NGOẠI GIAO TRUNG QUỐC: TỪ VƯƠNG ĐẠO TỚI BÁ ĐẠO?




 http://viet-studies.info/kinhte/TranVanChanh_NgoaiGiaoTrungQuoc.htm

NGOẠI GIAO TRUNG QUỐC:
TỪ VƯƠNG ĐẠO TỚI BÁ ĐẠO?
Trần Văn Chánh
    
     Từ nhiều năm nay, nhất là từ sau sự kiện Quốc vụ viện Trung Quốc thản nhiên phê chuẩn thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, cho nhập chúng vào tỉnh Hải Nam của Trung Quốc (đầu tháng 12 năm 2008), Trung Quốc liên tục có những động thái gây bất ổn gia tăng tại biển Đông, nơi có nhiều nguồn lợi hấp dẫn về hải sản, dầu mỏ và cũng là vị trí chiến lược quan trọng trong việc giao thương hàng hải của nhiều nước trên thế giới.
     Đặc biệt mấy tháng gần đây, qua việc bồi đắp cát (đã chuẩn bị từ lâu) lên các rạn san hô và xây dựng các tòa nhà, cảng biển, đường băng… trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, nhà cầm quyền Trung Quốc đã có những bước leo thang bành trướng trên Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế, không chỉ xâm phạm chủ quyền của Việt Nam mà còn gây bất ổn cho hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.
     Việt Nam và một số nước xung quanh khu vực có quan hệ trực tiếp tranh chấp  chủ quyền Biển Đông với Trung Quốc đang tỏ ra rất lo ngại, vì với cái đà trông thấy này, Trung Quốc sẽ có thể ngày càng lấn tới và khó đoán biết việc gì xảy ra nếu họ không thay đổi chính sách đối ngoại theo chiều hướng tích cực, thiện chí trên Biển Đông liên quan đến một số nước như Việt Nam, Nhật Bản, Philippines… Người ta lo ngại là vì Trung Quốc hiện nay trong con mắt của một số dân tộc ở Đông Nam Á cũng như của toàn thế giới vẫn thường được quan niệm là một nước hùng mạnh cả về tiềm lực quân sự lẫn kinh tế, khoa học-kỹ thuật trong suốt hơn 30 năm liên tục dẫn đầu về một số chỉ tiêu phát triển ở nhiều mặt.
     Một số việc làm nêu trên của Trung Quốc cho thấy dường như “cường quốc số hai” này đang đi theo hướng từ bỏ con đường “vương đạo” để đi theo “bá đạo”? Nhưng Trung Quốc thật sự có phải là một nước mạnh không thì điều này cần đến sự phân tích sâu xa hơn về nhiều mặt (điều kiện thiên nhiên, dân số, tâm lý, văn hóa, lịch sử, thể chế chính trị…) mới có thể đưa ra một nhận định sáng suốt được.     
     Nhiều người Việt Nam không khỏi ngạc nhiên về một số việc làm của Trung Quốc, có vẻ như đều trái hẳn với những gì mà các bậc tôn sư Khổng Tử, Mạnh Tử, Tôn Tử... hơn hai ngàn năm trước đã dạy chung cho cả hai dân tộc Trung Quốc-Việt Nam, nếu không muốn kể thêm hai người “học trò” giỏi khác nữa mà ngày nay đã lớn mạnh là Hàn Quốc và Nhật Bản.
     Nếu chỉ tính riêng về quân sự, xét trong suốt quá trình lịch sử các triều đại phong kiến, Việt Nam chưa từng bị lép vế đối với Trung Quốc, mà những trận đánh bất đắc dĩ vì lý do tự vệ nhưtrận Bạch Đằng Giang thời nhà Trần, cuộc kháng chiến chống quân Minh với “Bình Ngô đại cáo” thế kỷ 15, và nhất là trận Đống Đa 1789 thời Quang Trung Nguyễn Huệ, chỉ nhằm mục đích tự vệ, là những thí dụ hùng hồn chứng tỏ được. Tuy nhiên, quân sự vốn không phải là yếu tố đáng nói trước tiên khi muốn chứng minh về thực chất sức mạnh và sự bền vững của mình. Ngay như ông thầy của chiến tranh là Tôn Tử mà vẫn còn dặn dò “Nếu không nguy thì đừng đánh” (Phi nguy bất chiến), với hàm ý rằng chỉ ủng hộ chiến tranh tự vệ và không xâm lăng mà thôi.
     Mặt khác, theo nhận định chung của hầu hết các học giả trên thế giới, Trung Quốc chỉ mạnh một số mặt (quân sự, dự trữ đô la…) nhưng không thành công về mặt xây dựng xã hội và văn hóa-đạo đức, chủ yếu do thể chế chính trị lạc hậu gây nên. Về mặt báo cáo công khai, suốt nhiều năm gần đây Trung Quốc có chỉ tiêu phát triển kinh tế cao, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, nhưng đồng thời cũng để bộc lộ rất nhiều vấn đề phải đối phó vừa khó khăn vừa quyết liệt, như tính chất phong kiến cổ hủ khó sửa của dân tộc về mặt văn hóa (“người Trung Quốc xấu xí”…), những vấn nạn về tình trạng tranh chấp quyền lực chính trị nội bộ (đang ở đỉnh cao…), nạn ô nhiễm môi trường, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu đậm, nạn thất nghiệp, mâu thuẫn giữa các dân tộc, và tình trạng quốc nạn tham nhũng trầm trọng kéo dài....Tất cả đều vô phương cứu chữa nếu không có được những bước đi cải cách kịp thời và thích hợp hơn nữa theo con đường dân chủ hóa. Đó là chưa kể thêm những trận thiên tai ngày càng nặng nề  thỉnh thoảng ập xuống đất nước gây thiệt hại với quy mô rất lớn về nhân mạng và của cải... Thiên tai nhân họa dồn dập có thể sẽ làm cho nước Trung Quốc phải bận tâm nhiều và bị giảm đi một phần sức mạnh đáng kể.
     Đặc biệt kể từ sau sự kiện sinh viên biểu tình ở Thiên An Môn 1989, các nhà cầm quyền Trung Quốc luôn phải cảnh giác về tình trạng bất ổn chính trị-xã hội có khả năng dẫn tới sụp đổ, do đó phải tìm mọi biện pháp tăng cường sự kiểm soát/ áp bức bên trong, đồng thời với việc tuyên truyền/ kích động lòng yêu nước/ tự hào dân tộc, và “chuyển lửa ra bên ngoài” để ổn định bên trong, qua một số động thái quan hệ với Việt Nam và Nhật Bản, hai quốc gia đã từng để lại cho Trung Quốc nhiều kỷ niệm đáng ghi nhớ nhưng không mấy vui vẻ trong lịch sử.
     Do vậy, mặc dù bên ngoài nhìn Trung Quốc như một cường quốc, trên thực tế các nhà lãnh đạo nước này cho rằng quốc gia còn nghèo, dễ bị tổn thương và có rất nhiều vấn đề nội tại (xem Susan L. Shirk, China: The Fragile Superpower [Cường quốc mong manh], bản tiếng Việt “Gã khổng lồ mất ngủ” của NXB Hội Nhà Văn, 2015, tr. 383). James Lilley, người giới thiệu trên bìa cuốn sách vừa dẫn trên của bà Susan L. Shirk (chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc, từng là cựu Phó trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Clinton…), đã viết: “Trong cuốn sách có tính khai mở này, Susan L. Shirk trình bày tỉ mỉ về tiến bộ kinh tế đáng kinh ngạc của Trung Quốc, cùng lúc vén tấm màn che phủ những vấn đề nội bộ gay gắt của nước này. Bà đã dùng sự thật để bác bỏ một hình ảnh giả tạo về Trung Quốc vốn do các nhà quan sát Trung Quốc vồn vã đưa ra” (xem trang bìa 3, sđd.).    
     Theo quan điểm biện chứng của kinh Dịch hoặc của Lão-Trang thì chỗ mạnh của sự vật cũng có chứa đựng mặt yếu kém của nó. Đó là hai mặt đối lập song song tồn tại. Chỗ yếu cơ bản của Trung Quốc trong suốt tiến trình lịch sử cho đến hiện nay vẫn là phải gánh chịu một dân số quá đông (năm 2005 đã vượt con số 1,3 tỉ người, gần bằng ¼ dân số thế giới), nên tất yếu phải chứa đựng bên trong bản thân nó càng nhiều yếu tố mâu thuẫn hơn so với những nước có quy mô dân số nhỏ hơn. Nếu ép hạn chế sinh sản quá đáng, làm trái với tự nhiên, sẽ có thể gây nên những hậu quả trục trặc về mặt tâm lý xã hội, đối với một dân tộc có truyền thống lâu đời coi sự đông con là hạnh phúc, như trường hợp những đứa con một “đế vương” được cưng chiều trong hầu hết gia đình của người Trung Quốc hiện nay với một sự phát triển chắc chắn không được hoàn toàn bình thường về mặt tâm lý. Chính vì vậy, dân tộc Trung Quốc phải luôn luôn đối phó với mọi thứ vấn đề phức tạp về quốc kế dân sinh mà ngày nay người ta gọi là những vấn đề kinh tế-xã hội. Lịch sử Trung Quốc đã từng chứng tỏ, nói theo La Quán Trung trong đoạn đầu Tam quốc diễn nghĩa là “hết loạn lại trị, hết trị lại loạn”, khó lòng vượt thoát những điều kiện động loạn để giữ được sự phát triển bền vững. Thực tế chứng minh rằng, nước Trung Hoa là một nước có bề dày lịch sử rất lâu dài và phong phú, nhưng bên cạnh những thành tựu tích cực đóng góp nhiều cho nhân loại, lịch sử trong quá khứ Trung Quốc cũng là lịch sử của những cuộc chiến tranh chinh phạt bất tận đi cùng với sự tranh chấp quyền lực đẫm máu của các thế lực phong kiến cát cứ, chắc chắn là vì nước Trung Hoa đất rộng người đông, tính cọ xát xã hội và đấu tranh xã hội thường gay gắt quyết liệt nhiều hơn, và điều này đã tiếp tục diễn ra kéo dài cho đến những năm của nửa sau thế kỷ 20. Gần đây nhất, tình trạng mâu thuẫn xã hội tại Trung Quốc đang ngày càng gia tăng khủng khiếp, biểu hiện qua những cuộc biểu tình đập phá, đụng độ dữ dội với cảnh sát, cũng như đã xảy ra liên tiếp nhiều vụ ném bom chết người. Những vụ bạo động và đánh bom này đang làm lộ rõ sự bất ổn trong xã hội Trung Quốc vốn xuất phát từ biết bao nỗi bức xúc liên quan đến tình trạng bất bình đẳng, khoảng cách giàu nghèo và nạn tham nhũng vô phương cứu chữa, đặc biệt là từ việc thu hồi đất đai…  
     Trong phần kết luận quyển Lý thuyết quân sự Trung Hoa (bản dịch tiếng Việt từ tiếng Anh của Nguyễn Duy Chính, NXB. Công An Nhân Dân, 2004), tác giả Chen Ya Tien đã đưa ra một nhận định có lẽ chính xác: “Với đà gia tăng dân số mãnh liệt, tình trạng môi sinh ngày càng suy thoái, tài nguyên giới hạn, không nói là thế kỷ của Trung Hoa có đến không mà ngay cả giữ cho được mức phát triển như hiện nay cũng không phải dễ” (tr. 514).
     Nếu chịu xét đại khái như trên thì Trung Quốc bản chất không thể là một nước hoàn toàn mạnh, nhưng lại có nhiều hành động trông như một đại cường quốc, là vì cái thế bế tắc “vật cùng tắc biến” buộc họ phải hành động như vậy. Xét riêng về mặt này, các dân tộc khác có lẽ cũng nên cảm thông chia sẻ với nhân dân Trung Quốc về những khó khăn thực sự ngàn năm của họ, và nếu làm được điều gì để giúp được thì cũng nên làm. Bởi vì, bao lâu còn có những dân tộc phải sống trong cảnh khó khăn vất vả, nhất là những nước có số dân đông như Trung Quốc hay Ấn Độ, thì chừng đó thế giới vẫn còn tồn tại những mầm mống bất ổn định và nhân loại vẫn sẽ phải tiếp tục đối đầu với một tình trạng bất an thường trực.
     Thật ra, dân tộc và các nhà cầm quyền Trung Quốc có thừa sự thông minh và kinh nghiệm để nhận ra đúng những mặt mạnh, yếu của mình, từ đó tìm cách sửa chữa đường lối chính trị/ ngoại giao theo chính sách “vương đạo” (thay vì “bá đạo”), như trong những năm từ khoảng 1979 đến đầu thiên niên kỷ mới, đã tìm cách hòa giải khá thành công và có tính thuyết phục, hợp với nhân tâm và văn minh, với Hoa Kỳ, Tây Âu  cùng nhiều nước nhỏ khác ở vùng Đông Nam Á.
     Nói vắn tắt thì Vương đạo dùng đạo đức để trị, còn Bá đạo dùng sức mạnh để trị: "Dĩ lực phục nhân giả Bá, dĩ đức phục nhân giả Vương", dùng võ lực mà thu phục người là Bá đạo, dùng đạo đức mà thu phục người là Vương đạo (Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng).      
     Đáng tiếc, chính sách hòa giải nêu trên không được kéo dài, mà theo các chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc, cũng xuất phát từ áp lực ngày càng tăng của tình trạng bất ổn bên trong. Trung Quốc hiện nay đang đối xử với Việt Nam không đẹp và không được nhân bản như các thầy tổ của họ đã dạy về đường lối ngoại giao-ứng xử  theo chính sách “vương đạo”, “nhu viễn” (mềm mỏng an ủi vỗ về đối với các nước ở xa) giữa nước lớn với nước nhỏ, biểu hiện nổi bật trong vụ tranh chấp kéo dài ngày càng tăng lên ở Biển Đông, nhất là việc bắt bớ, hành hạ những ngư dân Việt Nam nghèo khổ vì chén cơm manh áo phải ra khơi kiếm sống. Đó không phải là cách hành động của người quân tử, mà về mặt chính trị-ngoại giao lẽ ra phải đối xử tốt, công bằng, hai bên cùng có lợi với những nước nhỏ yếu hơn xung quanh, như một số tiền bối Trung Quốc đã làm.
     Xem Thanh thực lục, thấy được chính sách “nhu viễn” của các nhà cầm quyền Trung Quốc thời xưa có vẻ khôn ngoan hơn đường lối trông có vẻ “bá đạo” hiện nay của Trung Quốc. Chẳng hạn, khi nghe quan địa phương báo cáo về chuyện tranh chấp vài miếng đất nhỏ ở vùng biên giới Trung-Việt (bắc Việt Nam), vua Khang Hi (một vua tài giỏi được nhân dân Trung Quốc rất kính phục) liền hạ ngay chiếu chỉ, không chút đắn đo, trong có đoạn tạm dịch ra như sau: “Xem tờ tâu, [biết được] tình hình xa gần khác nhau trong ranh giới cũ của Giao Chỉ. Trẫm nghĩ đạo nhu viễn, xét về mặt phân chia lãnh thổ và sống hòa mục với nước láng giềng, thì sống hòa mục với nước láng giềng là tốt [hơn]; so sánh giữa sợ uy và nhớ ơn, thì nhớ ơn là trên hết. Người ta bảo rằng các xứ Ðô Long[1], Nam Ðan vào thời cuối Minh đã bị An Nam chiếm hữu, như vậy việc xâm chiếm không phải khởi đầu từ triều ta. Kể từ triều ta đến nay, An Nam mấy đời cung kính phục tùng, quy thuộc lâu dài, thật đáng khen, sẽ phải được khích lệ, há lại tranh giành với họ chút đất đai, huống chi lại là khu vực đã mất vào thời cuối Minh rồi? Ðất này quả có lợi ư, thế thì Thiên triều lẽ nào lại nên tranh lợi với nước nhỏ? Nếu không có lợi ư, thế thì lại cần gì phải tranh chấp với họ? Bụng Trẫm chỉ muốn lấy đại công chí chính làm hẹn, coi [mọi người] trong nước ngoài nước đều là con đỏ. Vả lại hai đất giáp giới liền cõi, rất dễ xảy ra xích mích, càng nên khéo xử để vỗ về an ủi quan tâm đến họ, không chỉ làm cho dân nước họ được yên, mà cũng chính là để làm cho dân ta được yên. Nếu lấy khe nước nhỏ làm ranh giới, thì có hại gì? Những hành động tham lợi muốn cầu may lập công, đều không đáng làm bài học. Hãy rõ ý này của Trẫm, rồi châm chước mà thi hành” (Thanh thực lục: Việt Nam Miến Điện Thái Quốc Lão Qua sử liệu trích sao, “Thế Tông thực lục”, bản chữ Hán, q. 31, tr. 28-31).
      Thật ra các ông vua Tàu như Khang Hi, Càn Long… được dân Trung Quốc kính phục cũng có tinh thần “đại Hán bành trướng” chứ chẳng phải không. Họ không dễ gì từ bỏ được tư duy, tâm lý của đại quốc, nhưng đó là một vấn đề thuộc quá khứ lịch sử. Chính sách “nhu viễn” của họ mà các triều vua Việt Nam bắt chước học tập khi ứng xử với những nước láng giềng nhỏ hơn cùng thời đó (như Chiêm Thành, Cao Miên, Xiêm La, Lão Qua…) dù sao vẫn là một chính sách khôn ngoan truyền thống, nhằm giữ mối quan hệ cùng tồn tại hòa bình lâu bền giữa nước lớn với nước nhỏ, chứ không xâm lược, trừ vài trường  hợp nước nhỏ có chuyện lục đục nội bộ phải chạy qua tâu báo thì “thiên triều” sẵn tiện can thiệp và lợi dụng.
Về phía Việt Nam, theo nhận định rất chính xác của cụ Trần Trọng Kim, viết trong lời Tựa sách Việt Nam sử lược, Thời đại tự chủ của Việt Nam được kể từ nhà Ngô, nhà Đinh cho đến nhà Hậu Lê, “nước mình từ thời đại ấy về sau là một nước độc lập, tuy đối với nước Tàu vẫn phải xưng thần và chịu cống, nhưng kỳ thực là không ai xâm phạm đến cái quyền tự chủ của mình”.
     Từ gần 30 năm nay, Trung Quốc cho in lại hầu như tất cả sử sách, bao gồm cả Tứ thư  Ngũ kinh và hệ thống các sách kinh điển thuộc “bách gia chư tử”, có lẽ cũng muốn để cho nhân dân Trung Quốc học tập trên cơ sở vận dụng phát huy những tinh hoa tư tưởng của người xưa. Được vậy thì tốt, và giả định các nhà cầm quyền biết “ôn cố tri tân”, thi hành có chọn lọc lời dạy của các bậc thầy xưa, Trung Quốc sẽ có thể thành công hơn nữa hoặc ít nhất cũng giữ được sự ổn định lâu hơn trên con đường phát triển của mình.
     Trước nhất về triết lý phát triển, rồng bay quá đà thì sẽ có điều ân hận, như lời trong kinh Dịch “Kháng long hữu hối”, mà một nhà chú giải cổ thư đã giảng là “Nếu biết tiến mà không biết thoái có ngày sẽ hối hận”. Một số nhà cầm quyền Trung Quốc trước đây thường hay có thói “tham đại cầu dương”, ưa chủ trương “đại nhảy vọt” nên thành quả tuy có nhiều mà thất bại cũng lắm. Điều họ chưa làm được vẫn còn vang vọng trong lời cảnh báo của vị Vạn thế sư biểu Khổng Tử, “Không lo ít mà chỉ sợ chia không đều” (Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân). Đó là một bài học rất đáng tham khảo đối với mọi dân tộc chứ không chỉ riêng gì Trung Quốc, khi vạch ra đường lối phát triển cho một đất nước.
     Lão Tử chủ trương “bất tranh” mà phải tự khiêm hạ (nhún nhường, hạ mình): “Nước lớn cũng như dòng nước dưới thấp, là chỗ thiên hạ dồn về... Cho nên nước lớn phải hạ mình trước nước nhỏ thì sẽ được nước nhỏ thần phục; nước nhỏ mà hạ mình trước nước lớn thì sẽ được nước lớn che chở...”.
     Cả Khổng Tử, Mạnh Tử, Mặc Tử... đều cực lực phản đối chiến tranh xâm lược, chiếm đất của nước nhỏ, nhất là Mạnh Tử, khi ông phát biểu khá rõ, nói cho người xưa cùng thời ông mà ta nghe tưởng như nói với người hôm nay: “Người có nhân đức dù lấy đất đai của người này cấp cho người khác cũng không nỡ làm, huống chi lại giết người để lấy đất sao?” (Mạnh Tử, “Cáo Tử” hạ)...
      Xem ra, trong vụ tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa với Việt Nam và nhiều nước khác, thật đáng tiếc, Trung Quốc toàn cãi ý thầy! Cái được nếu có cũng rất ít chẳng đáng là bao so với một nước lớn như Trung Quốc, nhưng phần mất về các mặt khác thì lại chắc chắn và sẽ lớn hơn nhiều nếu nhìn vấn đề trên toàn cục và theo hướng tương lai lâu dài.
     Về phía Việt Nam, kiên trì đường lối đối ngoại hòa bình như hiện tại cơ bản là phù hợp, lấy “nhu thắng cương nhược thắng cường”, “dĩ nhất biến ứng vạn biến” (cũng nói: “dĩ bất biến…”), miễn nhà cầm quyền vẫn luôn giữ được sự trong sáng lành mạnh và hết lòng vì dân như đã hứa. Điều này có nghĩa, vẫn nên tiếp tục khẳng định chủ quyền nhưng với thái độ mềm mỏng và thương lượng, cố tránh cho được xung đột vũ trang để sinh linh cả hai bên không bị tàn sát, bằng cách củng cố nội trị ngoại giao, chờ thêm thời gian để có độ chín muồi của các điều kiện tương quan quốc tế. Trung Quốc nếu kịp thời điều chỉnh chi tiết đường lối ngoại giao cho thích hợp để được lòng thiên hạ, thi hành “thiện chính”, họ sẽ có thể thành công hơn trong danh dự  đến mức không cần Hoàng Sa-Trường Sa vẫn có thể sống được, nhân dân Trung Quốc được an toàn và hạnh phúc. Bằng như ngược lại, bị yếu dần, đến mức nào đó, dù có dâng cả đất nước Việt Nam này cho họ quản lý, họ cũng không dám nhận.
     Để có được đối sách thích hợp với Trung Quốc, không gì quan trọng hơn bằng tìm hiểu cặn kẽ văn hóa, tâm lý, truyền thống và hoàn cảnh thực chất của người Trung Quốc, thấy rõ được chỗ yếu cơ bản của họ, kiểm nghiệm qua thực tế lịch sử mấy ngàn năm, chứ không chỉ có việc trưng ra, mặc dù  vẫn cần thiết, ai là người chủ quyền của miếng đất này hay miếng đất nọ.
     Còn riêng về mặt đối nội, xét cho cùng những miếng đất bị tạm chiếm đó, giả định như bây giờ có giành lại được, thì sự giành lại chỉ có ý nghĩa đích thực khi đất đai bao gồm cả vùng biển xung quanh để cho toàn dân, nhất là nhân dân lao động nghèo,  được hưởng. Chứ nếu chỉ để cho các thành phần đặc quyền đặc lợi hưởng dụng, như chúng ta thường thấy ở những vùng đất tốt/ khu đất vàng khác ở Việt Nam, thì chủ quyền đất đai cũng trở thành vô nghĩa  đối với một quốc gia mang tiếng lấy CNXH công bằng làm lý tưởng. 
                                                                                                                                                      1.2016

Nguồn: Tạp chí Tia Sáng (5.7.2016). Khi đăng, được sự đồng ý của tác giả, Tia Sáng có biên tập cắt bỏ 3 đoạn cuối, từ “Về phía Việt Nam…” cho đến hết bài.  



 


[1] Đô Long 都龍: Vùng đất trước đây thuộc Việt Nam, được gọi là Tụ Long; qua hiệp ước Thiên Tân, thực dân Pháp đã nhường cho Trung Quốc, hiện nay còn địa danh trấn Ðô Long, thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam, trấn này giáp với tỉnh Hà Giang, Việt Nam.

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 16-7-16


......../.

FORMOSA HÀ TĨNH: PHÁT THẢI “SIÊU ĐỘC”, QUẢN LÝ “CHƯA TIÊN LIỆU”?


FORMOSA HÀ TĨNH: PHÁT THẢI “SIÊU ĐỘC”, QUẢN LÝ “CHƯA TIÊN LIỆU”?



[BÀI BÁO ĐÃ BỊ KIỂM DUYỆT, phải gỡ ra khỏi TBKTSG online]



http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:3L_RJLM6QXUJ:www.thesaigontimes.vn/148543/Formosa-Ha-Tinh-phat-thai-%25E2%2580%259Csieu-doc%25E2%2580%259D-quan-ly-%25E2%2580%259Cchua-tien-lieu%25E2%2580%259D%3F.html%26google_editors_picks%3Dtrue+&cd=2&hl=vi&ct=clnk&gl=vn



Đăng Nguyễn



Trả lời báo chí tại cuộc họp báo ngày 30-6-2016, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) Trần Hồng Hà nói rằng: “Về quy chuẩn môi trường, trước đây vì nhiều lý do nên một số ngành ô nhiễm được ưu tiên. Ví dụ trong ngành luyện kim, luyện thép... nếu để tiêu chuẩn cao sẽ khó khả thi nên phải hạ thấp hơn chuẩn bình thường để ngành đó tồn tại, phát triển” (VnExpress). Vậy “trước đây”, hay nói đúng hơn là cho đến thời điểm này, các vấn đề môi trường của ngành thép được quản lý như thế nào để bây giờ Formosa Hà Tĩnh gây ra thảm họa môi trường ven biển miền Trung, đến nỗi Bộ trưởng Bộ TN-MT Trần Hồng Hà phải thừa nhận: “Có thể nói ta chưa tiên liệu được các chất thải của Formosa” (Tuổi Trẻ)?




Phát thải “siêu độc” của Formosa
Thật ra, từ năm 2009, Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường (Tổng cục Môi trường, Bộ TN-MT) đã cho xuất bản tài liệu “Hướng dẫn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án luyện gang thép” (Hướng dẫn ĐTM). Hướng dẫn ĐTM này gồm lời nói đầu và 8 chương, đưa ra các phân tích chi tiết về công nghệ luyện gang thép, các tác động môi trường, các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường, chương trình quản lý và giám sát môi trường, tham vấn ý kiến cộng đồng và cuối cùng là khung hướng dẫn kỹ thuật lập báo cáo ĐTM dự án đầu tư xây dựng nhà máy luyện gang thép.
Hướng dẫn ĐTM này đã nêu rất rõ “...trong quá trình xây dựng và vận hành các dự án đầu tư xây dựng nhà máy luyện gang thép sẽ gây ra những tác động tiêu cực tới môi trường. Vì vậy cần phải tiến hành đánh giá tác động môi trường cho dự án, nhằm mục đích phân tích, đánh giá và dự báo những tác động có lợi và có hại, trực tiếp và gián tiếp, trước mặt và lâu dài mà các hoạt động của dự án có thể ảnh hưởng đến tài nguyên và môi trường khu vực, để từ đó xây dựng các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đồng thời giúp cho cơ quan chủ đầu tư dự án có những quyết định toàn diện và đúng đắn về các giải pháp phát triển dự án gắn với bảo vệ môi trường”. Với những gì được viết ra một cách chi tiết trong hướng dẫn này, thật khó hiểu với sự thừa nhận của Bộ trưởng Bộ TN-MT Trần Hồng Hà ở trên.






Cân bằng nguyên vật liệu và năng lượng để sản xuất ra 1 tấn thép thô từ nhà máy liên hợp gang thép như của Formosa mà Bộ TN-MT hướng dẫn (xem hình).
Theo hướng dẫn ĐTM này để tính toán với công suất giai đoạn 1 là 15 triệu tấn thép/năm, Formosa Hà Tĩnh sẽ thải ra môi trường với tải lượng các chất ô nhiễm (xem bảng).




Đó quả là những con số khủng khiếp cho dù xét theo bất cứ nguồn ô nhiễm nào: khí thải (gần 36 triệu tấn/năm), nước thải (trên 28.000 tấn/năm các chất ô nhiễm) hay chất thải rắn (gần 9 triệu tấn/năm). Tất nhiên đây là tải lượng ô nhiễm trước khi được xử lý bằng các hệ thống kiểm soát ô nhiễm không khí, xử lý nước thải và quản lý chất thải rắn.
Một điều đáng lưu ý, đó là tổng lượng phenol và xyanua trong nước thải của Formosa trước khi xử lý là 120 tấn/năm hay 0,36 tấn/ngày (cho rằng nhà máy vận hành 330 ngày/năm), tính theo tài liệu hướng dẫn ĐTM của Bộ TN-MT ở trên.
Như vậy, tính ra trong năm ngày nhà máy mất điện và không thể xử lý được nước thải, tổng lượng phenol và xyanua đã thải ra biển Vũng Áng mà Bộ TN-MT công bố đó là nguyên nhân chính gây ra thảm họa cá chết hàng loạt từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên - Huế trong tháng 4-2016 vừa qua, là 1,82 tấn (giả định chạy theo công suất của giai đoạn 1). “Chỉ” 1,82 tấn phenol và xyanua trong năm ngày, mà phá hủy gần như toàn bộ rạn san hô trên 200 cây số bờ biển miển Trung mà có khi cần đến cả trăm năm để phục hồi. “Chỉ” 1,82 tấn phenol và xyanua trong năm ngày, mà hàng triệu ngư dân miền Trung điêu đứng vì mất ngư trường trong vài tháng qua và sẽ còn khó khăn không biết đến bao giờ.
Nếu tính theo giấy phép xả thải mà Formosa đã được cấp với lưu lượng 45.000 mét khối/ngày, chỉ riêng với nồng độ phenol hay xyanua cho phép đều là 0,585 mg/l, thì tổng lượng phenol và xyanua sẽ thải ra biển Vũng Áng trong điều kiện Formosa vận hành ổn định và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép sẽ là 17,37 tấn/năm, tức là lớn gấp 9,5 lần so với lượng thải của năm ngày gây ra thảm họa.
Vậy liệu rằng hệ sinh thái biển miền Trung kia, vốn đã bị phá hủy gần như toàn bộ “chỉ” với 1,82 tấn phenol và xyanua, có tiếp tục chịu đựng nổi trong 70 năm tới khi còn tiếp nhận hàng năm một số lượng phenol và xyanua “ổn định” là 17,37 tấn/năm, đó là chưa kể Formosa còn dự kiến nâng công suất nhà máy lên 1,5 lần, đạt 22 triệu tấn thép/năm cũng sẽ dẫn đến lượng phát thải gấp 1,5 lần như thế?
Xem ra Bộ TN-MT cần phải nỗ lực nhiều để có bộ quy chuẩn nước thải cũng như giấy phép xả thải phù hợp cho Formosa Hà Tĩnh, thay cho bộ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp sản xuất gang thép QCVN 52:2013/BTNMT đang được áp dụng và “chưa tiên liệu được các chất thải của Formosa” với chỉ 12 thông số.
Để tham khảo, Hướng dẫn về môi trường, sức khỏe và an toàn của Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) áp dụng cho nước thải của các nhà máy sản xuất thép liên hợp như Formosa quy định đến 25 thông số, trong đó có rất nhiều thông số về kim loại nặng mà QCVN 52:2013/BTNMT không quy định.


Sau nước thải là khí thải
Dư luận chưa chú ý đến nhiều về khí thải từ Formosa Hà Tĩnh, cho dù đó cũng là một nguồn ô nhiễm cực lớn, có lẽ do khu liên hợp gang thép này chưa vận hành toàn bộ dây chuyền sản xuất. Theo tính toán ở trên, chỉ riêng phát thải CO2 của Formosa Hà Tĩnh đã đạt đến 34,5 triệu tấn/năm, so với tổng lượng phát thải khí nhà kính năm 2020 của tất cả các ngành sản xuất và xây dựng là 68,3 triệu tấn/năm (không kể ngành công nghiệp sản xuất năng lượng), theo báo cáo dự báo phát thải khí nhà kính của Bộ TN-MT năm 2014.

Nghĩa là, chỉ riêng khu liên hợp gang thép Formosa Hà Tĩnh, phát thải khí nhà kính đã chiếm đến trên 50,5% tổng lượng phát thải khí nhà kính trong toàn bộ các ngành sản xuất và xây dựng tại Việt Nam!

Ta biết rằng Việt Nam là một trong những nước dễ bị tổn thương nhất thế giới do biến đổi khí hậu, và những thảm họa do thiên tai như hạn hán, lũ lụt và những hiện tượng thời tiết cực đoan khác xảy ra khắp cả nước trong thời gian qua với cường độ tác hại ngày càng lớn cũng như tần suất xảy ra ngày càng dày đặc đã chứng minh điều đó. Vậy thì không rõ khi vận hành toàn bộ dây chuyền sản xuất, Formosa Hà Tĩnh sẽ tiếp tục góp phần làm nghiêm trọng thêm tác động do biến đổi khí hậu đến mức nào?
Cùng với CO2 còn là những chất ô nhiễm khác độc hại không kém, đó là bụi và khí kim loại gần 1 triệu tấn/năm có nguy cơ rất cao gây ra các bệnh về đường hô hấp, trong đó có ung thư phổi. Ngoài ra, SO2 và NOx là những khí gây ra mưa axit, làm suy giảm chất lượng đất, chất lượng nước, giảm năng suất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, cũng đạt đến lượng phát thải theo thứ tự là 33.000 tấn/năm và 34.500 tấn/năm.
Tương tự nước thải, khí thải cũng có quy định riêng, đó là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp sản xuất thép QCVN 51:2013/BTNMT. Quy chuẩn này quy định 11 thông số cho khí thải sản xuất thép nói chung, và 11 thông số cho khí thải sản xuất cốc (luyện cốc).

Trong khi đó, hướng dẫn về môi trường, sức khỏe và an toàn của IFC áp dụng cho khí thải của các nhà máy sản xuất thép liên hợp như Formosa quy định chung đến 18 thông số, không phân biệt quy trình sản xuất.

Có hai điều đáng nói về QCVN 51:2013/BTNMT, đó là quy định chỉ tiêu dioxin/furan chỉ được áp dụng từ ngày 1-1-2017, và nồng độ bụi cho phép cao gấp 2-5 lần so với hướng dẫn của IFC (100 mg/Nm3 so với 20-50 mg/Nm3, trong đó IFC đề nghị áp dụng 20 mg/Nm3 khi trong bụi phát hiện có các kim loại độc hại). Dioxin, thành phần chính của chất độc màu da cam mà không lạ gì với người dân Việt Nam, là tác nhân gây chết người, ung thư và để lại nhiều di chứng về sức khỏe cho nhiều thế hệ; Dioxin/Furan là những hợp chất có độc tính cao nhất được biết trong khoa học cho đến nay.
Trong khi đó, bụi phát sinh từ các ống khói nhà máy liên hợp sản xuất thép có tính chất là bụi lơ lửng (SPM), trong đó hàm chứa rất nhiều các kim loại nặng độc hại khác nhau như asen, thủy ngân, cadmi, chì, niken, crôm, kẽm, mangan... Vậy thì, dioxin/furan độc hại như thế, sao chỉ yêu cầu áp dụng từ ngày 1-1-2017? Bụi lơ lửng phức tạp với nhiều kim loại nặng độc hại như thế, dựa vào đâu để cho phép thải với nồng độ quá cao so với tiêu chuẩn quốc tế?
Ngoài ra, hiện nay giấy phép xả thải chỉ mới được áp dụng cho nước thải và chất thải công nghiệp, chất thải nguy hại, còn giấy phép xả thải cho khí thải chỉ được áp dụng sau ngày 1-1-2018, theo quy định trong Nghị định số 38/2015/NĐ-CP. Với nguy cơ ô nhiễm do khí thải của Formosa Hà Tĩnh như hiện nay, rõ ràng không có lý do gì phải trì hoãn việc áp dụng giấy phép xả thải cho khí thải đến sau ngày 1-1-2018. Việc áp dụng giấy phép xả thải cho khí thải càng sớm càng tốt sẽ góp phần ngăn ngừa thảm họa môi trường do ô nhiễm không khí từ Formosa Hà Tĩnh có thể gây ra cho đồng bào miền Trung.


Kiểm soát ô nhiễm ở Formosa, cần đầu tư 1 tỉ đô la Mỹ!
Theo báo cáo nghiên cứu “Modelling and Analysis of Environmental Pollution in an integrated steel plant” (Mô hình hóa và phân tích ô nhiễm môi trường của một nhà máy liên hợp gang thép) do Giáo sư K. Vizayakumar đến từ Indian Institute of Technology (Viện Công nghệ Ấn Độ) thực hiện năm 2001, thống kê cho thấy để các hệ thống kiểm soát ô nhiễm trong các dự án liên hợp gang thép hoạt động thực sự hiệu quả, chi phí đầu tư cho các hệ thống này chiếm đến 10% tổng vốn đầu tư dự án. Nghĩa là với quy mô đầu tư 10 tỉ đô la Mỹ của dự án Formosa Hà Tĩnh, chi phí để đầu tư cho các hệ thống xử lý khí thải, xử lý nước thải và quản lý chất thải rắn tại đây cần đến 1 tỉ đô la Mỹ.

Trong khi đó, hệ thống xử lý nước thải 45.000 mét khối/ngày mà Formosa tự cho là hiện đại chỉ tốn có 45 triệu đô la Mỹ, chưa bằng 1/22 con số 1 tỉ đô la Mỹ nhu cầu đầu tư ở trên. Vậy liệu rằng Formosa có dành đến 955 triệu đô la Mỹ còn lại để đầu tư vào hệ thống xử lý khí thải và quản lý chất thải rắn, để đảm bảo tuân thủ về môi trường theo các chuẩn mực quốc tế? Hay “nếu để tiêu chuẩn cao sẽ khó khả thi nên phải hạ thấp hơn chuẩn bình thường để ngành đó tồn tại, phát triển”, nên Formosa đã và sẽ còn tiếp tục lợi dụng để rồi môi trường của Việt Nam sẽ bị ô nhiễm, người dân của Việt Nam sẽ còn tiếp tục bị trả giá?

Chỉ có Bộ TN-MT với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp và cao nhất trong Chính phủ về các lĩnh vực môi trường, tài nguyên nước, biến đổi khí hậu... mới có thể trả lời những câu hỏi đó.



........./.

TỪ ĐẶNG TIỂU BÌNH, CÀN LONG ĐẾN CÁC "CELEB" TRUNG QUỐC CHỐNG PHÁN QUYẾT CỦA PCA.










TỪ ĐẶNG TIỂU BÌNH, CÀN LONG ĐẾN CÁC "CELEB" TRUNG QUỐC CHỐNG PHÁN QUYẾT CỦA PCA.

[trích]

Hàng loạt cuốn sách đồ sộ về Đặng Tiểu Bình đã được in thời gian qua. Không cuốn nào nói đến chuyện kẻ xâm lược, kẻ giết người hàng loạt Đặng Tiểu Bình xua quân tấn công toàn tuyến biên giới Bắc Việt Nam, để "dạy cho Việt Nam một bài học" ?


Tôi nhớ lại không khí căng thẳng tại cuộc họp điểm báo tháng 2 năm 1997, khi Đặng Tiểu Bình tạ thế, tờ Thời báo kinh tế Sài Gòn đã có bài viết về tư tưởng cải cách kinh tế của nhân vật, đồng thời nói rõ Đặng Tiểu Bình LÀ KẺ ĐÃ PHÁT ĐỘNG CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM. Tiếp nhận phê phán nặng nề từ ban tuyên huấn, Tổng Biên tập Võ Như Lanh điềm tĩnh trả lời, đó là sự thật lịch sử và tôi là nhà báo Việt Nam, tôi có trách nhiệm nhắc bạn đọc của tôi về điều đó.

[...]

Nói chuyện Đặng Tiểu Bình, không thể không buồn cười nhớ tới những Tề Thiên Đại Thánh, Võ Tắc Thiên, Hoàn Châu Cách Cách và nhất là nhân vật được biết đến nhiều nhất, được ái mộ rộng khắp Việt Nam: vua Càn Long. Nhiều tháng, năm, truyền hình Việt Nam chiếu liên tu bất tận những tập phim về vị “minh quân xuất chúng” Càn Long khiến khán giả Việt yêu quí say mê, rồi yêu luôn tài tử Trương Thiết Lâm, Trương Quốc Lập. Nhiều ký sự về đời tình ái của hai tài tử này một dạo bán rất chạy, giăng đầy mặt báo Việt Nam
[...]
Công đức của VTV và các đài truyền hình VN trong xây dựng hình ảnh vị minh quân Càn Long thật là vô lượng.
Duy có những sự thật về vua Càn Long liên quan trực tiếp tới Việt Nam thì hầu như rất xa lạ, hầu như đến giờ chưa thấy báo đài nào nói tới.

Tháng 7 năm 1788, Lê Chiêu Thống sai người sang Trung Quốc cầu viện..
Cuối năm 1788, chính vua Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy hơn 29 vạn quân, hộ tống Lê Chiêu Thống về Việt Nam, vào chiếm đóng Thăng Long.
Đúng ngày22 tháng 12 năm 1788, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà. Đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Thanh, và trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu - 1789, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị dẫn tàn quân bỏ chạy, tổn thất lớn.

Giật mình, 1789-1979. Vậy là từ khi vua Càn Long định chiếm Đại Việt bị thất bại, cho đến cuộc xâm lược của Đặng Tiểu Bình là tròn 190 năm. 

Đến nay, 227 năm đã qua, vậy những mảnh lịch sử Việt Nam liên hệ đến họ đã được Và đã được nói rõ ràng, công bằng đến đâu?

Chuyện đó cũ, chuyện này mới hơn.

Hôm 26/2/2016, tờ Petrotimes đưa tin: Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc hôm 25/2 có bài kêu gọi quân đội nước này hãy “dạy cho Mỹ một bài học” nếu Washington tiếp tục có những hành động táo bạo. Tờ báo em của Nhân Dân Nhật Báo TQ là Hoàn cầu Thời báo thì rổn rảng hơn, quy cho Mỹ đang làm rùm beng chuyện Trung Quốc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa HQ-9 ở Hoàng Sa "là không chỉ gây áp lực cho Bắc Kinh về vấn đề biển Đông mà còn kích động xung đột giữa Bắc Kinh với các nước khác”.

TQ có đánh Mỹ không? Chưa biết. Tuy vậy, điều lạ là lần này, TQ xả cảng cho cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng và nhà nước TQ nhắm thẳng Mỹ mà hăm dọa kích động như vậy.
Còn để “nghênh tiếp” phán quyết của PCA, lãnh đạoTrung quốc đã thực hiện “chiến lược ngoại giao công chúng” nhằm định hình nhận thức của quốc tế về “chính nghĩa và lòng yêu hòa bình” (sic) của họ!
Sử dụng cả phim hoạt hình miệt thị dân Việt Nam là những con khỉ, hay làm phim truyền hình thiếu nhi để tự tôn vinh. Mấy hôm nay là chiến dịch dữ dội nhất: dùng mạng, dùng tất cả celeb, các ngôi sao văn hóa nghệ thuật phủ nhận phán quyết PCA.

Rõ ràng là TQ đã luôn cân nhắc kỹ, đã "chơi" rất bản lĩnh, rất có tính toán trong cuộc chiến truyền thông. Binh chủng nào, lúc nào, nói gì, "ton" gì, nhắm vào ai...là có đủ loại để nghênh chiến, thay đổi rất linh hoạt để đạt nhưng kết quả khác nhau, chứ không hoàn toàn đồng phục và đơn điệu nhàm chán.

Nhớ hồi chiến tranh, ta đánh ba thứ quân, phối hợp chính quy với du kích. Vậy sao lúc ngư dân sôi sục vì bị rượt đuổi, bắn, giết, cướp tàu khi ra khơi làm ăn trong biển của mình thì báo chí của Mặt trân, của Hội nghề cá, của Hội phụ nữ, thanh niên...không thể lên án tội ác, đòi bồi thường, đòi quốc tế có thái độ với kẻ ý lớn hiếp đáp? Nhiều loại báo,sách, phim, bài hát... đại diện nhiều đối tượng nhiều giọng, nhiều nội dung, nhiều cách thức tham gia linh hoạt vào cuộc chiến. Mà đừng lo bị ông anh giận, làm vậy cũng là “học” cách họ đang xài đủ thứ binh chủng vậy thôi.

Rõ ràng trong một thế giới hội nhập, ta cần tính lại chiến lược, sách lược cho cuộc chiến truyền thông.

[...]


BÀI CA SÁT THÁT






BÀI CA SÁT THÁT
Vũ Hoàng Chương viết năm 1962 tại Sài gòn

**

Đoàn người ấy mọc lên trong sa mạc, 
Cả một rừng gươm trên lưng ngựa trường thành 
Đoàn quân ấy từ phương Đông xuất phát, 
Lũ con hoang bất trị của trời xanh 
Chỉ nhắp có hơi men sung sát, 
Chỉ say sưa bằng những miếng giao tranh, 
Nhằm hướng Phi châu 
Ngựa vọt tới đâu là đời sống tan tành, 
Biển ngập máu còn mang tên Hồng Hải 
Cờ phất Âu châu, 
Ngựa giẫm tới đâu là xương phơi thịt vãi 
Biển đeo tang còn Hắc Hải ghi danh...
Như ngọn cuồng lưu, như cơn bão cát 
Từ Mông Cổ, Tân Cương đến Ba Tư Bạch Đát, 
Trở về Hoa Hạ, Yên kinh 
Lũ Thiên triều từng Bắc chiến, Tây chinh 
Lẽ nào để một phương không xéo nát! 
Trời Nam riêng cõi thanh bình 
Lẽ nào để chiếc ngai vàng Thát Đát 
Ba chân trời Đại Lục đứng chêng vênh!
Hay đâu: Bắc phương vừa quẫy đuôi kình 
Rồng thiên sớm đã cựa mình Nam phương 
Trần triều hai Thánh Đế 
Hương Đạo một Đại Vương 
Hội mở Diên Hồng, đất nước vang rền khí thế, 
Hịch truyền Vạn Kiếp, trời mây sáng rực văn chương. 
Ý gửi tự muôn dân, lệnh trao từ chín bệ 
Thì nắm đầu giặc như chơi, cướp giáo giặc cũng dễ. 
Đây cửa sông Hàm Tử, bến đò Chương Dương! 
“Nuốt sao Ngưu” chẳng phải việc hoang đường 
Nam phương cường, Bắc phương cường! 
Máu đào loang sóng Phú Lương mấy lần...
Sét nổ trăm hai ngọn ải Tần, 
Giang hoài biên tỉnh lại ra quân 
Năm mươi vạn tinh binh ruổi ngựa 
Tràn xuống Thăng Long như một khu rừng bốc lửa. 
Những “Cây Sắt” con nòi Thiết Mộc Chân!
Giống Hồng Lạc giữa hai đường sanh tử 
Trông lên sợi tóc buộc ngàn cân 
Chợt đâu đó xé rèm mây quá khứ, 
Xa thăm thẳm mấy ngàn năm Việt sử 
Rọi về tia mắt tiền nhân: 
Thiêu tàn khoảnh khắc bao do dự 
Cả thép vô danh cũng rực ánh gươm thần...
Sát cánh vua cùng dân 
Chung lòng với tướng quân 
“Phá cường địch” cờ ai sáu chữ 
Báo hoàng ân là báo quốc ân 
Trăm họ chẳng ai còn lưỡng lự 
Sông núi nào riêng một họ Trần. 
Bình Than lạ nổi phong vân 
Một gươm Tiết chế hai lần trao tay.
Lời Đại Vương truyền nín cỏ cây 
Ba quân hào khí ngất tầng mây 
Vụt nghe tướng lệnh, vươn mình thét: 
-Sông Bạch Đằng tôi có mặt đây! 
Hán hồ cũng đến chôn thây 
Trước sau một khúc sông này mà thôi...
Triều non bạc lên ngôi, giờ lịch sử 
Và xuống ngôi, theo lệnh Đại Vương truyền. 
Nước rút đi, như ngàn vạn mũi tên 
Lấy Đông Hải làm bia nhằm bắn tới 
Một ám hiệu Kình nghê vừa mắc lưới, 
Thuyền Vương Sư liền quật khởi tranh phong 
Tay chèo nổi ngược cơn dông 
Tiêng hò “Sát Thát” vang sông ngập bờ.
Duyên Giang một giải, 
Lau cũng phất cờ 
Mùa xuân gần cuối 
Vẫn sóng bay hoa 
Ngang trời động sấm tháng ba, 
Dọc sông chớp giật, sáng loà gươm đao...
Cũng nơi đây Bạch Đằng Giang một khúc, 
Ngô Vương từng chém Hoằng Thao 
Gió mây thôi thúc 
Quằn quại ba đào 
Chợt tưởng niệm máu càng sôi sục, 
Tinh thần quyết thắng bốc lên cao.
Thế phản công làm giặc dữ nôn nao 
Chúng hoảng hốt vội thu quân về thượng lưu sông Bạch, 
Nhưng số phận Hung nô, người phương Nam đã vạch, 
Hỡi ơi, bằng giáo sắt cắm ngang sông 
Đáy trường giang là cả một bàn chông 
Nằm đợi sẵn khi thuỷ triều xuống thấp 
Đoàn thuyền giặc lui qua bị xô nghiêng, lật sấp 
Bị xé ra từng mảng vở tan thây...
Giữa lúc rồng thiêng mở vuốt tung mây 
Quân tiếp ứng của Vương Sư ào xuất trận 
Và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn 
Hiện ra như một vị thần linh 
Chớp mắt trên sông bặt sóng kình 
Thế là đã nơi này bỏ xác 
Lũ con hoang của trời sa mạc 
Khắp Á, Âu từng vạn lý trường chinh 
Bọn chúng ngờ đâu một sớm cõi Lý Minh 
Thân bách chiến bỗng quay về hột cát 
Trôi theo sóng cả tiếng tăm nòi Thát Đát 
Cả giấc mơ xâm lược chúa Hồ Nguyên...
Ấy ai qua chốn giang biên 
Khói đầy khoang giấc sầu miên lạnh lùng 
Tiếng kình vang đợt sóng rung 
Có nghe chăng có thẹn thùng người xưa? 
Riêng ai nước cũ mây mờ 
“Thái Bình Diên Yến” câu thơ lệ nhoà 
Tháng Giêng kỷ niệm Đống Đa 
Sông Đằng kỷ niệm tháng ba mấy lần?
Đầu mùa xuân, cuối mùa xuân 
Cánh tay Đế Nguyễn, Vương Trần nào ai?



Vũ Hoàng Chương 1962
........../.


Quả bom Formosa




Quả bom Formosa: Cái giá của vô cảm & vô minh


http://viet-studies.info/kinhte/NQuangDy_QuaBomFormosa.htm

***************
Nguyễn Quang Dy


Sau những tai họa giáng xuống đầu người dân mấy tỉnh miền Trung, xã hội Việt Nam lại càng phân hóa. Thay vì trên dưới một lòng để chung sức đối phó với thảm họa môi trường và đe dọa chủ quyền, để chống tham nhũng và cải cách thể chế, thì khủng hoảng lòng tin vẫn là vấn đề nhức nhối. Tuy quả bom nổ chậm Formosa đã được tháo ngòi, nhưng khối thuốc nổ vẫn còn đó. Người dân trong vùng bị nạn vẫn “sống trong sợ hãi”. Chủ quyền quốc gia vẫn đang bị đe dọa. Người ta vẫn hành xử vô cảm và vô minh, như vô can và vô tội.   
Hệ lụy của tai họa môi trường
Trong khi thực phẩm, hoa quả bị nhiễm độc, thì nước đóng chai cũng bị nhiễm chì (như vụ URC và C2). Nay không ai còn dám ăn hải sản và tắm biển Miền Trung (trừ quan chức địa phương muốn diễn trò hề). Nhiều người dân còn lo xa dự trữ cả nước mắm và muối, trong khi nước biển, nước sông và không khí đều bị ô nhiễm. Không phải chỉ có “người Trung quốc xấu xí” đầu độc thế giới, mà người Việt Nam tham lam cũng đang đầu độc lẫn nhau một cách hồn nhiên. Không biết từ bao giờ người ta đã trở thành tham lam, vô cảm đến tàn nhẫn. Đồng tiền mất giá không đáng lo ngại bằng mất nhân cách và nhân quyền. 
Tình hình đột ngột xấu đi khi chủ quyền Biển Đông bị đe dọa, mà sự kiện dàn khoan HD 981 là một bước ngoặt (5/2014). Ngư dân Việt Nam thường xuyên bị “tàu lạ” bắt nạt và khủng bố, mất dần chủ quyền đánh cá trong vùng biển của mình. Bước ngoặt thứ hai là sự kiện cá chết hàng loạt tại Vũng Áng và bốn tỉnh Miền Trung (4/2016). Phải mất hơn hai tháng quanh co và trì hoãn, đến ngày 30/6 chính phủ mới kết luận Formosa là thủ phạm và phạt 500 triệu USD để bồi thường thiệt hại. Nhưng dư luận vẫn thất vọng và bất bình.
Thứ nhất, dư luận cho rằng số tiền phạt 500 triệu USD mà Chính phủ thỏa thuận với Formosa một cách vội vã, chưa dựa trên đánh giá toàn diện thiệt hại trước mắt và lâu dài do thảm họa môi trường mà Formosa gây ra. Con số có thể lớn hơn nhiều.
Thứ hai, nếu hỗ trợ ngư dân Miền Trung chuyển đổi làm nghề khác (như xuất khẩu lao động…) thì có thể rơi vào bẫy của Trung Quốc, vì ngư dân sẽ phải bỏ ngỏ Biển Đông để lực lượng “Dân quân Biển” Trung Quốc kiểm soát. Không những ngành hải sản và du lịch biển của Việt Nam bị tê liệt, mà an ninh và chủ quyền quốc gia cũng bị đe dọa.
Thứ ba, không thấy Chính phủ đề cập đến việc hỗ trợ người dân bị nạn kiện Formosa (về dân sự và hình sự). Trong khi đó, Bộ luật Hình sự mới vừa được Quốc hội vội vã biểu quyết “dừng áp dụng ngay lập tức” (trước ngày 30/6). Liêụ có phải vì Điều 79 Khoản 1 và điều 235 Khoản 5 có thể được vận dụng để kiện Formosa, nên phải hoãn? 
Thứ tư, không thấy Chính phủ và các bộ ngành liên quan nhận lỗi và giải thích về trách nhiệm đối với thảm họa môi trường, không thấy nói sẽ xử lý thế nào đối với những tổ chức hay cá nhân mắc sai phạm nghiêm trọng (như thủ tướng đã tuyên bố).
Thứ năm, không thấy Chính phủ xin lỗi hay giải thích tại sao lại đàn áp bằng bạo lực đối với người dân biểu tình ôn hòa đòi biển sạch và minh bạch (như thế lực thù địch). Người dân coi hành động trấn áp này đồng nghĩa với bao che cho Formosa.
Đấu tranh quyền lực và chống tham nhũng
Tuy Đại hội Đảng và bầu cử Quốc hội đã “tạm xong” vì đã hạ bệ được ông Nguyễn Tấn Dũng, nhưng đấu tranh quyền lực còn tiếp diễn. Những động thái “chống tham nhũng” gần đây cho thấy những người thuộc cơ chế quyền lực cũ (hay nhóm lợi ích) đang là đối tượng bị “chỉnh lý”, để cơ chế quyền lực mới củng cố thế lực.  
Sau khi xử lý vụ phó chủ tịch Hậu Giang Trịnh Xuân Thanh (về chiếc xe Lexus gắn biển Xanh bất minh) và vụ Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng (đã điều chuyển con trai vào các chức vụ bất minh), cuộc “chính lý” vẫn đang tiếp diễn. Trong bối cảnh Trung Quốc đang tập trận quy mô lớn tại Biển Đông (5-11/7) để răn đe trước khi Tòa án Thường trực (PCA) ra phán quyết về tranh chấp Biển Đông (12/7), hội nghị Trung ương 3 (từ 4/7) đang bàn về vấn đề nhân sự “hệ trọng”. Đáng lưu ý là nguyên phó chủ tịch Bà Rịa-Vũng Tàu Phan Thanh Bình vừa bị truy tố về tội “sai phạm quản lý đất đai”.
Không biết ông Bình tham nhũng thế nào, nhưng đã tổ chức mít tinh phản đối Trung Quốc đem dàn khoan HD981 vào Biển Đông (5/2014) nên lúc đó đã bị cách chức. Liệu việc xử lý ông Bình mà không xử lý các cá nhân khác có trách nhiệm đã mắc sai phạm nghiêm trọng trong vụ bê bối Formosa có phải là một tin hiệu đáng suy nghĩ?
Ngoài ra, hội nghị TƯ 3 chắc sẽ phải bàn đối sách của Việt Nam về tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, trước khi Tòa án Thường trực (PCA) phán quyết về vụ kiện của Philippines. Việt Nam phải có thái độ trước phán quyết của PCA, không thể lẩn tránh, vì đây là thước đo đánh giá và phân biệt thái độ của các nước ASEAN “xoay trục” về phía nào. Để đối phó với phán quyết của PCA, Trung Quốc đã tìm mọi cách phân hóa và lôi kéo được sự ủng hộ của 3 nước ASEAN là Campuchia, Lào và Brunei (tại khu vực Đông Nam Á). 
Việt Nam có thể trì hoãn, không dám kiện Trung Quốc ra PCA như Philippines đã làm, vì sợ “nhạy cảm” (hay nói cách khác là sợ Trung Quốc). Nhưng nếu Việt Nam không dám kiện Formosa hoặc nếu không hỗ trợ pháp lý cho người dân bị nạn kiện Formosa (như các nước khác đã làm), là vô cùng dại dột và không thể biện minh. Kiện về môi trường là một việc khó khăn và phức tạp nhưng được lòng dân, và được quốc tế ủng hộ. Vì vậy, phải kết hợp “nhà nước và nhân dân cùng làm”, phải kết hợp chặt chẽ giữa quốc gia với quốc tế, phối hợp “ba mặt giáp công” là mặt trận pháp lý, khoa học và truyền thông. 
Đây không phải là lần đầu tiên. Năm 2008, với sự hỗ trợ của Hội Luật gia Đồng Nai và Đoàn Luật sư Bà Rịa-Vũng Tầu, nông dân 3 tỉnh Đồng Nai, t/p Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu đã kiện công ty Vedan vì đã xả chất thải độc ra sông Thị Vải. Cuối cùng Vedan đã phải bồi thường 119,5 tỷ VNĐ cho Đồng Nai, 45,7 tỷ VNĐ cho t/p Hồ Chí Minh, 53,6 tỷ VNĐ cho Bà Rịa-Vũng Tầu. Năm 2015, trong vụ kiện BP làm tràn dầu ra vịnh Mexico, BP đã phải bồi thường cho Mỹ 18,7 tỷ USD và chi phí 54 tỷ USD để khắc phục hậu quả môi trường.
Theo luật sư Trần Quốc Thuận (nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội), điều mà người dân Miền Trung cần làm lúc này là thu thập đủ chứng cứ để kiện Formosa. Nhưng người dân không thể tự mình đi kiện, nếu không được chính phủ đồng tình, nếu không được sự hỗ trợ của các luật sư, các nhà khoa học, và các nhà báo.  Có thể kiện Formosa khó hơn Vedan hoặc BP, nhưng có thể nói thảm họa môi trường biển mà họ gây ra không kém gì thảm họa chất độc da cam mà quân đội Mỹ gây ra trong chiến tranh tại Miền Nam.    
Đến ngày 30/6/2016, chính phủ mới công bố nguyên nhân và thủ phạm gây ra thảm họa môi trường, nhưng các nhà khoa học và điều tra đã biết từ lâu, tuy không được phép công bố. Ngày 22/4/2016, thiếu tướng Nguyễn Xuân Lý, cục trưởng C49 (phòng chống tội phạm môi trường) cho biết, “phía C49 không thể phát ngôn ngay được vì ảnh hưởng tới nhiều vấn đề khác”. Điều đó có nghĩa C49 đã biết nhưng không được nói. 
Về số tiền Formosa đền bù thiệt hại, có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến thắc mắc tại sao con số 500 triệu USD lại tròn trĩnh như vậy? Dựa trên cơ sở nào? Theo thông báo thì đến 30/6/2016 chính quyền Hà Tĩnh mới lập ra “Hội đồng đánh giá thiệt hại do Formosa gây ra”. Nếu con số đó là của Formosa đưa ra, thì có hợp lý hay không? Theo cách tính của một chuyên gia môi trường (để tham khảo) thì tổng thiệt hại vật chất và tinh thần của thảm họa này phải là 690.69 triệu USD, nếu tính theo chuẩn của US EPA (Environmental Protection Agency), và ước tính phải mất khoảng 69 tháng mới có thể đánh giá được hết thiệt hại.
Những lỗ hổng về truyền thông  
Thảm họa môi trường đã trở thành thảm họa truyền thông và khủng hoảng lòng tin. Người ta hay nói “mất lòng tin là mất tất cả”. Vậy lòng tin từ đâu?
Từ trước đến nay chưa có một vấn đề nào có thể lôi kéo được sự quan tâm và bức xúc của cộng đồng người Việt trong nước và ngoài nước nhiều đến thế, không phân biệt trí thức - khoa học hay người dân lao động, không phân biệt báo chí “lề phải” hay “lề trái”. Vì môi trường là vấn đề “trung tính”, không có “thế lực thù địch” nào có thể xúi dục. Đây là vấn đề toàn cầu và vấn đề sống còn của nhân loại, nên không có nhà nước nào lại dại dột đàn áp và bịt miệng dư luận. Đây là vấn đề phải tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế (như một nghĩa vụ toàn cầu), nhất là về mặt khoa học, pháp lý và truyền thông. Từ chối sự giúp đỡ của quốc tế để đối phó với một thảm họa môi trường là vô cùng dại dột và không thể biện minh.
Ngày 20 và 25/6/2016, kênh truyền hình Đài Loan PTS đã phát chương trình phóng sự điều tra dài 60 phút “Viêt Nam: Cái chết của cá” nói về nguyên nhân cá chết tại vùng biển Miền Trung mà Formosa là nghi phạm chính. Chương trình này đã gây chấn động dư luận Đài Loan, tác động đến chính giới. Tuy nhiên, khi PTS vào Việt Nam làm chương trình này có lẽ không được  sự ủng hộ của cơ quan chức năng và sự phối hợp của Đài truyền hình Trung ương hay địa phương, mà phải “làm chui”, (với sự hỗ trợ của vài nhà báo “lề trái”).
UDN (United Daily News) là tờ báo lớn thứ 3 Đài Loan, với đường lối biên tập ủng hộ liên minh chính trị do Quốc Dân Đảng (KNT) cầm đầu, đã bị thua Đảng Dân Tiến của bà Thái Anh Văn trong cuộc tổng tuyển cử (1/2016). Vừa rồi, báo UDN đã đưa tin chính phủ Việt Nam cấm xuất cảnh hai lãnh đạo của Formosa nhằm gây áp lực buộc họ phải chịu nhận trách nhiệm vụ cá chết tại Vũng Áng. Tuy nhiên, Formosa “không xác nhận” tin này.
Trong khi đó, phóng viên kênh truyền hình PTS của Đài Loan bình luận, “Nếu quả thật không có chuyện cấm xuất cảnh (là một việc rất nghiêm trọng) thì lẽ ra Formosa phải phủ nhận và tuyên bố thông tin đó là sai sự thật. Đằng này, họ lại chỉ úp mở “không xác nhận” thông tin. Dù sự thật thế nào, chính phủ Việt Nam cũng cần lên tiếng vì hiện đang có dư luận xì xào rằng phía Việt Nam “phá án” bằng “nghiệp vụ Bắc Giang” (tức ép cung). Nếu UDN đặt điều thì Việt Nam hoàn toàn có thể kiện UDN vì họ đã vu khống chính phủ.
Để hội nhập quốc tế, việc kết nối quốc tế về truyền thông là một việc cần làm vì đây là một khâu yếu của Việt Nam. Trong khi đó, cần tránh những tranh cãi gây tai tiếng và chia rẽ nội bộ mà dư luận hay gọi là hiện tượng “đấu tố” lẫn nhau hay “ném đá” hội đồng. “Khôn nhà dại chợ” chỉ có lợi cho các thế lực thù địch. Sự cố truyền thông của chương trình VTV “60 phút mở” do nhà báo Tạ Bích Loan chủ trì, với một số đồng nghiệp khác, là một ví dụ. Gần đây cuộc “bút chiến” trên mạng giữa Biên tập viên Lê Bình của VTV 24, với luật sư Trần Vũ Hải, là một ví dụ khác. Các sự cố đáng tiếc này bộc lộ những lỗ hổng về truyền thông.
Tuy nhiên, có những dấu hiệu đáng mừng là một số báo chí Viêt Nam (như Zing.Vn) đã cử phóng viên sang Đài Loan điều tra và làm phóng sự. Phóng viên của Zing đã gặp gỡ phỏng vấn các nghị sĩ Quốc hội, các tổ chức Xã hội Dân sự và người dân Đài Loan về những gì liên quan tới Formosa (cả ở Đài Loan lẫn Việt Nam). 
Bà Su Chih-feng, một nghị sỹ đảng cầm quyền Dân Tiến, cựu thị trưởng Vân Lâm (thủ phủ của Formosa và tâm điểm của ung thư) đã nói rằng Formosa là “quái vật khổng lồ”, phải cẩn trọng và cứng rắn với họ để tránh những rủi ro, vì quyền lực của họ rất lớn đối với chính quyền. Trong 9 năm làm thị trưởng Vân Lâm (2005-2014) bà Su đã từng lên tiếng từ chối dự án thép hàng tỷ đô của Formosa vì nguy cơ ô nhiễm cao. Bà Su khuyên nên kiểm soát chặt không cho họ đốt than cốc gây ô nhiễm nghiêm trọng. Trước khi hoạt động, chính phủ phải buộc họ thỏa thuận xử phạt thế nào nếu xẩy ra ô nhiễm hoặc gây ra bệnh tật. 
Một nghị sỹ Đài Loan khác, ông Kuen-yuh Wu cho biết đã kêu gọi Formosa phải giải trình về vụ cá chết và cho biết nhiều người ở Đài Loan đang kiện Formosa vì tỷ lệ ung thư tăng. Ông nói khi Formosa tới các nước khác để đầu tư họ phải thực hiện các trách nhiệm xã hội chứ không chỉ làm ăn kiếm lợi. Họ phải quan tâm đến các vấn đề như ô nhiễm, quyền con người, quyền người lao động. “Formosa là trường hợp cá biệt. Thật đáng tiếc là chuyện này đã xẩy ra. Chúng tôi cũng quan ngại về hành vi của Formosa ở Việt Nam. Đó cũng là lý do chúng tôi muốn giám sát hơn nữa hoạt động của công ty này ở nước ngoài. Formosa có ảnh hưởng rất lớn đến chính phủ Đài Loan trong quá khứ. Nhưng tôi tin chính phủ mới sẽ không chấp nhận kiểu ảnh hưởng thế này và sẽ kiểm soát tập đoàn này tốt hơn…”
Có thể hiểu Formosa đang hết thời. Tuy trước đây họ có thể thao túng chính phủ Đài Loan (cũng như Việt Nam) nhưng “thành tích” hủy hoại môi trường của họ quá lớn, nên uy tín của họ đã xuống quá thấp, ở Đài Loan cũng như các nơi khác trên thế giới. Nếu Việt Nam tiếp tục bao che cho họ theo kiểu “phạt cho tồn tại” là vô cảm và vô minh. Chủ nghĩa tư bản hoang dã và chủ nghĩa xã hội thân hữu đang trở thành kẻ thù của nhân loại tiến bộ.   
Những lỗ hổng về khoa học và pháp lý

Nghị sỹ Kuen-yuh Wu nói với phóng viên Zing rằng cho đến giờ ông vẫn chưa được đọc báo cáo điều tra, những gì ông biết chỉ dừng trên thông tin báo chí đưa như việc xuất hiện xyanua và phenol. Chưa tiếp cận được báo cáo thì ông không biết nồng độ xyanua trong nước ra sao và vì vậy khó đưa ra được kết luận của mình. Với độ dài đường ống thải hiện nay, chất độc chỉ lan ra được 47km, vì vậy nồng độ chất độc phải cao lắm mới lan ra tới 300km. Bộ TN&MT giải thích rằng khi xyanua và phenol kết hợp trở thành “tấm chăn” khổng lồ hút nhiều chất độc khác nên làm cá chết trên diện rộng. “Xyanua là rất độc và nguyên nhân cá chết hẳn là do xyanua, nhưng xyanua khi kết hợp lan rộng đến thế nào thì cần phải đọc báo cáo chi tiết. Là chuyên gia về độc tố học, tôi chưa từng đọc thấy tài liệu nào nói đến trường hợp hút các chất độc khác kiểu này”. Nói cách khác, ông ta chưa được thuyết phục.
Một chuyên gia khác là kỹ sư Nguyễn Minh Quang cũng khuyên là nên công bố các tài liệu khoa học và báo cáo điều tra để có cơ sở thuyết phục. Kết quả phân tích các mẫu nước thu thập trong khu vực Lăng Cô ngày 15/4/2016, trong khi có hiện tượng cá chết hàng loạt ở đây, đã bác bỏ lập luận của phía Việt Nam vì cả hai chất phenol và xyanua không được phát hiện trong tất cả các mẫu nước. Ngược lại, 5 trong 6 mẫu nước thu thập được có chứa NH4 với nồng độ từ 0,154 đến 0,416 mg/L. Với nồng độ đó, cá biển có thể chết ngay lập tức vì nồng độ an toàn của ammonia/ammonium cho cá nước mặn là zero… Do đó, không có một độc tố nào hiện diện trong cá chết vì ammonia/ammonium.
Theo ông Quang, giả sử hơn 50% mẫu cá chết thu được thật sự chết vì phenol và xyanua, như tuyên bố của Bộ trưởng Trần Hồng Hà, thì mức độ chính xác của nguyên nhân chỉ là 50% và gián tiếp thừa nhận rằng có một “yếu tố cực độc” khác đã giết số mẫu cá chết còn lại.  Nếu kết quả phân tích mẫu cá không được công bố, thì bất cứ ai cũng có thể giả thiết rằng chính “yếu tố cực độc” kia đã giết chết hàng loạt cá biển miền Trung, và lập luận này có cơ sở khoa học vì ammonia/ammonium được phát hiện trong nước biển ở nồng độ có thể giết chết cá, mặc dù ở cách xa nguồn nước thải trên 250 km. Nếu giả thiết này là đúng thì mức độ chính xác về nguyên nhân cá chết do phía Việt Nam đã công bố là “con số không!”
Ông Quang cũng khuyến nghị nên soát xét lại giấy phép xả thải của Formosa để lấp tất cả “kẽ hở pháp luật,” vì theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà có thể nói “ta chưa tiên liệu được các chất thải của Formosa”. Cái cần giám sát nhất là từ luyện cốc, cần có hệ thống kiểm soát đạt “tiêu chuẩn 52”, nhưng vì đang trong giai đoạn chạy thử, nên chưa cơ quan nào được vào, chỉ khi nào họ đã vận hành rồi thì mới vào. Đây là kẽ hở pháp luật. Ta chưa kiểm soát được. Đáng ra phải đáp ứng tiêu chuẩn 52. Hệ thống quan trắc cũng chưa quan trắc được phenol, xyanua do pháp luật còn lỗ hổng, không có giám sát trong quá trình giám sát, thử nghiệm. Vì vậy, ông Quang đề xuất cách tốt nhất là lưu giữ lại nước thải ở hồ chứa tạm và chỉ được xả ra môi trường khi nào hội đủ tiêu chuẩn được ghi trong giấy phép qua kết quả phân tích.
Nói cách khác, đấu tranh trên ba mặt trận khoa học, pháp lý, và truyền thông còn tiếp diễn, và cần sự trợ giúp của quốc tế. Kết luận của Chính phủ  mới chỉ là bước đầu. Các nhà khoa học cần tiếp tục điều tra và phản biện để có cơ sở kiện formosa. Nếu Việt Nam nhận tiền phạt “cho phép tồn tại” thì sẽ mắc bẫy Formosa và các thế lực bất minh. Đấy là cách mà lâu nay họ vẫn làm. Xét cho cùng, Formosa chỉ là bề nổi của tảng băng chìm.
Vô cảm và vô can
Trong khi thảm họa môi trường Miền Trung được Chính phủ kết luận là do Formosa gây ra, thì Hà Tĩnh có tới 16 trung ương ủy viên (số lượng nhiều vô địch toàn quốc). Trong đó có hai người đứng đầu hai bộ quan trọng nhất đối với các dự án đầu tư là Bộ KH&ĐT và Bộ TN&MT. Cơ cấu nhân sự bất thường này có liên quan gì đến Formosa không? Chẳng lẽ Hà Tĩnh có nhiều nhân tài như vậy? Hay đó là phần thưởng cho sự đóng góp của tỉnh vào thảm họa này? Ông Võ Kim Cự (nguyên Chủ tịch/Bí thư Hà Tĩnh) là người có công rước Formosa vào Việt Nam đầu tư, và ban phát nhiều ưu đãi đặc biệt (thậm chí sai phạm quy định) thì nay vô can. Ông Cự vẫn là Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã và đại biểu quốc hội.
Liên quan đến những nội dung sai phạm, ông Võ Kim Cự và các lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh đã thừa nhận kết luận của Thanh tra Chính phủ là khách quan và cam kết sẽ “nghiêm túc tiếp thu, khắc phục, chấn chỉnh những sai phạm”. Ông Cự cho biết, “Có cái đã xử lý, có cái đang xử lý và sẽ xử lý một cách nghiêm túc những khuyết điểm trên”. Không hiểu ông Cự “xử lý và khắc phục” thế nào thảm họa môi trường (và có thể là thảm họa an ninh). Nếu ông Cự và các quan chức khác có liên quan mà vô can, thì sẽ còn nhiều ông Cự khác và còn nhiều Formosa khác. Tại sao các quan chức địa phương có thể rủ nhau đi ăn hải sản và tắm biển sau khi góp phần để xảy ra thảm họa môi trường này? Thật vô cảm và vô minh!   
Trong khi đó người dân địa phương bị nạn ở Hà Tĩnh sống ra sao? Cả nước quan tâm và đồng cảm với thảm cảnh cá chết do biển nhiễm độc, ngư dân mất nguồn sinh sống và mất luôn ngư trường truyền thống bao đời nay. Nhưng chưa hết, hệ quả của dự án Formosa còn có những thảm cảnh và góc khuất mà nhiều người không biết, nếu thiếu truyền thông hay vô cảm. Nhà báo Trần Đăng Tuấn đã “giận run người” khi biết tin 155 học sinh thôn Đông Yên (xã Kỳ Lợi, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh) bị thất học do tái định cư. Theo báo Một Thế giới (25/6/2016), bố mẹ các em chưa đi tái định cư và chính quyền yêu cầu các em phải đi học tại các trường trên khu vực tái định cư (cách nhà tới 25 km) nên các em thất học. Một số giáo viên tình nguyện tổ chức dạy các em trong khi chờ đợi, đã bị chính quyền quy tội “làm trái pháp luật”. Họ nơm nớp “sống trong sợ hãi” như tội phạm vì bị công an xã liên tục “triệu tập”. 
Ông Nguyễn Hữu Sum, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo Thị xã Kỳ Anh khẳng định với báo chí: “Theo quy định của Luật giáo dục và Điều lệ Trường Tiểu học, THCS thì việc mở lớp dạy học mà không được sự cho phép của chính quyền địa phương và cơ quan hữu quan, đặc biệt là sử dụng đội ngũ chưa đủ tiêu chuẩn để lên lớp là vi phạm pháp luật”. Nếu nói như vậy thì Cụ Hồ ngày trước đã “vi phạm pháp luật” vì dám phát động “bình dân học vụ”! Trong khi những người cầm quyền sai phạm nghiêm trọng vẫn vô can, và những tỷ phú gây ra thảm họa môi trường được “khoan hồng”, thì những giáo viên tình nguyện và học sinh cơ nhỡ lại trở thành tội phạm “vi phạm pháp luật” chỉ vì là nạn nhân của Formosa, chỉ vì muốn học. Nếu nói “đánh kẻ chạy đi chứ không đánh kẻ chạy lại” thì họ đang đánh ai đây?  
Thay vì xin lỗi dân và giải thích với dư luận sẽ xử lý như thế nào những cá nhân mắc sai phạm gây ra thảm họa môi trường (như thủ tướng đã nói), thì Chính quyền tiếp tục dọa trấn áp để bịt miệng dư luận, với lý do “các thế lực thù địch” xui khiến. Thế lực thù địch nào xui khiến các giáo viên và học sinh cơ nhỡ muốn được học?    
Trong khi đó du lịch Trung Quốc đang tràn vào Việt Nam, gây ra nhiều bất ổn (cả về số lượng lẫn tính chất phức tạp). Đây là một hệ quả tất yếu của mối quan hệ Trung-Việt đầy bất ổn. Tuy chưa đến mức báo động, nhưng đây là một vấn đề đáng lo ngại, nếu đặt nó bên cạnh những vấn đề bất ổn khác như hàng vạn người lao động Trung Quốc đang sinh sống tại các khu vực có các dự án khủng của Trung Quốc tại Miền Trung (như Vũng Áng). Việc Trung Quốc vừa lập Tổng Lãnh sự quán tại Đà Nẵng cũng là một câu hỏi đáng suy nghĩ trong bối cảnh Biển Đông đang nóng lên từng ngày trước phán quyết của PCA. 
Việc Formosa gây ra thảm họa môi trường làm cá chết, buộc chính phủ phải di dân và mất biển, có phải là một ý đồ lâu dài đối với Việt Nam? Thời điểm gây ra cá chết hàng loạt làm khủng hoảng xã hội trước chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Obama, có phải là một ý đồ trước mắt để cản đường quan hệ Việt-Mỹ? Việc Formosa chiếm cảng nước sâu Sơn Dương tại Vũng Áng có liên quan gì tới chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông?  

Đầu tư và bảo vệ môi trường
Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, trong hơn hai tháng qua, để bắt được Formosa cúi đầu nhận tội, Chính phủ Việt Nam đã có nỗ lực rất lớn. Tuy nhiên, vẫn còn 2 vấn đề lớn chưa được giải đáp thỏa đáng. Thứ nhất, nếu Formosa khẳng định nguyên nhân xả thải làm nhiễm độc biển là do lỗi của các nhà thầu phụ, thì các nhà thầu phụ này là ai? Chính phủ Việt Nam cần biết đích danh các nhà thầu phụ đó để có biện pháp xử lý thích đáng. Formosa nó là do sự cố chập điện, vậy chập điện là vô tình hay cố ý? Thứ hai, những cá nhân và tổ chức nào của Việt Nam có trách nhiệm trong vụ việc này vì đã buông lỏng quản lý, giảm sát, hoặc đưa ra nhiều “ưu đãi” vượt quá mức quy định cho Formosa, để họ gây ra thảm họa môi trường?
Chính phủ Việt Nam phải lập ra các tổ chức giám sát để theo dõi thực hiện những cam kết mà Formosa đã tuyên bố, như bồi thường thiệt hại kinh tế cho người dân, đảm bảo xử lý triệt để chất thải độc trước khi thải ra môi trường, phối hợp với các bộ ngành và các tỉnh miền Trung xây dựng các giải pháp đồng bộ, không để xảy ra sự cố môi trường tương tự.
Từ nay, những dự án lớn phải do chính phủ Trung ương quyết định, chứ không để cho chính quyền địa phương quyết định nữa. Phải điều hòa mục tiêu phát triển quốc gia để tránh tình trạng các địa phương đua nhau đầu tư phát triển bằng mọi giá, với những dự án chưa thẩm định kỹ, với các cán bộ yếu kém đưa ra những quyết định bất minh.
Tuy “mất bò mới lo làm chuồng”, nhưng vẫn phải điều chỉnh chính sách đầu tư. Không chấp nhận những dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Không nên tin vào lời hứa của các nhà đầu tư, mà coi nhẹ thẩm định dự án. Phải kiên quyết xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức nào sai phạm trong vụ Formosa, nhằm răn đe các trường hợp tương tự không để xảy ra nữa. Vì vậy, không thể để cho những cá nhân, tổ chức này vô can.
Lời cuối
Nhiều người ngạc nhiên tại sao Formosa lại liều lĩnh đến phi lý khi đầu tư 10 tỉ USD (sau tăng lên 28 tỷ) cho một dự án thép có công suât 7,5 triệu tấn/năm (sau tăng lên 22 triệu tấn). Điều này là cực kỳ rủi ro vì giá thép đã giảm 200%. Vậy lý do thực sự là gì? Người ta có lý do để nghi ngờ là China Steel mượn danh Formosa để chuyển dịch sản xuất thép từ quặng tới thép thô vốn là khâu tốn kém nhất và ô nhiễm nhất sang Việt Nam, để cắt giảm chi phí và để tránh ô nhiễm môi trường Đài Loan. Nhưng Formosa và China Steel không thể tự mình làm được điều đó nếu không có các quan chức tham nhũng Việt Nam vô cảm và vô minh.

Thảm họa môi trường do Formosa gây ra tại Miền Trung còn lớn hơn sự kiện Trung Quốc đem dàn khoan HD981 vào hải phận Việt Nam tại Biển Đông (5/2014), là một bước ngoặt gây khủng hoảng quan hệ Trung-Việt. Tuy sự kiện dàn khoan HD981 là một cú sốc lớn, nhưng nó không kéo dài và nguy hiểm bằng sự kiện cá chết do thảm họa môi trường. Formosa là một quả bom nổ chậm và là một tử huyệt đối với Việt Nam, cả về môi trường lẫn an ninh. Muốn vô hiệu hóa quả bom nổ chậm và tử huyệt này, phải “xoay trục” để thoát Trung và cải cách thể chế. Muốn khắc phục sai phạm dẫn đến thảm họa môi trường (và an ninh) thì việc chống tham nhũng và kiểm soát các nhóm lợi ích phải đi đôi với cải cách thể chế.  



NQD. 7/7/2016

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 7-7-16


......./.