Đũa thần



Đũa thần


NGUYỄN MINH NHỊ


Hậu quả của suy thoái kinh tế thế giới như cơn gió lốc qua hành tinh làm khốn đốn cho các nước, nhất là các nước nghèo ở Châu Phi và cận nghèo như Việt Nam.
Không ai vui nổi! Các Lễ hội dù nhiều nỗ lực và tốn kém cũng bớt dần hào hứng.

Các nước mà từ lâu ta cứ ngỡ họ giàu, giờ đây té ra họ là con nợ khủng vì sự "tăng trưởng bong bóng" của thị trường bất động sản và tiêu xài quốc gia vượt xa tăng trưởng thật của nền kinh tế. Bong bóng khinh khí cầu xì hơi thì sẽ rơi về nơi xuất phát.

Đó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Trải qua nhiều thập kỷ, cả thế giới sống trong cái ảo giác GDP mỗi năm mỗi tăng và với cái thị trường chứng khoán - bất động sản, luôn nhuộm màu xanh hy vọng. Nhưng một Đô-la bây giờ so với hồi Nga hoàng bán cả Alatca cho Hoa kỳ chỉ có 8 triệu USD thì sẽ thấy nền kinh tế lấy USD làm chuẩn giá trị thanh toán - tính toán, và lấy GDP làm thước đo tăng trưởng của nền kinh tế không phải là công thức (hay phép tính) ưu việt.

Ta mới hội nhập vào "trò chơi bong bóng" nên đành chấp nhận cùng cả thế giới sống chung với thật và ảo vậy.

Điều đáng nói là từ khi ta hội nhập thế giới chỉ mới hơn 20 năm mà ta nhiễm "bệnh ảo" vượt ngoài khả năng tự miễn dịch mà gần như không thuốc chữa. Vậy nên cơn lốc suy thoái đã làm tốc mọi ngụy trang, phơi bày gần hết sự thật của yếu kém, hư hỏng, thiệt hại trong quản lý hành chánh và quản lý kinh tế cả vĩ mô và vi mô; sự khiếm khuyết của thể chế mà có người gọi là "lỗi hệ thống"; sự xao xuyến của nhân tâm và sự phân tầng giàu nghèo trong xã hội cũng như cái hố ngăn cách giữa giới có quyền và người nhiều tiền với phần lớn còn lại là dân chúng cố gồng mình lên thoát nghèo; và nhiều vấn nạn khác của đời sống mà ta hay gọi là "bất cập" nhưng không diễn dịch được nội hàm của nó là gì!
               




Mùa Xuân 1975 tôi làm công tác tuyên truyền nên có tấm bản đồ chiến thắng. Cứ nghe đài nói giải phóng tỉnh nào thì tôi sơn màu mới lên tỉnh ấy để chỉ cho dân thấy cái lằn ranh kết thúc sào huyệt của kẻ thù thắt lại (Sài Gòn) tính bằng ngày, bằng tuần lễ. Phấn khởi lắm!
                
Vậy mà nay, gần 38 năm, từ Mùa xuân Đại thắng, tôi có cái cảm giác đáng sợ là sự "thua trận" của ta trên mặt trận quản lý kinh tế - xã hội nói chung sao mà dồn dập đến thế!?

Nhất là cái cảm giác nặng nề ấy trong tôi (và có lẽ cũng không ít người) lại xuất hiện trong thời điểm một năm rầm rộ Trung ương 4 mà chưa đâu vào với đâu!

Một năm, bày trận hùng hồn, nhưng chưa đánh trúng vào đâu đã  thấy phơi bày ra những thực tế trái ngang về Vinashin rồi Vinalines - Dương chí Dũng, lợi ích nhóm ngân hàng-tài chính, lòng dân ly tán, là do ai, do đâu?

Tiền dân bị đổ tháo xuống biển như rác; nợ xấu cả triệu tỉ, 21.000 tỷ của Tập đoàn dầu khí "quên nộp" mà không biết tại sao! Cái ụ nổi như "tàu sân bay" đang rỉ sắt bị bỏ quên nhiều năm tại Vịnh Cam Ranh mà khi hốt đống sắt phế liệu còn được ngừoi ta thưởng tiền, nhưng về nước kê giá lên cao vọt, chênh lệch cả 4 - 5 triệu USD!

Vụ Tiên Lãng chưa ráo mực in báo giấy thì vụ Văn Giang, Vụ Bản, Cái Răng... lại nóng đỏ rực báo mạng. Vụ người Trung Quốc "thuê" và cắm người ở Vịnh Cam Ranh, Vũng Rô mấy năm rồi mới phát hiện đồng thời sau vụ họ thuê đất trồng khoai lang ở đồng bằng Cửu Long làm ta thấy thêm đau vì mất (kiểm soát) đất ở các đỉnh cao chiến lược quốc phòng và vùng biên giới nhạy cảm đã trót cho người Trung Quốc thuê hàng trăm ngàn Ha đất rừng với thời hạn 50 năm nhưng mới phát hiện năm ngoái.

Vụ đập thủy điện Sông Tranh II bị xì nước quá mức, sửa chữa chấp vá đến mức cấm không cho phóng viên và chánh quyền địa phương bén mảng làm ta hồi hộp nhớ lại dự án Bô-xít trên mái nhà Đông Dương, theo tướng Giáp đây là vị trí đắc địa “thượng phong” ở cả Đông Dương, làm xôn xao dư luận một thời và hiện vẫn còn đang âm ỉ...
                   
Tất cả chuyện tày đình vừa lược qua, hỏi ai là người trách nhiệm?
                   
Không ai cả!
                   
Rõ ràng tại diễn đàn Quốc hội mấy khóa gần đây được truyền hình trực tiếp, các Bộ trưởng đều không ai nhận trách nhiệm rõ ràng và do đó cũng chỉ là "rút kinh nghiệm", và cú bị “dội” nhất là Hội nghị Trung ương 6: “Cũng hiệu quả đấy, khối thằng sợ, nhưng để cảnh báo, cảnh tỉnh, giáo dục, răn đe là chính; kỷ luật nhiều đâu phải là tốt (!?).
                
Nghe báo đài nói các "người đẹp" bán dâm cho khách là đại gia giá ngàn đô-la - mà ta liên tiếp tổ chức chấm thi người đẹp từ lứa tuổi con nít, ở bất cứ nơi nào, lúc nào hễ là có phụ nữ và có dịp.

Xem lại các báo ta trong kháng chiến đưa hình ảnh tố cáo "xã hội Mỹ - ngụy đồi trụy" ở các vùng chưa giải phóng, thì hình ảnh khỏa thân trên báo in báo mạng bây giờ thuộc đẳng cấp thượng thừa, làm tôi mắc cỡ không biết trốn đâu!

Nhiều tệ nạn xã hội, hành vi kém văn hóa, bạo lực, giết người, cướp của; nề nếp - đạo đức gia đình đổ vỡ...ngày một gia tăng mật độ và tầng nấc nguy hiểm của nó mà trước giải phóng khó so sánh; trong khi đó hiện tượng vô cảm đang là "lẽ sống thời thượng” càng được nhiều người chọn, ngay cả trong các tổ chức chánh trị xã hội! Nhất là kẻ lắm tiền như “bộ phận lớn” mà NQTW 4 đã chỉ ra. Vốn liếng xã hội vơi đi có thể cập nhật được thật là khủng khiếp cho các hoạch định tương lai đất nước!

Cảm giác "thua trận" trong tôi có cái lý do là vì vậy và tôi buộc phải than rằng: "Nước non mình đến nỗi này sao!?".
          
Như nhiều người, tôi có cảm giác bị muối mặt khi vào bệnh viện thăm người thân quen nằm bệnh với cảnh hai, ba, bốn bệnh/giường, có khi nằm kín dọc theo hành lang; những cực nhọc của người thầy và hộ lý triền miên năm tháng trong môi trường vi trùng bệnh tật mà không che lấp nổi những tai tiếng, sự cố xảy ra v.v...


Có lần một vị Bộ trưởng y tế khóa trước tuyên bố: "Hết nhiệm kỳ (5 năm) tôi sẽ giải quyết xong tình trạng 2 bệnh/giường". Đến nay rồi, quả thật không còn 2 mà là đến 3 - 4 bệnh/giường!

Có ghế mới, họ thường mạnh miệng hứa đại, tỏ ra ta đây có tài xoay chuyển, nhưng cuối cùng lời hứa vẫn chỉ là lời hứa mà thôi. Chẳng qua là cứ nổ thoải mái, để tự khẳng định ghế mới cái đã, mọi sự không cần biết.

Căn bệnh nhiệm kỳ không phải chỉ có một ông Bộ trưởng như vậy. Có lẽ đã thành tật! Hèn nào đại biếu Bá Thanh ở Đà nẳng phải thốt lên: "Nghe dân kêu, thắc mắc riết tôi đành trơ mặt ra". Tôi nghĩ người nói được câu này mới thật sự không trơ!

Nhớ cách đây hơn hai nhiệm kỳ cấp ủy, dự họp mặt báo Thanh Niên tròn 20 tuổi tại Dinh Thống nhất, tôi (đang chức) phát biểu hoan nghênh tinh thần dũng cảm nhận chức của đồng chí Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân và lo lắng cho đồng chí từ địa phương về mới khoảng nửa năm, tiếp nhận một sự nghiệp quá nặng nề, quá nhiều vấn đề được đặt ra hàng chục năm làm cho nền học vấn quốc gia bị trì trệ, tầm thường hóa "quốc sách"; rằng: "Nấc thang danh vị" Người Thầy (Thầy giáo và Thầy thuốc) giờ sao bị hạ thấp hết mức? Tôi mong đồng chí Bộ trưởng khôi phục lại chất lượng phổ thông, nhất là bậc tiểu học và công tác dạy nghề, không nên "phổ thông hóa" bậc đại học (phổ thông cấp 4) và trên đại học". Rằng: "Thời gian đủ làm chuyển biến ngành giáo dục ít nhất cũng 10 - 12 năm chớ không phải là nhiệm kỳ 5 năm. Muốn vậy phải dẹp cái ban thi đua của Bộ đi thì mới dẹp được bệnh thành tích mà thực hiện "hai không" của đồng chí...". Một đồng chí trong ngành có thâm niên phát biểu không đồng tình với tôi về thời gian 10 - 12 năm: "Chờ lâu quá chết rồi".
Nghe ông nói tôi buồn thêm vì dự báo không sáng sủa cho ngành và Bộ trưởng mới, rồi sẽ theo vết xe các Bộ trưởng trước mà thôi!  Hôm ấy có mặt nhiều Bộ trưởng: Trương đình Tuyển, Nguyễn thiện Nhân, Chủ tịch Hội LH TN Nông quốc Tuấn, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn thị Bình, Nhà giáo Vũ Khiêu, Nhà sử học Dương Trung Quốc...Khoảng 500 người, đông nhất là sinh viên. Rất vui. Nếu có ghi âm, tôi nghĩ lời tôi nhắc lại sẽ không sai lệch.

Năm nay đề thi văn lại nói về "Bệnh giả dối", và sự kiện Đồi Ngô xảy ra tại kỳ thi nầy là đỉnh điểm gặp nhau của hai căn bệnh "Thành tích" và "Dối trá".
Sự ngẩu nhiên này mới thật muối mặt, làm tôi liên kết nó lại và thấy hai căn bệnh nầy lại chính là mặt đối lập của thuộc tính phạm trù đạo đức xã hội.

Mới rồi, Phó Thủ tướng lại “làm nổi” bằng cách rần rần tổ chức chiến dịch bắt gà lậu. Bắt được bao nhiêu? Chặn được cái nạn gà qué nhập lậu hay không chưa thấy gì, chỉ đau là làm chết một thiếu úy công an hăng hái chấp hành mệnh lệnh!

Từ những “cú nổ” khoa trương đó, nó đã và đang “di căn” ra toàn xã hội không từ một ngõ ngách nào! Tôi nghĩ rằng đó là một trong những lý do mà Hội nghị TW 4 nhận xét: Đang có sự tha hóa biến chất của một bộ phận không nhỏ trong Đảng về chánh trị tư tưởng, đạo đức, lối sống và mối quan hệ với nhân dân... Từ đó ra Nghị quyết có tầm sống còn đối với chế độ.

Ngó qua thôi đã thấy “Nghị quyết lịch sử” này còn nguyên giá trị, nhưng sống được bao lâu thì khó ai dám “bảo lãnh”.
           
Nhớ lại tinh thần xây dựng Đảng của Đại hội VI về chống quan liêu bao cấp, lấy dân làm gốc, đổi mới đất nước; coi trọng công khai, dân chủ và "Những việc cần làm ngay"...đã từng bị ách tắc oan khiên. Những NQTW của các khóa sau đó, nhất là NQTW 6 (lần 2) khóa IX, có hẳn một Ban chuyên trách chống tham nhũng từ TW đến địa phương nhưng rồi căn bệnh xem ra lờn thuốc đến mức ranh ma! Người dân Hồ Tây và Ba Đình nói rằng: “Anh nào đã vào “Ban 12” đó (tức 6 lần 2) đều thấy giàu phất lên, nhà lầu xe hơi cứ thấy sắm dzô ào ào”.
           
Đầu năm 2012, nghĩ là năm Con Rồng được dịp thăng thiên, toàn Đảng, toàn dân ta thành tâm ủng hộ NQTW 4, ủng hộ BCT và nhất là đồng chí Tổng bí thư trong cuộc tuyên chiến với tham nhũng, bảo vệ sự nghiệp cách mạng, bảo vệ tính trong sáng của chế độ dân chủ và thành quả mà nhân dân và chế độ ấy tạo dựng. Và cũng mong BCHTW nếu đã tự ý thức "Trách nhiệm của BCH lúc này là sự ủy thác của hồn thiêng sông núi" thì nên có cách ủng hộ phong trào đại tắm gội; ủng hộ các cơ quan truyền thông và công luận, những người đi đầu trong chống quan liêu tham nhũng, tiêu cực; chống xúc phạm quyền và danh dự công dân, bảo vệ niềm tin của dân đối với Đảng và chế độ. Sự tồn tại của chế độ nằm ngay ở câu trả lời. Và, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Lần nầy phải làm mạnh từ trên xuống, từ ở trên trước để làm gương”. Và, theo nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: "Tắm là phải gội đầu".
    
Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thấu hiểu, luôn cảnh báo và nhấn mạnh tại Hội nghị TW 4 và 5 nữa, rằng đảng viên và quần chúng đang đặt ra câu hỏi: “Liệu lần nầy rồi có theo vết xe của các NQ trước hay không?”. Câu này đã được trả lời “rất sắc bén” tại Hội nghị Trung ương 6 lộ rõ “hòa cả làng” rồi! 

Ai cũng thấy sờ sờ trước mắt “cái đầu đã được gội” kiểu gì, gội đến đâu!?
             
Không phải toàn Đảng - toàn dân, chỉ có BCHTW và BCT mới làm được việc này, toàn Đảng toàn dân muốn ra tay cũng không đủ quyền năng, vì tham nhũng là quyền lực kết thành phe, thành nhóm, là thành trì bám trụ ngay trong cơ chế và cơ thể chúng ta, càng chống càng bị trả thù, không tức thời thì cũng bị đánh nguội bắng biết bao lý do, biết bao thủ đoạn!

Chính quyền, công an có khi còn giấu mặt sau côn đồ.

Việc phát hiện, xử lý tại chỗ một số vụ (từ dưới lên, tư công luận và báo chí) xem  như điển hình chỉ là cá biệt, một kiểu tung hứng trấn an dư luận.

Đó là kinh nghiệm người ta rút ra từ khi Đảng công khai cầm quyền.

Đó là lý do mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói rằng: “Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị… Không phải cứ lập Ban chỉ đạo là xoay chuyển ngay được tình hình như “một chiếc đũa thần” (Phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị TW 5).

“Đũa thần” - ngươi ở đâu?

Nước Việt ta nay kiếm đâu ra “đũa thần”, khó lắm thay!


N.M.N  

Sức khỏe lãnh đạo Việt Nam qua “Bên Thắng Cuộc”



Sức khỏe lãnh đạo Việt Nam qua “Bên Thắng Cuộc”


http://nguyenvantuan.net/health/2-health/1622-suc-khoe-lanh-dao-vn-qua-ben-thang-cuoc




Nguyễn Văn Tuấn


Mấy hôm nay đọc cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức rất thú vị, nhất là tập II (Quyền bính). Đọc chưa xong, nhưng tôi chú ý đến đoạn tác giả viết về tình trạng sức khỏe của các lãnh đạo Đảng CSVN. Đọc đoạn này mới biết một thông tin quan trọng: người Tàu nắm giữ thông tin về sức khỏe của lãnh tụ cao cấp VN còn hơn cả các bác sĩ Việt Nam. Thật là khó hiểu!

Thông thường các thông tin về sức khỏe lãnh tụ thường được giữ kín, không tiết lộ ra ngoài. Ở Mĩ, mãi đến năm 1955, người ta mới cho giới báo chí tiếp cận vài thông tin về sức khỏe của các tổng thống và lãnh đạo. Sau này thì chúng ta biết rằng những thông tin đó không còn là bí mật nữa (hay bí mật mà chúng ta không biết). Nhưng trong thế giới xã hội chủ nghĩa thì những thông tin về bệnh tật của lãnh tụ được giữ kín. Tuy nhiên, Huy Đức đã tiết lộ qua Chương 19 (Đại hội VIII) trong cuốn Bên thắng cuộc vài thông tin rất thú vị. Chương 19 có đoạn nói cái chết của ông Lê Mai và Nguyễn Đình Tứ (những chữ nghiêng là trích từ sách, và chữ thường là ghi chú của tôi):
Trước Đại hội VIII, ứng cử viên sáng giá cho chức Bộ trưởng Ngoại giao, ông Lê Mai, bị mất đột ngột; ngay sau bầu cử, một tân ủy viên Bộ Chính trị, ông Nguyễn Đình Tứ, cũng đột tử trước khi nhận chức [473]. Cái chết của ông Tứ đã làm thay đổi chút ít phương thức tiến hành đại hội. Cho dù quy trình nhân sự vẫn được làm kỹ trong thời gian trù bị, nhưng từ Đại hội IX, chỉ khi đại hội chính thức khai mạc việc bỏ phiếu mới được tiến hành. Ngoài hai trường hợp chết bất ngờ này, chuyện sức khỏe Trung ương trước và sau Đại hội VIII cũng diễn ra đầy kịch tính.
Còn tướng Lê Đức Anh thì bị đột quị:
Chỉ mấy tháng sau Đại hội, Tướng Lê Đức Anh bị đột quỵ. Ông bị xuất huyết não khá nặng. Thông tin về bệnh tình của Tướng Anh được giữ kín tuyệt đối. Hơn ba tháng sau, khi bắt đầu hồi phục, bằng một ý chí tại vị sắt đá, Tướng Lê Đức Anh quyết định vẫn xuất hiện trên truyền hình và đài phát thanh đọc lời chúc mừng năm mới.
Giám đốc Quân y viện 108, Bác sỹ Vũ Bằng Đình, nói: “Chúng tôi phải hộ tống ông từ bệnh viện ra phòng thu. Ống kính chỉ quay nửa người nên dân chúng không biết ông vẫn ngồi trên giường bệnh. Các bác sỹ nấp phía sau sẵn sàng cấp cứu”.
Đọc đoạn này làm tôi nhớ đến năm 1919, sau khi tổng thống Woodrow Wilson bị tai biến mạch máu não, ông được các quan chức Nhà trắng khuyên phải để râu để che lấp phía trái của mặt bị teo lại vì cơn bệnh. Chẳng những thế, văn phòng ông làm việc mỗi khi khách đến thăm được điều chỉnh ánh sáng sao cho mờ mờ để che dấu khuyết tật của ông. Tương tự, bệnh bại liệt (polio) của tổng thống Roosevelt và bệnh Addison của tổng thống Kennedy cũng được các quan chức Nhà trắng dấu kín, không tiết lộ cho công chúng biết.
Nhưng điều khó hiểu là bác sĩ VN không nắm được phác đồ điều trị của bác sĩ Tàu:
Theo Bác sỹ Vũ Bằng Đình, sau khi đọc xong lời chúc năm mới, ông Lê Đức Anh về nhà, từ đây, ông được một ê-kip bác sỹ người Trung Quốc trực tiếp chăm sóc trong giai đoạn hồi phục. Các bác sỹ Việt Nam hoàn toàn không biết phác đồ điều trị mà các bác sỹ Trung Quốc dùng cho Tướng Lê Đức Anh.
Ông Đỗ Mười thì có lúc mắc bệnh tâm thần và phải đi China đề điều trị:
Người Trung Quốc còn nắm giữ không ít bí mật về sức khỏe của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Giữa thập niên 1990, thỉnh thoảng, bị cánh nhà báo chặn lại khi vừa bước từ toilet ra, Tổng Bí thư Đỗ Mười, với quần quên kéo khóa, leo lên chiếc bàn nước nhỏ đặt phía sau Hội trường Ba Đình, ngồi xếp bằng vui vẻ chuyện trò với dân báo chí. Nhiều khi cao hứng, ông nói: “Tôi đã từng bị thần kinh đấy”. Không phải ông nói đùa, theo ông Nguyễn Văn Trân, Bí thư Trung ương Đảng khóa III, người từng hoạt động với ông, có thời gian ông Đỗ Mười bị bệnh thần kinh, gần như không thể làm việc, có lúc lên cơn, ông phải dùng một cây gậy múa cho hạ nhiệt, có lúc người ta thấy ông Đỗ Mười một mình leo lên cây... Năm 1963, ông đã phải đi Trung Quốc chữa bệnh tới mấy năm mới về Việt Nam làm việc [474].

Qua chương này tôi mới biết vài lãnh đạo VN thời đó giấu bệnh hoặc không chịu nhận mình mắc bệnh:

Từ trước Đại hội VIII, khi công việc cơ cấu nhân sự bắt đầu, theo ông Nguyễn Văn An, người có trách nhiệm nắm hồ sơ các nhà lãnh đạo, kể cả các hồ sơ về sức khỏe, trong Bộ Chính trị xuất hiện một số “ông giấu bệnh”.

Ông Lê Xuân Tùng, sau khi bị tai biến, một chân gần như bị liệt vẫn khẳng định là đang rất khỏe. Ông Lê Minh Hương giấu bệnh tiểu đường nặng. Ông Đoàn Khuê giấu bị ung thư hạch. Ông Đào Duy Tùng bị ung thư nhưng vẫn bám giữ chức Trưởng Ban Văn kiện của Đại hội cho đến khi bị tế bào ung thư lan lên não.

Tổ trưởng Tổ Biên tập Văn kiện Hà Đăng kể: “Trong nhiều cuộc họp, cả trong một vài cuộc tiếp xúc, thấy anh (Đào Duy Tùng) có những lúc lim dim, chừng như lơ đãng… Sau Hội nghị Trung ương 10, Tổ Biên tập Văn kiện chúng tôi họp lại trên cơ sở tiếp thu những ý kiến của Trung ương, sửa chữa lần cuối bản Dự thảo Báo cáo chính trị. Tôi thay mặt Tổ trình bày nội dung và cách sửa. Anh vẫn lim dim. Và khi tôi trình bày xong, anh đặt một vài câu hỏi, lại chính là những điều tôi vừa nói” [475]. Tháng 5-1996, “ứng cử viên tổng bí thư” Đào Duy Tùng xuống Hải Phòng dự đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố, đang phát biểu thì bị đột quỵ rồi từ đó, như đã nói, ở trong tình trạng hôn mê sâu cho đến khi qua đời [476].

Tin vào thuốc Bắc:
Ông Nguyễn Văn An kể: “Khi chuẩn bị nhân sự chủ chốt, ông Lê Đức Anh vẫn giới thiệu Đoàn Khuê làm chủ tịch nước và Thường vụ không có ai phản đối. Tôi gặp anh Đỗ Mười nói Đoàn Khuê bị ung thư đấy, anh Mười nói: Đoàn Khuê nói với tao, uống tam thất nó tan hết rồi mà. Đoàn Khuê còn vạch bụng cho tao xem. Tôi bảo: thưa anh, theo chuyên môn thì đấy là khối u nó chạy chứ không phải tan đâu ạ”.

Dứt khoát không chịu điều trị:
Theo Giáo sư Vũ Bằng Đình, viện trưởng Quân y 108 kiêm phó chủ tịch Hội đồng Bảo vệ sức khỏe Trung ương: “Chúng tôi phát hiện Đoàn Khuê bị ung thư hạch rất sớm. Sau khi bí mật hội chẩn trên cơ sở các mẫu xét nghiệm mà không cho biết là của ai, tất cả các chuyên gia trong nước đều khẳng định đấy là ung thư hạch. Tôi đích thân trên dưới mười lần đến năn nỉ ông vào bệnh viện. Biết khi ấy ông Lê Đức Anh đang giới thiệu Đoàn Khuê kế vị, tôi trấn an ông: nếu anh đồng ý để chúng tôi chữa trị kịp thời thì anh không những có thể sống thêm một thời gian dài mà còn có sức khỏe để đảm đương những nhiệm vụ quan trọng hơn. Nhưng ông Đoàn Khuê vẫn phủ nhận kết quả hội chẩn và chỉ thị cho tôi phải báo cáo Hội đồng Bảo vệ sức khỏe Trung ương là ông chỉ bị viêm hạch”.

Nhưng bác sĩ nhất định báo cáo bệnh án:
Trước khi Quốc hội khóa IX nhóm họp để chuẩn bị nhân sự cao cấp, theo Đại tá Vũ Bằng Đình, Tướng Lê Khả Phiêu, với tư cách là ủy viên thường vụ Thường trực Bộ Chính trị, cùng với Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Văn An yêu cầu Viện 108 báo cáo sức khỏe của cả hai vị tướng Lê Đức Anh và Đoàn Khuê. Ông Đình nói: “Tôi và bác sỹ Nguyễn Thế Khánh cùng ký vào bệnh án, bí mật báo cáo lên Bộ Chính trị”.

và bác sĩ bị mất chức chỉ vì dám báo cáo bệnh của lãnh đạo:
Theo ông Nguyễn Văn An: “Sau khi anh em đưa cho tôi bệnh án của Đoàn Khuê: ung thư gan giai đoạn ba, chỉ có thể kéo dài cuộc sống không quá một năm, họp Thường vụ Bộ Chính trị, tôi đưa vấn đề sức khỏe ra, ông Đoàn Khuê vẫn cãi. Tôi phải công bố bệnh án”. Đoàn Khuê đập bàn tuyên bố: “Tôi là người khỏe mạnh, chúng nó phá. Tôi sẽ cho hai thằng đó nghỉ”. Đại tá Vũ Bằng Đình nhớ lại: “Cả tôi và anh Lê Thi, bí thư Đảng ủy Viện 108, nhận được quyết định nghỉ ngay lập tức”. Không chỉ “lỡ cơ hội” trở thành nguyên thủ quốc gia, bệnh tình Đoàn Khuê tiến triển xấu từng ngày. Cuộc sống của ông chỉ còn sáu tháng thay vì một năm như dự đoán. Ngày 16-1-1998, Tướng Đoàn Khuê chết.

Đọc qua những trích dẫn trên đây, dễ dàng thấy Đảng CSVN rất coi trọng vấn đề sức khỏe của lãnh đạo. Điều này thì chắc chẳng có gì đáng ngạc nhiên vì có sức khỏe tốt mới làm lãnh đạo được.

Nhưng ngạc nhiên là Đảng có hẳn một ban bảo vệ sức khỏe cho lãnh đạo.

Tôi không rõ các nước như Mĩ, Canada, và Âu châu có ban này hay không, nhưng ở Úc thì không có. Thủ tướng Úc khi mắc bệnh vẫn đi chữa bệnh ở các bệnh viện như mọi người, và họ cũng không giấu diếm bệnh trạng với công chúng. Tại sao để cho Tàu nắm thông tin về tình hình sức khỏe của lãnh đạo Việt Nam?
Đoạn trích dẫn trên còn cho thấy làm bác sĩ cho mấy lãnh đạo xem ra là một nguy cơ. Đến nỗi chỉ đơn giản báo cáo bệnh của các vị lãnh đạo mà bị mất chức. Ở các nước phương Tây, bác sĩ ra y lệnh và bệnh nhân, dù là thủ tướng, phải tuân thủ; còn ở VN, bệnh nhân lãnh đạo ra lệnh ngược lại cho bác sĩ! Chẳng biết các bệnh nhân này có hành xử như thế với các bác sĩ Tàu hay không?

 

 

CHÚ THÍCH:

[473] Ngày 27-6-1996, trong phiên trù bị, Đại hội Đảng lần thứ VIII đã bầu Giáo sư Nguyễn Đình Tứ, một nhà vật lý tên tuổi, vào Trung ương và ngay sau đó, được Trung ương đưa vào Bộ Chính trị. Sẽ không có gì để thường dân xầm xì nếu như ông Nguyễn Đình Tứ không bị tai biến và đột ngột chết vào lúc 20 giờ ngày hôm sau, 28-6-1996, ngày mà về công khai, Đại hội VIII mới bắt đầu khai mạc. Và theo chương trình làm việc được công bố cho người dân thì mãi tới ngày 30-6-1996, đại hội mới bắt đầu bầu cử. Thế nhưng, Cáo phó do Ban Chấp hành Trung ương đưa ra vẫn phải công bố ông Nguyễn Đình Tứ là ủy viên Bộ Chính trị. Những người trong hệ thống thì không có gì bất ngờ, nhưng thường dân ngay tình thì không hiểu tại sao một người chết vẫn được Đảng bầu vào hàng ngũ mười chín người quyền lực nhất.
[474] Ông Đặng Quốc Bảo xác nhận, ông đã từng đi Trung Quốc chữa bệnh cùng ông Đỗ Mười mấy năm trời. Trong tiểu sử tóm tắt của ông Đỗ Mười, có một khoảng trống từ năm 1961 đến 1967 không nêu chi tiết chức vụ và công việc.
[475] Tuyển tập Đào Duy Tùng II, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2008, trang 634.
[476] Đào Duy Tùng mất vào tháng 6-1998.





........../.

Chúng ta bị công lí của chính mình đè bẹp



  Chúng ta bị công lí của chính mình đè bẹp  



Lưu Hiểu Ba




Phạm Thị Hoài dịch

Tiểu luận sau đây của Lưu Hiểu Ba được in trên tờ Central Daily Newsở Đài Loan ngày 5-6-1993, nhân 4 năm Sự kiện Thiên An Môn. Lời phê bình các khuyết điểm của giới trí thức phản kháng Trung Quốc và phong trào sinh viên năm 1989 xuất phát từ trải nghiệm trực tiếp của ông. Khi phong trào nổ ra, ông đã bỏ dở chương trình nghiên cứu và giảng dạy của mình tại một số trường đại học Hoa Kỳ, mua một tấm vé không khứ hồi bay về Bắc Kinh ngày 27-4-1989 để hỗ trợ các sinh viên của mình trên Quảng trường. Tại đây, ông hướng dẫn và tranh luận với các sinh viên về phương pháp và mục đích đấu tranh, tham gia những cuộc đàm phán giữa sinh viên và chính quyền, và tham gia tuyệt thực ở giai đoạn cuối từ ngày 2-6. Ông bị coi là một trong những kẻ “giật dây” của phong trào và bị kết án tù lần thứ nhất, đến đầu năm 1991. Song ngay cả với tiểu sử ấy, các ý kiến phê phán của ông vẫn gây sóng gió trong phong trào dân chủ Trung Quốc, nhất là với những gia đình nạn nhân của vụ thảm sát 4-6.
Giới thiệu tiểu luận này trong bản dịch tiếng Việt, tôi tin rằng nó sẽ là một tham khảo bổ ích cho phong trào dân chủ Việt Nam.

Người dịch

_______________

Giới trí thức phản kháng và các lãnh tụ sinh viên Trung Quốc, những người tự thấy mình là anh hùng và chiến sĩ dân chủ, đều chỉ biết đến dân chủ từ sách vở.
Họ không có khái niệm gì về việc thực hành nền dân chủ đó.
Họ không hề biết phải xây dựng nền dân chủ như một hệ thống chính trị và một tòa nhà pháp lí như thế nào và phải đưa những nội dung gì vào đó. Trước khi phong trào dân chủ năm 1989 nổ ra, nhà vật lí thiên văn, giáo sư Phương Lệ Chi, được coi là một Sakharov của Trung Quốc, đã bỏ qua cơ hội bảo vệ quyền con người theo đúng luật pháp. Ông được Tổng thống Bush mời gặp nhưng bị chính quyền cản trở. Và ông đã lặng lẽ chấp nhận, không một lời phản đối. Cả đến khi phong trào dân chủ bùng nổ, ông Lưu Tân Nhạn, nhà bất đồng chính kiến được coi là “lương tâm xã hội của Trung Hoa”, vẫn đề cao chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa xã hội. Vẫn giữ nguyên lòng trung thành từng mất rồi lại được khôi phục của mình. Còn phong trào hiện tại thì được lãnh đạo bởi những người thậm chí không hiểu cả những nguyên lí cơ bản của dân chủ.
Như thế, làm sao mà thành công được?
Tình trạng đó chỉ có thể sinh ra những than vãn hời hợt về hệ tư tưởng.


Khi cảm giác về nghĩa vụ gánh vác một sứ mệnh lịch sử bị đẩy lên thái quá, các sinh viên đã đánh mất khả năng tỉnh táo để tự nhận định và khả năng tự kiềm chế để đạt hiệu quả cao. Họ không biết rằng những đôi vai mảnh khảnh của họ không gánh nổi một định mệnh nặng trĩu như vậy. Họ không cưỡng được sự cám dỗ rằng mình có thể đem lại công lí và tưởng rằng cứ lấy sinh mạng ra trả giá thì chính quyền sẽ buộc phải nhượng bộ hơn – mà không hề nhận ra rằng điều đó rốt cuộc là vô nghĩa.
Mạng người có gây nổi một ấn tượng nào với chính quyền không?
Có đánh thức nổi đám đông đang ngủ vùi không?
Cái chết có đem đổi lấy công lí được không?
Chẳng lẽ chỉ những ai sẵn sàng hi sinh tính mạng mới có quyền bàn về công lí chăng? Người ta trách các sinh viên là chỉ đầy lòng dũng cảm và nhiệt huyết mà không đủ lí trí. Không có gì đáng ngạc nhiên, khi cô Sài Linh, lãnh tụ đứng đầu phong trào sinh viên, sau này thoát được ra nước ngoài tị nạn, phát biếu: “Trên Quảng trường Thiên An Môn khi đó, quan trọng nhất là đức hi sinh và lòng dũng cảm chứ không phải đầu óc và lí trí. Chúng tôi là những anh hùng của phong trào dân chủ 1989.”
Từ trên bốn thập kỉ nay Trung Quốc không hề có kinh nghiệm gì với dân chủ.
Hàng ngày chúng ta chỉ trải qua và chứng kiến những tranh giành và thủ đoạn tàn bạo của hệ thống chuyên chế. Khi tham gia một cuộc cách mạng, chẳng hạn như Cách mạng Văn hóa, chúng ta lập tức thấy mình là những nhà cách mạng vĩ đại nhất. Khi gia nhập phong trào dân chủ, chúng ta thấy mình dân chủ hơn người. Chúng ta tuyệt thực cho dân chủ. Chúng ta hi sinh cho dân chủ. Vì thế chúng ta đinh ninh rằng mọi hành động của mình đều bắt nguồn từ công lí cao nhất, rằng tiếng nói của mình là chân lí duy nhất, rằng mình sở hữu quyền lực tuyệt đối.
Như thế, chân lí trở nên tuyệt đối, công lí trở nên tùy tiện và dẫn đến cưỡng bức, còn dân chủ thì trở thành một đặc quyền.
Quảng trường Thiên An Môn đã biến thành một phòng thí nghiệm thử chân lí, thử độ cứng của bản lĩnh và độ sâu của ý thức về phẩm giá. Nó cũng đã biến thành nơi mà người ta vừa dấn thân cho công lí, vừa thực thi quyền lực. Không có mặt ở đó, không đến đó để bày tỏ con người mình, là chống lại dân chủ và chống lại công lí, là hèn nhát.
Quảng trường Thiên An Môn đã biến thành hòn đá thử lửa. “Tôi đã có mặt ở đó”, “Tôi cũng từng đến đó”, những câu nói ấy đã được coi là chứng chỉ của ý thức dân chủ và lương tri xã hội.
Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta không cần hợp tác, chúng ta tùy ý kết bè kéo cánh, chúng ta lập ra các tổ chức, chúng ta cử người lãnh đạo, chúng ta lập các hội công nhân và sinh viên tự quản, chúng ta tuyệt thực, chúng ta tổ chức các nhóm tranh luận, các nhóm trí thức, phóng viên, cảm tử quân, chí nguyện quân và hướng đạo sinh. Không ai chịu nghe ai, chẳng người nào chịu dưới trướng người nào.
Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta căm thù Đảng Cộng sản tột độ và lên án Đảng bằng những bộ quần áo đẫm máu trên thân thể chúng ta. Chúng ta nghiến răng chửi kẻ khác, chúng ta thỏa sức bôi nhọ, chúng ta cho phép mình nói những điều như: chúng tao sẽ bắn vỡ sọ mày, chúng tao sẽ bỏ mày vào vạc chiên, chúng tao sẽ chôn sống mày. Chúng ta cho phép mình chửi rủa và thậm chí hành hung những kẻ không đi cùng chúng ta. Chúng ta cho phép mình thanh toán ân oán giang hồ cá nhân, nhân danh công lí.
Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta ngang nhiên truyền bá những điều bịa đặt, chúng ta phao tin vịt giữa thanh thiên bạch nhật. Ai phản bác thì chúng ta khăng khăng rằng mình có quyền làm như thế hoặc tìm cách đánh lận rẻ tiền.
Chúng ta cho phép mình phao lên rằng Đặng Tiểu Bình đã chết, Lý Bằng đã bỏ trốn, Dương Thượng Côn đã bị đánh đổ, Triệu Tử Dương đã được khôi phục danh dự, Vạn Lý đã thành lập một nội các mới ở Canada.
Quảng trường Thiên An Môn, biểu tượng của phong trào dân chủ, biến thành một lò chế tin đồn, càng ngày càng tung ra nhiều điều dối trá.
Một số người tham gia sự kiện ngày 4 tháng Sáu sau này thoát được ra nước ngoài thì đảo lộn tình tiết, thêu dệt tin đồn và dùng miệng mà phun ngập máu ra Quảng trường. Để có lợi cho bản thân, họ cố ý phóng đại tội ác và sự tàn bạo của Đảng Cộng sản. Báo chí quốc tế vì thế mà bị xỏ mũi.
Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta chỉ cho riêng mình quyền tự do ngôn luận và cấm người khác được hưởng quyền ấy.
Chúng ta cũng hành xử hệt như Mao Trạch Đông và không dung thứ một chính kiến nào khác. Hệt như đám tay sai của Đảng Cộng sản Trung Quốc, chúng ta cũng kiểm duyệt những hình ảnh không hợp ý ta do phóng viên chụp được, chúng ta cũng tịch thu phim và đập nát máy ảnh. Để chính quyền hết cớ đàn áp, chúng ta đã nộp cho công an ba thanh niên Hồ Nam, là những người đã phun mầu lên chân dung Mao, để rồi họ bị kết án 15, 18 và 20 năm đọa đày trong ngục tối.
“Công lí của phong trào dân chủ” đã trở thành một sự hăm dọa, hễ ai có chính kiến khác là bị gây áp lực và đành câm miệng. Cuộc tuyệt thực đã phong các sinh viên lên hàng những vị thánh bất khả xâm phạm của cách mạng. Vì họ sẵn sàng hi sinh mạng sống, nên chẳng ai dám hé răng phê bình họ nữa. Vậy là các “anh hùng” thì tắt công tắc lí trí, những người còn lại thì lặng im.
Những điều vừa trình bày có thể giải thích, vì sao một công lí trên giấy thì được săn lùng cuồng nhiệt, còn công lí tỉnh táo của hiện thực thì bị gạt ra ngoài.
.........../.


Nguồn: Dịch theo bản tiếng Đức trong Bei Ling, Der Freiheit geopfert, Riva, München 2011
Bản tiếng Việt © 2012 pro&contra - http://www.procontra.asia/?p=1512

Quyền tự do kinh doanh



 Quyền tự do kinh doanh



NGUYỄN VẠN PHÚ


Những cấm cản trong kinh doanh vàng miếng, bắt đầu từ cuối tuần trước, là một bước nữa nhưng là bước thụt lùi trên con đường trao quyền tự do kinh doanh cho người dân.


Trước và ngay sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) hệ thống luật lệ, cách suy nghĩ, cách điều hành nền kinh tế được điều chỉnh theo hướng tiệm cận với thông lệ quốc tế, tạo nên một kỳ vọng từ nay Việt Nam sẽ xây dựng một môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng dựa trên luật lệ chứ không dựa vào các rào cản hành chính nữa.

Thế nhưng những năm gần đây tiến trình này bị chựng lại, thậm chí đảo ngược ở nhiều lãnh vực để quay về cơ chế điều hành dựa trên mệnh lệnh hành chính – một cơ chế tưởng đâu đã biến mất cùng nền kinh tế tập trung bao cấp. Mới nhất trong chuỗi sự kiện như thế là lệnh cấm kinh doanh vàng miếng ở những nơi không hội đủ điều kiện – có hàng chục ngàn điểm như thế trước đây là tiệm vàng mua bán lẻ vàng miếng nay buộc phải đóng cửa, ngưng giao dịch.

Nhìn lại những chủ trương thời kinh tế bao cấp như xem mỗi huyện là một pháo đài kinh tế đủ cả công nông nghiệp, dẫn đến chuyện ngăn sông cấm chợ, ngày nay ai cũng dễ vạch ra cái sai lầm, ấu trĩ của thời đó. Để rồi bây giờ chúng ta lại quay về kiểu cấm đoán mà lập luận phản bác cũng dễ nhận được sự đồng tình khi nhìn lại nhưng vào thời điểm hiện tại thì quán tính đang buộc mọi người xem đó là chuyện bình thường.

Từ 12.000 điểm giao dịch vàng xuống còn chưa đầy 2.500 điểm, thực chất chỉ do 22 ngân hàng và 16 doanh nghiệp điều hành, liệu việc triệt tiêu cạnh tranh đã rõ chưa?
Một khi không còn môi trường cạnh tranh, chuyện ép giá đối với người dân là nguy cơ rất rõ ràng. Một địa phương đi mỏi mắt mới tìm ra một điểm được phép giao dịch vàng miếng, có gì bảo đảm nơi này không ra giá mua thấp và bán giá cao bởi người dân quanh đó không còn chọn lựa nào khác.

Hàng loạt địa phương bị bỏ trống như thế cho giới mua bán thao túng, bắt chẹt dân quê; quyền lợi người sở hữu vàng không ai quan tâm. Mà đó là người dân thôn quê chỉ có một hai chỉ vàng phòng khi ốm đau hay lúc hữu sự. Việc mua bán chui, trái phép sẽ diễn ra và người dân càng thiệt hại như thời ngăn sông cấm chợ. Thực tế, theo tường thuật của phóng viên, có lúc người dân bị ép bán vàng phi SJC với giá rẻ hơn giá vàng SJC đến 6 triệu đồng/lượng.

Nhìn từ góc độ người kinh doanh, bỗng dưng 10.000 điểm mua bán vàng miếng bị tước mất quyền kinh doanh trong khi Luật Doanh nghiệp không hề thay đổi. Có ai đứng ra giải thích cho họ vì sao họ mất quyền kinh doanh đã ghi vào luật bằng một nghị định đứng dưới luật?

Chuyện giá vàng tác động lên tỷ giá trước đây là có thật bởi Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng huy động vàng miếng có trả lãi. Nay không cho huy động hay cho vay bằng vàng là đủ, không cần gì phải cấm đoán việc mua bán vàng miếng là một hoạt động lâu đời của người dân. Hệ lụy của việc cấm đoán này sẽ nhiều, với hệ quả là một thị trường vàng miếng méo mó, lệch lạc, nhiều biến tướng lách luật như tiệm vàng thành tiệm cầm đồ, mua bán chui, vàng nhẫn làm như vàng miếng… mà báo chí phản ánh trong tuần qua.

Không méo mó sao được khi từ 12.000 điểm kinh doanh chỉ còn lại 2.500 điểm trong khi nhu cầu mua bán chưa thấy có gì thay đổi. Ngân hàng Nhà nước lại còn quy định giá trị số dư vàng miếng phát sinh do mua bán vàng cuối ngày của các ngân hàng không được vượt quá 2% so với vốn tự có.
Những hạn chế này sẽ gây sức ép lên giá, buộc giá giảm một cách giả tạo trong thời gian đầu, làm nảy sinh lập luận chính sách mới đã giúp kéo giá vàng trong nước về gần với giá vàng thế giới!

Ở đây có những tình tiết đáng lưu ý.
Tại phiên chất vấn trước Quốc hội vào tháng 11-2012, Thống đốc Nguyễn Văn Bình lập luận nếu để giá vàng trong nước liên thông với giá vàng thế giới, có nghĩa là chúng ta lại chấp nhận một thị trường đầu cơ về vàng cho nên không có việc liên thông với giá vàng thế giới.

Nay Nghị quyết 01 của Chính phủ đã phản bác lập luận này khi yêu cầu Ngân hàng Nhà nước “bảo đảm giá vàng trong nước sát với giá vàng quốc tế”. Nếu như Nghị quyết 01 đã chấn chỉnh một lập luận của Ngân hàng Nhà nước thì tương lai ngắn cũng cần một nghị quyết khác chấn chỉnh một lập luận khác cũng của Ngân hàng Nhà nước: Năm 2013, giá vàng trên thị trường sẽ do Ngân hàng Nhà nước kiến tạo và điều khiển, theo chủ trương "nền kinh tế giữ tiền, nhà nước giữ vàng".

Chưa thấy một chính phủ nước nào, dù tiềm lực có mạnh đến đâu, lại dám “điều khiển giá vàng” cả, liệu chúng ta có đủ nguồn lực không và có cần thiết không?

Xin nhắc lại ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế với sự đồng thuận cao, rằng nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước không hề bao gồm chuyện kinh doanh vàng miếng chứ chưa kể là độc quyền vàng miếng.

Người dân bình thường không hề đầu cơ vàng, đại đa số chỉ mua và giữ vàng như một phương tiện phòng thân và để phòng tránh lạm phát. Cứ chăm chăm huy động vàng trong dân theo chủ trương “nền kinh tế giữ tiền, nhà nước giữ vàng” như tuyên bố của đại diện Ngân hàng Nhà nước sẽ làm xáo động cái cơ chế phòng chống lạm phát này, gây nguy cơ lạm phát bùng phát trở lại.


http://nguyenvanphu.blogspot.com/2013/01/quyen-tu-do-kinh-doanh.html


............/.

'''''''''''''''''' 60 tỷ đô-la



60 tỷ đô-la có nhiều không?



Hiệu Minh 








Tin tức cho hay, tổng nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước ở thời điểm này là hơn 1,33 triệu tỷ đồng, tức hơn 60 tỷ đôla.  

Đây là con số gây chấn động được đưa ra tại Hội nghị Chính phủ với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì hôm thứ Tư 16/1 tại Hà Nội.  

Nhiều bạn tự hỏi, số tiền 60 tỷ trên có nhiều không. 

Việc này tùy vào bạn đang đứng ở chỗ nào trên trái đất.  

Hoa Kỳ có GDP (nominal) năm 2012 là 15 ngàn tỷ đô la, Việt Nam có khoảng 138 tỷ. 60 tỷ tương đương với hơn một nửa GDP của Việt Nam.  

Doanh thu của Starbucks hàng năm khoảng 10 tỷ đô la và lãi khoảng hơn 1 tỷ. Như vậy tương đương với 60 năm làm việc của Starbucks với 150 ngàn nhân viên. Với người Mỹ thì không nhiều.  


Dân thường ta thì sao ?

Nếu chia đều số tiền 60 tỷ đô la trên cho 90 triệu dân, mỗi người được 666$ (15 triệu đồng VN), chia cho dân số Mỹ 305 triệu, mỗi người được 197$.  

Mỗi xuất McDonald (Big Mac) khoảng 5$ bao gồm bánh mỳ kẹp thịt, coca cola uống mệt nghỉ và gói khoai tây chiên. Với số tiền trên toàn dân Mỹ có thể sống được khoảng 40 ngày, không cần làm gì, mỗi ngày hai bữa fast food nhòe.  


Nếu 90 triệu dân ta ăn phở, mỗi người 15 triệu đvn (25.000-30.000 đồng/bát), cũng được cỡ 500 bát. Nghĩa là gần cả năm liền, cả nước ta mỗi ngày hai bát phở, không phải một nắng hai sương, ra đồng cầy cấy.  


Chiều dài, rộng và bề dầy của tờ 1$, 5$, 10$, 20$, 50$ và 100$ hoàn toàn như nhau (0.0043″ dầy X 2.61″ rộng X 6.14″ dài).  
Nếu xếp những tờ 100$ lên nhau thì 60 tỷ đô la có chiều cao tương đương với 65,5km.  

Xếp nghiêng toàn tờ 100 $ bằng đoạn đường từ Hà nội về chỗ Phủ Lý giáp Ninh Bình. 
Nếu xếp tờ 10$ thì ngang đoạn Hà Nội – Huế.  

Một tỷ người hiện dưới mức nghèo (thu nhập 1$/ngày) trên hành tinh thì có thể sống trong 60 ngày.  


Quả đấm thép của Việt Nam ảnh hưởng mạnh như thế đó.  


HM 16-01-2013



..../.

125 năm của National Geographic


125 năm của National Geographic 

...Từ một cơ quan khoa học nhỏ trở thành một trong những tổ chức giáo dục và khoa học lớn nhất thế giới, National Geographic tiếp tục cam kết truyền cảm hứng đến mọi người quan tâm trên khắp hành tinh thông qua những hình ảnh mang tính khám phá đặc sắc của mình.







1909 | CANADA - National Geographic tài trợ Cmdr. Đoàn thám hiểm Robert E. Peary 1909 đến Bắc Cực. Cho dù Peary và trợ lý của ông, Matthew Henson, đạt cực hay không, họ đến gần hơn với mục tiêu đó hơn bất cứ ai trước khi họ. (Hình ảnh © Robert E. Peary Collection, NGS)


********

1915 | CALIFORNIA, UNITED STATES - Gilbert H. Grosvenor, toàn thời gian đầu tiên biên tập viên của tạp chí National Geographic, đánh thức sau một đêm dành bên dưới một cây Sequoia khổng lồ trong chuyến đi đầu tiên tới California của dãy núi Sierra Nevada. Sau chuyến thăm này, ông đã vận động để thông qua một dự luật đã tạo dịch vụ Vườn quốc gia vào năm 1916. (Hình ảnh © Gilbert H. Grosvenor Collection) #




***********

1931 | AFGHANISTAN - Trong hình ảnh yêu thích của mình, phóng viên ảnh huyền thoại National Geographic Maynard Owen Williams ngạc nhiên như thế nào, trong Herat, Afghanistan, chợ, không ai chớp mắt trong ba giây cần thiết để làm cho tiếp xúc. (Photo by Maynard Owen Williams) #


***************






LA Venta, Tabasco. MEXICO - Bắt đầu vào năm 1938, Matthew Stirling, giám đốc của Văn phòng Smithsonian của Mỹ Dân tộc học, lãnh đạo 8 địa lý quốc gia tài trợ cuộc thám hiểm để Tabasco và Veracruz ở Mexico. Ông đã khám phá ra 11 đầu đá khổng lồ, bằng chứng của nền văn minh Olmec cổ đã nằm chôn trong 15 thế kỷ. (Photo by Richard Hewitt Stewart) #

**********************






Đảo Cocos, COSTA RICA - nhà sinh vật học biển và National Geographic Explorer-in-Residence Enric Sala lặn với một con rùa màu xanh lá cây ngoài khơi đảo Cocos, Costa Rica. Sala dẫn dự án của National Geographic Seas Pristine, nhằm mục đích để tìm kiếm, khảo sát và giúp bảo vệ sự khỏe mạnh và không bị xáo trộn nơi cuối cùng trong đại dương. (Hình ảnh của Octavio Aburto) #






**********************



1957 | SOUTH POLE, Nam Cực - tạp chí National Geographic của Thomas Abercrombie, lần đầu tiên phóng viên để đến Nam Cực, bay lá cờ của Hội từ Cực trong khi báo cáo về Năm Địa vật lý quốc tế 1957-58. (Photo by Thomas J. Abercrombie) #

**************





1963 | NEPAL - đội thám hiểm đầu tiên của Mỹ đến đỉnh núi Everest vào năm 1963 bao gồm Barry Bishop National Geographic. (Ảnh: Barry Bishop) #



************


1994 | BOTSWANA - nhà làm phim nổi tiếng của động vật hoang dã và National Geographic Explorers-in-Residence Dereck và Beverly Joubert bức ảnh một con voi ở cự ly rất gần trong Botswana Savuti khu vực, một trong những wildernesses hoang sơ cuối cùng của châu Phi. (Ảnh: Beverly Joubert) #



*************




PERU - "Ice Maiden," xác ướp 500 tuổi của một cô gái Inca trẻ được tìm thấy trên một đỉnh núi Peru bởi nhà khảo cổ học và National Geographic Explorer-in-Residence Johan Reinhard. (Ảnh: Stephen Alvarez) #




*********************


[.......]