Bàn về (lạm dụng) danh xưng


Bàn về (lạm dụng) danh xưng

18-04-2015


Tôi hiểu. Ở Việt Nam, danh xưng đã trở thành một vấn nạn. Vấn nạn cấp quốc gia. Hầu như bất cứ ai cũng cố gắng làm tất cả có thể để có một danh xưng, kiểu như [mượn lời của cụ Nguyễn Công Trứ] “phải có danh gì với núi sông”. Người có quyền thế thì dùng chức danh trước tên họ. Người có bằng đại học thì dùng bằng cấp trước tên. Người có chức danh khoa học cũng ham dùng tên “học hàm” trước tên. Có nhiều trường hợp, người chức danh và danh xưng còn dài hơn cái tên của đương sự! Chưa có một đất nước nào mà quái đản như ở Việt Nam, nơi mà người ta viết những bằng cấp kiểu như “TS BS” trước tên mình! Những danh xưng ngộ nghĩnh như thế khi dịch sang tiếng Anh trở thành một sự xấu hổ mang tầm quốc gia.
Tôi thừa hiểu. Ở Việt Nam, danh xưng đóng vai trò quan trọng, có khi rất quan trọng. Có lần về làm việc ở một tỉnh thuộc vùng miền Tây, sau bài nói chuyện tôi được một vị cao tuổi ân cần trao cho một danh thiếp với dòng chữ tiếng Anh: “Senior Doctor Tran V. …”. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một danh xưng như thế trong đời. Sau này có dịp tìm hiểu từ bạn bè tôi mới biết ông là một cựu quan chức cao cấp trong ngành y tế của thành phố (đã nghỉ hưu), nhưng vẫn còn giữ chức vụ gì đó trong một hiệp hội chuyên môn. Tôi nghĩ danh xưng “Senior Doctor” (có lẽ nên dịch là “Bác sĩ cao cấp” hay nôm na hơn là “Bác sĩ đàn anh”). Nhưng tại sao lại cần một danh xưng phân biệt “giai cấp” như thế? Tôi đoán có lẽ vị đồng nghiệp này muốn phân biệt mình với “đám” bác sĩ đàn em chăng?
Một lần khác, khi tôi phụ trách lên chương trình hội nghị, tôi thấy ban tổ chức viết tên diễn giả bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Những người có danh xưng tiếng Việt ví dụ như “TS BS Trần Thị …” được dịch sang tiếng Anh là “Dr. Dr. Tran Thi …”. Tôi không khỏi cười thầm trong bụng vì chưa thấy nơi nào trên thế giới có cách viết lạ lùng như thế. Tôi sợ nhất là trong hội nghị có đồng nghiệp ngoại quốc mà họ đọc được cái danh xưng “Dr Dr” này chắc tôi tìm lỗ mà chui xuống không kịp quá! Tôi phải rất tế nhị đề nghị cách viết “đơn giản” hơn là chỉ “Dr” thôi là đủ, nhưng cũng phải vài ngày trao đổi qua lại, và cuối cùng phải qua vài phút thảo luận trên Skype người ta mới chịu đề nghị này!
Tôi vẫn còn giữ một danh thiếp khác với dòng chữ: “Dr Specialist II Nguyễn M”. Một anh bạn người Úc tôi có lần tình cờ thấy danh thiếp trên bàn nên thắc mắc hỏi tôi “Specialist II” là gì vậy. Lúc đó tôi cũng chẳng biết, nên đành nói: “I have no idea”, nhưng tôi nói thêm rằng tôi đoán đó là bác sĩ chuyên khoa gì cấp 2 gì đó. Anh bạn đồng nghiệp cười nói mỉa mai (rất dễ ghét) rằng: ước gì tao cũng được cấp II nhỉ?
Không nghi ngờ gì nữa: người Việt rất sính dang xưng. Báo chí trong quá khứ đã nhiều lần nêu vấn đề này. Có nhiều chuyện cười ra nước mắt về những nhầm lẫn về danh xưng (honorific), tước hiệu, và nghề nghiệp ở Việt Nam mà tôi từng chứng kiến trong các hội nghị. Nghe những lời giới thiệu dài lòng thòng như “Giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động, bác sĩ Nguyễn Văn …” nó khôi hài làm sao!
Tôi vẫn tự hỏi tại sao người ta thích danh xưng trước tên mình? Kinh nghiệm của tôi, khi tiếp xúc với những người hay sử dụng danh xưng cho thấy họ thường dùng danh xưng với những động cơ sau đây:
1. Nuôi dưỡng niềm kiêu hãnh cá nhân. Danh xưng thường có xu hướng bơm phồng “cái tôi” của một cá nhân, và do đó làm cho cá nhân đó tự đánh giá cao chính mình hơn là thực tế. Bà Jill Biden, vợ phó tổng thống Mĩ Joe Biden, từng phàn nàn rằng bà rất “bệnh” khi nhận email và thư gửi đến gia đình với dòng chữ “Sen. and Mrs Biden” (Thượng nghị sĩ và Bà Biden). Bà muốn được danh xưng là “Sen. and Dr. Biden”, và thế là bà đi học đế lấy bằng tiến sĩ Anh văn. Sau 4 năm nghiên cứu, bà được trao bằng tiến sĩ ở tuổi 55. Câu chuyện bà Biden sính danh là đề tài đàm tiếu của giới báo chí Mĩ hồi đầu năm nay.
2. Một hình thức tự quảng cáo. Thật ra, một số người sử dụng danh xưng “Tiến sĩ” hay “Giáo sư” nhắm mục đích tăng giá trị, trọng lượng của ý kiến của họ. Trong thực tế, công chúng cũng có khuynh hướng xem ý kiến của một “Giáo sư tiến sĩ” có giá trị cao hơn ý kiến của một … nông dân. Bởi vì đánh giá cao ý kiến của những vị sư sĩ này, nên ít ai dám chất vấn hay phản bác lại ý kiến của họ. Nhưng không có bất cứ một lí do nào để xem ý kiến của một vị giáo sư hay tiến sĩ có giá trị hơn ý kiến của một nông dân; vấn đề là logic và bằng chứng, vì hai khía cạnh này mới chính là thước đo giá trị của ý kiến.
3. Mong muốn được người khác kính trọng. Đây là biện minh (hay lí lẽ) của những người chức sắc tôn giáo, vì họ cho rằng họ cần những “Thượng tọa”, “Hòa thượng”, “Linh mục”, “Mục sư”, v.v… để tín đồ tỏ lòng kính trọng họ. Thế nhưng tôi lại nghĩ các Phật tử hay tín đồ Công giáo vẫn có thể gọi “thầy” và “cha” mà đâu có tỏ ra thiếu kính trọng gì đâu!
4. Gây sự chú ý. Người sử dụng danh xưng ngầm nói cho người khác rằng họ là người quan trọng và đáng được kính trọng. Mặc dù họ không bao giờ thú nhận ý đồ ngầm này, nhưng nghiên cứu tâm lí cho chúng ta biết động cơ sử dụng danh xưng là để gây chú ý như ca sĩ thích làm trò khác lạ để thu hút khán giả. Có nhiều lần tôi chú ý đến những danh xưng như “Giáo sư thực thụ” và tự hỏi nó có ý nghĩa gì. Ở Mĩ, chúng ta biết có 3 bậc giáo sư: Assistant Professor, Associate Professor, và Professor. Không cần đến tính từ “thực thụ”, vì chức danh nào cũng thực thụ. Tôi nghĩ chỉ “Giáo sư” là đủ rồi. (Dĩ nhiên có người có những danh xưng chính thức như “Distinguished Professor” hay “Honorary Professor” thì họ có quyền thêm tính từ gì đó cho thích hợp.)
5. Khao khát quyền lực và trần tục. Một nghiên cứu ở Mexico cho thấy rất nhiều chính trị gia không có văn bằng tiến sĩ nhưng họ vẫn tìm cách mua danh xưng “Dr” bằng cách tranh thủ hay vận động để được một đại học nào đó cấp cho bằng “tiến sĩ danh dự” (honour doctor). Với danh xưng này, họ rất dễ thu hút cảm tình của cử tri và có cơ may đắc cử hơn những người không có danh xưng. Tình trạng này cũng giống như ở VN, nơi mà các quan chức rất thích có “TS” trước tên họ.
6. Quảng bá thái độ “elite”(ưu tú), thái độ kẻ cả, hoặc thái độ toàn trị. Những người này thường tự tô son điểm phấn cho mình bằng cách “tiêm” vào mình những danh xưng thật kêu và thật ấn tượng và bắt đầu nhiễm thói kiêu ngạo xem thiên hạ như dưới tay mình.
Ba tôi lúc sinh tiền thường nói rằng những người cần đến danh xưng phía trước tên mình là một tín hiệu cho thấy người đó hoặc là bất tài, hoặc là thiếu tự tin. Vì thiếu tự tin, nên họ phải lấy những danh tước đó ra để tự nâng cao giá trị cho mình. Ngẫm đi nghĩ lại tôi thấy Ba tôi cũng có lí, bởi vì ở Việt Nam những người thích dùng danh xưng là các quan chức trong chính quyền. Là quan chức, làm việc hành chính hay chính trị, họ không phải làm chuyên môn; do đó, có lẽ họ có nhu cầu phải quảng bá mình như là một nhân vật “văn võ song toàn”, và để cho … oai.
Ở Việt Nam, vấn đề danh xưng là vấn đề “merit”(công trạng). Trước tình trạng tiến sĩ giấy, tiến sĩ dỏm tràn lan ở Việt Nam như hiện nay, bất cứ ai được giới thiệu là “tiến sĩ”, người dân ngao ngán nghĩ thầm “lại một tiến sĩ giấy”.
Trong bối cảnh đa số (70% hay 95%) giáo sư Việt Nam không xứng đáng với chức danh đó trên trường quốc tế, và với hệ thống phong tước danh như hiện nay thì làm sao danh xưng này củng cố lòng tin của người dân.
Nhưng ở Việt Nam vẫn có những tiến sĩ, những giáo sư thật (tức là họ có học và có nghiên cứu xứng đáng với danh xưng đó), nhưng khổ nỗi vì đại đa số những tiến sĩ giấy và giáo sư dỏm kia làm cho công chúng chẳng biết ai là giả và ai là thật. Do đó, cách đánh bóng danh xưng như ở Việt Nam gây ra tình trạng vàng thau lẫn lộn.
Cách dùng danh xưng hiện nay lẫn lộn giữa bằng cấp, phẩm hàm danh dự, và chức vụ. Ai cũng biết cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ là những học vị; phó giáo sư và giáo sư là chức danh khoa bảng trong trường đại học; những “nghệ sĩ nhân dân”, “nghệ sĩ ưu tú”, “nhà giáo nhân dân”, “nhà giáo ưu tú” (toàn bắt chước Trung Quốc!) là những tước hiệu danh dự; còn những “giám đốc”, “đại tá”, “bộ trưởng”, v.v… là chức vụ.
Ở Việt Nam, tôi thấy trong các hội nghị, những tước hiệu, chức vụ và học vị đều được liệt kê trước tên người diễn giả, chẳng khác gì một bản lí lịch bằng cấp và chức danh!
Ở nước ngoài, trong các hội nghị khoa học, người ta chỉ giới thiệu diễn giả bằng một danh xưng duy nhất như “Dr” hay “Professor”, chứ rất rất hiếm ai giới thiệu thêm chức vụ, và chắc chắn chẳng có ai giới thiệu diễn giả dài lê thê như ở Việt Nam (nếu có ai giới thiệu như thế chắc chắn hội trường sẽ cười ầm lên vì họ nghĩ đó là kiểu nói đùa)!
Tôi càng hiểu hơn. Cách dùng danh xưng như hiện nay chẳng những lẫn lộn thật giả, giữa chức vụ và học vị, mà còn làm trò cười cho đồng nghiệp quốc tế.
Trường hợp mà tôi thuật lại ở trên về “Specialist II” là một ví dụ điển hình. Bởi vì chỉ có Việt Nam mới có hệ thống bác sĩ chuyên khoa I, chuyên khoa II, nên đồng nghiệp quốc tế chẳng thể nào hiểu được. Thật ra, họ cũng chẳng cần hiểu, họ chẳng thèm tốn thì giờ đọc danh thiếp với những chi chít “Dr”, “Professor” làm gì; họ quan tâm đến CV, đến thực tài hơn. Có liệt kê chín mười danh xưng đi nữa mà CV chẳng có gì, thì chỉ làm cho đồng nghiệp ngoại quốc cười khẩy mà thôi.

Khi thực tài không tương đồng hay còn quá thấp so với học hàm và học vị, thì những danh xưng đó chỉ nói lên hội chứng  inferiority complex – mặc cảm tự ti.
Như là một định luật, cái tôi (ego) lúc nào cũng là hàm số nghịch với kiến thức (knowledge) theo phương trình:
ego = 1 / knowledge.




......../.

Cuộc chiến ‘biệt vô tăm tích’


Cuộc chiến ‘biệt vô tăm tích’

_________

Bùi Tín
_________

danluan.org






Cuộc nội chiến Nam - Bắc ở Việt Nam đã chấm dứt được mấy mươi năm, biết bao tài liệu sách báo, hồi ký đã được viết ra, biết bao tư liệu tuyệt mật của các bên đã được công bố, nhiều cánh cửa đã được mở ra để nhìn rõ bản chất, nguyên nhân, diễn biến, các góc cạnh của cuộc chiến.  

Trong suốt hơn 20 năm qua, tôi đã được đọc không biết bao nhiêu là sách báo, tài liệu của Ngũ Giác Đài, của Bộ Quốc phòng Liên Xô, Pháp, Anh, của Đệ Tam Quốc tế CS, các hồi ký của các tướng tá cả của Quân đội Nhân dân (QĐND) và của Quân lực VN Cộng Hòa, hồi ký về nhà tù CS, hồi ký về thuyền nhân, rồi những tài liệu tù mù thật giả lẫn lộn, phóng ra từ ổ đen tình báo Hoa Nam Trung Quốc. Vậy mà theo tôi vẫn còn nhiều «góc khuất» của cuộc chiến tranh rất nên làm rõ, để cuộc chiến được tái hiện đúng như nó từng diễn ra trên mọi khía cạnh.  

Có những sự kiện nhỏ bé ít người nói đến nhưng lại đóng vai trò rất lớn, có khi có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cuộc chiến.  

Xin nêu lên một vấn đề làm thí dụ. Tôi tạm gọi vấn đề này là «cuộc chiến biệt vô tăm tích». Đó là tình trạng quân nhân trong QĐND ở miền Bắc khi đã lên đường vào Nam chiến đấu là cắt đứt mọi quan hệ với gia đình, bạn bè thân thuộc trong một thời gian dài, cho đến khi sống sót được trở ra miền Bắc.  

Có thể nói có hàng mấy triệu lượt quân nhân QĐND vượt tuyến như thế, và hàng triệu người đều ở trong hoàn cảnh như thế. Họ lên đường, rồi «biệt vô tăm tích», vì bưu điện Bắc - Nam bị cắt đứt hoàn toàn. Nhưng không hề có một văn bản nào ghi nhận thành chính sách «biệt vô tăm tích» như thế.  
Có lẽ rất hiếm quân đội nào trong thời chiến cùng gia đình họ chịu cảnh chia ly triệt để, kéo dài, chịu một cuộc tra tấn đày đọa tinh thần thâm hiểm đau xót triền miên như thế.  
Trong thời chiến tôi có dịp hỏi chuyện một số sỹ quan phi công Hoa Kỳ bị bắt, họ còn mang theo cả thư, ảnh vợ con, bố mẹ nhận được trước đó vài hôm từ Mỹ gửi sang Thái Lan hay Hạm đội 7. Họ chiến đấu ở xa hàng ngàn dặm mà mối quan hệ tình cảm được đều đặn. Quân nhân của chế độ Cộng sản miền Bắc nước ta chiến đấu trên đất nước mình mà cứ như bị tha hương, đến một tinh cầu nào xa lạ, không một lá thư nào, một hình ảnh nào.  
Bao nhiêu bà mẹ, ông bố, người vợ đêm nằm thương nhớ khôn nguôi người con, người chồng yêu quý của mình, thế rồi chỉ còn có cách nuốt nước mắt vào lòng, cầu Trời khấn Phật cho người thân «biệt vô tăm tích» của mình sống sót trở về.  

Các ông cha bà mẹ, người vợ ấy càng chua xót, đau đớn vì cái tỷ lệ sống sót trở về ngày càng hiếm hoi, «sinh Bắc tử Nam» đã thành số phận gần như thiên định, do cuộc chiến ở miền Nam hết sức ác liệt, do bộ phận lãnh đạo CS sùng bái bạo lực, sắt máu, có dã tâm quyết hy sinh không hạn độ sinh mạng công dân cả nước mình cho tham vọng nhuộm đỏ toàn thế giới của Đệ Tam Quốc Tế CS. Chiến tranh để dành độc lập, rồi «chống Mỹ cứu nước» chỉ là nhãn hiệu bề ngoài che đậy dã tâm trên đây.  

Nếu như đảng CS Việt Nam để cho quân nhân mình được phép liên lạc với gia đình, tổ chức ngành bưu điện quân sự tỏa rộng vào các chiến trường, theo tôi nghĩ, bộ mặt cuộc chiến đã khác hẳn. 
Chỉ riêng cảnh rùng rợn của chiến trường, số chết và bị thương phía CS miền Bắc quá lớn, do quân đội miền Nam và lực lượng Hoa Kỳ có hỏa lực quá mạnh (từ trước năm 1964 chiến trường miền Nam, QĐ miền Bắc nói chung chưa đưa chiến xa vào miền Nam, pháo binh còn thưa thớt, không quân miền Bắc chưa hoạt động được) nên thường thương vong các trận đánh là 3/1, 5/1, có khi 10/1. 
Theo một số báo cáo tuyệt mật tôi được biết khi đi trong các đoàn quân sự cao cấp do tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Văn Tiến Dũng dẫn đầu, với nhiệm vụ là bí thư báo chí của Bộ trưởng Quốc phòng, sau các đợt «Tổng tiến công và tổng nổi dậy» năm 1968, lực lượng QĐND bị tổn thất nặng hơn bao giờ hết, cơ sở nhân dân bị lộ, nhiều nơi bị mất trắng, có nơi phải đưa bộ đội chính quy miền Bắc vào làm bộ đội địa phương quận huyện. Nhiều đại đội, tiểu đoàn, cho đến cả trung đoàn phải giải thể, sáp nhập vào nhau, có khi đến 2 hay 3 lần, phải lấy phiên hiệu A, B, C, như Trung đoàn 275 A, 275B, 275C. 
Ở Khu 5 hồi ấy sỹ quan tử trận nhiều phải đôn gấp tiểu đội trưởng lên đại đội trưởng, tiểu đoàn phó lên trung đoàn trưởng do miền Bắc cử vào không kịp.  

Nếu như thư từ thông suốt, các trận đánh thua tơi bời, chết và bị thương như ngả rạ, người bị thương không được cứu chữa, người chết chôn vội rồi đơn vị di chuyển, giải thể không còn biết ở đâu, nếu như cả xã hội được thông tin từ chiến trận, biết rõ những thất bại chồng chất khi ấy thì hậu phương sẽ không cho phép đảng đem con em mình vào lò thiêu sống như thế. 

Ở Hoa Kỳ khi các trận đánh qua màn TV đi vào phòng ngủ người dân, số tử vong lính Mỹ lên đến 50 ngàn trong 5 năm là toàn xã hội lên tiếng đòi chấm dứt chiến tranh.  

Tôi từng tham dự nhiều buổi tiễn đưa một số đơn vị vào Nam, khi qua binh trạm cuối «làng HO» thuộc đất Vĩnh Linh là anh em vĩnh biệt miền Bắc trong cảnh tượng xé lòng mà vẫn phải làm ra vẻ bình thản. Ai nấy đều giống nhau, hiểu nhau, cùng nhau đóng kịch. Lúc ấy không còn đường rút lui. Cứ như qua cầu bắc ngang sông là cầu bị cắt. Đã có một số anh em mất tinh thần, liều mạng, muốn quay lui, vào tù cũng được, nhưng không sao lọt. Vì trách nhiệm của các chính ủy đoàn, các chính trị viên, của các chi bộ là ngăn chặn hiện tượng «B tụt», «B tạt», «B quay», nghĩa là tìm cách lẩn vào rừng, tụt lại sau, tạt ra các bản người dân tộc, rồi tìm cách quay về nhà. Rất ít ai thoát được.  

Những anh em ấy bị truy lùng ráo riết, bị giải về hậu phương, bị tù đày không xét xử, cuối cùng ra tù còn phải chịu cuộc sống bị chính quyền CS phường xóm giám sát, khinh thị, cả họ hàng không sao ngẩng đầu lên được.  

Thời gian «biệt vô tăm tích» người thân của mỗi gia đình một khác, có khi 2, 3 năm, có khi 5, 6 năm, nhiều khi trên 10 năm, tùy chiến trưòng Trị Thiên, Tây Nguyên, Nam Bộ, hay chiến trường Lào, Miên. Không ai biết rõ con em mình ở nơi nào. Rất hiếm khi có những tin tức của bạn bè, đồng hương bị thương trở ra, được biết là người thân ở Khu 5 hay Nam Bộ, hay Tây Nguyên, còn sống, vắn tắt, sơ sài thế thôi. Những quân nhân tử trận được báo tử rất chậm, chậm 1 năm được coi là bình thường, có khi chậm đến 2, 3 năm, do các đơn vị di chuyển sâu, sổ sách luộm thuộm mất mát, các đơn vị chia ra, nhập vào, thay phiên hiệu, cán bộ tử thương. Vì lẽ ấy mà đến nay QĐND miền Bắc có đến 300 ngàn trường hợp quân nhân mất tích, không biết bị tử trận ngày nào, ở đâu.  

Đây là món nợ xã hội của đảng CS đối với nhân dân cho đến nay vẫn không sao trả được. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, con số chính thức của phía Pháp cho biết số tù binh bị phía Việt Nam bắt giam là 5.782 người, đã trao trả nhiều đợt là 3.290, số còn lại là 2.492 phía Việt Nam không giải thích được là sống chết ra sao, vì sao, ở đâu. Đối với tù binh là người Mỹ cũng vậy, số bị bắt giam là gần 2.000, được trao trả là 591 người, số còn lại là 1.350 hay là 1.469 người, (tùy theo tài liệu của Ngũ Giác Đài hay của Quốc hội Mỹ), phía Việt Nam vẫn không giải thích được.  

Đây là thêm chứng minh về lãnh đạo đảng CS cực kỳ vô trách nhiệm đối với sinh mạng con người trong chiến tranh, mặc dầu đã có những quy định quốc tế về trách nhiệm các bên đối với tù binh, về cấm tra tấn, về nuôi dưỡng, chữa bệnh, cho nhận thư từ gia đình, trao trả tù binh đầy đủ sau chiến tranh. Không thể để «biệt vô tăm tích» hàng ngàn trường hợp như thế.  

Có thể nói chính sách «biệt vô tăm tích» là quốc sách rất thâm và cực kỳ độc ác, phi nhân có tính toán của đảng CS trong thời chiến.  

Nó được thực hiện cùng với chính sách cắt đứt triệt để quan hệ Bắc - Nam trong suốt gần 30 năm chiến tranh, nhằm triệt hạ mọi tình cảm ruột thịt, gia đình, bạn bè ở 2 miền, đặc biệt là giữa hàng triệu bà con di cư từ Bắc vào Nam với người thân ngoài Bắc, buộc phải coi nhau là thù địch, cũng là để bóp ngẹt tinh thần phản chiến âm thầm của bà con ta ở cả 2 miền.  

Đây phải chăng cũng là một tội ác, trời không dung đất không tha, của đảng CS để làm nên cái gọi là toàn thắng giả tạo và tạm thời cách đây 40 năm?  

Bùi Tín




______ Dân khí bạc nhược ....






Dân khí bạc nhược 

(Phan Chu Trinh – Thư gửi Chính phủ Pháp, 1906)  


Nước Nam độ bốn mươi năm nay, vận nước ngày một suy, suốt từ trên đến dưới chỉ biết chuyện lười biếng vui chơi. Pháp chế luật không còn có cái gì ra trò, nhân tài cũng tiêu diệt đi mất cả. Người trên thì lâu lâu được thăng trật(1), chẳng qua như sống lâu lên lão làng; người dưới thì đem của mua quan , thật là tiền bạc phá lề luật. (...). Suốt cả thành thị cho đến hương thôn, đứa gian giảo thì như ma như quỷ, lừa gạt bóc lột, cái gì mà chẳng dám làm; đứa hèn yếu thì như lợn như bò, giẫm cổ đè đầu, cũng không dám ho he một tiếng.  




______________________



Pháp luật đơn sơ 

(Quốc dân độc bản, tài liệu của Đông Kinh nghĩa thục, 1907)  



Dân trí càng mở mang thì pháp luật càng phải tinh tế. Luật lệ nước ta sơ sài hết sức. Những điều rõ ràng thì hoặc là phiền toái vô dụng, hoặc là khe khắt quá khó lòng giữ đúng (...) Những điều ta nói ta làm hàng ngày mà theo luật quy tội, thì sáng bị tội đồ, tội lưu, chiều bị tội phạt trượng. Đến những điều đáng phải theo cũng không thể theo được. Trên cũng như dưới đều mơ mơ màng màng, cơ hồ thành một nước không có pháp luật. Dân không giữ chữ tín, trong dân gian người ta làm khế ước với nhau, thường mực chưa khô đã bội ước. Quy tắc của trường học, kế hoạch của công sở phần lớn nằm trên giấy, treo lên cho vui mắt, đọc lên cho vui tai mà thôi. Trên dưới không tin nhau, mà mong giữ đúng pháp luật thì thật là khó thay! Đã không giữ được thì thay đổi đi là hơn.  

_____________________









Làm ra vẻ yêu nước để mưu lợi riêng 

(Phan Bội Châu - Cao đẳng quốc dân, 1928)  


Chứng bệnh hay giả dối là chứng bệnh chung của người nước ta mà ở trong lại có một chứng đặc biệt là chứng ái quốc giả... Nào đám truy điệu, nào tiệc hoan nghênh, nào là kỷ niệm anh hùng, nào là sùng bái chí sĩ, chuông dồn trống giục, Nam hát Bắc hò, xem ở trong một đám lúc nhúc lao nhao, cũng đã có mấy phần người biết quyền nước đã mất thì tính mạng không còn, hồn nước có về thì giang sơn mới sống. Nếu những tấm lòng ái quốc đó mà thật thà chắc chắn thì giống Tiên Rồng chẳng hạnh phúc lắm sao? Nhưng tội tình thay, khốn khổ thay, người ưu thời mẫn thế chẳng bao nhiêu mà người rao danh thì đầy đường đầy ngõ.  Giọt nước mắt khóc nước vẫn ngày đêm chan chứa mà xem cho kỹ thì rặt nước mắt gừng; tiếng chuông trống kêu hồn vẫn trong ngoài gióng giả mà nghe cho tới nơi thì rặt là chuông trò trống hội; ngoài miệng thì ái quốc mà trong bụng vẫn là kim khánh mề đay; trước mặt người thì ái quốc mà đến lúc đếm khuya thanh vắng thì tính toán những chuyện chó săn chim mồi. Cha ôi! Trời ơi! ái quốc gì, ái quốc thế ư? Đeo mặt nạ ái quốc để phỉnh chúng lừa đời, một mặt thời mua chuốc lấy tiếng chí sĩ chân nhân, một mặt thì ôm chặt lấy lốt ông tham bà đốc.  





______________________________
(1) trật: cấp bậc phẩm hàm.


[www.danluan.org]


......./.

THƯ LÝ QUANG DIỆU GỬI MARGARET THATCHER VỀ VẤN ĐỀ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM



THƯ LÝ QUANG DIỆU GỬI MARGARET THATCHER VỀ VẤN ĐỀ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM

http://baotreonline.com/Chuyen-muc-tre/Le-Cheo/th-ly-quang-diu-gi-margaret-thatcher-v-vn-thuyn-nhan-vit-nam.html

 *************
Phạm Thị Hoài




Trong tác phẩm Bên Thắng Cuộc, chương "Nạn kiều", nhà báo Huy Đức nhắc tới "Phương án II", "một kế hoạch 'được phổ biến miệng để giữ bí mật', theo đó: người di tản được đóng vàng để công an mua thuyền hoặc đóng thuyền cho đi mà không sợ bị bắt hay gây khó khăn. Việc thực hiện Phương án II chỉ do ba người là bí thư, chủ tịch và giám đốc công an tỉnh quyết định. Công an được giao làm nhiệm vụ đứng ra thu vàng và tổ chức cho người di tản." [1]

Đó là thời điểm từ giữa năm 1978 đến giữa năm 1979, khi chiến dịch bài Hoa ở Việt Nam dâng cao và chiến tranh biên giới Việt-Trung bùng nổ. Những người vừa mất nơi sinh sống, vừa mất hết tiền của vào tay chính quyền để ra đi "hợp pháp" trong vòng bí mật và không ít cũng sẽ mất mạng trên biển trong kế hoạch này phần lớn là người Việt gốc Hoa.
Phương án bí mật, chưa bao giờ được chính quyền Việt Nam thừa nhận này, được đánh giá từ một nguồn bất ngờ khác: bức thư của cố Thủ tướng Singapore vừa qua đời, gửi cho cố Thủ tướng Anh ngày 5/6/1979, đăng trên trang Margaret Thatcher Foundation.





Chúng ta đã biết rằng Lý Quang Diệu ủng hộ sự xích lại gần nhau của Trung Quốc và Hoa Kỳ sau Chiến tranh Việt Nam để kiềm chế ảnh hưởng của Liên Xô. Ông cũng biện bạch cho Pol Pot, rằng Khmer Đỏ là một phương án cần thiết, chẳng qua chỉ bị giới truyền thông cường điệu lên thành ma quỷ [2]. Về xung đột biên giới Việt-Trung, ông cho rằng nếu Trung Quốc không dạy cho Việt Nam một bài học thì giờ này Liên Xô đã bành trướng thế lực ra toàn Đông Nam Á, rằng các nước trong khu vực đều hưởng lợi từ đòn phủ đầu của người Tàu. Khi ấy, Đặng Tiểu Bình đã coi ông là cố vấn và mô hình Singapore đã trở thành hình mẫu của Trung Hoa hiện đại. Họ Lý và họ Đặng gặp nhau hai lần, trò chuyện kéo dài, nồng ấm và trân trọng lẫn nhau, ngày 12 và 13/11/1978, trong chuyến thăm đầu tiên của nhà lãnh đạo Trung Quốc tại Singapore. Trước đó một tháng, nhanh chân hơn, ngày 16/10/1978, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng cũng đến Singapore tiếp kiến Lý Quang Diệu. Nhưng cuộc trò chuyện giữa họ Lý và họ Phạm, theo miêu tả của một nhà ngoại giao Singapore chứng kiến cả ba cuộc gặp mặt [3], diễn ra lạnh lẽo.
Cuối năm 1978, đầu năm 1979, hàng trăm ngàn thuyền nhân Việt Nam trở thành một vấn nạn quốc tế. Khác với nhiệt tình cứu giúp những năm trước, các nước trong khu vực bắt đầu lo ngại, từ chối, thậm chí xua đuổi và có cả trường hợp nổ súng vào thuyền nhân Việt Nam. Các nước phương Tây bắt đầu đùn đẩy nhau trách nhiệm bảo lãnh. Anh quốc đóng một vai trò, vì điểm đến của những nạn kiều gốc Hoa này trước hết là Hồng Kông, trong khi Anh quốc chỉ sẵn lòng tiếp nhận tổng cộng chưa đầy 2000 người. Trước áp lực của công luận, Thủ tướng Anh Margaret Thatcher thậm chí đã tính đến việc mua một hòn đảo ở Thái Bình Dương cho thuyền nhân Việt Nam định cư. Dự định này bị Lý Quang Diệu phản đối, vì lo ngại nó sẽ trở thành một đảo quốc, cũng của những người Tàu tha phương, cạnh tranh với Singpore [4].
Ngày 23/5/1979, một chiếc thuyền với 293 người tị nạn Việt Nam được con tàu chở hàng Roachbank của Anh trên đường từ Singapore đến Đài Loan cứu vớt, đến Cao Hùng ngày 27/5. Song chính quyền Đài Loan từ chối không cho họ nhập cảnh, tàu Roachbank không được phép cập cảng [5]. Bà Margaret Thatcher đã nhờ đến Thủ tướng Singapore để gây áp lực với chính quyền Đài Loan, trước khi nước Anh phải đối diện với trách nhiệm bảo trợ những con người trong bước đường cùng đó.
Toàn văn bức thư trả lời của Lý Quang Diệu như sau:


Ngày 5/6/1979
Thưa Thủ tướng,
Cảm ơn bà về bức thư ngày 30 tháng Năm.
Vấn đề người tị nạn này rất nghiêm trọng và có lẽ sẽ còn tồi tệ hơn.
Tháng trước, tại một hội nghị quốc tế ở Jakarta ngày 15-16 tháng Năm, đại diện Việt Nam đã tuyên bố rằng Việt Nam sẽ cho phép 10.000 người di tản hợp pháp mỗi tháng. Ông ta ước chừng dè dặt là có khoảng 600.000 người muốn ra đi. Phần lớn cho rằng con số ấy có thể lên đến gần một triệu.
Bà có đề nghị tôi thỉnh nguyện chính phủ Đài Loan nhận những người tị nạn trên con tàu "Roach Bank". Vì quan điểm của chính nước tôi trong vấn đề người tị nạn Việt Nam, tôi không thực sự là người thích hợp để đưa ra yêu cầu đó. Chính sách của Đài Loan không khác gì chính sách của Singapore. Tuy nhiên, tôi sẽ đề nghị họ cân nhắc việc đưa ra một ngoại lệ, ngoại lệ duy nhất, cho những người tị nạn trên tàu "Roach Bank". Tôi không lạc quan về kết quả, vì tôi biết rằng nếu họ chấp nhận thì cử chỉ đó sẽ kéo theo hàng ngàn người tị nạn khác.
Tôi tin rằng những tin tức về vấn đề người tị nạn trên truyền thông và từ các phát ngôn viên của các chính phủ phương Tây chỉ làm lợi cho chính quyền Việt Nam. Chú trọng vào những giải pháp có thể đặt ra, chẳng hạn nước nào sẽ đảm nhận những người tị nạn nào và bao nhiêu, truyền thông đã biến họ thành đối tượng cho sự đổ lỗi lẫn nhau giữa các chính quyền phi cộng sản. Các nước này sẽ đảm bảo được quyền lợi của mình hơn, nếu tập trung năng lượng vào việc vạch trần sự bỉ ổi của chính quyền Việt Nam. Phải nói, phải nhắc đi nhắc lại, cho nhân dân và các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới biết rằng chính quyền nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính là kẻ tích cực xúc tiến cuộc di tản ồ ạt này, gây thiệt hại nặng nề cho các nước Đông Nam Á.
Chúng ta phải đẩy họ vào thế thủ. Các nhà lãnh đạo Việt Nam không phải là những kẻ điên rồ vô lý như kiểu Idi Amin [6]. Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời lãi thu về thì rất nhanh. Chỉ có nguy cơ bị cộng đồng quốc tế ruồng bỏ mới khiến họ phải suy xét lại đường lối hiện tại. Từ giờ đến lúc đó, họ sẽ còn tung ra hàng ngàn người tị nạn mỗi tuần.
Kính thư
Lý Quang Diệu


Với những lời thẳng thừng không một chút màu mè ngoại giao này, vị nguyên thủ Singapore khó có thể hãnh diện về trái tim nhân đạo của mình, song sự tỉnh táo sắc bén của ông quả là xứng đáng với huyền thoại Lý Quang Diệu. Làm thế nào một người hoàn toàn đứng ngoài như ông, ngay ở thời điểm đó, có thể nhận ra thực chất của chính sách kiếm lời trên lưng thuyền nhân của chính quyền Việt Nam, khi phần lớn người Việt chúng ta cho đến giờ phút này vẫn không biết gì, hoặc có biết cũng không thể tin hay không muốn tin vào cái gọi là Phương án II, như đã dẫn ở đầu bài?
Bức thư này, dù chỉ như một ghi chú nhỏ, là một bổ sung vào những trang còn trống của lịch sử thuyền nhân Việt Nam, và, bất chấp sự khó chịu của rất nhiều người Việt, nó còn cho thấy chính Việt Nam những năm tháng ấy cũng đã góp phần không nhỏ để xung đột Việt-Trung biến thành bạo lực, rồi đến lượt nó bạo lực lại nhả độc ngấm sâu trong lòng người Việt như thế nào.
.........../.



1 Huy Đức, Bên Thắng Cuộc, OsinBook 2012, tr. 123

2 John Pilger, "The Long Secret Alliance: Uncle Sam and Pol Pot", Covert Action Quarterly, 1997

3 
Lee Chiong Giam, "Reflection in Bits and Pieces", trong The Little Red Dot: Reflections by Singapore's Diplomats, World Scientific Publishing Company, tr. 211

4 The Sydney Morning Herald, 31/12/2009

5 Thông tin trên trang của Cao ủy Tị nạn LHQ

6 Nhà độc tài Uganda, được mệnh danh là "Đao phủ châu Phi"



_______ 

KHẢO TIẾNG HÁN VIỆT




KHẢO TIẾNG HÁN VIỆT
http://vietsciences.free.fr/vietnam/tiengviet/khaotienghanviet.htm



PHẠM VĂN BÂN






Lời nói đầu:

Bài viết này nhằm trình bày các vấn đề thực tế của tiếng Hán Việt trong ngôn tự Việt Nam trên quan điểm thực dụng đại chúng; bỏ qua các liên quan lịch sử cũng như lý luận ngôn ngữ học khá khó cảm nhận được.

Với một đề tài rộng lớn và khó khăn như vậy thì bắt buộc phải xảy ra sai sót! Kính mong quý vị rộng lòng tha thứ và bổ túc hoặc sửa sai cho các sai sót, nếu có. Tôi xin thành thật cám ơn trước.




1)Tổng quát:

Khi mới thấy cục xà bông lần đầu tiên từ Pháp du nhập vào, người Việt Nam không có tiếng để gọi; vì vậy đọc tiếng Pháp "savon" theo giọng Việt Nam là xà bông. Tiếng xà bông được gọi là tiếng Pháp Việt. Với thời gian sử dụng lâu dài, chữ xà bông tự nhiên hóa thành tiếng Việt, gọi là tiếng Việt có gốc Pháp. Tương tự như vậy, khi ngôn tự Việt Nam mượn tiếng của Mán, Mèo, Tày Đen, Tày Trắng, Tày Đỏ, Thổ, Nùng, Lào, Chiêm Thành, Chân Lạp, Anh, Cambodge, v.v... thì gọi là tiếng Mán Việt, Mèo Việt, Tày Đen Việt, v.v...

Trong lãnh vực ngôn tự, không có vấn đề"tự ái dân tộc", cũng không có chuyện "tiếng nước tôi giàu có, vẻ vang, hay hơn hẳn tiếng nước anh" mà chỉ là một phương tiện để thông đạt với nhau mà thôị Lịch sử tiếng Việt Nam cũng na ná như của các nước khắp nơi trên thế giới: không có chữ thì cứ tự nhiên mượn mà xài, đơn giản vậy thôị Chính vì thế mà khi xét lịch sử ngôn ngữ, người ta kết luận rằng không có thứ tiếng nào được gọi là thuần cả. Trải qua khoảng 8,000 năm, tất cả các tiếng nói đều pha trộn và vay mượn lẫn nhaụ Rồi với thời gian, tất cả đều phát triển, trở nên phong phú và tiến bộ hơn.

Muốn hay không muốn thì đó vẫn là sự thật. Xin các người Việt Nam "bảo hoàng hơn vua" không nên nóng giận khi tôi viết: tiếng Việt chỉ là một thứ tiếng nói bình thường như mọi thứ tiếng nói trên thế giới, không nghèo nàn mà cũng không giàu có, không có gì vẻ vang mà cũng không có gì nhục nhã, không có gì siêu việt mà chỉ có các đặc điểm riêng như bất cứ thứ tiếng nào khác. Tiếng Việt chỉ là một phương tiện để người Việt thông đạt với nhau; hãy bỏ qua các mánh khóe tuyên truyền, kích động tâm lý không đúng đắn. Nếu có khách quan thì mới biết chỗ hay, chỗ dở của mình mà sửa đổi cho ngày càng khá lên; còn như cứ tự cho tiếng nước mình là "giàu đẹp, phong phú, vẻ vang" hơn tiếng nước khác thì giống y như việc so sánh chó nước tôi khôn hơn chó nước anh, răng bò nước tôi trắng hơn răng bò nước anh; trong khi thực tế khách quan thì cứ hễ là chó thì chó ở nước nào cũng khôn như nhau, cũng biết trung thành với chủ và bò nước nào thì răng cũng trắng cả!

Thiết nghĩ việc tán dương tiếng Việt quá đáng là cố tình nói sai sự thật, võ đoán và sẽ không thuyết phục được ai cả, nhất là đám con cháu có cơ may học được tinh thần phân tích khoa học của Aâu Tây.

Ngoại trừ các tiếng sử dụng trong đời sống hàng ngày như: ăn, ngủ, đi, chạy, cái bàn, cái ghế, cái nhà, con mèo, con chuột, con chó, cục đường, cục đá, cục gạch, cây me, cây ổi, cây trứng cá, v.v... thì tiếng Việt Nam phải mượn rất nhiều từ các tiếng nói khác, đặc biệt là tiếng Mường. Thuở ban đầu lịch sử, có giả thuyết cho rằng giống người Mường chính là giống dân nguyên thủy của người Việt bây giờ. Trong cuốn "Chánh tả tiếng Việt", giáo sư Lê Ngọc Trụ viết:

"Gốc tích dân tộc và văn hóa ở tại Bắc Việt. Có lẽ thời thượng cổ, tổ tiên ta đã cư trú những vùng triền núi, từ sông Đà (Hắc Giang) tới Quảng Bình, gần gũi với dân Mường; dấu vết còn lại là tiếng nói những vùng nầy cũng cứng và có chỗ tương tợ tiếng Mường. Thí dụ:

Mường: ka, kảy, kốk, kảw

Hà Tĩnh: ga, gái, kộk, gạw

Hà Nội: gà, gái, gốc, gạọ

Dân Mường, dân miền núi, cứ rút lần rải rác vô dãy núi Hoành Sơn. Họ không bị ảnh hưởng văn hóa của nước ngoài, nhất là của hai đại cường quốc Tàu và Aán nên còn giữ những cổ tục. Tiếng nói của họ cũng không biến đổi nhiềụ Nhờ vậy, so sánh hai thứ tiếng mới thấy tiếng Việt và tiếng Mường có lẽ do một gốc mà ra.

Dân Việt hay dời dân lập nghiệp, lần xuống đồng bằng, kiếm chỗ đất đai phì nhiêu dễ sanh sống hơn; đó là đồng bằng sông Hồng Hà. (Lúc cổ thời không tiến vào Nam, xứ Lâm Aáp của người Chàm vì lẽ núi non cản trở, đất đai chật hẹp khó sanh sống.) Tiếng nói, nhờ nước sông Hồng Hà cũng "thanh dịu" dần."

Có lẽ tiếng Mường là gốc của tiếng Việt nhưng sau hơn 2,000 năm lịch sử thì tiếng Việt ngày nay đã rời xa cái gốc về giọng nói cũng như số lượng từ ngữ tất nhiên phải nhiều hơn gấp bội lần do kết nạp thêm tiếng Hán ở phía Bắc và tiếng Mã Lai (cá, đã, sẽ, đang), Môn Khmer (đốt, cháy, mặn, chát, chua), Thái Lan, Chân Lạp, Chiêm Thành ở phía Nam.

Xét về tỷ lệ mượn chữ thì việc mượn tiếng Hán đặc biệt nhiều khủng khiếp! Nhiều đến nỗi hễ cứ nói hoặc viết thì người Việt Nam, dù có ý thức hay không có ý thức, đều sử dụng rất nhiều tiếng Hán, được đọc theo khẩu âm của người Việt, gọi là tiếng Hán Việt.

Tiếng Hán Việt đã có trong tiếng Việt Nam ngay từ thuở ban đầu có chủng tộc Việt Nam (trước thế kỷ I), sau đó là thời gian bị Trung quốc đô hộ khoảng 1,000 năm. Trong thời gian này, chữ viết cho cả nước là chữ Hán. Đến thời kỳ độc lập, khoảng 1,000 năm (trừ khoảng 20 năm bị nhà Minh đô hộ vào đầu thế kỷ XV và 100 năm bị Pháp chiếm làm thuộc địa), thì chữ viết vẫn là chữ Hán. Người Việt Nam dùng chữ Hán trong mọi lãnh vực dùng đến chữ: công văn, khoa học, lịch sử, giáo dục, văn chương, v.v... Chỉ mới gần đây (khoảng 100 năm) thì mới có lối chữ abc xuất hiện do công sức của các giáo sĩ truyền đạo Thiên chúa từ nhiều nước đến Việt Nam như: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Pháp, v.v...

Trải qua suốt một thời gian khoảng 2,000 năm sử dụng chữ Hán liên tục như vậy thì lẽ tất nhiên ảnh hưởng to lớn của chữ Hán là một sự kiện lịch sử khách quan trong tiếng nói và chữ viết Việt Nam.

Tiếng Việt Nam là thứ tiếng tổng hợp rất nhiều thứ tiếng, trong đó tiếng Hán Việt ước tính chiếm hơn 70%. Vì tiếng Hán Việt nhiều quá, sử dụng lâu quá, phổ thông quá và giọng đọc khác hẳn giọng Trung quốc cho nên có thể nói rằng đa số tiếng Hán Việt đã được Việt hóa rồi; hay nói cách khác, đa số tiếng Hán Việt trong ngôn tự Việt Nam là tiếng Việt có gốc là tiếng Hán.

2) Đặc điểm của tiếng Hán Việt:

Một câu hỏi tất nhiên phải đặt ra là làm sao phân biệt được tiếng Hán Việt và tiếng Việt, đặc biệt đối với những người không học chữ Hán hoặc chỉ có trình độ Trung Học Việt Ngữ, hoặc những người Việt quen dùng ngoại ngữ, lâu dần trình độ hiểu biết tiếng Việt có thể trở nên kém cỏi. Có vài cách như sau:

Cách làm biếng là phàm khi gặp chữ Việt nào mà không hiểu nghĩa một cách rõ ràng hoặc không chắc viết đúng chánh tả hoặc ít nghe thấy thì hầu chắc chữ đó là chữ Hán Việt. Thí dụ: A Phú Hãn (Afghanistan), việt dã (chạy đua việt dã), thị phi (chuyện thị phi ở đời), công xúc tu sỉ, bị vong lục, tối hậu thư, hàn thử biểu, địa chấn ký, ký âm pháp, trắc địa học, nhân sinh quan, vũ trụ quan, đàn việt, tiềm thủy đỉnh, nạn nhân mãn, thẩm mỹ, quốc sắc thiên hương, thục nữ yểu điệu , ngũ cốc, phiếm diện, cảnh sát, bảo tàng viện, hàn lâm viện, bộ nội vụ, bộ quốc phòng, bộ ngoại giao, khủng bố, đức mô khắc lạp tây (democracy), yên tư phi lý thuần (inspiration), Tòa Bạch Oác, Nữu Ước, Ba Lê, Hoa Thịnh Đốn, Tây Nhã Đồ, La Tỉnh (Los Angeles), Thánh Hà Tây (San Jose), Chi Gia Kha (Chicago), Gia Nã Đại (Canada), Vọng Các (Bangkok), Mạnh Mãi (Bombay), Đức Lợi (Delhi), Cổ Ba (Cuba), Nã Phá Luân (Napoléon), Lư Thoa Rousseau), Cam Địa (Gandhi), Bối Đa Phần (Beethoven), A Lý Sĩ Đa Đức (Aristote), Phú Lãng Sa (France), Ý Đại Lợi (Italie), A Mỹ Lợi Gia (Amérique), Aâu La Ba (Europe), Á Tế Á (Asie), v.v...

Cách ít làm biếng là ngẫm nghĩ nghĩa và cách dùng của chữ. Nếu một chữ nào đó đứng một mình, có nghĩa nào đó nhưng không tạo thành từ ngữ được thì chữ đó là chữ Hán Việt. Thí dụ:

+++thiên: trời.

Người Việt nói: "tôi nhìn trời", không nói "tôi nhìn thiên." Tuy nhiên, khi dùng với chữ cặp đôi, hoặc đồng nghĩa hoặc phản nghĩa, thì có thể nói : "của thiên trả địa".

Từ ngữ: thiên tài, thiên tai, thiên tạo, thiên bẩm, thiên cơ, thiên hạ, thiên văn, thiên tính, thiên nhiên, thiên lương, thiên lôi, thiên hình vạn trạng, thiên niên kỷ.

+++địa: đất.

Người Việt nói: "đất này mới được bón phân", không nói "địa này mới được bón phân". Từ ngữ: địa cầu, địa dự địa lý, địa bàn, địa điểm, địa đồ, địa hình, địa vâ,t, địa thế, địa chấn ký, địa chất học, địa chỉ, địa hạt, địa lôi, địa phương, địa mạch, địa từ.

+++nhân: ngườị

Người Việt nói: "dạy con lòng thương người", không nói "dạy con lòng thương nhân". Từ ngữ: nhân đạo, nhân tài, nhân khẩu, nhân lực, nhân tâm, nhân tình thế thái, nhân sự, nhân loại, nhân bản, nhân ái, nhân chủng học, nhân chứng, nhân cách, nhân duyên, nhân đức, nhân phẩm, nhân quyền, nhân sinh quan, nhân tính, nhân hậu, nhân mãn, nhân nghĩa, nhân viên, thương nhân, công nhân, văn nhân.

Cách "khó" nhất là học ... tiếng Hán, nhờ đó mà tự khắc phân biệt được tiếng Hán Việt và tiếng Việt thuần túỵ Dưới đây là một số đặc điểm của tiếng Hán Việt trong ngôn tự Việt Nam.

a)Về âm vận:

Xét về tiếng nói thì có hai loại: loại thứ nhất là tiếng biến âm, biến nghĩa (tonal languages), nghĩa là sự lên giọng hay xuống giọng làm thay đổi nghĩa của tiếng (như tiếng của các nước châu Phi, Nam châu Á, thổ dân Mexico, v.v...) Loại thứ hai là tiếng bất biến âm, bất biến nghĩa (nontonal languages), nghĩa là sự lên giọng hay xuống giọng không làm thay đổi nghĩa của tiếng (như Nhật Bản, Úc Á, Anh, Pháp, châu Aâu). Vì vậy, điều đặc biệt quan trọng trong loại tiếng "biến âm, biến nghĩa" là phát âm và hiểu đúng nghĩạ

Tiếng Hán và tiếng Việt là loại tiếng biến âm, biến nghĩa, có nhiều dấu giọng nên ngoài cách phát âm đúng, dùng đúng nghĩa chữ còn phải chú trọng đến vấn đề chánh tả. Lấy thí dụ phát âm tiếng tinh phải khác với tin, và khi bỏ dấu vào thì nghĩa chữ tinh khác nghĩa các chữ tình, tính, tỉnh, tĩnh và tịnh (tin cậy, tin vui và tinh anh, tinh binh, tinh đời, tinh ranh, tinh chế, tinh khiết, tinh thể, tình ái, tình cảm, tình cờ, tình duyên, tình hình, tình nghi, tình nghĩa, nóng tính, bản tính, tính chất, tính đố, tính khí, tính mạng, tính nết, tính sổ, tính từ, tỉnh điền, tỉnh dụng, tỉnh bơ, tỉnh lẻ, tỉnh giấc, tỉnh khô, tỉnh ngộ, tỉnh táo, tỉnh trưởng, thanh tĩnh, tĩnh dưỡng, tĩnh từ, tĩnh vật, tĩnh trí, tĩnh tọa, tĩnh mịch, tĩnh tâm, tịnh tiến, tịnh độ, thanh tịnh.)

Gần đây, khi viết thơ trên lưới điện toán, một số người Việt hoặc do không có xóp que tiếng Việt, hoặc do lười biếng đánh các ký hiệu dấu VIQR, hoặc muốn che dấu lỗi chánh tả nên viết không có dấụ Tất nhiên người đọc có thể đoán nghĩa căn cứ vào nội dung bài viết nhưng nghĩ cho đến cùng thì bắt buộc phải bỏ dấu bởi cái cốt cấu trúc của tiếng Việt là dấu giọng. Không có dấu giọng thì không còn là tiếng Việt nữạ

Khác với loại tiếng đa vận (polysyllabic, nhiều âm tạo ra một nghĩa), tiếng Hán là loại tiếng độc vận (monosyllabic, một âm có một nghĩa) và chữ viết là loại chữ biểu ý, biểu nghĩa (không thể ráp vần abc mà đọc được) Chính do hai đặc điểm vừa nêu mà tiếng Hán có quá nhiều tiếng phát âm giống y như nhau nhưng nghĩa và cách viết lại khác nhau (gọi là tiếng đồng âm, dị nghĩa, dị hình.) Ngay cả chữ viết cùng một hình đồ giống nhau nhưng có chữ lại bao gồm nhiều nghĩa khác nhaụ Thí dụ: xét chữ tu sỉ trong câu "Nếu cởi truồng đi ra phố là phạm tội công xúc tu sỉ." Trước hết, nếu biết công xúc tu sỉ là tiếng Hán Việt thì sẽ giúp viết đúng chánh tả, không viết cong súc hoặc cong sút tu sĩ. Xét về nghĩa:

*Âm Tu có sáu kiểu chữ chính, viết như sau

1) tu: 8 nét, bộ Nhân (người): sửa (tu thân)

2) tu: 11 nét, bộ "Nữ" (đàn bà): chị (cổ ngữ)

3) tu: 5 nét, bộ "Dương (con dê): có hai nghĩa:

a) thức ăn ngon (trân tu)

b) mắc cỡ, thẹn thùng (hàm tu: có nét thẹn thùng)

4) tu: 7 nét, bộ "Nhục" (thịt): nem

5) tu: 2 nét, bộ "Hiệt" (đầu): cần gấp (cấp tu, thiết tu)

6) tu: 12 nét, bộ "Tiêu" (tóc dài): râu tủa rạ Từ ngữ: liên tu: tua bông sen. Thành ngữ: Liên tu bất tận: túa ra, tiếp diễn không ngừng.

*Âm SĨ có sáu kiểu chữ chính, viết như sau:

1) sĩ: 6 nét, bộ "Khẩu" (cái miệng): há miệng rạ

2) sĩ: 6 nét, bộ "Tâm" (tim, lòng): lấy làm nhục (sỉ nhục), xấu hổ.

3) sĩ: 19 nét, bộ "Mịch" (sợi tơ nhỏ): cái lưới bịt tóc.

4) sĩ: 10 nét, bộ "Y" (áo): cởi áo ra, cách chức (sĩ khí, sỉ chức)

5) sĩ: 11 nét, bộ "Túc" (chân): dép làm bằng cỏ .

6) sĩ: 19 nét, bộ "Túc" (chân): giày dép làm bằng cỏ. Từ ngữ: sỉ lý tương nghênh: múa giày ra đón (khách).


Trong thực tế, khi nói câu thí dụ nêu trên, người Trung quốc căn cứ vào nội dung (context) của vấn đề đang đề cập để xác định nghĩa của âm. Còn nếu viết xuống thì vì các chữ đều biểu nghĩa (và dị hình) nên nhìn vào là biết nghĩa ngay, không sao lẫn lộn được.

Tiếng Việt Nam cũng là loại tiếng độc vận nhưng ngày nay người Việt Nam không viết chữ Hán nữa mà lại viết theo kiểu chữ biểu âm, ráp vần abc lại để phản ảnh giọng nói, hay nói cách khác là nói sao viết vậỵ Khổ nỗi là tiếng đồng âm nhưng khác nghĩa trong tiếng Việt cũng nhiều không kém tiếng Hán. Nay dùng hệ thống biểu âm cho nên người Việt sẽ vô cùng khó khăn, chỉ có thể căn cứ vào nội dung để đoán mò mà thôi - đôi khi đoán được, đôi khi đành chịu thua, không cách nào để xác định nghĩa của các chữ Hán Việt đồng âm được!

Trong thí dụ "Nếu cởi truồng đi ra phố là phạm tội công xúc tu sĩ" có người đoán lờ mờ là "xúc phạm các vị tu sĩ (người tu hành)". Rồi làm sao để đoán nghĩa chữ công? Trong đầu người Việt có các chữ: công sức, công việc, công dụng, công lao, công hiệu, công suất, chiến công, thành công, uổng công, công kích, tấn công, phản công, công đoàn, thủ công, đấng hóa công, bãi công, công đức, công trình, công nhân, công cộng, công dân, công quyền, công hàm, công chức, công chúa, công lý, bất công, công hữu, công ích, công khai, công quỹ, công phẫn. Nếu biết tiếng Hán thì sẽ biết chữ công có bốn nghĩa chính, viết thành bốn chữ khác nhau:

*công: chung (công cộng, công dân, công chúng)

*công: kết quả của một hành động nào đó (công dụng, công lao, công hiệu)

*công: đánh (công kích, tấn công, phản công)

*công: thợ, lao động (công đoàn, thủ công)

Nghĩa đúng của câu: "Nếu cởi truồng đi ra phố là phạm tội công xúc tu sỉ" là "lấy làm nhục nhã, xấu hổ, mắc cỡ, thẹn thùng khi xúc phạm đến công chúng". Một thí dụ khác về khổ nạn đồng âm: "nam nữ thụ thụ bất thân" Người không học chữ Hán, đọc câu này thì không cách nào hiểu được sự khác biệt giữa hai chữ "thụ thụ". Muốn hiểu, phải đi về cái gốc chữ Hán. Một chữ "thụ" có nghĩa là "chịu nhận lấy (thụ mệnh, thu nhận), thuộc bộ "Hựu" và chữ "thụ" kia có nghĩa là "cho, trao cho (truyền thụ), thuộc bộ "Thủ", nghĩa của câu này là: người nam và người nữ không đ ược sờ mó, đụng chạm, gần gũi, thân mật khi trao đổi vật gì đó với nhau.

b) Về nghĩa:

Khi dùng tiếng Hán Việt thì phải lưu ý hai vấn đề thường xảy ra: trật tự văn phạm và nghĩa của các tiếng cùng âm mà khác nghĩa, khác cách viết.

Một số tiếng Hán Việt vẫn còn giữ âm Hán, khi nói ra thì âm nghe rất giống và khi sử dụng thì vẫn giữ nguyên cấu trúc văn phạm của chữ Hán. Thí dụ: mại (bán), mãi (mua), niên (niên lịch), động (động từ), đông (mùa Đông), lão (ông lão), cảng (hải cảng), thủy (thủy thủ), ánh (ánh tà dương), không (không khí), đậu (đậu xanh), như (giống như), thân (thân cây), nhung (nhung lụa), thích (vui thích), phấn (bụi phấn), xứ (xứ sở), sự (sự việc), diễn giảng, báo chí, tự điển, mục lục, họa sĩ, bưu chính, bưu điện, tính tình, tính mệnh, tính khí, tình dục, tình trạng, chỉnh đốn, chỉnh lý, chỉnh tề, chỉnh toàn, chính đại, chính đáng, chính quả, chính giáo, v.v....

Một số tiếng Hán Việt không còn giữ âm Hán, khi nói ra thì âm nghe khác hẳn và khi sử dụng thì tuân theo cấu trúc văn phạm của chữ Việt, gọi là tiếng Việt có gốc Hán. Cần lưu ý rằng vào thời xa xưa, tiếng Hán đã bị đọc trại theo khẩu âm của người Việt thời đấỵ Rồi với thời gian trôi qua, cả giọng đọc của người Trung quốc và Việt Nam đều thay đổi, cho tới nay thì một số tiếng Hán Việt hoàn toàn khác hẳn về âm, không còn hơi hướm đọc trại nữạ Thí dụ: nhịn (nhường nhịn) do chữ Hán "nhẫn", gần (xa gần) do chữ Hán "cận", cứng (cứng ngắt) do chữ Hán "cang/cương", chia (phân chia) do chữ Hán "chi", giết (giết bò) do chữ Hán "sát", thiêng liêng do chữ Hán "linh", đàn (đàn bò) do chữ Hán "đoàn", cuốn (cuốn sách) do chữ Hán "quyển", thơ (thơ ca) do chữ Hán "thi".

Chữ Hán đã có trước khi có giấy và máy in (hơn 2,000 năm nay) cho nên việc ghi chép một chữ rất khó khăn; rồi từ cái khó này mà có khuynh hướng giản tự hoặc nuốt chữ (tỉnh lược, ẩn dụng và khuyết dụng) Xin đơn cử một thí dụ về trật tự văn phạm thường gặp như sau:

Thay vì: nhân chi tâm (lòng của người) thì ẩn chữ "chi", nói: nhân tâm (lòng người)

nhân chi khẩu (miệng của người) thì nói: nhân khẩu (miệng người)

nhân chi lực (sức của người) thì nói: nhân lực (sức người)

nhân chi tài (tài của người) thì nói: nhân tài (tài người)

thiên hạ chi nhân (người ở dưới khắp bầu trời ) thì nói: thiên hạ (thế giới loài người)

thục nữ chi yểu điệu: sự yểu điệu của thục nữ
.

Không nói "tâm nhân, khẩu nhân, lực nhân, tài nhân, hạ thiên, v.v..." Trong thực tế, nếu đảo ngược trật tự văn phạm trên đây của chữ Hán Việt để nói theo trật tự văn phạm Việt Nam thì có ba vấn đề xảy ra:



*Chữ Hán Việt trở nên vô nghĩa hoặc tối nghĩa:

Không được đảo trật tự của các chữ: tương quan, quan trọng, cơ quan, cơ thể, thời cơ, hiếu danh, hiếu sắc, thị hiếu, hý kịch, hý trường, phương diện, phương pháp, phương trình, cảnh sát, Nho giáo, nho sĩ, hải cảng, hải quân, hải phận, hành khách, du khách, khách sáo, nhan sắc, nhan đề, thanh lâu, cao lâu, đa cảm, đa đoan, đa nghi, đa tạ, ưng thuận, nhàn nhã, thiếu phụ, sản phụ, quả phụ, sơn cước, sơn dân, độ lượng, chế độ, báo cáo, cáo phó, nguyên cáo, bị cáo, cáo trạng, quảng cáo, duy vật, duy tâm, yếm thế, yếm nhân, thương hàn, tử thương, ngoại thương, nội thương, bản chất, bản doanh, nhiệm vụ, đảm nhiệm, quyền lực, quyền hạn, quân dịch, phục dịch, tai hại, quan niệm, chánh phạm, tòng phạm, tương đối, tuyệt đối, toàn quyền, tư bản, vong bản, bản ngã, lợi dụng, cố chấp, cố thủ, v.v...



*Chữ Hán Việt sinh ra nghĩa khác:

Đảo chữ bộ hạ thành hạ bộ. Tương tự như vậy, xin tự đảo các chữ dể thấy nghĩa đổi: quả nhân, phạm tội, phân hóa, ai cảm, tận lực, khách quan, hiếu sự, vi phạm, thực hiện, chiến tranh, sĩ tử, công lao, tước chức, thủ hạ, đầu hàng, v.v...



*Chữ Hán Việt vẫn giữ nghĩa:

Đảo trật tự các chữ Hán Việt sau đây thì thành trật tự văn phạm Việt Nam nhưng không đổi nghĩa: Đông phương, Tây phương, sắc tướng, thương tổn, thương cảm, quyền uy, bản nguyên, lợi ích, lợi hại, lợi danh, ân ái, ân oán, thù hận, oán thù, phá hủy, cầu nguyện, ước nguyện, hoang phí, hư thực, cổ tích, nam tính, nữ tính, đấu tranh, trang nghiêm, phần mộ, phản bội, tạ từ, xưng hô, luận đàm, lạc lưu, luật pháp, liên kết, kết cấu, kết giao, biến cải, tranh đoạt, trang điểm, ưu điểm, nhược điểm, thần thánh, xuất phát, hoảng hốt, hao tổn, bệnh tật, gia tăng, tăng giá, mưu kế, độc kế, ác độc, tàn bạo, lão ông, tiên ông, từ biệt, giao phó, tra khảo, vinh hiển, vinh quang, sung bổ, thánh kinh, ái tình, v.v...



c) Luật hỏi ngã:

Giọng phát ra ngang bằng, cao hay thấp, khứ hay nhập quyết định đánh dấu hỏi hay ngã. Quy ước về dấu hỏi, ngã rất tinh vi, tùy theo giọng đọc mà có luật hẳn hoị Đây vừa là cái khó, vừa là cái hay của chánh tả tiếng Việt.

Trong tiếng Hán Việt thì luật hỏi ngã phải theo luật tứ thanh do Thẩm Ước là nhà văn nổi tiếng thời nhà Lương, (Tề 479-501, Lương 502-556, Trần 557-587) đề rạ Vũ Đế nhà Lương hỏi Thẩm Ước rằng: "Thế nào là tứ thanh: bình, thượng, khứ, nhập?" Đáp: "Xin đọc theo giọng của bốn chữ thiên, tử, thánh, triệt."

Nghĩa là: những chữ đọc giống âm thiên thì gọi là bình thanh, những chữ đọc giống âm tử thì gọi là thượng thanh, những chữ đọc giống âm thánh thì gọi là khứ thanh, những chữ đọc giống âm triệt thì gọi là nhập thanh.

Trong cuốn Văn Pháp Chữ Hán (cổ Hán văn) của Phạm Tất Đắc, trang 1085, viết:



Ý nghĩa của tứ thanh được giải thích bằng bốn câu thơ về thời Đường:

"Bình thanh thương cảm mà yên ổn,

Thượng thanh cao giọng như nâng lên,

Khứ thanh trong trẻo mà vẳng xa,

Nhập thanh ngắn tiếng mà thúc bách

(Bình thanh ai nhi an,

Thượng thanh cao nhi cử,

Khứ thanh thanh nhi viễn,

Nhập thanh đoản nhi xúc).

Về thời Minh, tăng sĩ Chân Không đặt ra bốn câu ca để hình dung tứ thanh:

Bình thanh đường phẳng chẳng gập ghềnh,

Thượng thanh hô cao sức kiện cường,

Khứ thanh rõ ràng thương cảm đường xa,

Nhập thanh ngắn, thôi thúc, gấp thâu tàng.

(Bình thanh bình đạo mạc đê ngang,

Thượng thanh cao hô mãnh lực cường,

Khứ thanh phân minh ai viễn đạo,

Nhập thanh đoản xúc cấp thâu tàng).
"



Mỗi thanh lại chia ra hai bậc: bổng và trầm mà thành ra tám cung bậc. Bậc bổng gồm những dấu: bình (không dấu), thượng (dấu hỏi), khứ (dấu sắc), nhập (dấu sắc đi với các chữ có chữ c, ch, p, t ở cuốị) Bậc trầm gồm những dấu: bình (dấu huyền), thượng (dấu ngã, nặng), khứ (dấu ngã, nặng), và nhập (dấu nặng đi với các chữ có chữ c, ch, p, t ở cuối).

Nói tổng quát, luật hỏi ngã cho cả hai tiếng Hán Việt và Việt là: thanh có gốc chữ là dấu hỏi, sắc hoặc không dấu thì đánh dấu hỏi và thanh có gốc chữ là dấu huyền, nặng, ngã thì đánh dấu ngã. Nếu không biết cách phân tích gốc chữ (tự nguyên) thì chỉ còn cách là học thuộc lòng hoặc học mẹo mà thôi!

Thay vì phân tích về luật hỏi ngã khá rắc rối, khó áp dụng được trong thực tế thì giáo sư Nguyễn Tài Cẩn có giới thiệu một mẹo rất hay; đó là "mình nên nhớ viết là dấu ngã". Nghĩa là nếu gặp một chữ Hán Việt bắt đầu bằng một trong những âm đầu của những chữ trong câu trên thì cứ mạnh tay bỏ dấu ngã. Một ngoại lệ duy nhất: chữ ngải trong ngải cứu (tên một cây thuốc). Thí dụ:

* M (mình): 
mỹ mãn, mẫn cảm, mãnh hổ, mẫu số, mãng xà, miễn dịch, mã lực, giờ mão, kiểu mẫu, mãn khóạ

*
N (nên): truy nã, trí não, nam nữ, nỗ lực.

*
NH (nhớ): nhũng nhiễu, nhã nhặn, nhẫn nại, nhuyễn thể, nhiễm độc, nhãn hiệu, thổ nhưỡng.

*
(viết): vũ lực, vãng lai, vãn cảnh, vĩnh viễn, hùng vĩ, vĩ tuyến

*
(là): phụ lão, nguyệt liễm, kết liễu, lữ khách, lễ độ, thành lũy, lãnh đạm, lẫm liệt

*
(dấu): dã man, dũng cảm, dung dưỡng, dĩ nhiên, diễm lệ, diễn viên

*
NG (ngã): ngôn ngữ, tín ngưỡng, ngưỡng mộ, nghĩa cử, nghiễm nhiên, hàng ngũ, ngũ sắc, vị ngã, Nguyễn Du.

Còn tất cả tiếng Hán Việt không bắt đầu bằng các âm M, N, NH, V, L, D, và NG thì cứ bỏ dấu hỏị Tuy nhiên, cần lưu ý khoảng 20 chữ dưới đây không tuân theo luật vừa nêu:

kỹ (kỹ thuật, kỹ xảo, kỹ nữ), bãi (bãi chức, bãi khóa), bĩ (bĩ cực, vận bĩ), hữu (bằng hữu, hữu ích, hữu khuynh), phẫu (giải phẫu), cữu (linh cữu), tiễn (tiễn biệt, tống tiễn, hỏa tiễn), tiễu (tiễu trừ, tiễu phỉ), trẫm (tiếng vua xưng), trĩ (ấu trĩ, chim trĩ), trữ (tích trữ), huyễn (huyễn hoặc), hỗ (hỗ trợ), hỗn (hỗn loạn, hỗn hợp), hãm (giam hãm, hãm hại), đãng (phóng đãng, quang đãng), quẫn (khốn quẫn, quẫn bách), xã (xã hội), hoãn (trì hoãn), quỹ (thủ quỹ, quỹ tích), suyễn (bệnh suyễn), cưỡng (cưỡng ép), tuẫn (tuẫn nạn), đễ (hiếu đễ), sĩ (kẻ sĩ)



Đọc thêm:



Khi sáng tạo ra hệ thống chữ viết abc, các vị cố đạo không dùng lối viết "biểu ý" của chữ Hán (symbolic system) mà lại dùng hệ thống ký hiệu để "biểu âm", nghĩa là "nghe nói ra sao thì ký âm như vậy" (phonetic system), lấy giọng nói miền Bắc làm tiêu chuẩn để xác định giọng nói và cách viết chung cho cả nước. Chính vì vậy mà người miền Bắc không viết sai chánh tả nhiều như người miền Trung và miền Nam.

Trong quá trình lắng nghe giọng miền Bắc, rồi dùng bộ chữ La tinh để ký âm thì các cố đạo không đủ chữ để ghi cho hết các giọng của tiếng nói Việt Nam. Do đó, họ phải sáng tạo ra thêm ký hiệu na ná như nguyên tắc chế biến chữ của người La Mã khi mượn bộ chữ Hy Lạp.

Vào khoảng 1000 năm trước Tây lịch, người Phoenicians và Semite (nay là người Do Thái, Ả Rập sống ở miền Đông Mediterranean) khởi sự dùng các ký hiệu hình đồ (graphic signs) để ghi lại âm thanh của tiếng nói. Người Hy Lạp mượn hệ thống chữ viết này để lập ra bộ chữ Hy Lạp. Rồi người La Mã mượn từ bộ chữ Hy Lạp để tạo ra 23 chữ cái La tinh. Đến thời Trung Cổ, bộ chữ này được gọi là Trung Cổ Hy Lạp (Medieval Greek) với khá nhiều cải thiện và được sử dụng trong khoảng từ năm 800 đến 1500. Cuối cùng là hệ thống chữ viết ngày naỵ Trong quá trình sáng tạo bộ chữ La tinh, người La Mã đã biến chế, thêm bớt chữ Hy Lạp để có thể phiên âm tiếng nói La tinh. Dưới đây là vài thí dụ:

+++ Vì cần phân biệt 2 âm g và k, nhưng bộ chữ Hy Lạp không có, cho nên họ đã lấy chữ C, thêm một dấu gạch ngang chữ C để tạo ra chữ G.

+++ Người Hy Lạp cả chữ I cho nguyên âm I và bán nguyên âm Y; do đó, để phân biệt với chữ I, người La Mã móc thêm một dấu hình lưỡi câu để tạo thành chữ J.

+++ Chữ R của Hy Lạp: người Hy Lạp viết chữ R giống như chữ P, vì vậy, để phân biệt với chữ P sẵn có, người La Mã quẹt thêm cái đuôi để tạo ra chữ R.

+++ Các chữ F, U, V, W và Y đều phát xuất từ hình đồ Y của người Phoenician.

+++ Người La Mã dùng chữ Y cho nguyên âm "U" và bán nguyên âm "W" và từ đó mà sinh thêm ra phụ âm "V" bằng cách cắt cái đuôi của chữ Ỵ Vào thế kỷ 17, chữ U được sáng tạo và kéo dài mãi đến thế kỷ 19 thì mới thực sự được hoàn chỉnh về nhiệm vụ của nó trong hệ thống chữ cái: V được dùng để khởi sự một chữ (phụ âm) và U (nguyên âm) có thể ở bất cứ vị trí nàọ

+++ Chữ W được sáng tạo trong thế kỷ 7 ở Anh để ghi bán nguyên âm "w", đọc là "double -u" bởi vì cách viết của hai chữ "u" dính lạị Tuy nhiên, do phát minh ngành in cách nay khoảng chừng 500 năm, chữ W được in thành hai chữ V: người Pháp đọc là "double-v" nhưng người Anh vẫn đọc "double-u".

+++ Chữ Y đầu tiên được dùng để ghi âm "u", tức upsilon. Dần dần bị sử dụng lẫn lộn với I; tuy nhiên, ngày nay mọi người đã xác định và quy ước rõ ràng Y là bán nguyên âm và I là nguyên âm.



3) Tiếng Hán Việt trong ca dao Việt Nam:

Tiếng Hán Việt có ảnh hưởng quá sức to lớn trong tiếng nói Việt Nam! Cứ mở bất cứ tài liệu, báo chí Việt Nam nào ra thì người ta sẽ thấy đầy rẫy tiếng Hán; thậm chí ngay cả trong hình thức văn chương truyền khẩu, bình dân nhất là ca dao, vốn được xem là dùng toàn tiếng Việt thuần túy, cũng tràn đầy tiếng gốc Hán. Thử lấy một thí dụ là bài ca dao "Lỡ Làng" trong cuốn Hán Văn Giáo Khoa Thư của Võ Như Nguyện và Nguyễn Hồng Giao. Bài này làm theo thể thơ lục bát biến thể, thuần túy Việt Nam (gieo vần ở lưng chừng câu (yêu vận) trái với cách gieo vần của thơ Hán là gieo vần ở chữ cuối câu cước vận):



Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,

Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay!

Ba đồng một mớ trầu cay,

Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?

(bản HVGKT: Sao anh không hỏi những ngày còn không?)

Bây giờ em đã có chồng,

Như chim vào lồng, như cá cắn câu!

Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ,

Chim vào lồng biết thuở nào ra ?



Thoạt đọc thì ai cũng cảm thấy chỉ có hai chữ "tầm xuân" (nghĩa là tìm xuân, tên một loài hoa) là tiếng Hán Việt, ngoài ra bài ca dao dùng toàn tiếng Việt thuần túy. Tuy nhiên, xem kỹ thì không phải vậy. Những tiếng Hán Việt vẫn còn giữ nguyên âm Hán là: hoa, tầm xuân, đồng, không, như, câu. Những tiếng Việt có gốc Hán là: hái do chữ Hán "thái", vườn do chữ Hán "viên", cà do chữ Hán "gia", xanh do chữ Hán "thanh", biếc do chữ Hán "bích", tiếc do chữ Hán "tích", thay do chữ Hán "tai", lồng do chữ Hán "lung". Toàn bài có 71 chữ, trong đó tiếng Hán chiếm 11 chữ, tiếng Hán Việt chiếm 10 chữ và tiếng Việt thuần túy chiếm 50 chữ.


Chú thích:

Cần lưu ý rằng có tiếng vừa là tiếng Hán, vừa là tiếng Việt thuần túy. Trong bài ca dao trên, các tiếng Hán "tầm, đồng, và câu" vừa là tiếng Hán, vừa là tiếng Việt, có nghĩa khác nhau như sau:

*Tầm (Hán): khoảng cách 8 thước Tàu (tầm nhìn), bến so^ng, hâm lại, một loại cỏ, một loại cá, cái chảo lớn; nghĩa trong bài là tìm (tầm nã, tầm chương trích cú, tầm sư học đạo).
*Tầm (Việt): bậy, vớ vẩn (nói tầm bậy, tầm phào)

*Đồng (Hán): cùng như một (đồng bọn, đồng âm, đồng bào, đồng ca, đồng cam cộng khổ, đồng bệnh tương lân), đứa bé (tiểu đồng), con ngươi (đồng tử); nghĩa trong bài là đồng (kim loại)
Tiếng đồng đã biến nghĩa theo thời gian. Nguyên người xưa đúc tiền bằng đồng nên hai chữ đồng tiền có nghĩa đơn giản là tiền làm bằng đồng. Nhưng về sau, tiếng đồng không còn được hiểu là chất đồng nữa mà biến thành một tiếng mới với một nghĩa mới dùng để chỉ cái vật tròn tròn, dẹp dẹp, có lỗ (vuông hoặc tròn) dùng để định giá trị đồ vật. Thí dụ: đồng xu, đồng bạc. Rồi về sau nữa, khi giấy bạc xuất hiện, mỗi tờ giấy thay cho mỗi đồng bạc tròn tròn trước kia cũng được gọi là đồng. Thế là chữ đồng là chất đồng đến chữ đồng là đơn vị tiền tệ ngày nay có cả một sự cách biệt về nghĩa khá xa.

*Đồng (Việt): đồng ruộng, đồng áng, đồng bóng. Ca dao:

Rủ nhau đi cấy, đi cầy,
Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu.
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cầy vợ cấy, con trâu đi bừa.


*Câu (Hán): đều, cong, bắt (câu lưu, câu thúc), rãnh nước, lưỡi câu, ngựa con chạy giỏi (thiên lý câu)
*Câu (Việt): câu văn, chim bồ câu, rau câu, câu chuyện, câu nệ.

Bây giờ hãy xét một bài ca dao khác mà tôi không nhớ tựa đề, chỉ còn lưu lại một cảm tình, khâm phục cho ý chí cần cù kiếm sống của người dân quê lam lũ Việt Nam (chân phải cứng và đá phải mềm!):


Người ta đi cấy lấy công,

Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề.

Trông trời, trông nước, trông mây,

Trông mưa, trông gio', trông ngày, trông đêm,

Trông sao chân cứng, đá mềm,

Trời trong bể lặng mới yên tấm lòng
.


Bài này chỉ có một tiếng Hán Việt vẫn còn giữ nguyên âm Hán là: công. Những tiếng Việt có gốc Hán là: trông do chữ Hán "trướng", cứng do chữ Hán "cang, còn đọc là cương", yên do chữ Hán "an". Toàn bài có 42 chữ, trong đó tiếng Hán chiếm 1 chữ, tiếng Hán Việt chiếm 11 chữ và tiếng Việt thuần túy chiếm 30 chữ.


Sự kiện lẫn lộn tiếng Hán, Hán Việt và Việt thuần túy đòi hỏi người Việt phải học kỹ lưỡng tiếng mẹ đẻ của mình để có thể hiểu, nói và viết tiếng Việt thành thạo, đúng chánh tả và dùng đúng nghĩạ Không phải cứ sinh ra là người Việt thì tự nhiên biết nói tiếng Việt đúng giọng, xài đúng nghĩa và viết đúng chánh tả! Để hiểu tiếng Việt cho thấu đáo thì bắt buộc phải hiểu cái gốc chữ Hán của nó; giống như muốn hiểu tiếng Pháp thì phải lần về cái gốc La tinh, Hy Lạp vậy.


4) Cách dùng chữ Hán Việt:

Trong văn học, một số rất đông người Việt chủ trương không dùng tiếng Hán Việt, nhất là trong khoảng 700 năm phát triển nền văn chương chữ Nôm (thế kỷ XIII - XIX). Gần đây là phong trào Tự Lực Văn Đoàn, với nhiều nhà văn như Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyễn Công Hoan viết tiểu thuyết chú trọng phổ biến tiếng Việt thuần túy.

Văn thơ, tiểu thuyết, ca dao, tục ngữ dùng tiếng Việt giản dị, dễ hiểu nên tạo một cảm giác gần gũi, thân mật, đi thẳng vào tâm não của người đọc. Thí dụ: bài thơ Đường luật "Thu Điếu" của Nguyễn Khuyến (1835 - 1910), người duy nhất đỗ đầu cả ba kỳ thi chữ Hán trong lịch sử Việt Nam (còn gọi là Tam Nguyên Yên Đổ):


Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng nước theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió sẽ bay vèo.

Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối ôm cần, câu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo
.


Đây là bài thơ tả thu nổi tiếng nhất trong văn thơ Nôm, cho đến nay chưa thấy bài nào có thể so sánh được! Nét độc đáo của bài thơ là chỉ với 56 chữ bình dị mà tạo nên một phối hợp rất đắc thể so với mọi ràng buộc gắt gao của thể thơ Đường. Vượt lên trên kỹ thuật dùng chữ và âm vận, bài thơ còn vẽ nên một bức tranh thu êm đềm ở miền quê Việt Nam, với màu sắc và đường nét thật nhẹ nhàng: một chiếc thuyền nhỏ lờ lững trong ao, nước trong nhưng lạnh lẽo (gợi ý thời gian là mùa thu), rồi sóng nước gợn tí, lá vàng bay, phía trên là những từng mây lơ lửng trôi, để rồi lồng trong khung cảnh đó là một thi nhân:


Tựa gối ôm cần, câu chẳng được.

Cá đâu đớp động dưới chân bèo
.


Lời thơ dễ dàng, âm điệu đơn giản nhưng không chút tầm thường; nhất là cách dùng tử vận "eo" với các chữ Việt Nam thuần túy: lạnh lẽo, trong veo, bé tẻo teo, sóng biếc, hơi gợn tí, bay vèo, lơ lửng, vắng teo, tựa gối, đớp động, chân bèo" đã khiến bài thơ rất đắc cách, mang lại một cái gì thong dong, nhàn hạ vốn dĩ thân quen trong tâm hồn người Việt.

Tuy tiếng Việt thuần túy có nhiều đặc điểm hay một cách riêng (có nhiều tiếng tượng thanh, tượng hình hơn so với các tiếng khác: gió thổi ào ào, suối chảy róc rách, mưa tí tách rơi, lom khom nhổ mạ, lững thững dạo chơi) nhưng phải biết cách sử dụng.

Trong thời gian trước năm 1975 và sau đó độ năm năm, chánh quyền miền Bắc hô hào sử dụng tiếng Việt thuần túy. Thay vì dùng chữ "phi cơ trực thăng, thủy quân lục chiến, bảo sinh viện, hội Hồng Thập Tự" thì dùng "máy bay lên thẳng, lính thủy đánh bộ, nhà đỡ đẻ, hội Chữ Thập Đỏ". Chữ máy bay lên thẳng có thể chấp nhận được nhưng lính thủy đánh bộ thì nghe kỳ quá. Thủy và bộ là tiếng Hán Việt đi với hai tiếng Việt lính và đánh nghe loạc choạc, loảng xoảng. Nhà đỡ đẻ, hội Chữ Thập Đỏ thì nghe tục và xoàng quá, làm mất đi cái nghiêm chỉnh và tầm cỡ của bệnh viện và hội.

Trong những năm gần đây, có lẽ vì đã tới tận mức của sự thái quá nên từ khuynh hướng "dùng tiếng Việt thuần túy" lại đổi sang dùng toàn tiếng Hán Việt. Cái gì cũng vậy, hễ rơi vào thái cực là saị Bây giờ, báo chí Việt Nam rất sính tiếng Hán Việt. Vào tháng 5, 2001, tôi về Việt Nam nghỉ hè, mua một số báo như: Công An, Pháp Luật, Phụ Nữ, Thanh Niên để tự tìm hiểu về tiếng Việt ngày naỵ Càng xem tôi càng kinh ngạc: tại sao họ lại ưa chuộng tiếng Hán Việt dữ quá! Các chữ : bức xúc, ách tắc, giai điệu quê hương, chiến sĩ đặc nhiệm, chiến sĩ trinh sát, chiến sĩ hình sự, thông báo chiêu sinh, tài khoản, nghệ nhân, nghệ sĩ nhân dân, v.v... rõ ràng là rất khó hiểu đối với đại chúng. Buông xấp báo ra mà tôi cảm thấy tối tăm mặt mũi, lỗ tai lùng bùng.

Phải chăng sính dùng tiếng Hán Việt để chứng tỏ sự thông thái uyên bác?

Thực ra, khách quan mà nói thì tiếng Hán Việt đã có một thời gian dài được tôn trọng. Nó được xem là loại ngôn ngữ bác học, thậm chí là tiếng để nói với thần thánh và người chết. Ngày xưa, người Việt Nam phải khấn tổ tiên bằng tiếng Hán Việt, khấn nôm (tức tiếng Việt thuần túy) là vô lễ. Người xưa cũng không bao giờ dám dùng giấy có ghi chữ Hán để gói các vật dơ bẩn. Có lẽ do truyền thống xa xưa này mà tiếng Hán Việt thường được coi là sang hơn tiếng Việt thuần túy. Gọi "thầy cả, thầy giáo, người phụ giúp thầy giáo, thầy cãi, thầy chùa, thầy thuốc, thầy lang, thầy bói, thầy coi tử vi, thầy pháp, thầy tướng, thầy coi sao" nghe không sang bằng "linh mục, giáo sư, phụ khảo, phụ giáo, luật sư, nhà sư (đôi khi nịnh bợ nên đặt ra các chức vị đại đức, thượng tọa), bác sĩ, tử vi gia, pháp thuật gia, tướng số gia, chiêm tinh gia, v.v..." Trong thực tế sinh hoạt cũng như sách vở, cái tính chất "sang" này đã tạo ra không biết bao nhiêu lố lăng, khôi hài lẽ ra phải cười nhưng tồi tệ quá đến nỗi có khi không sao cười được!

Tiếng Hán Việt được chuộng có lẽ vì nghe kêu. Điều này thấy rất rõ qua cách đặt tên con cái của người Việt Nam. Đặt tên Ái thay cho Yêu, Bạch thay cho Trắng, Bảo thay cho Báu, Bân thay cho Mộc mạc, Bích thay cho Xanh, Cường thay cho Mạnh, Diễm thay cho Đẹp, Diệp thay cho Lá, Giang thay cho Sông, Đắc thay cho Được, Lương thay cho Tốt, Trúc thay cho Tre, Hoa thay cho Bông, Lâm thay cho Rừng, Quyên thay cho Đẹp, Nguyệt thay cho Mặt trăng, Thủy thay cho Nước, Liên thay cho hoa sen, Mỹ thay cho Đẹp, Giai thay cho Đẹp, Minh thay cho Sáng, Hải thay cho Biển, Sơn thay cho Núi, Long thay cho Rồng, v.v... Rất hiếm thấy cô gái nào có tên Trần Thị Đẹp, Nguyễn Thị Nước, Phạm Thị Xanh. Ở ngoại quốc, sau 1975, một số đông người Việt Nam chỉ giữ họ, còn tên thì đổi ra John, Tom, Jack, Linda, Monique, Jane, Susane, Yvonne, v.v..... Đọc tên John Tran, Monique Nguyen, Yvonne Phạm nghe cũng ngồ ngộ.

Về mặt ngôn ngữ học, căn cứ vào nguyên tắc đồng nhất và thuần túy, người ta chủ trương nếu một khi dùng tiếng Hán Việt cho một từ ngữ nào thì phải dùng toàn tiếng Hán Việt, không nên chen lẫn vừa tiếng Hán Việt, vừa tiếng Việt thuần túy. Tuy nhiên, có vài trường hợp không xác định được, các tự điển không thống nhất với nhau. Thí dụ: nói chánh trị hay chính trị? Aâm Hán là chính, âm Hán Việt là chánh. Người Việt Nam dùng lẫn lộn chánh và chính trong tất cả trường hợp, nhưng khi gọi các người đứng đầu thì luôn luôn dùng chữ chánh (chánh tổng, chánh văn phòng, chánh án).

Thực tế dùng chữ một cách dễ dãi của người Việt đã tạo ra nhiều từ ngữ ghép tiếng Hán Việt và tiếng Việt thuần túy, xài bởi nhiều người và quá lâu cho nên mặc dù nghe lỉnh kỉnh nhưng phải chấp nhận, không sao bác bỏ được. Thí dụ: (chữ Hán Việt viết nghiêng và đậm)

nghĩ ngợi, danh tiếng, thuyền bè, thơ văn, sách vở, công việc, thì giờ, làng xã, trí óc, xương cốt, xác thịt, đường lộ, cầu đường, hồ ao, đầu đuôi, chủ tớ, sức lực, lo liệu, tranh dành, cầu xin, ẩn náu, sinh đẻ, sao chép, nịnh bợ, thiêu đốt, thay thế, chiếm đóng, trao tặng, thoái lui, náo nức, hung tợn, ngu dại, liều mạng, thanh vắng, yên lặng, tài giỏi, v.v...


Kết luận:


Điều đáng lưu ý là cố gắng dùng tiếng Việt thuần túy khi có thể được; không có thì mới dùng tới tiếng Hán Việt để tránh bị gọi là "trưởng giả học làm sang, dốt hay nói chữ." Đừng gượng ép dùng tiếng Hán Việt; những tiếng Hán Việt nào đã phổ thông, đã Việt hóa rồi thì tha hồ xài. Được vậy thì giọng nói, câu văn nghe mới tự nhiên. Trong trường hợp cần nghiêm trang như đặt tên trong giấy khai sanh (khác với tên tục - để kiêng - như thằng Cu, cái Tẹo), tên cơ quan, tên tổ chức hoặc cần diễn tả ý tứ một cách trang trọng, gọn gàng và chính xác thì nên dùng tiếng Hán Việt bởi vì tiếng Hán Việt mang theo nó tất cả cái sâu sắc, súc tích, chính xác của tiếng Hán.




........../.