RỒI AI “KIẾN TẠO” ĐẠO ĐỨC QUỐC GIA ĐÂY?


RỒI AI “KIẾN TẠO” ĐẠO ĐỨC QUỐC GIA ĐÂY?





Những cái chết lãng nhách, những vụ đánh đập trẻ em tàn nhẫn trong trường mẫu giáo, những vụ giết người man rợ, những vụ bát nháo trong học đường, những vụ thờ cúng mông muội… Tất cả đều gây ra phẫn nộ và dẫn đến tranh cãi gay gắt, để rồi ngày mai sẽ có vài sự kiện kinh khủng tiếp theo, gây ra cơn phẫn nộ tiếp theo. Đất nước này giờ hệt như một bộ phim bi ai kéo dài bất tận. Đừng nói tôi bi thảm hóa vấn đề hoặc bị ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội. Những câu chuyện ấy xảy ra hàng ngày và được báo chí tường thuật hàng ngày. Sẽ là rất vô tri nếu vẫn nghĩ những sự việc kinh khủng ấy là đơn lẻ và không ảnh hưởng đến xã hội nói chung.
Bây giờ sự ác và cách sống ác đang tấn công tàn bạo và trực tiếp vào tầng lớp thấp nhất, những người được bảo vệ ít nhất, được trang bị kiến thức nền hạn chế nhất và có ít chọn lựa nhất. Như một tiến trình “phát triển” thông thường, sẽ đến lúc nó tấn công tầng lớp cao hơn, chạm đến chiếc cổng kín tường cao của thành phần giàu có hơn; và cuối cùng nó gõ cửa tầng lớp cai trị. Tôi đang thấy cái bóng của kẻ hủy diệt phủ rộng lên tất cả. Sẽ chẳng ai có thể thoát khỏi ảnh hưởng lây nhiễm của cơn “dịch ác” này. Không sự hủy diệt nào mà không có tiến trình thời gian. Chậm hay nhanh tùy vào khả năng ngăn chặn và ý muốn ngăn chặn. Không sự tàn phá cơ thể nào mà không mất một thời gian, nếu căn bệnh hiểm nghèo không được cứu chữa.
Cái ác lan tràn mỗi lúc mỗi nhiều trên mọi miền thì vấn đề không còn là chuyện cá biệt hoặc mang tính địa phương. Một sự phân hủy xã hội, toàn diện, đang diễn ra. Nó là hậu quả tất yếu của một nền giáo dục tồi tệ, được định hình bằng những tư tưởng thảm hại “học và làm theo” và được quản lý bởi những viên chức hoặc bộ trưởng mà sự tự trọng và liêm sỉ còn tệ hơn học sinh tiểu học trường làng của nền giáo dục VNCH.
Nó là hậu quả tất yếu của một sự đổ nát đạo đức được tạo ra bởi một thể chế được xây dựng trên căn bản và nền móng của cái ác và sử dụng sự bất nhân như cái trục xuyên suốt chiều dài lịch sử cai trị, đối với người dân lẫn với chính “đồng chí” của mình.
Nó còn là hậu quả của việc ngược đãi thành phần trí thức, kể từ thời Hồ Chí Minh đến nay.
Bộ hồ sơ dày cộm với những Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường trong quá khứ và những Trần Huỳnh Duy Thức trong hiện tại là bằng chứng cho điều đó.

Sự thiện khó có thể tìm được chỗ để đặt chân trong nền giáo dục hổng chân, trong đó đạo đức làm người ngày càng bị bào mòn và mai một. Muốn xây dựng xã hội, đạo đức làm người, chứ không phải “đạo đức cộng sản”, cần phải được chú trọng. Một cách công bằng, chế độ cộng sản không là thủ phạm duy nhất khiến tất cả giá trị đạo đức trở nên khủng hoảng nhưng cách thức cai trị cộng sản đã đẩy nhanh tốc độ suy thoái xã hội.

DƯỚI MÔI TRƯỜNG CỘNG SẢN, CÁI XẤU VÀ CÁI ÁC ĐÃ ĐƯỢC CUNG CẤP DƯỠNG CHẤT ĐỂ LÂY LAN BÙNG PHÁT.

Nếu cái thiện là hạt giống gieo trồng đòi hỏi sự nhẫn nại, công sức và thời gian chăm sóc thì cái xấu là loài cỏ dại hoang dã phát triển cực nhanh. Muốn dẹp được cỏ dại, điều đầu tiên là xem lại môi trường sống của nó, cách nó hình thành, cách nó phát triển và cách nó lây lan. Muốn dẹp được cỏ dại, điều cần làm là tiêu diệt môi trường sống của nó.
Ai sẽ làm điều này? Chẳng ai cả. Chẳng ai dám cả.
Người ta vẫn cúi đầu cam chịu. Thậm chí quỳ gối.
Đất nước này có rất nhiều tổ chức, đoàn thể lẫn “mặt trận” nhưng chẳng tổ chức nào dám kêu gọi chấn chỉnh đạo đức.
Ai dám kêu gọi thay thế “đạo đức Hồ Chí Minh” bằng đạo đức làm người?
Tôi không hề thấy bóng dáng của “kiến tạo đạo đức” trong “xu hướng kiến tạo” của chính quyền hiện tại.
Tôi không thấy “bản vẽ” nào cho kiến tạo đạo đức trong những phác họa hạ tầng “đô thị thông minh”. Những thiết bị thông minh sẽ chẳng bao giờ mang lại một xã hội văn minh nếu những giá trị đạo đức không được nâng cấp lên thành những phiên bản “tương thích” với lối sống có văn hóa và có giáo dục.

Không tờ báo nào đủ can đảm để nói thật và nói đến tận cùng nguyên nhân của sự bùng nổ cái ác. Những bài viết than thở cũng chỉ như cái chạm nhẹ vào cơ thể con bệnh. Nó không phải là liều thuốc. Không ai dám đưa thẳng con dao mổ vào khối u. Vì điều đó sẽ đụng đến chính trị và thể chế. Điều này khiến xã hội càng bất lực và hậu quả là sự hình thành thái độ vô trách nhiệm – giữa chính quyền với người dân và giữa người dân với người dân.

Sẽ không bao giờ có giải pháp nào ra đời khi căn nguyên vấn đề bị lảng tránh. Càng không phải là giải pháp khi người ta lên án cái ác bằng ngôn ngữ tàn ác và kêu gọi sự đáp trả bằng hành vi tàn ác dữ dội nhất có thể. Tôi đã đọc những bài viết chỉ trích các phụ huynh gửi con vào trường mẫu giáo nơi con cái họ bị ngược đãi. Tôi không hiểu tại sao phụ huynh cũng có thể bị mắng chửi trong trường hợp này, khi mà họ là những công nhân rất nghèo và hoàn toàn không có sự chọn lựa thay thế. Tôi cũng đã đọc những bài viết chửi rủa tất cả đối tượng liên quan trong một sự việc cụ thể. Thật ra tất cả đều là nạn nhân. Họ đều là nạn nhân của một thủ phạm chung: thể chế và hệ thống giáo dục của thể chế đó.

Xã hội đang có một thủ phạm chung. Dù vậy, nó không phải là thủ phạm duy nhất. Thủ phạm trực tiếp khác còn là chính chúng ta. Sự ích kỷ, đố kỵ, ganh ghét, thù hằn, dối trá, vô tâm..., luôn được “cài mặc định” sẵn trong mỗi người, đã đồng loạt ào ra, trong cái môi trường be bét mà hệ thống giáo dục cộng sản mang lại.

Trông chờ thay đổi hệ thống giáo dục chỉ là một sự tuyệt vọng kéo dài. Điều đó sẽ chẳng bao giờ xảy ra, chừng nào mà chế độ tồi tệ này còn tồn tại.
Tuy nhiên, xin đừng bế tắc.
Chúng ta chưa thể xóa bỏ sự áp đặt “đạo đức cộng sản” nhưng chúng ta, ngay bây giờ, có thể tự thay thế nó bằng việc xây dựng cho mình bộ quy chuẩn riêng – ít nhất đó là giải pháp khả dĩ để không chỉ cứu mình mà còn có thể giới hạn sự lây lan của cái ác.
Tôi không dám mạo muội bàn về việc làm thế nào để xây dựng cái gọi là “bộ quy chuẩn” ấy. Vấn đề đó quá to lớn, phức tạp và vượt quá sức tôi hay một cá nhân nào. Tôi chỉ nêu ra một gợi ý, như một cách nhắc nhở chính mình, như một cách để tự giáo dục bản thân.
Tôi vẫn tin vào giáo lý căn bản của nhà Phật: gieo duyên thiện luôn gặp phước lành và gieo nghiệp ác sẽ gặp ác báo.

........../.


VĂN HÓA - YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN CỦA MỌI DÂN TỘC





VĂN HÓA -  YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN CỦA MỌI DÂN TỘC

http://www.viet-studies.net/kinhte/TruongQuangDe_VanHoaQuyetDinhPhatTrien.html
***
Trương Quang Đệ


Từ đầu thế kỷ 20, luồng tư tưởng duy vật trở thành chủ đạo trong mọi sinh hoạt của nhân loại, dẫn đến việc đánh giá sự thăng tiến của các quốc gia trên cơ sở kinh tế và mặc nhiên coi kinh tế là tiêu chí duy nhất để phấn đấu cho mọi quốc gia.  
Chẳng hạn tham vọng của nhà lãnh đạo Liên Xô những năm 60 của thế kỉ trước, ông Nikita Khroutchev là tìm cách đuổi kịp Mỹ vào năm 1970, vượt Mỹ vào năm 1980 và sau đó các nước xã hội chủ nghĩa, kể cả Việt Nam, Mông cổ vv sẽ dắt tay nhau tiến vào chủ nghĩa cộng sản, tức là làm tùy năng,(lực), hưởng tùy nhu (cầu), sống tự do hoàn toàn trong một xã hội hết sức phồn vinh. Muốn vậy, phải vượt Mỹ về các chỉ tiêu kinh tế như số lượng dầu mỏ, thép, than, xi măng, máy kéo, xe tải, vệ tinh vv.
Trong kế hoạch vĩ đại này không thấy có yếu tố văn hóa xã hội nào cả.
Trước hết không có triết lý về phát triển. Kế hoạch của nhà nước bao cấp chủ yếu dựa vào số lượng mà không tính đến chất lượng. Năm này sản xuất được 5000 máy kéo thì năm sau phấn đấu lên 6000, không quan tâm xem máy kéo tốt hay xấu, có nhu cầu hay không. Thành tích của nhà máy sản xuất ô tô là tính nguyên chiếc, chẳng hạn 180.000 chiếc, không tính phụ tùng. Vì vậy nhà máy coi việc sản xuất phụ tùng là bất đắc dĩ. Có lần bản thân tôi chạy khắp Mascơva mà không tìm được nơi để mua một cái bugi xe máy. Tôi hỏi một người bạn Nga cách mua phụ tùng như thế nào thì anh cho biết các cơ quan và cá nhân phải kê khai nhu cầu cho các cấp quản lí, các cấp nầy sẽ đưa vào kế hoạch và phân về cho cơ sở.
Nền kinh tế bao cấp của các nước xã hội chủ nghĩa bị trói chân tay bằng những cách làm nhiêu khê như vậy. Kế hoạch nhà nước không lường được biến động trong công nghệ hay thị hiếu tiêu dùng. Không ai nghĩ được việc thay đổi nhanh chóng của ngành nhiếp ảnh chuyển từ phim kodak sang kĩ thuật số. Một trong những lí do khiến chủ nghĩa xã hội tan rã là sự phá sản của kinh tế kế hoạch hóa cứng nhắc. Vào những năm 1980 của thế kỉ trước, khi các nước phương Tây và Mỹ , Nhật Bản tiến vào cách mạng công nghiệp thứ ba thì Liên Xô và Đông Âu vẫn trong cách mạng công nghiệp thư hai, chưa ai nghĩ tới cuộc cách mang công nghiệp thứ tư đang tới gần và sự hội nhập khu vực cũng như toàn cầu trở nên cấp thiết.
Rõ ràng kế hoạch "vượt Mỹ" của Khroutchev chỉ là ảo tưởng, hay là tư duy lệch hướng trước thềm hội nhập toàn cầu và IOT.  Mặt khác, trong cuộc chạy đua giữa Liên Xô và Mỹ người ta không tình đến "tính văn hóa" của công dân mỗi nước, tức là thói quen suy nghĩ, hành xử...của con người. Ở Mỹ mọi người tự xoay xở lấy không trông cậy vào ai, thậm chí các trường đại học từ chối hỗ trợ của nhà nước vì sợ mất tự chủ. Trong khi đó công dân Liên xô mọi thứ đều trông chờ nhà nước, từ ăn ở, nuôi con, việc làm đến nghiên cứu khoa học, du lịch, giải trí. Không có ý kiến của các cấp lãnh đạo thì không ai chủ động làm gì, chưa nói đến việc nhà nước ngăn cấm công dân tự do kinh doanh, tự do sáng tạo.
Thực tế cho thấy những bước tiến công nghệ ở Mỹ đều do các cá nhân tay trắng làm nên. Ở Liên xô cũ, nhà nước thấy Phương Tây có gì mới thì giục dân mình học làm theo, thế thôi. Trong suốt bảy mươi năm tồn tại không thấy có sản phẩm xô viết nào đóng góp cho thị trường thế giới, trừ súng AK 47. Thời Gorbachev, ngân hàng bắt chước Phương Tây phát thẻ tín dụng làm phương tiện thanh toán văn minh thay tiền mặt. Nhưng đa số công dân lúc đó giỏi lắm có vài trăm rúp trong tài khoản, cần gì đến thẻ tín dụng?
Trường hợp Liên Xô cũ cho thấy sự phát triển kinh tế không dựa vào năng động trí tuệ và phẩm chất văn hóa cao sẽ bế tắc hoàn toàn. Bản thân tôi nghiệm thấy tầm quan trọng của văn hóa khi tôi có dịp làm việc tại Châu Phi. Hai nước láng giềng có điều kiện như nhau về tài nguyên, môi trường nhưng nước tôi ở lạc hậu nhiều so với nước lân cận. Một đồng nghiệp của tôi cho biết tôn giáo nước của anh buộc người nào làm nên phải cưu mang hết họ hàng. Quả vậy, một đêm tôi đến chơi nhà ông giám đốc của tôi, tôi tận mắt thấy có đến hơn hai mươi lều bạt cắm trong vườn. Hỏi ra mới biết bà con ông giám đốc đóng lều ở như vậy cho đến khi ông ta sắp xếp được công ăn việc làm cho tất cả mọi người. Không cần lí luận gì sâu xa cũng hiểu tại sao yếu tố tôn giáo đó không cho phép đất nước vươn lên.
Hiện nay ở Việt Nam đang diễn ra việc chống tham nhũng trong các cơ quan nhà nước mọi cấp. Báo chí, truyền thanh, truyền hình  và các cấp lãnh đạo chỉ nói về sự yếu kém trong quản lí, luật pháp chư hoàn chỉnh vv... trong việc tìm nguyên nhân tham nhũng.
Không thấy ai bàn về khía cạnh văn hóa của vấn đề.
Nước nào cũng có tham nhũng nhưng không phải nơi nào nạn tham nhũng cũng thành dịch bệnh khó chữa và định mệnh như Việt Nam và Trung Quốc. Chắc chắn phải tìm nguyên nhân sâu xa không phải trong các cách quản lý hay các chính sách mà phải trong cội nguồn văn hóa: Bao trùm tất cả là Nho giáo Khổng Mạnh và trực tiếp là tư tưởng Mao. 
Các nước văn minh thụ hưởng qua nhiều thế kỷ sự phân định rõ ràng các khái niệm nhà nước, chính quyền, nghị viện, công dân, cộng đồng v.v.  trong một nền dân chủ  đúng nghĩa. Mỗi công dân là một người đóng thuế và mỗi công chức là người được dân thuê làm việc cho dân. Ở Trung Quốc và Việt Nam, dầu các khái niệm trên được định nghĩa không khác với các nước văn minh, nhưng trong môi trường văn hóa cổ truyền, người ta ứng xử theo thói quen là chủ yếu. Chẳng hạn dân ta vẫn đánh giá con người qua địa vị xã hội, bằng cấp chứ không theo sự đóng góp tài chính (thuế) cho nhà nước. Các vị được trọng vọng đó đôi khi không đóng xu thuế nào nhưng lại được nhiều đặc quyền như bổng lộc, biệt thự, ở nhà khách miễn phí, đi xe, máy bay không mất tiền.
Sự việc này thuộc về tư duy truyền thống nho giáo coi người nhà nước (công chức) là "quan". Làm quan thì cả họ được nhờ nên đưa hết bà con vào cơ quan nhà nước, lạm dụng chức quyền và tham nhũng là hậu quả tất yếu.
Bên cạnh văn hóa quan lại cổ hủ đó, đã từ hơn nửa thế kỉ qua dấu ấn tư tưởng Mao "lấy nông thôn bao vây thành thị" tác động hết sức mạnh mẽ vào tiềm thức mọi người, nhất là đội ngũ cán bộ các cấp. Tư tưởng này gây dị ứng với cái mới, với văn minh đô thị, tăng xu hướng bài ngoại, coi thường luật pháp. Bản thân tôi trong hơn 60 năm qua đã chứng kiến những sự kiện mang dấu ấn Mao. Một lần đi xe đò từ Vinh ra Hà Nội, xe cán chết một con lợn dọc đường. Lập tức cán bộ địa phương và công an ập tới lập biên bản xử phạt xe đò. Lí do: phá hoại kinh tế địa phương, gây tổn thất cho hợp tác xã. Nếu có tư duy lành mạnh thì đáng ra chủ con lợn phải bị phạt vì vi phạm luật giao thông.
Một lần khác tôi đi xe lửa từ Hà Nội về Hải Phòng, qua địa phận Hưng Yên hay Hải Dương gì đó, tàu vấp phải một con trâu đang đứng trên đường sắt. Lập tức cán bộ địa phương chặn tàu lại đòi tiền phạt. Ngành đường sắt phải lép vế đóng tiền phạt. Một lần khác nũa tôi may mắn đạp kịp phanh xe máy trước một rãnh nước sâu mà bà con nông dân đào ngay trên đường nhựa để dẫn nước vào ruộng. Không cán bộ giao thông nào dám can thiệp vì sợ mất lập trường giai cấp. Tư tưởng Mao rất hiệu quả khi phát động chiến tranh chống Tưởng, chủ yếu phát động tính phá hoại trật tự sẵn có, nhưng để xây dựng một xã hội văn minh, nó trở thành vật cản khủng khiếp.
Sự hỗn loạn trong giao thông hiên nay ở các thành phố có nguồn gốc từ đó. Những năm đầu khi tiếp quản Hà Nội sau 1954 hay Sài Gòn sau 1975, không thể có chuyện phạt người đi bộ, đi xe máy, xe đạp nghêng ngang giữa phố vì họ thuộc thành phần cơ bản. Phạt họ thì lập trừơng giai cấp anh để đâu?  Những cán bộ nhà nước xuất thân từ thành phần cơ bản hay từ nông thôn đều thiếu ý thức về luật pháp, về ý thức cộng đồng và đặc biệt về khái niệm công dân. Họ chỉ nhận thức được sự khác biệt giữa người có quyền (cán bộ) và người không có quyền (dân, hay phó thường dân). Đặc điểm của tầng lớp này là coi của công như của riêng. Được phân công quản lý đất đai thì chiếm làm của riêng, được phân xe thì dùng cho gia đình, được bố trí ở nhà công thì chiếm luôn không chịu trả.  
Ở Hà Nội đầu những năm 60 của thế kỷ trước, khi Trường Albert Sarraut bị xóa bỏ, Sở Giáo Dục được giao quản lý cơ sở vật chất của trường này. Chỉ một tháng sau trường tan hoang, các phòng được phân cho người đến ở còn thư viện thì rao bán đồng nát. Sau 1975, một số cán bộ cao cấp vào Sài Gòn công tác, được phân tạm ở một số khách sạn. Đến khi xong nhiệm vụ trở về, họ gỡ hết mọi thứ trong phòng ở mang theo, từ quạt điện, bóng đèn đến bàn ghế, tủ. Cái văn hóa "chiếm đoạt" đã ăn sâu vào tâm can cán bộ thành phần cơ bản.
Nói chung ở Trung Quốc và Việt Nam do ý thức hệ đấu tranh giai cấp dựa vào thành phần cơ bản, trong một thời gian dài những phần tử có năng lực hiểu biết bị vây quanh bằng một lớp trùng điệp những kẻ tầm thường. Những kẻ này không muốn ai hơn mình nên cố sức kiềm chế và cô lập người giỏi. Họ không thực tâm phát triển văn hóa giáo dục, chỉ đặt ra cái này cái nọ để làm vật trang trí. Chính vì thế mà họ lệ thuộc nước ngoài đến từng chi tiết nhỏ. Tên các báo từ trước đến nay đều vay mượn. Tờ báo Cứu Quốc thời đầu cách mạng bị đổi thàng Nhân dân cho giống với Trung Quốc, còn tên bắt chước Liên xô thì quá nhiều: Sự thật, Tạp chí Cộng sản, Lao động,. Nhà in cũng lấy tên Tiến bộ; các nông trường mang các tên Cờ đỏ, Mồng 1 tháng 5 vv.
Những năm 60, 70 của thế kỷ trước cán bộ cấp tỉnh đều thuộc thành phần cơ bản nên hiểu biết của họ thật nghèo nàn quá mức. Có vị giải thích "mác xit là Mác và Stalin". Có vị nhận định: "Tito đứt đuôi là phản động. Nguyên thủ các nước xã hội chủ nghĩa đều là Chủ tịch riêng hắn ta xưng làm tổng thống!". Có vị nói Mỹ đổ quân chiếm đảo Cồn Cỏ (thuộc huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị, phía bắc vĩ tuyến 17) được một hôm thì ta cho đảo chìm xuống biển khiến chúng chết hết trọi. Có vị giảng chính trị cho đám sỹ quan quân đội Sài Gòn đang cải tạo như sau: Nhân dân ta từ xưa rất anh hùng, giặc Mông cổ đã từng chinh phục mọi nước từ Âu sang Á, từng đánh bại Napoléon vô địch châu Âu, mà vẫn bị quân ta đánh cho tơi bời.
Cũng may thế hệ trẻ hiện nay không đến nỗi như vậy. Bởi lẽ hiện nay do tình huống mở cửa, hội nhập nên muốn có địa v chuyên môn nào đó buộc phải biết tiếng Anh. Sau này muốn xóa bỏ sự tầm thường trong đội ngũ cán bộ, tốt nhất là lấy tiếng Anh làm chuẩn. Không có tiếng Anh sẽ không được giữ chức vụ gì. Cứ thế loại bỏ hết tàn dư của thành phần cơ bản. Thời thuộc Pháp, đội ngũ công chức khắp nơi có năng lực và hiểu biết nhiều do họ phải có trình độ tiếng Pháp cao. Cách mạng không duy trì tiêu chí kiến thức đó nên mở rộng cửa cho sự bất tài.
Không lấy văn hóa làm chuẩn thì càng phát triển về kinh tế, môi trường càng bị phá hoại và đạo đức sẽ rơi tự do không gì cản nổi.Từ sau 1975 đến nay, rừng bị chặt phá nhiều hơn thời quân Mỹ phun thuốc diệt cây cối. Không còn lâu nũa  sông suối, biển sẽ bị ô nhiễm nghiêm trọng, khó bề cứu vãn. Các cuộc họp của chính phủ chỉ thấy bàn tăng GDP, xây cái này cái nọ, không mấy khi nói đến môi trường, về cuộc sống bấp bênh của người dân vì các dự án treo, những trạm thu phí tràn lan. Việc xuống cấp về đạo đức và nhân cách, suy cho cùng, do thể chế chủ trương từ lâu xoá bỏ tầng lớp ưu tú tinh hoa hay còn gọi là tầng lớp trên.
Khi bắt đầu kháng chiến chống Pháp, chưa có phân định giai cấp rõ rệt, chính quyền cách mạng và quân đội vẫn do tầng lớp ưu tú đảm trách. Các bậc chỉ huy được đào tạo ở trường võ bị đều có bằng tú tài toàn phần. Cán bộ đa số xuất thân từ các tầng lớp ưu tú, có văn hóa. Tôi còn nhớ trong các trận càn của Pháp, khi bắt được người nào, lính Tây bắt ngửa tay ra xem. Nếu là tay trắng trẻo, tức là tầng lớp có học thì trói ngay dẫn về bốt vì chắc chắn đó là Việt Minh, còn nếu tay anh chai u, sần sùi, lập tức được tha. Từ ngày bị Stalin và sau đó là Mao khống chế, các tầng lớp trên bị xóa bỏ không thương tiếc trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức và các cuộc chỉnh huấn.
Chiến dịch Điện Biên Phủ, thành công, đáng ra trên thế chẻ tre giải phóng thêm nhiều vùng khác thì quân đội được lệnh tổ chức chỉnh huấn để loại hết những thành phần ưu tú không cơ bản. Từ sau 1954 trở đi, trí thức, nhân sĩ chỉ đóng vai trò bù nhìn, trang trí, không làm gì thực chất. Bản thân tôi đi lao động sáu tháng ở nông thôn, tôi phát hiện thấy đa số cán bộ huyện có học bị thay thế từ năm 1958 bằng bần cố nông hay công nhân. Về nguyên tắc là vậy nhưng thực tế bần cố nông hiền lành chất phác, khó đảm đương công việc phức tạp nên các thành phần làm ăn tự do như lái trâu, lái lợn có cơ hội được thăng tiến mạnh và khuynh đảo mọi thứ.
Ở các chế độ được coi là xấu xa ngày xưa, phong kiến thuộc địa, hiếm thấy người nào không có năng lực mà lại dám đảm nhiệm công việc quá tầm tay. Chẳng hạn không biết chữ thì khó ra làm quan. Dưới chế độ mới, nhà nước chỉ dựa vào công nông, lấy sự trung thành với thể chế chính trị làm chuẩn, bất chấp năng lực. Có vị làm hiệu phó một đại học mà xuất thân từ du kích địa phương. Có vị làm khoa trưởng tiếng Anh mà không biết một ngoại ngữ nào.
Cũng do văn hóa không được lấy làm chuẩn nên các chủ trương chính sách đều khập khiểng. Đầu tư cho giáo dục ở mức thấp đến nỗi các trường học nhếch nhác, cư xá sinh viên nghèo nàn lạc hậu trong khi tiền dồn cho việc nuôi dưỡng một bộ máy hành chính cồng kềnh kém hiệu quả, những xí nghiệp quốc doanh thua lỗ, tham nhũng, những công trình ngàn tỷ đắp chiếu vv. Sinh hoạt trí tuệ bế tắc, các tôn giáo bị ghẻ lạnh nên không phát huy được vai trò chăm sóc phần hồn cho người dân. Lịch sử bị chế biến thành một thứ kinh kệ mơ hồ khiến mỗi người dân không xác định được mình là ai. Khẩu hiệu "Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội" đặt tuyên truyền lên trên chân lý làm cho người ta bị hỏa mù trong nhận thức. Các cụ Phan Sào Nam và Phan Tây Hồ có yêu nước không vì họ đâu có theo chủ nghĩa xã hội? Người Nga hiện nay có còn yêu nước không? Những điều ngớ ngẩn đó nói lên rằng trí tuệ bị nhào nặn không còn hình hài gì nữa.
Tình hình đó đòi hỏi phải có biện pháp sửa chữa mạnh mẽ và thiết thực chứ không chỉ lời nói suông.
Theo tôi, nhà nước cần cấp tốc đặt ra chiến lược văn hóa trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ chủ quỳền quốc gia. Từ lâu tôi nghe nói ở Israel người lính có thể không tuân lệnh chỉ huy nếu anh ta thấy chỉ huy không đúng. Mới nghe qua thấy có vẻ phi lí, trái với điều lệ của mọi đảng phái và mọi lí thuyết quân sự. Nghĩ cho kỹ thấy không hẳn như vậy và nhờ đó mà quốc gia Do Thái nhỏ bé tồn tại. Thực vậy, hoàn cảnh Israel mấy triệu dân bị hàng trăm triệu dân thù địch bao vây tứ phía phải phát huy hết tiềm lực người dân bằng cách cho từng người hành động theo sáng kiến riêng. Mỗi người dân đủ thông minh để phối hợp với nhau một cách hiệu quả trong việc bảo vệ đất nước. Việt Nam, trong chừng mực nào đó cũng sẽ bị tràn ngập trong một biển người có một thứ văn hóa nghiệt ngã với màu sắc diệt chủng. Việc đầu tư tiến của mua sắm khí giới, xây dựng nền quốc phòng tiên tiến là điều cần thiết, nhưng không đủ. Phải có một trình độ văn hóa cho toàn dân vượt trội hẳn so với thế lực bành trướng thù địch.
Các nhà văn hóa tư tưởng của ta xưa nay bó hẹp trình độ văn hóa vào khuôn khổ kiến thức, tức là mặt chỉ số trí tuệ IQ mà không nghĩ tới lối ứng xử trong cuộc sống, tức là mặt hành vi xã hội EQ. Điều ai cũng thấy rõ là lối ứng xử xã hội của ta và Trung Quốc còn ở giai đoạn thô thiển so với cuộc sống văn minh. Ta không có thói quen sắp hàng, nhường đường cho nhau, tôn trọng người già, phụ nữ, ưu tiên tuyệt đối trẻ nhỏ vv. Báo chí cho biết không ít người Trung Quốc ngạc nhiên thấy người Mỹ trong trận khủng bố 11 tháng 9 năm 2001 ở New York, các nạn nhân vẫn biết nhường nhau khi chạy thoát ngọn lửa.
Về phương diện EQ dân ta vẫn bị nhiều xiềng xích ràng buộc. Lòng đố kỵ gần như phổ biến mọi nơi mọi cấp, mọi lúc. Thấy ai hơn mình lập tức tìm cách triệt hạ tuy ngày nào cũng hô hào sử dụng người tài. Tình giả dối là căn bệnh trầm kha khó bề chữa chạy. Bệnh hám danh hảo, khoa trương, mê thành tích cũng là yếu tố nguy hại trong khi ý thức cộng đồng, sự hợp tác lành mạnh văn minh chưa có chân đứng bền vững.
Loại trừ những yếu kém về ứng xử văn hóa là điều cấp bách, phải được ưu tiên giải quyết trước khi bàn về kiến thức.
Một câu hỏi đặt ra: Nền tảng văn hóa của người Việt hiện nay là gì? Chúng ta đã bỏ không dùng chữ Hán ngàn xưa nữa làm cho cánh trẻ không còn dây liên hệ với vốn văn hóa cổ, bỏ văn hóa Pháp rộng mở với thế giới bên ngoài xưa và nay mà hòa mình vào văn hóa ASEAN chưa rõ định hình.
Trí thức Việt Nam hiện nay thấy lơ lửng trong tư duy và cả trong phát ngôn. Chứng cớ là các nhà chính trị không biết phát âm cụm chữ cái CLMV như thế nào, cờ lờ mờ vờ hay xê el em vê hay xi eo em vi. Hình như ngành tòa án lấy tiếng Anh làm chuẩn: Vừa qua một ông chánh án phát âm PVC là pi vi xi. Không biết gọi tên nước thế nào cho đúng: Libanon hay Li băng? Úc hay Ôt-strây-lia? Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 các nho sỹ dựa vào Hán tự mà tiếp cận thế giới. Những danh từ riêng thế giới được đọc quá âm Hán-việt: Pháp lang sa, Anh cát lợi, Nga la tư....Mạc tư khoa, Luân đôn, Ba lê,,,Các tên người qua âm Hán-Việt: Mạnh đức tư cưu (Montesquieu), Lã Phụng Tiên (La Fontaine), Lư Thoa (Rousseau)....Mã khắc Tư (Marx), Tư Đại Lâm (Staline), Hoa Thịnh Đốn (Washington)...Tiếp đó các nhà Tây học dựa vào tiếng Pháp để tiếp cận thế giới, mọi danh từ riêng đều phát âm và viết theo tiếng Pháp: Londres, Moscou, Lénine, Russie, ONU, OTAN, ...
Từ ngày mất đi các hệ qui chiếu Hán và Pháp, người Việt xoay xở mạnh ai nấy được, không có qui tắc gì.
Các ngành bưu điện viễn thông, ngân hàng dùng tiếng Anh trong mọi giao dịch, những ngành khác thì hoàn toàn tự do tùy tiện. Vậy vấn đề cấp bách là phải có qui chiếu Việt. Phải có qui tắc thống nhất  cho mọi đối tượng, hiện tượng. Hiện nay thông qua qui trình hội nhập khu vực và quốc tế, văn hóa Mỹ trở thành chuẩn mực cho nhiều lĩnh vực hoạt động. Nguy cơ từ đó là không còn đa dạng văn hóa nữa, điều mà không riêng Việt Nam mà cả thế giới lo ngại. Theo tôi, để giữ gìn sự đa dạng văn hóa của người Việt, ta cần giữ gìn vốn văn hóa Hán ngữ và văn hóa Pháp. Chẳng hạn phải dạy chữ Hán (không phải tiếng Hoa mà là chữ Hán truyền thống của ta) cho hai bậc phổ thông cơ sở và phổ thông trung học mỗi tuần một tiết. Về văn hóa Pháp cần có chiến lược bền vững qua những sự nghiệp pháp ngữ to lớn về kinh tế, văn hóa. Đã đến lúc phải định hình một nền văn hóa Việt phong phú và vững chắc, đảm bảo cho dân tộc trường tồn và hạnh phúc.

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 26-2-18 

....../.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông



Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông (1932-2018)


Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là người con của Tây Ninh. Gia đình ông thuộc nhóm giàu có thời đó (gọi là "điền chủ"). Ông từng theo học trường Thiếu sinh quân ở Vũng Tàu, nơi ông cũng tiếp thụ âm nhạc của các giáo sư Pháp giảng dạy. Ông vào quân đội năm 1951; được gửi đi huấn luyện chỉ huy quân đội ở Hà Nội; 1954 trở thành tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trọng pháo 553 khi mới 24 tuổi; 1957 đi học ở Hawaii; 1972 được thăng chức đại tá và chuyển sang làm Chánh Văn phòng cho Tổng Tham mưu Phó đến năm 1975. Sau 1975, ông bị bắt đi tù cải tạo 10 năm trời. Ông tâm sự những ngày tháng sau tù: "Sau tháng 4/1975, tôi đi học tập 'cải tạo' 10 năm. Khi trở về nhà, tôi mang theo nhiều chứng bệnh trầm trọng, tinh thần và thể xác bị suy sụp. Suốt 30 năm qua, tôi không tham gia bất cứ hoạt động nào ở trong nước cũng như ngoài nước." Sau khi ra tù, dù có thể đi Mĩ theo diện HO nhưng ông chọn ở lại Việt Nam cho đến ngày qua đời.

Theo Nhạc sĩ Trần Quốc Bảo, sau 1975 gia đình ông sống nhờ quán bán bánh mì và giò chả (hiệu Nhiên Hương) tại nhà đường Nguyễn Trọng Tuyển, Phú Nhuận. Hai ông bà nhạc sĩ không có con. Ông được đồng nghiệp và bạn bè yêu quí. Như là lời nói hộ cho nhiều nghệ sĩ, Nhạc sĩ Trần Quốc Bảo nhận xét rằng: “Với thầy Đông, tôi chỉ biết nói rằng tôi kính phục ông nhất hai điểm, đó là tài hoa và tư cách.”

Tài hoa. Đó là chữ rất đúng để mô tả sự nghiệp âm nhạc của ông. Chẳng hạn như ca khúc "Chiều mưa biên giới" Trong một bài trả lời phỏng vấn Nhạc sĩ Trường Kỳ, ông cho biết hoàn cảnh ra đời của bài Chiều mưa biên giới như sau: “Bản nhạc Chiều Mưa Biên Giới được viết vào năm 1956. Khi ấy tôi là trung úy trưởng phòng hành quân của chiến khu Đồng Tháp Mười là người có trách nhiệm đề ra những phương án tác chiến. Lần đó tôi dẫn đầu một nhóm biệt kích bí mật đi điều nghiên chiến trường dọc theo biên giới Miên-Việt và Đồng Tháp Mười. Trên đường về, anh em chúng tôi lâm vào cảnh trời chiều gió lộng, mưa gào như vuốt mặt. Giữa cánh đồng hoang vắng tiêu sơ, lối vào tiền đồn thì xa xôi, thoáng ẩn hiện những nóc tháp canh mờ nhạt ở cuối chân trời. Và từng chập gió buốt kéo về như muới sát vào thịt da. Từ trong cảnh ấy, tận đáy lòng mình đã nghe nẩy lên những cung bậc rung cảm, những trường canh đầu tiên buồn bã cho bài Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu...”

Một ca khúc khác ít người biết đến là "Hải ngoại thương ca". Thoạt đầu người ta tưởng đây là sáng tác cho 'Việt kiều', nhưng không phải.
Ông sáng tác ca khúc này vào năm 1963, nhân vụ đảo chánh ở miền Nam và tướng Nguyễn Chánh Thi phải trốn ra ngoại quốc: “… Đến năm 1963, có một cuộc đảo chánh lần thứ nhì khiến chế độ của ông Ngô Đình Diệm bị suy sụp.. Lúc đó mọi người lên tiếng kêu gọi những anh em ly tán sau cuộc đảo chánh lằn thứ nhất đang ở ngọai quốc trở về. Lúc đó tôi thấy một số bạn bè của tôi vẫn còn do dự chưa muốn trở về . Điều này nó thôi thúc tôi viết bài Hải Ngoạii Thương Ca, có ý nói bây giờ trong nước cũng vui vẻ...”. Bài này mãi đến 2004 mới được trình diễn.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông tâm sự: ”Năm 2004 bài Hải Ngọai Thương Ca được đưa ra ngoài Hà Nội duyệt. Thì ngoài Hà Nội mới hỏi tôi: có phải bài Hải Ngoại Thương Ca Này mới viết không mà sao nó sát với đề tài của thời cuộc này quá vậy?. Nó hay đấy . Đấy là lời của một vị lãnh đạo của cục Văn Hóa Nghệ Thuật.”

[...]

Bây giờ nhìn lại thời 20 năm văn nghệ miền Nam tôi thấy kinh ngạc về tính phong phú và đa dạng của nên văn nghệ đó. Chỉ nói riêng về âm nhạc thôi, 20 năm đó đã để lại cho nền văn hoá dân tộc nhiều dấu ấn qua những ca khúc đầy tính nhân bản. Có thể nói tính nhân bản trong âm nhạc là đặc điểm phân biệt rất rõ giữa văn nghệ miền Nam và miền Bắc trong thời chiến. Điển hình như Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, là một quân nhân trong thời chiến, nhưng nhạc của ông thì không thấy hình súng đạn, lửa khói hay màu máu đâu cả, thay vào đó là những lời ca thật đẹp, đầy chất lãng mạn, thấm đẫm tình quê hương và nhân bản.



******

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông [trích]

(nguoi-viet.com)

Du Tử Lê



[....]


Trong 20 năm tân nhạc miền Nam, Việt Nam, Nguyễn Văn Ðông cũng là một nhạc sĩ nổi tiếng không chỉ với một hai ca khúc viết về người lính mà, với hầu hết những ca khúc ông viết về dề tài này.
 
Những ca khúc làm thành tên tuổi ông như ca khúc “Phiên Gác Ðêm Xuân,” ông sáng tác đêm giao thừa 1956, khi đang đóng quân ở Khu 9, Ðồng Tháp Mười. Hai ca khúc nổi tiếng khác của họ Nguyễn cũng được ra đời sau đó, là ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới,” khi ông đóng quân gần biến giới Việt-Miên và “Mấy Dặm Sơn Khê,” khi đồn trú ở vùng cao nguyên Trung phần.

Nhưng chân dung hay, hình ảnh người lính trong các ca khúc vừa kể của Nguyễn Văn Ðông, tuy cũng đậm tính thơ mộng... Nhưng đó là cái thơ mộng dung dị, nhân bản, gần với đa số, với đám đông, những người lính vô danh.

“Ðón giao thừa một phiên gác đêm / chào xuân đến súng xa vang rền / xác hoa tàn rơi trên báng súng / ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi /...? Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu / vì mơ ước trắng như mây chiều / tủi duyên người năm năm tháng tháng / mong chờ ánh xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi / Chốn biên thùy này xuân tới chi? / tình lính chiến khác chi bao người / nếu xuân về tang thương khắp lối / thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi! (Trích “Phiên Gác Ðêm Xuân”)

Ông cũng không khẳng định người lính của ông phải là người tạo được những chiến thắng lẫy lừng mà, chỉ là những cá nhân bình thường, với những tâm tình, những khát khao, nhớ thương đời thường:

“Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay / Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng / đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng / người tìm về trong hơi áo âm / gợi niềm xa xăm/ Người đi khu chiến thương người hậu phương / thương màu áo gửi ra sa trường / lòng trần còn tơ vương khanh tướng / thì đường trần còn mưa bay gió cuốn / còn nhiều anh ơi!” (Trích “Chiều Mưa Biên Giới”)

[...] chân dung người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông là một chân dung bình dị, không quá đặc biệt. Không ngoại lệ. Ðó là một con người như bất cứ một con người nào thuộc về đám đông. Vì ngoài bổn phận người lính, thì trong thẩm sâu của tâm hồn người lính, vẫn là một con người (như mọi người,) với cá tính, rung động, cảm nhận chân thật khi đối đầu, cọ sát với thực tế và vận mệnh chung của dân tộc:

“Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng / ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê / non nước ơi, hồn thiêng của núi sông / kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa / Bao ước mơ giữa khung trời phiêu lãng / chờ mùa xuân tươi sáng, nhưng mùa thắm chưa sang / anh đến đây rồi anh như bóng mây / chốn phương trời ấm lạnh, hòa chung mái nhà tranh / Anh như làn gió, ham ngược xuôi theo đường mây / tóc tơi bời lộng gió bốn phương / nước non còn đó, một tấc lòng / không mờ xóa cùng năm tháng / mấy ai ra đi hẹn về / dệt nốt tơ duyên...” (Trích “Mấy Dặm Sơn Khê”)

[...]

Mặc dù họ Nguyễn tình nguyện hiến cuộc đời mình cho quân đội khi ông còn rất trẻ; nhưng bên cạnh tư cách một người lính, ông còn là một nhạc sĩ. Trong vai trò này, ông lại là nhạc sĩ miền Nam, được thế giới biết đến tên tuổi rất sớm.

Ðiển hình là sự kiện ngay từ năm 1961, nghệ sĩ Trần Văn Trạch đã được đài Europe No.1 và Ðài Truyền Hình Pháp thu âm, rồi thu hình ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới” của ông, gây tiếng vang lớn ở Âu Châu. “Biến động” này đã tạo sức dội ngược về Việt Nam, khiến chỉ trong vòng 3 tháng, nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam của nhạc sĩ Lê Mộng Bảo, đã bán hết 60,000 bản nhạc lẻ, phá kỷ lục số ấn bản lớn nhất từ xưa, ở thời điểm đó. [...]

Tôi cho họ Nguyễn là một trường hợp đặc biệt của giới văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam, 20 năm. Khi, một mặt, ông vẫn chu toàn nhiệm vụ “người lính gác giặc” của mình. Mặt khác, ông vẫn can đảm cất lên tiếng nói của lương tri. Tiếng nói của một kẻ sĩ trước thời cuộc. Những ghi nhận từ đáy tầng khát khao của dân tộc, đất nước...

Vì thế, ngay khi lệnh cấm của Bộ Thông Tin được báo chí thời đó đăng tải nơi trang nhất thì dư luận quần chúng khắp nơi đã đồng loạt phản ứng. Họ bênh vực họ Nguyễn, như bênh vực người phát ngôn trung thực nhất, về những mơ ước, khát khao thầm kín của họ. Phản ứng bất ngờ của đám đông cũng khiến nhiều cơ quan ngôn luận nhập cuộc. Lên tiếng bênh vực. Ủng hộ tinh thần tác giả “Chiều Mưa Biên Giới.”

[....]

Riêng ca khúc “Anh” tức “Anh Nhớ Gì Không Anh” của họ Nguyễn thì bị cấm vì các câu như: “Nước mắt dân Hời, thành quách một thời tan tành hệ bởi đâu? Sao ta nỡ xa ta, xẻ chia sơn hà cho Bắc Nam mình xa cách nhau!”

Như đã nói, cái tinh thần kẻ sĩ, cái ý thức đất nước, dân tộc, khiến Nguyễn Văn Ðông chấp nhận thua thiệt trong binh nghiệp, nhưng bảo vệ được khí tiết của một kẻ sĩ thao thức, trằn trọc trước tang thương đất nước. Nhưng đó là sự lên tiếng của một người lính tự nguyện. Một người lính vẫn làm tròn bổn phận của một công dân thời đất nước binh đao, ly loạn... Sự kiện này vẫn khác, hoàn toàn khác với những nhạc sĩ cũng giương cao ngọn cờ phản chiến; nhưng lại là những người từ chối trách nhiệm của một công dân trước thời cuộc.

Hơn một lần, nhạc sĩ Hoàng Thi Thao từng nói với tôi, “Về phương diện nhạc chống chiến tranh thì, Nguyễn Văn Ðông là người thứ nhất, người đầu tiên xông xáo vào con đường nhậy cảm và, gai góc này.”

Tuy nhiên, tôi vẫn thấy cần phải ghi nhận một cách công bình rằng, tiếng nói của Nguyễn Văn Ðông, cách gì, cũng vẫn là tiếng nói phản ảnh tâm tư của một nghệ sĩ đau đáu trước những đau thương, tang chế của đất nước - Song song với con người chọn con đường binh nghiệp khi còn rất trẻ. Ðó là sự khác biệt to lớn, giữa một người đứng trong lửa đạn và, những người đứng ngoài, với những kêu đòi vô trách nhiệm.

Trong đời nhạc Nguyễn Văn Ðông, tình yêu tổ quốc luôn nồng nàn, như thể đó là tình yêu thứ nhất của đời ông:

“Và xin em hiểu rằng, người đi giúp nước nào màng danh chi - Cầu cho đất nước vượt ngàn gian nguy - Lòng anh vẫn nhớ tình người hôm nay - Ðời dâng cho núi sông - Lòng này thách với tang bồng - Ðừng làm má thắm phai hồng, buồn lắm em ơi!...” (Trích “Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp”)

Hoặc:

“Người về đây giữa non sông này - Hội trùng dương hát câu sum vầy - Về cho thấy con thuyền nước Nam - Ði vào mùa xuân mới sang - Xa rồi ngày ấy ly tan - Tôi đi giữa trời bồi hồi - Cờ bay phất phới tôi quên chuyện ngày xưa - Mong sao nước Việt đời đời - Anh dũng oai hùng chen chân thế giới...” (Trích “Hải Ngoại Thương Ca”)

Tôi cho đó là tấm lòng, là trái tim của một nghệ sĩ chọn ở với tổ quốc của mình, bằng một tình yêu một chiều; mà, không một tình yêu nào có thể so sánh hoặc thay thế được.

.............................

Chú thích:
(2) Ðại nhạc hội này do nhà xuất bản Trăm Hoa Miền Nam tổ chức. Nhân đây, cũng xin lưu ý: “Trăm Hoa Miền Nam” và “Tinh Hoa Miền Nam” là hai nhà xuất bản nhạc lẻ khác nhau.
..............................



[...] Về cái mà tôi muốn gọi là “nhạc nghiệp” của nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Văn Ðông, theo một số tài liệu đã được phổ biến ở hải ngoại cũng như tại Việt Nam thì: Nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông chính thức tham dự vào sinh hoạt âm nhạc ở miền Nam Việt Nam vào khoảng giữa thập niên 1950. Ông nổi danh ngay với những ca khúc đầu tay như “Chiều Mưa Biên Giới,” “Phiên Gác Ðêm Xuân,” “Súng Ðàn”... là ba ca khúc ra đời trong năm 1956 và được phổ biến rất rộng rãi. Nhưng ca khúc “Thiếu Sinh Quân Hành Khúc” bài hát được công nhận là ca khúc chính thức của trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, Nguyễn sáng tác năm 1948, khi mới 16 tuổi, mới thực sự là sáng tác đầu tay của người nhạc sĩ đa tài này.

Ngoài bút hiệu và cũng là tên thật, Nguyễn Văn Ðông, họ Nguyễn còn dùng nhiều bút hiệu khác như Phượng Linh, Phương Hà, Ðông Phương Tử, Vì Dân, Hoàng Long Nguyên.
[...]
Nói tới nhạc nghiệp của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông mà, không nói tới thời gian họ Nguyễn làm giám đốc hãng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, nổi tiếng một thời ở miền Nam, tôi cho là một thiếu sót quan trọng.

Ở vai trò này, với sự hợp tác tích cực của những nhạc sĩ như Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Y Vân, Lê Văn Thiện... Hai hãng đĩa của ông đã đem sự giầu có, phong phú cho sinh hoạt tân nhạc cũng như cổ nhạc miền Nam, 20 năm; với những album riêng cho từng ca sĩ.

[...]


.... nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông không chỉ có những đóng góp đáng kể cho phong trào “Tân cổ giao duyên” mà, ông còn là đạo diễn, viết nhạc nền, sáng tác ca khúc lồng trong trên dưới 50 vở tuồng cải lương nổi tiếng ở miền Nam. Ðiển hình như các vở tuồng “Nửa Ðời Hương Phấn” của soạn giả Hà Triều-Hoa Phượng; “Sân Khấu Về Khuya” của soạn giả Năm Châu; “Mắt Em Là Bể Oan Cừu” của soạn giả Vân An v.v...

Theo một tài liệu chúng tôi hiện có thì, vào năm 1960, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông cùng một người bạn vong niên là nhà doanh nghiệp Huỳnh Văn Tứ, đồng sáng lập hãng băng đĩa Continental. Ông Huỳnh văn Tứ đảm trách vai trò Giám đốc sản xuất. Họ Nguyễn đảm nhận trách nhiệm Giám đốc nghệ thuật. Hãng đĩa Continental có 36 chi nhánh, phát hành toàn miền Nam - Chủ trương phát triển cùng lúc 2 bộ môn tân và cổ nhạc. Khi đó, tác giả “Phiên Gác Ðêm Xuân” được rất nhiều soạn giả cải lương nổi tiếng cộng tác. Nhưng các soạn giả này lại không rành lắm về tân nhạc. Do đó, việc dàn dựng kịch bản thường không ăn khớp với tân nhạc. Ðể bổ khuyết, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông phải “lăn lưng” vào cuộc. Ông dành thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi... sau một thời gian ông đâm ra yêu thích bộ môn nghệ thuật ấy.

Ông kể: “Tôi rất nhớ ơn cố soạn giả Hoàng Khâm và các tay danh cầm bên cổ nhạc như Văn Vỹ, Năm Cơ, Hai Thơm... Họ đã chỉ vẽ cho tôi một cách tận tình, không giấu nghề. Vì thế mà chỉ một năm sau, tôi đã có thể tự tin đủ sức bước sâu vào lãnh vực mới mẻ này; cũng với tất cả đam mê, như khi tôi ‘khám phá’ thế giới tân nhạc, trước đó vậy.”

[...]

Trước khi chấm dứt bài viết về con “Thiên lý mã” của dòng âm nhạc miền Nam, 20 năm, chúng tôi muốn ghi lại ở đây, mối tình của họ Nguyễn với một người con gái, nơi quê hương của ông. Ðó là người được xác nhận là linh hồn của ca khúc “Về Mái Nhà Xưa,” một trong những ca khúc “tìm về” mà, tôi cho là hay nhất và, cũng cảm động nhất của nền tân nhạc miền Nam 20 năm.

Quý độc giả theo dõi bài viết này hẳn còn nhớ, Tây Ninh là nguyên quán của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông. Gia đình ông nguyên là điền chủ ở Huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Mỗi năm, vào những dịp giỗ chạp lớn, ông được cha mẹ cho về nguyên quán. Gần bên ngôi từ đường của dòng họ Nguyễn, là nhà ông Hương Cả, một chức sắc lớn nhất làng. Ông Hương Cả có một cô con gái xinh đẹp. Hai bên gia đình cùng giao ước kết thông gia khi hai trẻ lớn lên. Khi ấy tác giả “Về Mái Nhà Xưa” và cô bé kia, mới trên dưới 10 tuổi. Ở tuổi niên thiếu này, cả hai chỉ biết hẹn hò trèo cây, hái trái, hay chơi trò trốn bắt... (Những kỷ niệm ấy là tố chất cho họ Nguyễn sau này, viết được ca khúc nhan đề “Ðom Ðóm”). Tuy thơ dại nhưng tình bạn thắm thiết cũng đã đủ gây thành men nhớ nhung và, đôi khi nước mắt, cho mỗi lần đôi trẻ phải chia tay.

Họ Nguyễn kể, khi cách mạng mùa Thu 1945 bùng nổ, ông Hương Cả bị đưa ra trước tòa án nhân dân; lãnh bản án “cường hào ác bá.” Ông bị xử bắn. Xác ông bị thả trôi sông. Riêng cha mẹ nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông từ Saigon tản cư về, thì bị liệt vào hàng “địa chủ ác ôn.” Ông bà bị bắt làm tù lao công khổ sai. Tịch biên tài sản; sung vào quỹ kháng chiến. Gia đình ly tán. Cửa nhà tan nát. Dôi trẻ trôi giạt, mỗi người một phương. Họ bặt tin nhau!

Cuối thập niên 50, nhớ thương bạn, họ Nguyễn cải trang tìm về chốn cũ... Tận mắt nhìn thấy cảnh xưa điêu tàn và, những người làng còn lại, không một ai cho ông chút tin tức nào về người con gái của ông Hương Cả! Về lại Saigòn, họ Nguyễn viết:
“Về đây ngơ ngác chim bay tìm đàn - Về đây hoang vắng lạnh buốt cung đàn - Tôi lắng nghe tâm tình nhân thế - qua đáy tim chưa đục sông mê (4) - qua ước mơ duyên tình đơn sơ - Về đây đâu phút xưa vui sum vầy - thềm hoang thêu nắng, phượng thắm rơi đầy - anh có nghe trong lòng thu chết - bao lá khô phai nhạt hương đêm - tan tác bay phiêu bạt giữa trời quê - Nơi xưa quê nghèo, nhà tranh nát tiêu điều - tình xưa khôn hàn gắn - người đã đi rồi - người về đâu có hay - đâu vòng tay đắm say?...” (Trích “Về Mái Nhà Xưa.”)

Tôi vẫn nghĩ, những người sinh trong hai thập niên 1930 và, 1940 ít, nhiều đều là nạn nhân của cuộc chiến miền nam 20 năm. Ðổ vỡ, chia ly, tuyệt vọng... là thuộc tính của hoàn cảnh loạn ly này. Nên, tôi mong, người phụ nữ, linh hồn của ca khúc vừa kể, nếu còn đâu đó, tình cờ đọc được những hàng chữ này, xin hiểu rằng, cách gì, sự lỡ làng một đời của bà, chí ít cũng được ghi dấu trong sự nghiệp âm nhạc phong phú, bất tử của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông... Trong khi hàng ngàn, hàng triệu những cuộc tình ly tan, oan khốc khác, cũng chìm vào quên lãng. Dù những cây phượng vĩ, mỗi năm vẫn cho chúng ta những cánh hoa rực rỡ, và, những chiếc lá khô vẫn tiếp tục “phai nhạt theo hương đêm” vậy.

Du Tử Lê
(22 Tháng Mười Hai, 2009)

Chú thích:

(4) Câu hát “qua đáy tim chưa đục sông mê,” có bản chép là “qua trái tim chưa đọng song mê,” theo tác giả là sai và, vô nghĩa. Giải thích về hai chữ “song mê,’ họ Nguyễn kể, Tây Ninh, nguyên quán của tác giả, có Thánh Thất Cao Ðài, rất nổi tiếng. Theo các vị trưởng lão, tín đồ Cao Ðài thì chuyện luân hồi, hóa kiếp theo truyền thuyết của đạo Cao Ðài, có thể tóm tắt như sau:

Con người khi chết, ai cũng bị quỷ sứ dắt hồn xuống âm phủ, để Diêm Vương xét công, luận tội. Kẻ ác bị đưa vào địa ngục thọ hình. Người tốt được trở lại trần thế, làm người. Trên đường đi hóa kiếp, quỷ A tu la dẫn hồn đến một nơi gọi là bến Mê, rồi băng qua một chiếc cầu gọi là cầu Giải kiết. Cầu này bắc ngang qua sông Mê. Ðến giữa cầu, quỷ A tu la xô hồn xuống sông. Hồn gào thét vùng vẫy kêu cứu, làm vẩn đục cả dòng sông. Khi hồn kiệt sức, ngất đi, lúc đó, quỷ A tu la mới vớt hồn lên dẫn đi tiếp về dương gian. Từ đó, hồn không còn nhớ gì về kiếp trước của mình nữa...


......../.


'Lợi ích nhóm' nằm trong Luật Đất đai


'Lợi ích nhóm' nằm trong Luật Đất đai

*

http://motthegioi.vn/chuyen-hom-nay-c-155/loi-ich-nhom-nam-trong-luat-dat-dai-80970.html

*

Hoàng Hải Vân





 Luật Đất đai là một trong những đạo luật có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến đời sống của người dân, nhất là nông dân và là một đạo luật mà bóng dáng của các nhóm lợi ích hiện hình rõ nhất.

Hơn 80% đơn khiếu kiện của người dân gửi lên các cơ quan Trung ương là khiếu kiện liên quan đến đất đai. Dù Luật Đất đai đã được sửa đổi nhiều lần theo hướng tiệm cận với cơ chế thị trường, nhưng tình trạng khiếu kiện không những không giảm mà còn có xu hướng gia tăng. 

Mới đây Bộ Tài nguyên và môi trường lại có ý định sửa đổi Luật Đất đai, do những bất cập của nó chỉ sau 4 năm thi hành. Tuy nhiên, sự bất cập dưới cái nhìn của nông dân rất khác với sự bất cập dưới cái nhìn của những người soạn thảo. Phạm vi bài này chỉ nói về vấn đề Nhà nước thu hồi đất. Vì phần lớn các khiếu kiện về đất đai đều liên quan đến các chính sách đền bù giải tỏa khi thu hồi đất, cho nên có thể nói đây là một trong những vấn đề mấu chốt cần được mổ xẻ.

Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng và an ninh theo điều 61 Luật Đất đai không khiến ai thắc mắc. Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai (điều 64), do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người (điều 65) cũng không có vấn đề gì lớn. Nhưng thu hồi đất để “phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng” quy định tại điều 62 thì có vấn đề nghiêm trọng. Việc thu hồi đất quy định tại điều này áp dụng cho các dự án quan trọng do Quốc Hội quyết định chủ trương đầu tư, các dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư và các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận. Đây là điều khoản mơ hồ nhất và dễ bị lợi dụng nhất của Luật Đất đai. 

Vì những lý do sau:

Thứ nhất, khái niệm “phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng” không có nội hàm được xác định, có nghĩa là các trường hợp Nhà nước thu hồi đất là quá rộng. Đối với các dự án quan trọng do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư hay các dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư còn có những giới hạn có thể hiểu được, nhưng đối với các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận thì được mở rộng… "vô biên", trong đó có cả các dự án khu đô thị mới, dự án khu dân cư nông thôn, dự án chế biến nông, lâm, thủy, hải sản…, không phân biệt đó là dự án của tư nhân hay nhà nước.

Thứ hai, với phạm vi thu hồi đất được mở rộng vô hạn độ như vậy, trong cơ chế dân chủ nhất nguyên về chính trị ở nước ta, bất cứ một “đại gia” nào muốn đẩy nông dân ra khỏi ruộng vườn của họ để lấy đất làm dự án, chỉ cần thuyết phục hay mua chuộc được Bí thư hay Chủ tịch tỉnh thì đều có thể dễ dàng lấy được sự chấp thuận của Hội đồng nhân dân.

Nói ra thực tế này chúng tôi hoàn toàn không có ý coi thường các vị Bí thư hay Chủ tịch các tỉnh, vì rất nhiều Bí thư và Chủ tịch tỉnh một lòng vì dân vì nước. Điều chúng tôi muốn nói là một điều luật như điều luật trên đang dễ dàng tạo điều kiện cho người xấu làm việc xấu và rất có thể “chuyển hóa” một người tốt thành một người xấu, trong khi mục đích tối thượng của luật pháp là ngăn chặn người xấu không làm việc xấu. Tình trạng “chạy dự án” rồi sử dụng lực lượng cưỡng chế của chính quyền để lấy đất của nông dân mà chúng ta thường nghe nói, phần lớn được điều luật này tiếp tay, dung túng.

Lẽ ra, theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước chỉ nên thu hồi đất dành cho các công trình quốc phòng – an ninh, cho các dự án công cộng và hoạt động công ích, cho các công trình trọng điểm làm đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế với mức đền bù thỏa đáng cho người dân theo giá thị trường, còn mọi dự án kinh tế - xã hội của mọi thành phần kinh tế đều thực hiện theo nguyên tắc của thị trường, tức là chủ đầu tư muốn có đất để làm dự án thì phải thỏa thuận với người sử dụng đất để được chuyển nhượng một cách sòng phẳng. Ai dám bảo người làm vườn làm ruộng không “vì lợi ích quốc gia, công cộng”? 

Còn nhớ, trước khi Quốc hội thông qua Luật Đất đai 2013, đã có một cuộc vận động lấy ý kiến với quy mô chưa từng thấy với gần 7 triệu ý kiến đóng góp vào dự Luật. Rất nhiều ý kiến, cả trong dân và tại diễn đàn Quốc Hội, đã đề nghị thu hẹp phạm vi Nhà nước thu hồi đất quy định tại điều luật này, nhưng Ban soạn thảo chỉ tiếp thu một cách hời hợt bằng cách đảo qua đảo lại chứ nhất định không chịu thu hẹp. Và điều lạ lùng là cuối năm vừa rồi, Bộ Tài nguyên và môi trường khi đưa ra thảo luận những đề xuất tiếp tục sửa đổi Luật Đất đai thì phạm vi Nhà nước thu hồi đất theo điều 62 này không những không được đề nghị thu hẹp mà còn đề nghị tiếp tục mở rộng.

Xin nói thẳng, không chỉ là đơn khiếu kiện chiếm 80%, mà điều 62 của Luật Đất đai đang vấy máu. Chúng ta đã nghe nhiều trường hợp người dân không chấp nhận rời khỏi ruộng vườn đã phản ứng bằng bạo lực với lực lượng cưỡng chế, máu của dân và máu của đồng bào làm nhiệm vụ cưỡng chế đều là máu của người vô tội. Nơi này nơi kia ở nông thôn đang bất ổn về chính trị, không phải do sự chi phối của các thế lực thù địch, mà do đất của dân bị Nhà nước thu hồi để giao cho các “đại gia”, tuy có thể đúng Luật nhưng trái đạo lý. Những đảng viên Cộng sản hãy nhớ rằng, Liên minh công nông là nền tảng chính trị của Đảng không chỉ ở nông thôn. Nền tảng chính trị đó mà bị phá vỡ thì Đảng không còn đất sống. 


Hoàng Hải Vân

.........../.

Hồi ức của Nguyễn Hữu Loan

Hồi ức của Nguyễn Hữu Loan (chuyện bố mẹ vợ bị hành quyết)

******


Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.
Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ ...
Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.
Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …
Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.

Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”
nhà thơ HỮU LOAN

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …
Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi …
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.
Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.
Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

© Hữu Loan