Phí, ngân sách và công nợ



Phí, ngân sách và công nợ 






Cuối cùng viện phí cũng phải tăng, sau hơn một năm nấn ná điều chỉnh gia giảm. Cạnh đó, một số loại phí cũng sẽ được thu như phí lưu hành và phí bảo trì đường bộ.
Nếu việc tăng phí này được quảng bá tốt hơn, được bàn bạc và thỏa thuận với đại diện của dân chúng là Quốc hội, đặc biệt là về ý nghĩa, mục đích thu phí cùng danh mục các loại phí đáng phải thu và mức phí, người dân đóng thuế và đóng phí sẽ dễ thông hơn.

Có thực tế hiển nhiên là việc thu các loại phí sắp tới sẽ đem về cho ngân sách một số tiền lớn. Dự trù thu phí xe hơi sẽ là 15.239 tỉ đồng/năm, thu phí bảo trì đường bộ khoảng 5.987 tỉ đồng/năm. Chỉ riêng hai khoản phí mới này sẽ có thể mang về cho ngân sách 21.226 tỉ đồng. Số tiền kỳ vọng thu được này là bao nhiêu so với ngân sách?




Nhìn vào bảng phân bố (dự chi) ngân sách nhà nước năm ngoái (hiện chưa quyết toán) sẽ thấy chi cho y tế 10.200 tỉ đồng, chi cho giáo dục - đào tạo 22.600 tỉ đồng, chi cho trả nợ 85.000 tỉ đồng.
Từ đó, có thể thấy chỉ riêng hai khoản thu phí mới này (xe hơi và bảo trì đường bộ) cũng suýt soát ngân sách cho giáo dục, hơn gấp đôi ngân sách chi cho y tế, tức một số tiền rất lớn thu về cho ngân sách! 21.226 tỉ đồng dự trù thu về này cũng tương đương 1/4 khoản nợ mà Nhà nước phải trả! Trong khi chờ đợi giao thông tốt hơn, đường sá rộng hơn, bớt kẹt xe và bớt bất trắc do chất lượng chưa cao, người dân có thể yên chí rằng đóng phí này là góp phần trả nợ với Nhà nước: một nghĩa vụ thiêng liêng mà bất cứ người dân nước nào cũng sẽ đảm đương.
Như người dân Pháp đã cùng chia sẻ với chính phủ của họ sau khi nghe tân thủ tướng Antoine Pinay phát biểu về bối cảnh nước Pháp tàn phá sau thế chiến cần tái thiết, lại đang vướng chiến tranh Đông Dương nên lạm phát tăng cao (đến nỗi sau này phải đổi 100 franc cũ lấy 1 franc mới), lòng dân ta thán.
Thủ tướng Pinay cầm một tấm da và bảo: “Đây đất nước chúng ta, chỉ còn trơ da. Hãy cầm lấy nó!”. Ông cam kết sẽ quản lý ngân sách một cách lành mạnh. Trước sự thành thật của thủ tướng, người dân Pháp đã đồng lòng tin và cùng với nhà nước “thắt lưng buộc bụng” để vực dậy đất nước Pháp.
Trong thực tế, người dân nước ta đã “thắt lưng buộc bụng” rồi và sẽ còn tiếp tục với các loại phí mới, ngay cả khi thực tế mà cả Bộ Tài chính cũng thấy là đời sống đắt đỏ cần tăng mức khởi điểm chịu thuế thu nhập cá nhân và hẹn khất đến năm 2014 sẽ áp dụng!
Sáu năm trước, báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật 2-4-2006 đã báo động “Mỗi năm trả nợ 2 tỉ đôla” và sau đó gợi ý “Làm gì để trả nợ mỗi năm 2 tỉ đôla?” (Tuổi Trẻ ngày 10-4-2006) - những cảnh báo này đã được Hội Nhà báo TP.HCM nhất trí chia sẻ mà trao giải thưởng báo chí năm đó. Nay khi hằng năm ngân sách dành cho trả nợ đã lên đến 85.000 tỉ đồng (quy ra hơn 4 tỉ USD), nhất định đã đến lúc gióng lên một hồi chuông như ông Pinay từng làm năm 1953 để toàn thể bộ máy nhà nước (hành chính sự vụ, hành thu, sản xuất, kinh doanh, xây dựng,...) dứt khoát “thắt lưng buộc bụng”, giảm chi tiêu (từ khâu kế hoạch đến lễ lạt, hội nghị..., động thổ, khánh thành, giảm thua lỗ, tăng lời lãi, thậm chí đơn giản nhất là làm việc hiệu quả hơn) để trả nợ, có như vậy mới có thể vận động 87 triệu người dân hiểu ra và tin tưởng mà đóng thêm phí, đóng đủ thuế.
THIÊN DI

Afghanistan 2012

Afghanistan: Tháng 2 năm 2012




biểu tình phản đối lính Mỹ đốt kinh Koran


...có đến 4o người chết vì thời tiết khắc nghiệt, chủ yếu là trẻ em





Hàng ngàn trẻ em phải làm việc để kiếm tiền nhằm phụ giúp gia đình







...thời tiết khắc nghiệt đe doạ 


CÁI TINH THẦN ĐẶC BIỆT CỦA TIẾNG VIỆT








BS NGUYỄN HY VỌNG
CÁI TINH THẦN ĐẶC BIỆT CỦA TIẾNG VIỆT  
sưu tầm & tản mạn

Theo các nhà ngữ học thì tiếng Mỹ là thứ tiếng nói vay mượn rất nhiều từ ngữ của các tiếng khác trênkhắp thế giới, vì vậy mà nó rất dồi dào và sống động, nó là tiếng nói số một của loài người hiện nay
    Theo tôi thì tiếng Việt cũng không thua kém chi.
Nó đang đứng thứ 12 về số đông người nói [83 triệu] và đang lan ra khắp thế giới tự do từ cái biến cố 1975.
    Nó có một nguồn gốc rất là đa dạng vì qua 2,3 ngàn năm nó đã mượn rất nhiều tiếng Tàu mà xài, rồi gần đây lại còn mượn hàng trăm tiếng một của Pháp mà nói, bây giờ đã trở thành tiếng Việt rồi, thí dụ như béret, kaki, kilo, gara, accu, v.v… Các bạn có thể kể ra vài trăm tiếng như thế
    Hiện nay tiếng Việt lại còn đang dùng rất nhiều tiếng Anh Pháp Mỹ vay mượn như computer, battery, charge, v,v,, mượn như thế sau này một thời gian sẽ Việt hoá và trở thành tiếng Việt luôn.
    Đó là một điều hay, rất hay, tiếng Việt dồi dào thêm, có thêm nhiều cách nói, nhiều ngữ vững, nhiều cách phô bày tư tưởng.
    Nhưng ta nên để ý rằng dù có nói bao nhiêu thứ tiếng khác nhau đi nữa, ta cũng chỉ có một thứ chữabc hiện nay để viết, ta không còn viết chữ Nôm nữa, ta không còn viết chữ Tàu nữa, ta không còn biết chữ khoa đẩu là chữ gì nữa, và sẽ không bao giờ.
    Như trong câu nói sau đây : cho xe vô gara, rồi check giùm cái bình điện, nếu hết charge  thì câu điện giùm, vô nhà coi công to [compteur] tháng này tiền nước bao nhiêu.  Có đến 6 ngôn ngữ khác nhau của cả thế giới trong câu nói ngắn đó mà ta không ngờ ! [Việt, Tàu, Pháp, Anh, Mỹ]
Một chuyện lạ hơn nữa là, cách đây mấy ngàn năm, ngoài tiếng Tàu ra, ông bà ta còn dùng và xài không biết bao nhiêu là tiếng nước ngoài ở Đông nam Á châu mà ta cứ tưởng đâu là tiếng Việt của ta, không ngờ đó là tiếng nói của biết bao ngôn ngữ láng giềng, mà lại không phải là tiếng Tàu.
Thí dụ ta nói tha thiết thiết tha  đó là tiếng Thái
                    vắng vẻ, đó cũng là tiếng Thái luôn
                    đủng đỉnh, vâng, cũng là tiếng Thái !
                    vơ vẩn vẩn vơ, đó là tiếng Lào đó bạn oi
                    chân tay, chân mây. nó là tiếng Khmer đó
                    một ngày, một hai ba bốn năm, đó cũng là tiếng Miên luôn !
Cụ Nguyễn gia Thiều cách đây gần 200 năm đã viết :
                   "Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán"
                    [đành hanh là tiếng gốc Chàm đó bạn ơi, có nghĩa là ganh ghét, ganh tị]
Cụ Nguyễn Trãi cách đây gần 600 năm nói:
                    Tuy rằng bốn bể cũng anh tam,
                    [Đó là tiếng Mã lai hiện nay đó bạn ơi, có nghia là thằng em trai]
Hay là : Hai chữ công danh tiếng vả vê  
Đó là tiếng Lào xưa đó, vả vê có nghĩa là trống vắng, mà bây giờ người Việt không còn ai nói nữa
Người Việt  nói cái  dùi cui hay đùi cui thì 250 triệu người Indonesia và Malay cũng nói là đulkul  … y hệt!
Hai tiếng Nôm na mà ai cũng cho là Nôm là Nam , vậy thì  na là gì ? mọi người đều lờ đi !
Thật ra, Nôm và na  đều có nghĩa gốc là xưa, cũ, lâu đời…đã có từ lâu.
[Các tiếng Lào Thái Khmer đều có ghi hai tiếng "nôm na" và đều giải thích như vậy]
Tiếng Nôm là tiếng nói xưa của người nước ta, đã nói như vậy từ lâu, truớc khi ông bà ta gặp người Tàu.
Còn nhiều nữa, rất nhiều nữa, cả thảy 27 ngàn 400 tiếng Việt như vậy, ta đã cùng nói cùng xài chung, dùng chung, của không biết bao nhiêu là ngôn ngữ anh em chung quanh ta, đến nỗi là không có một tiếng Việt nào mà lại không có chung đồng nguyên [gốc gác] với một vài ngôn ngữ khácở miền Đông nam Á này
Các tiếng nói Đông nam Á [Khmer, Lào, Thái, Chàm, Malay, Indonesia, Nùng, Hmong Bahnar, Rhade, v.v.. bao bọc tiếng Việt trong một vòng dây thân ái của tình anh emngôn ngữ chung giòng chung họ hàng mà chúng ta không ngờ đến đó thôi.
Nhưng tiếng Việt có một điểm rất lạ, dễ thì dễ mà khó cũng thật là khó, vì  ta tưởng là ta viết đuợc tiếng Việt là ta hiểu được tiếng Việt ,
Thật ra ta không hiểu tiếng mẹ đẻ của chúng ta nó ra làm sao cả :
- ta nói đau đớn  mà ta không hiểu đớn là gì, [đớn là tiếng Mon có nghia là đau cái đau của lòng mình]
- ta nói rộn rịp mà không hiểu rịp là gì,  [rịp là bận việc], gốc tiếng Lào Thái đó bạn ơi
- ta nói săn sóc , chăm sóc mà ta chẳng hiểu săn là gì mà sóc là gì.  Săn là  theo dõi, sóc là  sức khoẻ # health [gốc Sanskrit / Pali đó]
Có cả thảy chừng 10 ngàn tiếng Việt gốc gác như thế !
Thành thử dù cho ta có biết viết chữ Nôm, hay chữ Tàu đi nữa, ta vẫn không thể nào bíết ý nghĩa của mỗi từ ngữ trong tiếng Việt của ta đâu!
Biết thêm vài ba ngàn  tiếng Pháp, tiếng Anh, chữ Tàu chữ Nôm thì cũng tốt thôi, ta sẽ trở thành một thứ học giả "bất đắc dĩ", nhưng đừng tưởng rằng như vậy là đã hiểu thông suốt tiếng Việt.
Cái này đòi hỏi phải có một trình độ và khả năng hiểu biết ý nghĩa nguồn gốc của mỗi chữ mỗi âm, mỗi từ trong tiếng Việt  mà con số lên đến gần 10 ngàn tiếng đơn như vậy.
 Chỉ có một cách qua được cái khó khăn vuợt bực đó.
Đó là phải có một bộ từ điển nguồn gốc tiếng Việt, tham khảo khắp cả 58 thứ tiếng lớn nhỏ ở  nam Á châu, từ tiếng Thái Lào, Khmer, Miến, Malay, Indonesia cho đến những tiếng nói thiểu số với vài ba trăm ngàn người, tiếng Muờng, tiếng Nùng, tiếng Hmong, tiếng Chàm …Chúng nó đều có đóng góp âm thanh, giọng nói và ý nghĩa gốc gác,  hay làm nguồn cội ban đầu cho mọi từ, mọi ngữ trong tiếng  Việt.
Và đó là bộ Từ điển nguồn gốc tiếng Việt, sắp xuất bản mà chúng tôi xin phổ biến  truớc một ít từ ngữ nguồn gốc Việt để các bạn và quý vị xem cho vui.
              
BS Nguyễn Hy Vọng


Bài Xuân này xin hát quanh năm


Bài Xuân này xin hát quanh năm

TRẦM TỬ THIÊNG
Khánh Ly
 








Bài Xuân này xin hát quanh năm 
Bài Xuân này xin hát quanh năm 
Đời vì nhau cho mãi còn đẹp 
Tình vì nhau cho xuân còn hồng 
Mùa Xuân nào bươn bã chân không 
Cuộc tình đau với vạn ngày tròn 
thành tuổi trời như mãi long đong 


Hát say mê reo mời Xuân về 
áo đua bay theo mùa hội hè 
Tìm gặp đây lao xao tâm sự 
chuyện thời xưa thời loạn ly 
Hát suy tôn ơn người dưới mộ 
đã vui tay môi cười xong nợ 
đời mùa Xuân tìm mùa Xuân 


Bài Xuân này xin hát quanh năm 
hòng ru mờ giây phút thương tâm 
Từ mùa Xuân tan trong lửa đạn 
ngồi chờ tin anh em muộn màng (ngộ nạn?) 
Vì đau buồn Xuân bỏ đi nhanh 
Mặc đời đau kiếp người lận đận 
được mấy giờ vui cũng mong manh 


Hát thương ru bên sầu xanh mộ 
Hát đưa nhau khỏi đời mơ hồ 
Rồi lửa mãi xuân xanh vô tận 
Ngày bình yên, mặt trời lên 
Hát ru hơ môi nàng góa phụ 
cấy cơn mơ tháng ngày sa mù 
Một thời xuân ! tình còn xuân ! 


Bài Xuân này xin hát quanh năm 
Bài Xuân này xin hát quanh năm 
Buộc đời nhau chia nhau mộng đẹp 
tình là bao anh em chật hẹp 
Gọi nhau về yêu nốt trăm năm 
từ một đêm anh chị phải lòng 
rực lửa tình qua phút vui chung 


Ngửa đôi tay xin người quên sầu 
Hát say mê như tình ban đầu 
Vạn mùa xuân yêu thương không hẹn 
mà còn xanh tình còn xanh 
Hát đưa em theo về với người 
Tuổi em xuân trong lòng lửa gọi 
Đời thật Xuân ! tình thật Xuân !


../.

nhà văn Hoàng Yến



CON CHIM CHỈ ĐƯỢC HÓT TRONG ĐÊM

         

Đứng trước linh cữu nhà văn Hoàng Yến trong đám tang ông,tôi chợt nhớ câu nói của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường mấy năm trước :
“ Nhà văn phải nói lên sự thật…”
Nhưng sự thật luôn luôn là “con chó bị đuổi ra khỏi nhà" (W. Shakespeare), là thứ tối kỵ trong xã hội “bày cừu”,  là hàng quốc cấm trong xứ sở “toàn trị”, là nguy hiểm chết người khi đức vua cởi truồng, trí nông công thương đều nức nở tung hô, ca ngợi y phục hoàng thượng qúa đẹp, thì lại có một anh cả gan kêu lên :” vua cởi truồng”.
Nhà thơ - lãnh đạo Tố Hữu lúc sinh thời đã
kiểm soát văn hóa và tư tưởng Việt Nam một giai đoạn dài
Tất nhiên anh chàng đó phải “ăn đòn hội chợ” của đám “bốc thơm vua”  và phải chịu đòn trừng phạt nặng nề của chính đức vua..
Nhà văn Hoàng Yến là một trong rất ít người to gan dám kêu to lên “vua cởi truồng” đó.  Còn nhớ những năm đầu Đảng và Chính phủ về tiếp quản Hànội, các nhà văn, nhà thơ, các nhà phê bình, các giáo sư…xúm vào khen thơ Tố Hữu , xài ngôn từ như xài bạc giả. Nào là hồn thơ dân tộc, nào là nhịp đập trái tim của Đảng, nào là “hay hơn thơ Nguyễn Du”…Vậy mà  nhà văn Hoàng Yến cả gan viết bài chê thơ Tố Hữu…”bé” vì “chất sống chưa thật sâu sắc nên ý thơ nhiều đoạn còn giả tạo và công thức…”
Vào tháng 4 năm 1955 dám viết như vậy ngay trên báo Nhân Dân thì có khác gì Hoàng Yến kêu lên :” vua cởi truồng”.
Khi hạ bút viết bài “ĐỌC THƠ “VIỆT BẮC “CỦA TỐ HỮU “ đăng 3 kỳ liền trên báo Nhân Dân quả thực nhà văn Hoàng Yến đã ký án tử cho chính ông.
Trước hết phân tích bài “Phá đường”, Hoàng Yến vạch rõ :
“ Cách đây không lâu tôi nhớ có đọc một bài của người anh em miêu tả cảnh đắp đường . Nội dung bố cục cũng giống na ná như bài “Phá đường”. Tuy cách nói có khác nhau nhưng ý tình cũng vẫn là “nhà em con bế con bồng, em cũng theo chồng đi đắp đường quan” cũng “hì hà, hì hục, lục cục lào cào “, cũng thi đua phấn khởi “ Anh tài thì em cũng tài. Đường dài ta lấp sức dai ngại gì …”
Ối chết, viết thế này khác nào tố cáo Tố Hữu ăn cắp thơ người  khác ? To gan hơn, Hoàng Yến dám chê thơ Tố Hữu không bằng thơ “nghiệp dư” của một du kích Nam bộ :
“ Một câu thơ phá đường khác của một du kích Nam Bộ nói lên tình cảm ấy một cách gọn ghẽ, trọn vẹn và tài tình hơn :
“ Con đường số bảy của tau
Nó đi theo giặc tau đào nó đây…”
Tiếp đến Hoàng Yến chê “ Nhưng bài “Lên Tây Bắc” đã làm ta hơi thất vọng. Thi sĩ còn cách xa người chiến sĩ…”
Ái chà, Tố Hữu là nhà thơ của cách mạng, là người vẫy cờ trên mặt trận văn hóa văn nghệ của Đảng mà dám chê “ còn cách xa người chiến sĩ” thì “bố mày đây” chịu sao nổi ? Đã vậy Hoàng Yến còn kết tội Tố Hữu :
“ Thi sĩ không gợi được một trong trăm nghìn phần cái thực tế gian khổ và sức chịu đựng phi thường của người chiến sĩ trên chiến trường rừng núi…”
Như vậy có nghĩa Tố Hữu chỉ ngồi salon bốc phét “chưa từng xuống tận chiến trường rừng núi để đồng cam cộng khổ với chiến sĩ…”. Như vậy từ chê “thơ” , Hoàng Yến đã mon men tới chỗ “chê con người” Tố Hữu. Mãi gần nửa thế kỷ sau Hoàng Yến mới có anh nhà thơ dám viết Tố Hữu chưa lên Điện Biên bao giờ vậy mà vẫn cứ  ông ổng làm thơ coi như ta đang trên đồi A1 vậy.
Đi xa hơn nữa, Hoàng Yến đúc kết :
“Cũng vì vậy những câu  thơ miêu tả những chiến công lịch sử ở Điện Biên tuy đôi đoạn thơ có vẻ mạnh, khí thơ có vẻ hùng nhưng người đọc nhất là những đồng chí đã dự mặt trận Điện Biên , thấy chưa thỏa mãn và còn thấy là giả tạo…”
Ối chết chê thơ Tố Hữu “công thức” thì còn chịu được chứ lại chê “giả tạo” thì đồng chí Ủy viên Bộ chính trị, Trưởng ban tuyên huấn trung ương Đảng chịu làm sao nổi. Quy tội chết cho Hoàng Yến còn là nhẹ. Tuy nhiên để thêm cớ quy tội , phải đợi đến vài tháng sau khi tập thơ “ Tình người soi dặm đường” của Hoàng Yến  NXB Hội nhà văn mới là “dấu chấm hết” cho sự nghiệp văn chương hiểu theo nghĩa “chính thống” của nhà văn Hoàng Yến.
Tập thơ ra đời, lập tức đám phê bình “cung đình” xúm vào đánh đòn hội chợ về tội…đa cảm (!), thiếu “tính chiến đấu” :
“ Đường đi mặt trận
Nước đồng gợn trăng
Gió tre hoa bóng
Gợi tình chiếu chăn…”
                               ( Đường đi mặt trận)
“Chiều cuối năm chưa xuống
Sương xuống nhiều hơn mưa
Bứt lá bỏ dòng suối
Thả xuân về dưới kia…”
                               ( Bứt lá bỏ dòng suối)
Thế là đủ chứng lý để thành…án được rồi. Nhà văn Hoàng Yến phải đi cải tạo tại Văn Phong ( Phú Thọ) 3 năm liền. Sau khi mãn hạn lại bị liệt vào loại cấm bút tức là viết không được in, hoặc nếu có in thì phải ký tên khác , không được ký tên Hoàng Yến.
Vậy tức là không cấm “đẻ” - sao cấm được, viết trong bóng tối, viết đầu bờ đầu bụi, sao mà cấm -, nhưng mà cấm cho “khai sinh”, cấm con “chào đời”.
Phân biệt quái gở “đẻ” và “chào đời” chắc chỉ có ở cái xứ “đỉnh cao nhân loại”. Từ năm  1960 đến mãi 1975, giải phóng miền Nam, kẻ thù “Mỹ-ngụy” đã quá nhiều, thôi thì tha cho “kẻ thù nội bộ” , thế là từ đó Hoàng Yến mới được phép công bố tác phẩm với tên chính của mình.
Suốt 15 năm cấm bút, Hoàng Yến như con chim chỉ được hót trong bóng tối đã lặng lẽ viết, lặng lẽ cất bản thảo vào ngăn kéo hoặc có được in thì cũng với bút danh khác :  Thạch Tiên, Hoàng Lan Châu, Hoàng Đức Anh. Như “chim bị tên sợ cành cây cong”, Hoàng Yến đành rời bỏ những đề tài đương đại, những chuyện thời thế dễ “đụng chạm”, dễ “nhạy cảm” chuyển sang viết chuyên về đề tài…”lịch sử”.
Nhà văn Huy Phương nhận xét về tiểu thuyết lịch sử “ Chân mây khép mở”:
“…Nó làm tôi thích thú trước hết là vì cái phong cách thể hiện của một kiểu tiểu thuyết lịch sử chỉ có thể là của Hoàng Yến, vừa có cái điêu luyện của một cây bút đã được thử thách qua các đòi hỏi  nghiêm ngặt của thể văn kịch bản vừa có sức truyền cảm của một cảm hứng thơ phóng khoáng mà chín chắn…”
Vậy nhưng “sự thù hằn nghiệt ngã”  trong bóng tối “ vẫn chưa tha cho Hoàng Yến. Vở kịch “ Hình và bóng” của ông chỉ mới diễn ở Hải Phòng được vài buổi đã có lệnh cấm .Nhưng đòn thù chết người ấy vẫn không đốn ngã được Hoàng Yến, ông vẫn can đảm “tọa thị thẳng thắn” trên đất nước và vẫn viết tiếp nhiều vở diễn giá trị khác trong Đó nổi bật là “Thanh gươm cô đô đốc” được mời sang công diễn ở Paris.
Nhà văn Hoàng Yến đã vĩnh biệt thế gian tràn đầy ghẻ lạnh này , thật không ngờ bạn bè tới chia tay ông với những vòng hoa chật cứng một góc chùa Vĩnh Nghiêm cần hẳn một chiếc xe tải chở đi công viên Vĩnh Hằng mới hết. Điều đó phải chăng đúng như ông đã dự cảm trong bài thơ “Mây của đất” viết từ năm 1985 :
“ Hãy chôn tôi dưới hoa
Vì hoa là mây của đất
Và ông trời xanh nhìn về trần gian
Cũng bàng hoàng lác mắt
Tưởng  thi thể tôi nằm giữa đám mây ngũ sắc
Dưới trần cũng có mây trời…”
Nhà văn Hiền Phương, ái nữ của nhà văn Hoàng Yến  kể lại sau khi ông vừa mất, chị chỉ vào dò phong lan mới mua :
“ Hoa đẹp thế này sao ba không về ngắm hoa…”
Lạ thay bỗng dưng có một làn gió thổi quay cành phong lan hướng về chỗ Hiền Phương. Phải chẳng anh linh nhà văn Hoàng Yến vẫn còn hiện diện đâu đó.
Nhà văn bị cấm bút vào loại ngặt nghèo nhất Việt Nam đã rời bỏ thế gian này. Lạ thay nếu ta vào Google đánh cụm từ “ nhà văn Hoàng Yến” sẽ không ra một kết quả nào, toàn người mẫu, ca sĩ…, trong hồ sơ Nhân Văn Giai phẩm của các phê bình gia hải ngoại (đặc biệt bà Thụy Khuê  - RFI) cũng tuyệt nhiên không nhắc tới tên Hoàng Yến mà chỉ xoay quanh Trần Đân, Lê Đạt , Hoàng Cầm …chắc họ còn muốn có VISA trở về VN.
Hiện tượng “cấm bút” ở VN ngày nay vẫn còn , tuy nhiên chỉ cấm không được xuất bản tại các cơ quan  báo chí , xuất bản Nhà nước thôi , còn  các trang văn học nhan nhản trên mạng, nhà văn “cấm bút” đẻ xong vẫn có thể cho đứa con chào đời tại bất kỳ trang nào :” tiền vệ, hợp lưu, da mầu.vân vân và vân vân…”.
Interrnet ra đời là một mối đại hiểm nguy cho các “ông vua cởi truồng”. Ôi, giả sử nhà thơ Tố Hữu sống tới ngày nay để làm thơ về đề tài “ truyền thông liên mạng toàn cầu “ thì vui biết bao !

28-2-2012


Lữ Phương / “kỷ niệm” của Hoàng Tùng về Hồ Chí Minh


Vài nhận xét về những "kỷ niệm" của Hoàng Tùng


Lữ Phương

1) NỘI DUNG

Nội dung những trang “kỷ niệm” của Hoàng Tùng về Hồ Chí Minh có mấy điểm đáng chú ý có thể tóm tắt như sau:

Liên Xô:

Từ 1928 đến 1948, coi Hồ Chí Minh là dân tộc chủ nghĩa.
Những người học Liên xô về nói chẳng ai hiểu gì cả (Bùi Công Trừng, Nguyễn Khánh Toàn).
Một số khác như (Phi Vân, Trần Văn Giàu) xem thường Hồ Chí Minh, cho ông già này theo dân tộc chủ nghĩa, trình độ lý luận kém.
Năm 1934-1938, Hồ Chí Minh đến Liên xô không được giao nhiệm vụ cụ thể, xin làm luận án không cho. Trong Đại hội QTCS 7, chỉ là đại biểu dự thính.
Đến 1945, Liên xô vẫn cho Việt Minh là dân tộc chủ nghĩa, vì đã giải tán Đảng cộng sản. Không thừa nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.

Trung Quốc:

Cũng nghi Hồ Chí Minh là dân tộc chủ nghĩa vì đã giải tán Đảng. Dựa vào ý kiến của Stalin, sau 1949, Trung quốc cho mình là người đỡ đầu Việt Nam.
Những chính sách cải cách ruộng đất, chỉnh huấn, thuế công thương, cải tạo tư sản… với những hậu quả tai hại cho đất nước đều do Trung Quốc đưa sang. Riêng với cải cách ruộng đất, Trung quốc nhắm đánh vào Đảng Việt Nam. Xoá bỏ cơ cấu tổ chức cũ (thanh lọc, giết hại những người đã tham gia cách mạng tháng tám, những thành phần trí thức…) tạo ra tổ chức mới (công nông…).
Nhóm cán bộ Việt Nam từ Trung quốc về Việt Nam sau cách mạng thành công, như Nguyễn Sơn, Hoàng Văn Hoan, Hồ Tùng Mậu, Trần Hữu Dực… luôn kèn cựa nhau. Riêng Nguyễn Sơn suốt ngày đả kích Võ Nguyên Giáp, phê bình trường Nguyễn Ái Quốc…

Thực chất Hồ Chí Minh

Năm 1950, Hồ Chí Minh bí mật sang Trung Quốc và Liên Xô để giải thích việc giải tán Đảng chỉ là mẹo để lừa địch.
Về cải cách ruộng đất, Hồ Chí Minh tán thành nhưng chưa muốn làm ngay (thuyết ba giai đoạn do Trường Chinh đưa ra : hãy giảm tô, giảm tức trước).
Hồ Chí Minh làm đúng đường lối: cách mạng nhân dân, quần chúng rồi tiến dần đến xã hội chủ nghĩa. Làm từ từ, dần dần. Không theo mẫu của Stalin và Mao Trạch Đông: hai mẫu này là giáo điều, sách vở.
Hồ Chí Minh cho rằng Đảng của Việt Nam là đảng của công nhân, của nhân dân lao động, tức là của dân tộc, không phải chỉ là công nông. Có lúc Hồ Chí Minh nói đảng của công nhân cũng chỉ là “ theo thời cuộc ”, “ chiều lòng người ”. Tuy không nói ra, nhưng Hồ Chí Minh rất sắc bén chứ không hề “ kém ” về lý luận như sự phê bình của những người học ở Liên xô về.

Hồ Chí Minh bị o ép

Nhưng tại sao trong thực tế, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam lại diễn ra theo kiểu Satlin và Mao? Theo tác giả thì Việt Nam đã bị cả Stalin lẫn Mao Trạch Đông thúc ép phải làm như họ. Đặc biệt Trung Quốc với hai phái đoàn cố vấn sang Việt Nam năm 1950 (chính trị: La Quý Ba, quân sự: Vi Quốc Thanh).
Trường hợp cải cách quân đội : có người nghe cố vấn Trung Quốc lập danh sách cán bộ không xuất thân từ gia đình công nông để gạt ra khỏi quân đội, Hồ Chí Minh bảo đốt ngay đi, thay bằng ấy người thì quân đội không còn cán bộ.
Nhưng trong cải cách ruộng đất thì lại khác. Trường hợp bà Nguyễn Thị Năm bị kết tội, Hồ Chí Minh nói: “Tôi đồng ý có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho cách mạng”. Ông cũng nói: “Mình đã nói để kháng chiến xong đã, mới tiến hành cải cách ruộng đất, cứ ép mãi. Mà nếu có làm cũng làm theo cách ta, chứ không theo họ”. Nhưng cuối cùng vẫn không cứu được bà Năm và cùng với bà Năm, không biết bao nhiêu sinh mạng, trong đó có rất nhiều người là đảng viên.

2) NHẬN XÉT

Những “kỷ niệm” của Hoàng Tùng đã cho chúng ta một số tư liệu sống (một cán bộ cộng sản có gần gũi ông Hồ) để khẳng định thêm mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh với những “bầu bạn” của ông trên thế giới. Vai trò của Hồ Chí Minh trong Quốc Tế Cộng sản không quá quan trọng như guồng máy tuyên truyền của Đảng đã thổi phồng lên. Chúng ta đã biết số phận lận đận của Hồ Chí Minh từ 1928 đến 1938 ra sao, nay lại biết thêm tình trạng Hồ Chí Minh bị Liên Xô lẫn Trung Quốc nghi ngờ sau cả 1945. Cũng biết thêm việc uy tín của Hồ Chí Minh không được nhất trí thừa nhận trong hàng ngũ Đảng, không phải từ những năm 1930 mà mãi cả về sau này. Điều đó chứng tỏ sự kèn cựa về địa vị, sự phân liệt, chia rẽ về đường lối luôn luôn tồn tại trong Đảng, ngay khi mới thành lập và suốt trong thời kỳ chưa cầm quyền.
Tuy vậy, ý định của Hoàng Tùng muốn làm giảm vai trò của Hồ Chí Minh đối với Quốc tế Cộng sản là không có cơ sở. Tuy không phải là cán bộ quan trọng (không được vào Ban Chấp hành như Lê Hồng Phong) và tuy đã bị QTCS kỷ luật một thời gian, uy tín chủ yếu mà Hồ Chí Minh tạo được cho mình vẫn là nhờ vào danh nghĩa QTCS. Nương theo đường lối của Nga đối với Quốc Dân Đảng năm 1925 về được Quảng Châu. Nhờ Cứu trợ đỏ can thiệp trong vụ bị bắt ở Hồng Kông năm 1931. Năm 1938 vẫn được QTCS cử về Việt Nam với tư cách là cán bộ đặc trách Đông Dương. Các vấn đề tiền bạc, đào tạo cán bộ, tài liệu tuyên truyền… đều nhờ vào QTCS.
Việc quy tất cả những sai lầm về đấu tranh giai cấp ở Việt Nam cho Stalin và Trung Quốc cũng rất khó thuyết phục. Tác giả nói Hồ Chí Minh, tuy có chống lại, nhưng vẫn cứ bị o ép phải thực hiện chủ trương của họ. Nhưng điều quan trọng nhất là tại sao thì lại không được bàn đến. Hợp lý nhất có lẽ là nhận xét này: Hồ Chí Minh buộc nhân nhượng chỉ vì ông đang cần sự chi viện của Trung Quốc để kháng chiến chống Pháp. Nhưng nếu chỉ như vậy thôi thì sẽ không tránh khỏi rơi vào thái độ thực dụng vô nguyên tắc. Còn nếu lý lẽ ấy bị loại trừ thì Hồ Chí Minh sẽ khó tránh khỏi bị xem là một lĩnh tụ không đủ bản lĩnh để nói “không” trước những vấn đề cần phải nói “không” một cách quyết liệt (như trường hợp bà Nguyễn Thị Năm).
Thật sự thì đem lý do bị bên ngoài o ép hoặc do phải “chiều lòng người”, “theo thời cuộc”… để giải thích những sai lầm mà Hồ Chí Minh đã vấp phải trong quá trình thực hiện đường lối cách mạng vô sản ở Việt Nam là không xác đáng. Quá trình hình thành sự chọn lựa của Hồ Chí Minh về ý thức hệ cho ta thấy những sai lầm ấy đã bắt nguồn từ sự tiếp nhận lý luận “Mác-Lênin” của Hồ Chí Minh: thực chất của thứ “chủ nghĩa Mác-Lênin” của Hồ Chí Minh chỉ là chủ nghĩa Stalin cộng với chủ nghĩa Mao chứ không phải là cái gì khác! Chính trong quá trình dựa vào Quốc tế cộng sản để giải phóng dân tộc và giành quyền lực cho Đảng, Hồ Chí Minh đã đem về cho đất nước cái hệ tư tưởng nguồn gốc của mọi sai lầm ấy. Sự khác biệt giữa Hồ Chí Minh với Stalin hay Mao Trạch Đông do đó không phải là sự khác biệt về hình mẫu mà là về biện pháp, nhịp độ thực hiện hình mẫu ấy như Hồ Chí Minh đã cho biết qua sự trình bày của Hoàng Tùng.
Với ý định biện hộ cho những sai lầm của Hồ Chí Minh, Hoàng Tùng đã tạo ra một hình ảnh huyễn hoặc mới cho vị lĩnh tụ của mình: Hồ Chí Minh là một nhà mácxít theo chủ nghĩa dân tộc và cải lương! Tuy có khác với lý lẽ của bộ máy tuyên truyền nhà nước cộng sản Việt Nam, cách nhìn của người cán bộ cấp cao, “tuổi đã gần đất xa trời” này (như báo Diễn Đàn đã nói về Hoàng Tùng) vẫn chưa thoát khỏi những ảo tưởng về cái quá khứ mà chính ông đã góp phần tạo nên. Chính cái ảo tưởng này đã quy định cái ảo tưởng “đổi mới” của ông về Hồ Chí Minh: cần phải tẩy rửa khỏi sự nghiệp của Hồ Chí Minh các dấu tích của Stalin và Mao Trạch Đông. Trong khi cố giữ cho Hồ Chí Minh danh nghĩa “chủ nghĩa xã hội” thì lại tìm cách thổi vào khái niệm này một thứ nội dung thật mờ mịt – chuẩn bị thay thế cho sự suy tàn của chủ nghĩa tư bản đầy bất công – để biện minh cho vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với đất nước. Nhưng chừng nào thì chủ nghĩa tư bản mới suy tàn và chừng nào và bằng cách nào Đảng mới hoàn thành được nhiệm vụ “thay thế” đó, những điều này không nghe tác giả nói tới. Ngàn năm? Vạn năm? Và vẫn không có cách nào khác hơn là dựa vào điều 4 của Hiến pháp?
Có lẽ phần đáng chú ý nhất trong những trang “kỷ niệm” nói trên là những cái mà tác giả gọi là “nỗi đau” của ông Hồ. Về đời tư, tác giả chỉ nói sơ qua, và cũng chỉ dừng lại nơi sự tan vỡ gia đình mà không đả động gì đến sự chia lìa trong tình yêu, hôn nhân vốn cũng là những chuyện rất đáng nói trong cuộc đời hoạt động đầy phiêu lưu và bí ẩn của ông Hồ.
Quan tâm chính yếu của tác giả vẫn là chính trị, và ở đây những “nỗi đau” được đề cập vẫn chỉ là những phiền muộn do “bầu bạn”gây ra, không có gì mới. Nhưng dù sao thì qua sự bộc lộ của tác giả chúng ta cũng thấy thêm được phần nào tính cách của Hồ Chí Minh: ở Hồ Chí Minh không hề có những dằn vặt của sự nhìn lại như ở Lênin vào những năm cuối đời – nhiều lắm chỉ là những bực bội của một nước nhỏ bị những bậc đàn anh lấn lướt, o ép.
Có một điều đặc biệt về tính cách của Hồ Chí Minh không được Hoàng Tùng quan tâm. Đối với Hồ Chí Minh, dù trong thâm tâm nhiều lúc không tránh khỏi buồn phiền vì những chuyện bất như ý, nhưng ít khi nào ông chịu bộc lộ, nhất là bộc lộ công khai. Ý thức về trách nhiệm phải đóng cho tròn những vai trò do mình tự đặt hoặc do tập thể giao cho, đối với ông là rất quan trọng, nhất là những vai trò tiêu biểu có tác dụng tập hợp quần chúng: Quốc tế Cộng sản, Đảng, Chủ tịch, Bác Hồ, Cha già dân tộc…. Ông luôn cảnh cáo cán bộ về chủ nghĩa cá nhân, khuyên phải lấy lợi ích tập thể để giải quyết mọi mâu thuẫn nẩy sinh trong đời sống và khi cần thiết thì phải biết hy sinh. Bi thảm hoá những “ nỗi đau ”có ý nghĩa chính trị của một lĩnh tụ có ý thức rất mạnh về sứ mệnh của mình như vậy có lẽ không thích hợp lắm.
L.P