Lượt xem trang

BÀI CA SÁT THÁT






BÀI CA SÁT THÁT
Vũ Hoàng Chương viết năm 1962 tại Sài gòn

**

Đoàn người ấy mọc lên trong sa mạc, 
Cả một rừng gươm trên lưng ngựa trường thành 
Đoàn quân ấy từ phương Đông xuất phát, 
Lũ con hoang bất trị của trời xanh 
Chỉ nhắp có hơi men sung sát, 
Chỉ say sưa bằng những miếng giao tranh, 
Nhằm hướng Phi châu 
Ngựa vọt tới đâu là đời sống tan tành, 
Biển ngập máu còn mang tên Hồng Hải 
Cờ phất Âu châu, 
Ngựa giẫm tới đâu là xương phơi thịt vãi 
Biển đeo tang còn Hắc Hải ghi danh...
Như ngọn cuồng lưu, như cơn bão cát 
Từ Mông Cổ, Tân Cương đến Ba Tư Bạch Đát, 
Trở về Hoa Hạ, Yên kinh 
Lũ Thiên triều từng Bắc chiến, Tây chinh 
Lẽ nào để một phương không xéo nát! 
Trời Nam riêng cõi thanh bình 
Lẽ nào để chiếc ngai vàng Thát Đát 
Ba chân trời Đại Lục đứng chêng vênh!
Hay đâu: Bắc phương vừa quẫy đuôi kình 
Rồng thiên sớm đã cựa mình Nam phương 
Trần triều hai Thánh Đế 
Hương Đạo một Đại Vương 
Hội mở Diên Hồng, đất nước vang rền khí thế, 
Hịch truyền Vạn Kiếp, trời mây sáng rực văn chương. 
Ý gửi tự muôn dân, lệnh trao từ chín bệ 
Thì nắm đầu giặc như chơi, cướp giáo giặc cũng dễ. 
Đây cửa sông Hàm Tử, bến đò Chương Dương! 
“Nuốt sao Ngưu” chẳng phải việc hoang đường 
Nam phương cường, Bắc phương cường! 
Máu đào loang sóng Phú Lương mấy lần...
Sét nổ trăm hai ngọn ải Tần, 
Giang hoài biên tỉnh lại ra quân 
Năm mươi vạn tinh binh ruổi ngựa 
Tràn xuống Thăng Long như một khu rừng bốc lửa. 
Những “Cây Sắt” con nòi Thiết Mộc Chân!
Giống Hồng Lạc giữa hai đường sanh tử 
Trông lên sợi tóc buộc ngàn cân 
Chợt đâu đó xé rèm mây quá khứ, 
Xa thăm thẳm mấy ngàn năm Việt sử 
Rọi về tia mắt tiền nhân: 
Thiêu tàn khoảnh khắc bao do dự 
Cả thép vô danh cũng rực ánh gươm thần...
Sát cánh vua cùng dân 
Chung lòng với tướng quân 
“Phá cường địch” cờ ai sáu chữ 
Báo hoàng ân là báo quốc ân 
Trăm họ chẳng ai còn lưỡng lự 
Sông núi nào riêng một họ Trần. 
Bình Than lạ nổi phong vân 
Một gươm Tiết chế hai lần trao tay.
Lời Đại Vương truyền nín cỏ cây 
Ba quân hào khí ngất tầng mây 
Vụt nghe tướng lệnh, vươn mình thét: 
-Sông Bạch Đằng tôi có mặt đây! 
Hán hồ cũng đến chôn thây 
Trước sau một khúc sông này mà thôi...
Triều non bạc lên ngôi, giờ lịch sử 
Và xuống ngôi, theo lệnh Đại Vương truyền. 
Nước rút đi, như ngàn vạn mũi tên 
Lấy Đông Hải làm bia nhằm bắn tới 
Một ám hiệu Kình nghê vừa mắc lưới, 
Thuyền Vương Sư liền quật khởi tranh phong 
Tay chèo nổi ngược cơn dông 
Tiêng hò “Sát Thát” vang sông ngập bờ.
Duyên Giang một giải, 
Lau cũng phất cờ 
Mùa xuân gần cuối 
Vẫn sóng bay hoa 
Ngang trời động sấm tháng ba, 
Dọc sông chớp giật, sáng loà gươm đao...
Cũng nơi đây Bạch Đằng Giang một khúc, 
Ngô Vương từng chém Hoằng Thao 
Gió mây thôi thúc 
Quằn quại ba đào 
Chợt tưởng niệm máu càng sôi sục, 
Tinh thần quyết thắng bốc lên cao.
Thế phản công làm giặc dữ nôn nao 
Chúng hoảng hốt vội thu quân về thượng lưu sông Bạch, 
Nhưng số phận Hung nô, người phương Nam đã vạch, 
Hỡi ơi, bằng giáo sắt cắm ngang sông 
Đáy trường giang là cả một bàn chông 
Nằm đợi sẵn khi thuỷ triều xuống thấp 
Đoàn thuyền giặc lui qua bị xô nghiêng, lật sấp 
Bị xé ra từng mảng vở tan thây...
Giữa lúc rồng thiêng mở vuốt tung mây 
Quân tiếp ứng của Vương Sư ào xuất trận 
Và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn 
Hiện ra như một vị thần linh 
Chớp mắt trên sông bặt sóng kình 
Thế là đã nơi này bỏ xác 
Lũ con hoang của trời sa mạc 
Khắp Á, Âu từng vạn lý trường chinh 
Bọn chúng ngờ đâu một sớm cõi Lý Minh 
Thân bách chiến bỗng quay về hột cát 
Trôi theo sóng cả tiếng tăm nòi Thát Đát 
Cả giấc mơ xâm lược chúa Hồ Nguyên...
Ấy ai qua chốn giang biên 
Khói đầy khoang giấc sầu miên lạnh lùng 
Tiếng kình vang đợt sóng rung 
Có nghe chăng có thẹn thùng người xưa? 
Riêng ai nước cũ mây mờ 
“Thái Bình Diên Yến” câu thơ lệ nhoà 
Tháng Giêng kỷ niệm Đống Đa 
Sông Đằng kỷ niệm tháng ba mấy lần?
Đầu mùa xuân, cuối mùa xuân 
Cánh tay Đế Nguyễn, Vương Trần nào ai?



Vũ Hoàng Chương 1962
........../.