt toàn hệ thống đã đẩy lãi suất thị trường liên ngân hàng trong những ngày này có khi lên tới trên 40%.

Lãi suất huy động tăng, đã khiến cho các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay. Nhiều ngân hàng buộc khách hàng chấp nhận lãi suất cho vay 24 - 25%. Các biện pháp chống lạm phát của Chính phủ đã làm cho lạm phát ba tháng đầu năm 2008 lên tới 9,19%. Ngày 25-3-2008, ngân hàng Nhà nước lại khiến cho tình trạng khan hiếm tiền mặt thêm nghiêm trọng khi yêu cầu thu về 52.000 tỉ đồng của ngân sách đang được đem cho các ngân hàng quốc doanh vay với lãi suất 3%/năm.

Từ mức trên 1000, ngày 6-3-2008, chỉ số VN-index xuống còn 611. Cho dù Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cố dùng uy tín chính trị của mình để cứu vãn bằng cách tuyên bố rằng, “đầu tư vào chứng khoán bây giờ là thắng” vì VN-index đã xuống đến đáy. Nhưng, những ngày sau đó, VN-index liên tục lập đáy mới: Ngày 25-3-2008, 492 điểm; Ngày 5-12-2008, 299 điểm.

Chính những “đại gia” gần gũi thủ tướng nhất lại “chết” đau thương nhất vì họ đã từng được vay tiền dễ dàng, có dự án dễ dàng, kể cả các dự án trong khu vực chuẩn bị sáp nhập về Hà Nội. Từ năm 2008, mỗi năm các đại gia này đã phải chịu lãi suất 24-25%/ năm chưa kể những khoản lót tay, trong khi giá trị các dự án chỉ có thể bán được phân nửa so với thời 2007. Thay vì tìm một lối thoát cho nền kinh tế, đặc biệt là khu vực tài chính ngân hàng, giai đoạn tái cấu trúc ngân hàng, tái cấu trúc nợ lại là một cơ hội kiếm tiền cho nhiều đại gia thân hữu mới.

Tham nhũng chưa phải là vấn đề lớn nhất dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Chính phủ Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng rất nỗ lực để tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng. Ban nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải đã sát cánh nhiều năm với Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp. Hơn 500 loại giấy phép đã bị Thủ tướng Phan Văn Khải bãi bỏ. Khi ông Khải rời nhiệm sở, Tổ công tác tiếp tục đề nghị bãi bỏ thêm hàng trăm giấy phép con. Nhưng, thay vì ra quyết định, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã giải tán Ban nghiên cứu và để cho các loại giấy phép lại mọc lên như nấm.

Có lẽ một người được coi là bảo thủ như ông Đỗ Mười cũng không thể nào ngờ có ngày “hậu duệ” của mình lại ký lệnh tái độc quyền nhà nước đối với vàng. Nhà nước đã từng độc quyền vàng, những người sở hữu từ 2 chỉ trở lên từng bị coi là bất hợp pháp. Ngày 24-5-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười ký Quyết định 139, cho phép tư nhân mở tiệm vàng với điều kiện chỉ cần ký quỹ 5 lượng. Chỉ sau hai tháng cả nước có tới 400 tiệm vàng. Quyết định của ông Đỗ Mười được đưa ra như là một giải pháp cộng hưởng để chống lạm phát.

Trong suốt 23 năm tồn tại của Quyết định 139 nền kinh tế chưa bao giờ đổ tội lạm phát cho vàng. Vậy mà bất lực trước khủng hoảng kinh tế, ngày 25-5-2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký nghị định 24, giành lấy quyền sản xuất vàng miếng cho nhà nước và buộc doanh nghiệp kinh doanh vàng miếng phải có vốn trên 100 tỷ đồng.

Lẽ ra ông Trương Đình Tuyển phải từ chức đứng đầu nhóm 13 người tư vấn sau khi một quyết định như thế ra đời. Bỏ qua các động cơ trục lợi, Nghị định 24 là vi hiến vì nó làm cho vàng miếng không phải SJC của người dân tự nhiên mất giá. Đặc biệt, nó đi ngược lại các cam kết WTO mà ông Tuyển đóng vai trò quyết định trong đàm phán.

Bẫy Việt Vị

Ngày 2-8-2011, trung tướng Nguyễn Đức Nhanh khẳng định trong một buổi họp báo: “Hà Nội không có chủ trương trấn áp người biểu tình”. Để rồi, ngày 18-11-2011, từ chỗ coi những người biểu tình chống Trung Quốc là yêu nước, Hà Nội ra thông báo vu cho người biểu tình là “gây rối Thủ đô”, là có “các thế lực chống đối trong và ngoài nước”.

Dân chúng nào biết, tác giả bản thông báo này là thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Phái viên của thủ tướng đặc trách an ninh, tôn giáo. Buổi tối trước khi bản thông báo được đưa xuống Hà Nội, Tướng Hưởng đã đưa đến nhà để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp đọc duyệt. Cho dù không có quan chức nào ở Hà Nội chịu ký, bản thông báo và những “tác phẩm báo chí” bôi nhọ người biểu tình khác vẫn được phát trên các phương tiện truyền thông của Hà Nội. Từ đó, các vụ bắt bớ người biểu tình diễn ra khốc liệt liên tục vào các ngày chủ nhật.

Mấy tháng sau, trong khi chính quyền Thủ đô bị kiện và phải mang một gương mặt xấu trong mắt dân chúng, ngày 25-11-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Quốc hội “sớm có luật biểu tình để nhân dân thực hiện quyền đã được ghi trong Hiến pháp”.

Cũng thời gian đó, trong khi chính phủ đang đứng trước nguy cơ bị truy vấn bởi món nợ tới hạn không trả được của Vinashin và nguy cơ sụp đổ của các ngân hàng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã việt vị Quốc hội khi đăng đàn nói về biển đảo. Nguyễn Tấn Dũng đã khiến cho dân chúng tạm quên đi những vết thương kinh tế do ông gây ra khi trở thành chính trị gia đầu tiên của Hà Nội nói “Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa từ năm 1974”. Ngay cả Bộ chính trị cũng bị bất ngờ. Ông Dũng đã bí mật soạn bài diễn văn này, diễn đi diễn lại nhiều lần trước khi xuất hiện ngày 25-11-2011 trong phiên họp toàn thể được truyền hình trực tiếp.

Sau bài phát biểu ấy, nhằm chuẩn bị dư luận chống đỡ những đợt kiểm điểm trong nội bộ, thông tin bắt đầu được rỉ tai, “phe thân Tàu đang tìm cách chống ông Tấn Dũng”. Nhóm “13” hiện đã chuẩn bị theo đơn đặt hàng của ông Nguyễn Tấn Dũng một bài phát biểu về nhà nước pháp quyền.

Sau khi các đại gia gần gũi ông như Nguyễn Đức Kiên, Dương Chí Dũng, bị bắt; Trầm Bê ở trong tầm ngắm…, những ai nghĩ rằng ông Dũng đang hoảng sợ rất có thể sẽ mắc bẫy việt vị. Ông Nguyễn Tấn Dũng rất có thể lại xuất hiện như một nhà cải cách.



Lễ khai giảng đặc biệt nhất thủ đô



Lễ khai giảng đặc biệt nhất thủ đô

tamkobaynam
(09.2012)

Sân khấu đặt trên vỉa hè, hàng trăm học sinh tiểu học xúng xính quần áo mới kê ghế ngồi giữa lòng đường dự lễ khai giảng. Nhiều năm qua ngôi trường ở nội thành Hà Nội vẫn khai giảng và chào cờ theo cách này.








////////

________________________________ Singapore là một nước lớn






Ngày 19/8/2012 một con nai bị ô-tô kẹp chết trên đường, hôm sau các báo ở Singapore đều đăng trên trang nhất tin này.
           
Một  người bản xứ nói với tôi, ở  Singapore không có gì để báo chí nói cả, không có tham nhũng, đánh lộn trên đường phố, không có ai vứt rác ra đường, không có nạn kẹt xe…. nên cái tin con nai bị xe kẹp là dịp để báo chí thi nhau đăng tải, bình luận, phân tích vv…vv
           
Xin nhớ rằng, Singapore có một hệ thống giao thông công chính được thừa nhận là tốt nhất, hoàn hảo nhất thế giới. Các biển báo trên đường phố đều cho phép xe chạy đến 90km một giờ.

Nếu có ai hỏi tôi, cái gì ở Singapore gây cho ông ấn tượng mạnh nhất? Xin thưa, không phải là những ngôi nhà cao tầng san sát, hệ thống giao thông hoàn hảo, mức thu nhập bình quân đầu người đứng thứ hai thế giới, tìm cả ngày không thấy một cọng rác trên đường phố vv…vv  Mà đó là, những bầy chim sáo sà xuống mặt đường cao tốc, nhảy nhót trên những thảm cỏ xanh có ở bất cứ chổ nào có đất trống trên hè phố, là những chú chim sáo đậu trên thành ban- công những ngôi biệt thự nhỏ…giá tới 9-10 triệu đô-la…! Tôi đã chụp được tất cả các chú sáo sậu đó, đậu ở các vị trí kể trên, ở ban-công, ở bãi cỏ, ở mặt đường cao tốc…bằng ống kính tê-lê của mình. Đó là những tấm ảnh tôi thích nhất trong cuộc đời làm báo của mình. Ngày nhỏ, tôi đã từng nuôi được một con sáo, nó có thể đậu trên vai tôi để đi chơi trên hè phố Hà Nội. Nhưng đó là con sáo phải mua ở chợ chim, phải nuôi nó công phu và hằng ngày phải đuổi bắt châu chấu đến xám mặt xám mày cho nó ăn! Trông thấy bầy sáo là tôi nhớ lại tuổi thơ tươi đẹp của mình (Mà tuổi thơ của ai chẳng tươi đẹp!)






Nhưng gặp sáo liên tục ở giữa một quốc -gia-thành-phố là Singapore thì thật là điều bất ngờ và thú vị đặc biệt. Vị giáo sư cùng đi với tôi cho tôi hay, có ba loài là quạ, cà-cuống và sáo rất nhạy cảm với thuốc trừ sâu. Chim sáo và quạ có mặt ở đây chứng tỏ môi trường rất tốt. Tôi cứ tạm tin ông giáo sư thông minh và hay bắt bẻ người đối thoại với mình về điều đó.
Nhưng sáo, quạ, và cà cuống ở đâu ra mà có? Nó phải ở rừng chứ? Điều đáng khâm phục các nhà quy hoạch sở tại là ở chổ này; 697,25km2 của Singapore, nói rõ hơn là nước Singapore có diện  tích 697,25 km2, tương đương với hơn 69.700 hecta, xấp xỉ diện tích huyện Cần Giờ của TP HCM nước ta.

Từ năm 1960 nhiều đô thị mới được xây dựng ở vùng xa phía nam đã nối với phía bắc làm thành một quốc-gia-thành-phố Singapore. Nhưng các đô thị đó đều được xây dựng xen kẻ các khu rừng nguyên sinh được giữ lại, để bảo tồn thiên nhiên, giữ gìn môi sinh cho con người. Những con nai bị kẹp xe, những đàn sáo mà tôi kể ở trên cư ngụ trong những khu rừng nguyên sinh đó. Con người không lấn hết môi sinh của chúng. Nếu khu rừng Boulogne kề bên Pari được giữ lại thì là chuyện bình thường. Nhưng một nước chỉ có diện tích xấp xỉ huyện Cần Giờ mà nhà cao tầng, vila, biệt thự chung sống với rừng nguyên sinh là điều đáng khâm phục. Nghĩ đến TP Hồ Chí Minh nước ta mịt mù khói bụi mà cái công viên Gia Định đã bao lần bị người ta định làm thịt thì buồn đến tê tái cả cõi lòng!
          







Cái tên Singapore xuất phát từ tiếng Mã lai vốn có nguồn gốc chữ  Phạn là Singa (con Sư tử). Pura có nghĩa là thành phố. Từ đó hình thành cái tên Singapore – Thành phố Sư tử. Theo truyền thuyết thì một vị hoàng tử có tên là Sang Nila Vtama nhìn thấy con sư tử đầu tiên trên đảo và đặt tên cho nó là thành phố Sư tử. Theo sử sách thì hòn đảo này có tên trong sách vở của người Trung Hoa từ thế kỷ thứ 3. Nó vốn là một làng cá  của Mã lai khi bị thực dân Anh chiếm từ thế kỷ 19. Singapore trở thành một nhà nước tự chủ từ năm 1959 với người đứng đầu nhà nước là ngài Yusof bin Ishak và Thủ tướng đầu tiên là ông Lý Quang Diệu. Sau đó, theo trưng cầu dân ý, Singapore sát nhập vào Malaixia năm 1962 và trở thành một bang của liên bang Malaixia. Sau những bất đồng chính trị của chính phủ Singapore với Hội đồng liên bang Kuala Lumpur, Singapore bị tách ra vào ngày 7/8/1965. Singapore tuyên bố độc lập ngày 9/8/1965 và ngày nay trở thành Quốc khánh của “Thành phố Sư tử”  Singapore.
         
Bị tách ra khỏi liên bang, Singapore đứng trước những khó khăn khôn lường: Thất nghiệp, lạm phát, thiếu nhà ở, thiếu đất đai và tài nguyên… Ngay thời điểm mà tôi đang dạo gót ở Singapore lúc này thì, nước ngọt chỉ đủ 50% cho nhu cầu đất nước nhờ mưa trời được tích trong các hồ chứa, 50% phải “nhập” từ nước khác. Điện phải đi mua. Đến quân đội cũng phải thuê đất tận Úc, Mỹ, Pháp… để lập căn cứ quân sự. Khi hữu sự, máy bay sẽ bay về chiến đấu…
         
Nhờ hỗ trợ của Hoa kỳ  và đồng minh, trong nhiệm kỳ của mình (1959-1990) ông Lý Quang Diệu đã từng bước kiềm chế được thất nghiệp, lạm phát, tăng mức sống cho dân và thực hiện một chương trình nhà ở rộng lớn.

Xuất phát từ thực tế của đất nước, những người lãnh đạo đã đề ra một chiến lược phát triển hợp lý, thông minh và sáng tạo. Kinh tế chủ yếu dựa vào buôn bán dịch vụ (40% thu nhập quốc dân). Đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức. Từ một nước đang phát triển đến cuối thế kỷ 20, Singapore đã trở thành một nước phát triển. Kinh tế Singapore hiện nay là kinh tế cảng biển, là công nghiệp đóng tàu và sửa chữa tàu, lọc dầu, chế biến và lấp ráp máy móc tinh vi. Singapore hiện nay là nước đứng hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn. Là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở Châu Á (cung cấp dầu, lương thực, nước ngọt… cho tàu bè quốc tế). Tham vọng của Singapore là đến năm 2018, nước này là một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và Châu Á. Một nền kinh tế đa dạng nhạy cảm trong kinh doanh.
          
Chính phủ Singapore là một chính phủ rất biết lắng nghe dân qua hệ thống báo chí truyền thông. Một phụ nữ bản địa kể với tôi rằng, khi khu phố có nhiều phụ nữ hành nghề mại dâm  “phát triển” sang các khu lân cận, báo chí lên tiếng…thì chỉ sáng hôm sau đã được cảnh sát “đẩy lùi” về chổ cũ(!) Khi người dân có ý mong muốn được thấy tất cả các loài cây cối có trên thế giới thì chính phủ đã chi ngân sách 1,5 tỷ đô-la để xây dựng công viên có tên là “công viên trên vịnh”.
Chúng tôi có may mắn được đến thăm công viên này khi nó vừa khánh thành chưa lâu. Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy cây bao-báp Châu Phi mà trước đó chỉ thấy trên sách, trong phim ảnh. Vị giáo sư đi cùng tôi đã nhận ra các cây cỏ ở nước ta trong công viên này. Vài năm chính phủ rà soát lại ngân sách, thấy còn thừa thì chia đều cho toàn dân. Người dân Singapore rất tự hào về đất nước của mình. Những người gốc Hoa, gốc Mã lai, gốc Ấn Độ, Pakistan, Sri-lanka… đều thích được gọi mình là người “Sinh”. Tôi thấy nhiều nhà luôn treo quốc kỳ trước cửa để tỏ lòng tự hào về đất nước mình… Họ chấp hành luật pháp rất tự giác.
Khi ngồi trên xe hơi, đến chổ đèn đỏ, người bạn trẻ đồng hương của tôi đã định cư ở Sinh chỉ tay về phía trước bảo : Thằng cha tài xế tắc-xi kia không cần tiền! Nói rồi anh bạn trẻ giải thích cho tôi rằng, tắc-xi ở Sinh được quy định chổ đỗ để lấy khách, anh chàng người Ấn kia thấy xe dừng, lao ra định lên xe…. nhưng bị từ chối!
Suốt những ngày tôi ở Sinh, máy ảnh lăm lăm trong tay chỉ rình chụp một vị cảnh sát trong sắc phục của họ, nhưng không gặp một cảnh sát nào cả. Anh bạn trẻ của tôi giải thích rằng, camera gắn khắp nơi, chỉ cần xe để bẩn thôi thì đã bị ghi hình và phạt tiền trừ vào tài khoản. Hèn chi chạy được mấy ngày tôi đã thấy anh bạn trẻ của tôi đi rửa xe. Chiếc xe nào chạy trên đường cũng bóng lộn! Người dân định cư ở Sinh nếu được nhập quốc tịch Sinh thì ngày quốc khánh đầu tiên anh ta được mời đi xem duyệt binh và nếu có nhu cầu mua nhà thì được hổ trợ 30.000 đô-la Sinh, bằng một phần nhỏ giá 1 căn hộ (đô-la Sinh sấp xỉ đô-la Mỹ). Các nhà dân chủ vẫn xem Singapore là một nhà nước độc tài gia đình trị. Nhưng có lẽ cha con ông Lý Quang Diệu là các “minh quân” khác với các “bạo chúa” ở các chế độ độc tài khác nên đất nước vẫn phát triển!
           
Đứng trên tầng 18 một căn hộ chung cư nhìn ra biển, tôi thấy tàu quốc tế đến quá cảnh đậu như lá tre trên vụng biển, xe chạy dưới đường mài bánh trên lộ cao tốc tạo nên tiếng động ầm ầm át cả tiếng sóng biển… tôi nhận ra sức sống mãnh liệt của đất nước này. Và, nếu xét từ tầm cao trí tuệ của người lãnh đạo đất nước, tầm nhìn thời đại về bảo vệ thiên nhiên, trình độ dân trí của người bị lãnh đạo, thì theo tôi, Singapore là một nước lớn. Nói về chuyện lớn nhỏ, cao thấp, tôi xin phép kể câu chuyện sau đây. Ông De Gaulle của nước Pháp là người khi làm đến Tổng Thống rồi, vẫn thích người ta gọi mình là Tướng quân. Một hôm người sĩ quan tùy tùng muốn đo ông để đi may quần áo cho Tổng Thống. De Gaulle bảo: Cứ đo như quần áo của anh! Người tùy tùng nói: Thưa Tướng quân, tôi cao hơn ông. De Gaulle nghiêm nghị trả lời: - Anh chỉ dài hơn tôi mà thôi!
          
Vậy cứ theo cái logic của De Gaulle thì nước Tàu hiện nay chỉ rộng về diện tích, đông về dân số mà thôi. Nước Tàu không phải là một nước lớn. Càng không phải là một siêu cường như người ta ngộ nhận.
Hiển nhiên là nước Singapore với diện tích bằng huyện Cần Giờ , dân có quốc tịch Singapore là 3,2 triệu, nhưng Singapore đâu có sợ gì Trung Quốc. Vì, họ đã “hợp tác toàn diện” với hoa Kỳ rồi. Nước này còn bạt đồi, lấy đất từ dưới biển, mua đất của nước khác để lấn biển. Năm 1960 họ có 581,5km2 mà đến nay có 697,25 km2. Dự kiến đến năm 2030 tăng diện tích lên 100 km2 nữa, tức 10.000 hecta, bằng 1/9 diện tích đất canh tác của tỉnh Tiền Giang. Vậy không phải là chí lớn của nước lớn đó sao? Không như VN ta, còn bán bán bớt đất, bán bớt biển của mình đi (!) Than ôi! Singapore còn là ân nhân của nhân dân VN vì nước này là một trong những nước đã đón nhận thuyền nhân VN sau năm 1975.
           
Nếu có điều gì làm tôi phải suy nghĩ, băn khoăn thì đó là vấn đề giáo dục của Singapore. Với tham vọng là thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu vài năm tới, nhà trường ở Singapore đang áp dụng một chương trình học tập quá tải với trẻ em. Nhiều gia đình phải cho con em đi học trường quốc tế để được vừa học vừa chơi theo phong cách Phương Tây. Đánh mất tuổi thơ, tuổi đẹp đẽ nhất trong một đời người, tuổi được tắm mình trong thiên nhiên nghe chim hót gió reo để lớn lên đủ sức đối mặt với sự tàn nhẫn của cuộc mưu sinh cơm áo tẻ nhạt hằng ngày….trẻ em Singapore đang phải trả giá cho đất nước nghèo khó tài nguyên thiên nhiên, đất hẹp người đông của mình.

Tôi muốn kết thúc bài viết này bằng câu chuyện đầy chất humour sau đây; Tôi có một người bạn vong niên, đẻ mãi mới được một cậu con trai út nối dõi tông đường. Một hôm cậu đang mãi mê chơi với chúng bạn trên hè phố. Chị cậu ta chạy lại lôi sồng sộc cậu về học bài. Tức giận quá cậu gào lên: Địt mẹ cái thằng nào nghĩ ra cái học để bố khổ thế này! Cứ thế cậu gào cái điệp khúc đó cho đến khi chị cậu lôi được cậu về nhà, ấn xuống cái ghế để ngồi học bài! Chửi “cái thằng nào nghĩ ra cái học” là cậu đã chửi tất cả những người lớn trên thế gian này rồi còn gì nữa! Chửi cả loài người tiến bộ rồi còn gì nữa! Thế mới biết trẻ con không được chơi nó giận dữ người lớn “khủng khiếp” đến dường nào! Tôi thương trẻ em Singapore quá! Người lớn có nên nghĩ lại về điều này không? Hỡi bạn đọc yêu mến của tôi./.
      
Lê Phú Khải 
8/2012

 badamxoe.blogspot.com/2012/09/singapore-la-mot-nuoc-lon.html



Steve Jobs và những bài học ở đời


Steve Jobs và những bài học ở đời





bsngoc.wordpress.com/2011/10/06/steve-jobs-va-những-bai-học-ở-dời/

[...]

Tôi bị thu hút bởi những ý nghĩ của Steve Jobs. Những ý nghĩ về sự sống, triết lý ở đời, và nhất là về cái chết. Nói về triết lý sống, ông khuyên “Đừng phung phí thì giờ để sống cuộc sống của người khác. Đừng trói buộc mình bằng những giáo điều. Đừng để tiếng động của ý kiến người khác làm chìm tiếng động của trái tim mình. Và quan trọng hơn hết, nên dũng cảm để theo đuổi những ý tưởng của con tim và trực giác.”

Quan điểm của ông về cái chết rất … khác thường nhưng không phải là phi lý. Ông quan niệm rằng cái chết có lẽ là một phát minh độc nhất và hay nhất của Sinh Mệnh. Cái chết là một tác nhân của Sinh Mệnh. Quan niệm đó cũng không khác với triết lý Đông phương. Theo triết lý Đông phương, cái chết cũng tự nhiên như sự sống, cũng kỳ diệu và tốt đẹp như nhau. Chết có lẽ chỉ là một sự chuyển nghiệp.

Ông có lẽ là một bệnh nhân tuyệt vời. Một bệnh nhân biết chọn cho mình một cách ra đi thanh thản. Quả đúng như vậy, ông là người biết trước mình sẽ ra đi về cõi vĩnh hằng. Giữa tháng 5 năm nay, sau khi được bác sĩ báo cho biết bệnh ung thư tuyến tụy của ông ở vào giai đoạn cuối, ông tự nguyện từ chức CEO của công ty ông sáng lập. Ông muốn dành thời gian cho gia đình và sắp xếp những công chuyện còn dang dở. Thế là chỉ vài tháng sau, đến ngày hôm nay thì ông vĩnh viễn ra đi.

Steve Jobs ra đi, nhưng di sản của ông thì còn mãi mãi. Nếu có một người có thể làm thay đổi thế giới và làm cho thế giới hạnh phúc hơn, người đó phải là Steve Jobs. Những sản phẩm bắt đầu bằng Mac và i do ông thiết kế đã làm thay đổi cách chúng ta sử dụng máy tính. Apple và ông làm cho máy tính đơn giản hơn, đẹp hơn và thân thiện hơn với con người. Apple và ông lúc nào cũng là người dẫn đường. Microsoft cũng bắt chước cách thiết kế của ông.

Ông sẽ được lịch sử ghi nhận như là một trong những kiến trúc sư của Thời Đại Mới. Cuộc đời thăng trầm của ông là cả một bài học cho nhiều người, trong đó có tôi. Những bài học mà tôi và nhiều người trong chúng ta có thể học từ
Steve Jobs là:

·      Một cá nhân có ý tưởng và ý chí có thể làm thay đổi thế giới.
·      Chúng ta không nhất thiết phải làm theo quy luật của người khác đặt ra. Chúng ta có thể bất tuân!
·      Chúng ta không nhất thiết phải lắng nghe tất cả các ý kiến và lời khuyên. Chúng ta nên làm theo những gì chúng ta nghĩ là có ích cho xã hội.
·      Chúng ta đáp ứng những gì xã hội cần, chứ không phải những gì xã hội muốn.
·      Lúc nào chúng ta cũng có cơ hội thứ hai.
·      Cái đẹp và tính đơn giản đóng vai trò quan trọng trong tất cả việc chúng ta làm.


Khoảng 7 tháng trước, tôi có tóm lược và lược dịch một bài nói chuyện của ông ở Viện đại học Stanford. Trong bài nói chuyện, ông kể lại sự cận kề cái chết và định nghĩa về cái chết như một lời tiên tri:
“Khoảng một năm trước, tôi biết mình mắc bệnh ung thư. Tôi đi làm scan lúc 7:30 sáng, và kết quả cho thấy một khôi u rõ ràng trong tuyến tụy. Lúc đó, tôi thậm chí không biết tuyến tụy là cái gì. Các bác sĩ cho tôi biết rằng đó là một loại ung thư không thể chữa trị, và tôi chỉ có thể sống trong vòng 3 đến 6 tháng. Bác sĩ khuyên tôi nên về nhà và sắp xếp công việc đâu ra đó. Đó cũng chính là mật mã của giới bác sĩ: chuẩn bị chết. Điều đó có nghĩa là tôi phải nói cho con cái biết tất cả những gì tôi nghĩ tôi đã làm trong 10 năm qua. Điều đó cũng có nghĩa là nói lời chia tay.
Tôi sống với chẩn đoán đó suốt cả ngày. Buổi chiều hôm đó, tôi đi làm sinh thiết. Bác sĩ đặt cái ống soi trong cổ họng tôi, xuyên qua bao tử và đến ruột, rồi đặt một cây kim để lấy một mô tụy để làm xét nghiệm. Tôi được gây mê, nhưng vợ tôi có mặt bên cạnh nói cho tôi hay rằng khi bác sĩ xem các tế bào dưới kính hiển vi, họ bắt đầu khóc vì đây là một loại ung thư tụy rất hiếm và chỉ có thể cố gắng điều trị bằng phẫu thuật. Tôi đồng ý làm phẫu thuật. Và nay thì tôi khỏe.
Đó là thời điểm tôi cận kề cái chết. Đã cận kề cái chết, tôi có thể nói cho các bạn một các xác quyết hơn khi cái chết chỉ đơn thuần là một khái niệm tri thức:
Không ai muốn chết. Ngay cả người muốn lên thiên đàng cũng không muốn chết để đến đó. Vậy mà tất cả chúng ta đều phải chết. Không ai có thể tránh khỏi cái chết. Cái chết là một sáng tạo duy nhất và hay nhất của cuộc đời. Cái chết là một tác nhân của sự thay đổi. Nó dọn cái cũ qua một bên để nhường đường cho cái mới. Ngay lúc này, cái mới là các bạn, nhưng một ngày nào đó không xa lắm đâu, các bạn sẽ trở thành cái cũ và bị cái chết dọn đường.
Nên nhớ rằng tôi sẽ chết nay mai và đó chính là công cụ quan trọng nhất mà tôi chạm trán để giúp tôi có những lựa chọn lớn trong cuộc sống. Bởi vì tất cả — những kỳ vọng, niềm tự hào, những nỗi lo âu về xấu hổ và thất bại – tất cả những kỳ vọng ngoại tại đó sẽ bị sụp đổ trước cái chết.
Mỗi sáng tôi nhìn vào kính, và tự hỏi mình, “Nếu hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời, những gì tôi sắp làm hôm nay có phải là những gì tôi muốn làm?” Và nếu câu trả lời là “Không” trong vài ngày liền thì tôi biết rằng mình nên thay đổi định hướng.”

Vĩnh biệt Steve Jobs, người tôi chưa bao giờ quen biết. Từ nay, mỗi lần sử dụng cái iPhone 3 tôi nhớ đến người sáng chế ra nó. Như thế thì Steve Jobs vẫn còn bên chúng ta trên khắp hành tinh.

BSN


TB: Sau đây là vài câu nói bất hủ của Steve Jobs. Tôi chỉ trích dịch vài câu tâm đắc nhất:

Là người giàu nhất trong nghĩa địa chẳng có ý nghĩa gì với tôi … Với tôi, điều quan trọng là mỗi đêm lên nằm giường và nói chúng ta đã làm một điều gì đó kỳ diệu trong ngày. (Being the richest man in the cemetery doesn't matter to me … Going to bed at night saying we've done something wonderful… that's what matters to me.)

Công việc của tôi không phải là dễ dãi với người khác, mà là làm cho họ tốt hơn (My job is to not be easy on people. My job is to make them better).

Bạn không thể hỏi khách hàng họ muốn gì rồi cố gắng đáp ứng nhu cầu của họ. Đến khi bạn làm xong thì họ đòi hỏi cái mới khác (You can't just ask customers what they want and then try to give that to them. By the time you get it built, they'll want something new).

Thiết kế không có nghĩa là thẩm mỹ và cảm nhận như thế nào, mà là nó vận hành như thế nào (Design is not just what it looks like and feels like. Design is how it works).

Sáng kiến phân biệt giữa người lãnh đạo và kẻ theo theo gót chân người khác (Innovation distinguishes between a leader and a follower).

Chất lượng quan trọng hơn số lượng (Quality is more important than quantity).

Nguồn: www.macstories.net/roundups/inspirational-steve-jobs-quotes/