ĐỐT PHÁO, TÂM LÝ TIÊU XÀI HOANG PHÍ VÀ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI





ĐỐT PHÁO, TÂM LÝ TIÊU XÀI HOANG PHÍ

VÀ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI

Tác Giả: Nguyễn Văn Trung & Đỗ Đức Thịnh

*************




Giới thiệu

Giáo sư Nguyễn Văn Trung là một nhà giáo và cũng là nhà nghiên cứu được nhiều người biết đến với khối lượng khá đồ sộ các công trình, tác phẩm có giá trị trong các lĩnh vực nghiên cứu về văn học và triết học. Năm 1993, trước khi rời khỏi đất nước đến Canada, ông có ủy thác cho tôi một số bài viết dưới dạng bản thảo, dặn để tùy nghi sử dụng và công bố khi có dịp thuận tiện. Từ đó đến nay, tôi không có dịp nào gặp lại ông, còn đống bản thảo kia thì vì nhiều lý do khác cũng có lúc bị tạm quên đi. Nay nhân dịp "Suối Nguồn" được tục bản, và đang chuẩn bị cho tập 3 - 4 nhằm vào dịp Tết Âm lịch sắp đến, soạn lại tập bản thảo thấy có bài “Đốt pháo” do ông viết chung với Đỗ Đức Thịnh, nên tôi thấy cũng là dịp thuận tiện để phổ biến bài nghiên cứu này. Trong bài có những nhận định, phân tích sâu sắc liên quan đến việc đốt pháo vốn là một tục lệ truyền thống rất lâu đời của dân tộc ta.
Ở Việt Nam, do hoàn cảnh thực tế xã hội, việc cấm đốt pháo đã được thực hiện từ năm 1995, nhưng như thế không đồng nghĩa là người Việt Nam chẳng còn tâm lý mê nghe tiếng pháo ngày Tết, nên có người dùng pháo thu băng thay cho pháo nổ... Bài viết đã được thực hiện từ năm 1988, trước giai đoạn cấm pháo khá lâu, nên có vài chi tiết nhỏ không còn phù hợp (những chi tiết này chỉ tập trung ở phần mở bài). Tuy nhiên, đứng về phương diện lâu dài, và nếu coi đây là một công trình khảo cứu về dân tục học thì nó vẫn còn có giá trị, gợi được cho chúng ta nhiều suy nghĩ tốt để có cơ sở giải quyết đúng đắn hơn một số vấn đề liên quan đến văn hóa, lối sống trong hiện tại.


Trần Văn Chánh

*************





Hàng năm theo thông lệ vào những ngày gần Tết thế nào cũng có những ý kiến lên tiếng kêu gọi hoặc thông báo những biện pháp hành chính nhằm hạn chế, ngăn cấm việc đốt pháo vì nhiều lý do và lý do thường được nại ra hơn cả là tránh lãng phí để tiết kiệm.
Không phải bây giờ mà ngay từ đầu thế kỷ, thời phong trào Duy Tân đã thấy giăng những lời khuyên tiết kiệm: “Tôi xin kể các món vô ích ấy ra cho các ông nghe: giấy bắc thảo, giấy tiền, vàng bạc là đồ đốt ra tro mà thôi, chớ ông bà nào mà lấy đâu, dẫu có lấy cũng không bận được. Còn pháo thì nổ lụp bụp ít tiếng rồi hết, lại bay thêm tàn cho cháy nhà cửa, đã một cái vô ích nhi hữu tốn, mà lại mất tiền cho chú chiệc nữa”[1].
Nhưng rồi pháo vẫn nổ, nhiều ít tùy năm, không phải vì những tác động của lời khuyên hay biện pháp hành chính nào mà do tình hình làm ăn phát đạt nhiều hay ít của mỗi người.
Trước một hiện tượng xã hội như vậy, thiết tưởng nên đi tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa của nó. Chúng tôi đề nghị ba hướng tìm hiểu, và nêu lên một số dữ kiện biết được để từ đó đặt giả thuyết giải thích.

1. TÂM LÝ TIÊU XÀI HOANG PHÍ VÀ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI

Đã từ lâu, tục ăn uống, chơi bời trong các dịp lễ, tết, hiếu hỉ thường phung phí không tiếc của. Tục ngữ và ca dao của ta có những câu:
Đi cày ba vụ không đủ ăn ba ngày Tết.
Hoặc:
Tháng Giêng là tháng ăn chơi…
Những câu trên biểu lộ một tâm lý tiêu xài hoang phí của người Việt Nam vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Tâm lý này không riêng gì Việt Nam mà các xã hội có nền kinh tế tiền tư bản đều có tâm lý tương tự. Vậy phải có những nguyên nhân chung. Xã hội nào cũng làm ra dư ít nhiều những gì cần thiết. Vấn đề đặt ra là sử dụng phần dư đó như thế nào? Trong lịch sử nhân loại có hai quan niệm kinh tế: một là của các xã hội cổ sơ hay tiền tư bản, hai là của các xã hội từ tư bản trở về sau. Ví dụ: cấy lúa trồng cây, chỉ cấy một mùa, làm một vụ. Hoa lợi thu hoạch được, sau khi chỉ dùng vào những nhu cầu sinh sống (ăn, mặc, ở), phần dư lại đem tiêu xài hết. Hoặc ngược lại: nghĩ cách cấy thêm một mùa thứ hai, trồng một thứ cây khác, đào thêm kinh rạch, mua phân bón, thuốc trừ sâu, nghĩa là dùng tiền dư để tích lũy, đầu tư tái sản xuất để tăng năng suất. Cách làm ăn thứ nhất, chỉ nghĩ đến năng suất trước mắt, không nghĩ đến tiết kiệm, đầu tư phát triển trong tương lai. Cách tiêu xài cũng phi kinh tế vì chỉ nghĩ làm sao tiêu cho hết phần dư thừa, đặc biệt bị chi phối bởi động cơ phô trương, bảo vệ thể diện cá nhân, gia đình, dòng họ, bộ tộc… qua nhữngcách cho, tặng, biếu, thách thức… và tặng biếu thách thức bắt buộc phải được đáp lại, chấp nhận để giữ thể diện… đó là hiện tượng Potlatch mà nhà xã hội học Pháp, Marxel Mauss, đã khám phá ra khi nghiên cứu những trao đổi giữa các xã hội cổ sơ - bất cứ việc gì cũng có thể là dịp, là cớ để khoa trương, nghĩa là thực hiện Poltatch: sinh con, cưới gả, lễ tết, hội hè, giao hiếu giữa các bộ tộc, làng xã…[2]
Có một bộ tộc ở Bắc Mỹ trưng bày những đồ dùng quý để trao đổi sau đó lại tiêu hủy đi. Theo Malinowki, trên quần đảo Trobiens, những người Mélanésiens đem tất cả những củ khoai mài (Ignames) to đẹp nhất để tặng nhau, sau khi đã long trọng triển lãm. Tóm lại, đồ dùng quý tặng phẩm phải tiêu hủy đi mới được tiếng là xài sang, còn đồ ăn thì để ăn. Do đó, Potlatch biểu lộ hình thức lãng phí quy định địa vị, tiếng tăm, vì không có địa vị tiếng tăm lớn nào mà không đòi hỏi sự khoa trương, thách thức và lãng phí. Theo Poirier ghi lại, ở Madagascar có tục dùng lửa hút thuốc đốt cháy giấy bạc 500 đồng. Ở Phi Châu rửa tay bằng sữa. Ở Ouganda nhà giàu phô trương sự giàu sang của mình bằng cách ngồi ngoài trời nắng để cho những tảng bơ dội trên đầu chảy đầy mình trước sự thán phục của đám đông!
Thời xưa, ở Việt Nam có hiện tượng Potlatch hay không cho đến nay chúng tôi chưa phát hiện được chứng tích nào. Nhưng tàn dư thì chắc có tục ăn Tết, ăn giỗ, ăn khao, ăn mừng… nhất là ở miền Nam được tổ chức một cách lãng phí nhiều khi vượt quá khả năng của đương sự, nhưng không thể không làm để gọi là “trả nợ miệng” có khi còn phải làm hơn, càng to càng hay để được tiếng (dù được tiếng khen ho hen chẳng còn) hoặc để giữ thể diện cho gia đình dòng họ…
Sách Đại Nam nhất thống chí ghi chép về phong tục của người dân Hà Nội: “Gặp những khi có việc tang, việc tế, thường làm rất xa xỉ, tranh nhau làm cỗto để khoe khoang. Bánh có cái bề mặt to đến một thước và mời hàng xóm tới ăn uống. Nếu rượu thịt không được đầy đủ có thể bị chê trách”[3].
Sách Gia Định thành thông chí, ghi chép về phong tục ở Gia Định: “Ngày Nguyên Đán bất kể kẻ quý tiện, người lớn nhỏ đều no say vui sướng chơi bời. Phong tục cầu đảo được việc vui mừng đều mở cuộc diện kỷ(hát xướng) như nhà tên Giáp sắp khởi cuộc hát xướng, giết heo phân tống cho mọi người quen biết, cho biết nhật kỳ mới đến xem hát chơi, gọi là phiên lễ, đến ngày tùy tình hậu bạc đem tiền lễ đến mừng coi hát, rồi ăn uống no say, rồi về. Sau người quen biết cũng mở trường hát, cũng dựa phiên lễ đến tên Giáp thì tên Giáp cũng phải đi, nhưng tên Ất trước đi mừng cho tên Giáp một quan tiền thì nay tên Giáp phải đi lại cho tên Ất gia bội lên hai quan. Sau tên Giáp có việc cũng mời, thì Ất qua phải gia lên ba quan, đi qua đi lại như thế gần đến trăm quan, đến nỗi người kia phải cầm thế vay mượn để trả phiên lễ ấy"[4].
Gần đây, những lối ăn chơi hoang phí của người miền Nam được Nguyễn Hiến Lê ghi lại: “Chủ điền trong này là ông vua nhỏ, cha kiếm để cho con phải khá, trước hồi kinh tế khủng hoảng các công tử Bạc Liêu (miền này hồi đó mới phát, lúa chất cao như núi, tiền nhiều như ốc) muốn khoe khoang với gái điếm lấy giấy xăng (cent piastres) cuốn thuốc hút chơi[5]... Người ta kiếm tiền như nước, người ta coi tiền như rác. Mấy năm ấy, dưới Lục tỉnh trúng mùa… cứ chiều thứ bảy, dân Lục tỉnh đem bạc nghìn lên chơi Sài Gòn… Những lối ăn chơi ‘dàng trời’ của công tử Bạc Liêu kể khôn xiết".
Sự tiêu xài hoang phí không chỉ thấy ở những kẻ nhiều tiền lắm bạc mà ngay cả giới công nhân, nhân dân lao động cũng không thiếu. Theo Vũ Xuân Tự kể lại: dân Sài Gòn mua cái mũ dạ Huckel. Đi làm đủ tiền một ngày rồi, thôi không thèm làm nữa. Cu li xe buổi trưa thường gác xe nằm xem báo, ai gọi cũng không đi[6].
Hiện nay, tâm lý tiêu xài hoang phí để khoa trương cũng vẫn còn khá phổ biến. Chúng tôi có nghe kể lại tại một xóm chài miền Duyên Hải, vào dịp Tết, có hai nhà thách nhau đốt pháo, thay phiên nhau nhà này đốt nhà kia đáp lại, cho đến bao giờ không còn pháo đốt nữa kể là thua. Thế là cả hai nhà đều cho người đi mua gom hết pháo trong xã, trong quận, rồi lên cả Sài Gòn… Dưới cái nhìn của nhà dân tộc học, sự kiện đốt pháo khoa trương thách thức kể trên được coi là sự tàn dư của hiện tượng Potlatch, tiêu biểu cho một tâm lý trái ngược với những đòi hỏi tiết kiệm, hợp lý hóa của nền kinh tế phát triển.
Sự khoa trương và lãng phí được diễn ra dưới mọi khía cạnh và trong mọi lĩnh vực: lãng phí tiền của, công sức lao động, thời gian và cả chất xám. Xây dựng một công trình không phù hợp hoặc vượt quá khả năng đời sống kinh tế xã hội trong lịch sử. Sự tiêu xài hoang phí không phải đơn giản chỉ là vấn đề tâm lý gắn liền với một hình thái kinh tế xã hội. Như vậy, vấn đề đặt ra phải chăng không hẳn chỉ là đấu tranh giữa hai con đường cùng chủ trương tiết kiệm hợp lý hóa vì sản xuất phát triển mà còn là đấu tranh giữa hai con đường đó với tàn dư của con đường kinh tế cổ sơ tiền tư bản.
Theo Bùi Tường Huân, chính các giá trị truyền thống của nền văn hóa xưa cũ là lực cản công cuộc phát triển kinh tế hay công nghiệp hóa theo kiểu tư bản không riêng gì ở Việt Nam mà còn cả các nước chậm phát triển trong vùng Đông Nam Á[7].


2. Ý NGHĨA VÀ CHỨC NĂNG CỦA MỘT PHONG TỤC PHỔ BIẾN LÂU ĐỜI

Đốt pháo là gây tiếng nổ lớn, liên tục và kéo dài. Nói một cách tổng quát có thể gây tiếng động dưới nhiều hình thức.
Bằng dụng cụ, đồ dùng: đốt pháo (pháo công, pháo lệnh), bắn súng, gõ chuông mõ, đánh trống, phách, chiêng, thanh la, não bạt, kéo nhị, đánh đàn, thổi kèn v.v.
Bằng tiếng người: la hò, hét, khóc, cười to tiếng.
Vấn đề đặt ra là những trường hợp nào thấy hay đúng hơn buộc phải gây tiếng động, ngược lại trong những trường hợp nào không được gây tiếng động. Và vì sao phải gây hay không được gây tiếng động như một điều cấm kỵ?
Vấn đề cũng đặt ra không phải chỉ cho Việt Nam mà cả cho các dân tộc ở các châu lục khác, không phải chỉ bây giờ mà từ thời xưa trong các phong tục lâu đời hiện nay còn được giữ hay đã được ghi lại qua các truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết…  
A. Trường hợp gây tiếng động
1. Tết
Tết là những ngày cúng, ngày lễ nhất định trong một năm. Chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, trong một năm Việt Nam cũng có ba cái Tết: tết Đoan ngọ (5 tháng 5 âm lịch), tết Trung thu (15 tháng 8 âm lịch) và tết Nguyên đán (1 tháng Giêng âm lịch). Ở đây chỉ xin đề cập hai Tết: Trung thu và Nguyên đán.
Tết Nguyên đán: được tổ chức long trọng và kéo dài hơn cả vì là ngày đầu của một năm. Đốt pháo trong những ngày Tết mà đặc biệt là đêm giao thừa, thời điểm phân chia giữa năm cũ và năm mới, pháo nổ nhất loạt và đều khắp. Thời xưa, trong đêm giao thừa còn có cả tục đánh trống nữa, tục ngữ có câu: Trống kêu ran như trống giao thừa[8] chẳng khác gì hồi trống Thôi Hoa của Cao Lực Sĩ thời Đường Minh Hoàng để giục giã cho hoa xuân mau nở.
Sách Gia Định thành thông chí có ghi chép: “Cũng như ở Trung Quốc, ngày đầu năm đốt pháo, treo bùa đảo… ngày mùng ba đưa thần gọi là đệ tiễn, lại có thứ pháo đồng, pháo thiết tiếng nổ vang rền rừng núi không dứt”[9].
Tết Trung thu: Tết Rằm tháng Tám, giữa mùa thu, là những ngày hội dành riêng cho giới trẻ (người lớn cũng tham dự). Đối với các dân tộc miền nhiệt đới nhất là Việt Nam, sinh hoạt văn hóa dân gian thường được diễn ra vào ban đêm dưới ánh trăng, đặc biệt vào những đêm trăng thu vằng vặc. Chúng tôi xin giới thiệu một thể loại cổ nhạc dân tộc: hát Trống quân, còn được gọi là hát Trống giăng hay hát Thưởng giăng (trăng) là Tình ca mùa thu. Thể loại dân ca nay đã có từ lâu đời. Tuy được gọi là trống nhưng thực ra là một loại "độc quyền thổ cầm" (cithare en terre), người ta đào một hố sâu khoảng 40 - 50 phân, đường kính cũng khoảng 40 - 50 phân, trên đặt một mâm đồng, hai bên hố đóng hai cọc, cách nhau khoảng vài ba thước, rồi giăng một sợi dây ngang qua, một cái chạc chống lên giữa mặt mâm đồng để làm căng dây đồng thời có tác dụng truyền âm xuống mặt mâm đồng. Mỗi khi đập hay gõ lên sợi dây, phát ra âm thanh như tiếng trống. Vì thế mới có câu ca dao:
Anh vỗ trống đất kêu vang
Em thổi sáo trúc nhịp nhàng với anh
Gọi là xanh lá điểm cành.[10]
Thể loại dân ca này, trong hào quang chiến thắng của Quang Trung Nguyễn Huệ được dân chúng hoàn chỉnh và phong phú hóa như ta thấy ngày nay.
Những đêm thu trăng thanh gió mát, từ trong nhà ngoài phố, và cả ngoài đồng nội, tiếng hát hòa lẫn với tiếng trống dâng lên đầy thinh không, mà đỉnh cao là đêm rằm tháng tám âm lịch. Phan Kế Bính kể lại: “Trẻ con tối hôm nay dắt nhau từng đoàn từng lũ, đám thì nhảy vò, đám thì kéo co, đám thì bắt cái hồ khoan, đám thì rước đèn, rước sư tử, trống thanh la đánh vang cả đường, tiếng reo hò, tiếng đùa ầm ĩ, lại nơi nọ hát trống quân, nơi kia hát trống quýt, tổng chi gọi là tết Trung thu thưởng nguyệt”[11].
2. Các dịp lễ mừng khác
Không phải chỉ trong dịp lễ Tết người ta mới đốt pháo, mà tiếng pháo còn hiện diện trong những phút giây quan trọng của đời người:
Đốt pháo trong lễ Thân nghinh còn gọi là lễ Nghinh hôn hay lễ Đón dâu hoặc Rước dâu[12].
Đốt pháo trong lễ Cất nóc hay lễ Thượng lương và trong lễ ăn mừng Tân gia[13].
Đốt pháo khi khai trương cửa hàng buôn bán[14].
Đốt pháo trong lễ Khao thượng thọ và lễ Vấn lão là bữa tiệc yến để thiết các cụ già[15] v.v.
3. Đám tang
Trong đám tang phải khóc lóc, kể lể, la gào to tiếng. Theo Toan Ánh trong Nếp cũ có ghi lại: “Sống dầu đèn, chết kèn trống”.
Câu tục ngữ này chứng tỏ trong đám tang phải có kèn trống. Kèn trống nổi lên trong lúc tế lễ cùng với phường bát âm nói điệu nam thương hoặc nam ai, đem sự bi thương cho đám tang và điều hòa mỗi động tác của tang chủ cũng như của người chấp sự.
Mỗi khi có người tới phúng viếng, con cháu khóc lên là có điệu kèn trống nổi theo như muốn cho hương hồn người chết biết có bạn bè thân thuộc tới viếng lễ. Và nhờ có kèn trống báo hiệu nên tang chủ hoặc con cháu khác của người chết nếu đang bị mắc bận mới biết có khách viếng để ra đáp lễ.
Thường thường kèn trống ngồi ở một nơi gần áo quan để mỗi khi có khách tới viếng là thấy ngay[16].
… Trong khi người chết còn quàn trong nhà, trước ngày đưa đám, con cháu thường thuê phường kèn trống và bát âm, cử cho mỗi người vài câu tang nhạc, nhất là kèn để khóc ông bà, cha mẹ. Những câu khóc riêng đều có tiền thưởng, bởi vậy tục thổi kèn này gọi là Thổi kèn giải”[17].
Theo Lê Văn Phát đã ghi lại tục lệ ở Nam Kỳ: trong đám tang có mướn phường tuồng để múa hát khi đi dọc đường, cả phu khênh quan tài cũng ca hát theo nhịp[18].
Toan Ánh kể lại: “Phường tuồng dẫn đường trị huyệt: Thường là năm người, bốn người đóng bốn vai thiên tướng trấn giữ bốn góc đông tây nam bắc và một người thứ năm đóng vai vị thần Hổ, đội mũ đầu cọp.
Thần Hổ và bốn thiên tướng đi đầu đám tang vừa đi vừa có những điệu bộ nhảy tiến và miệng e a hát. Thần hổ vừa vờn nhảy ma quỷ phải trốn chạy, còn các thiên tướng, mỗi điệu bộ đều là những bùa phép trấn an dọc đường, xua tà đuổi ác.
… Khi có phường tuồng trị huyệt, huyệt phải đào tam cấp, Thần hổ nhảy xuống lòng huyệt, thám thính tứ phía, có khi gầm thét, trong khi bốn vị thiên tướng múa, đọc chú và đi quanh huyệt”[19].
Đốt pháo trong ngày đưa đám hoặc cất đám, còn gọi là ngày Phát dẫn. Tục này hiện nay chỉ còn thấy ở người Trung Hoa. Người Việt trước kia cũng đốt pháo, không có pháo đốt tre khô để gây tiếng nổ lớn[20]. Hiện nay tục đốt pháo trong lúc đưa đám tang tuy còn ít người giữ, nhưng việc gây tiếng động lớn khi quan tài được khiêng ra khỏi nhà bằng cách đập mạnh cho bể tan cái siêu sắc thuốc (của người chết) hoặc cái dĩa, tô đốt dầu lạc (đậu phộng) để ở dưới quan tài thì vẫn còn khá phổ biến.
4. Giặc, cướp vào làng, hộ đê (vỡ đê), cháy nhà
Trước các sự biến này, người xưa thường thổi tù và, khua chiêng đánh trống báo động theo nhịp ngũ liên để động viên thôi thúc mọi người sặn sàng đối phó.
5. Lúc có nhật thực, nguyệt thực
Theo Charles Borri, một vị Thừa sai, đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe thời Trịnh - Nguyễn trong một cuốn kí: “Một tháng trước khi xảy ra nguyệt thực, nhật thực vua gởi văn đi các tỉnh báo cho biết để chuẩn bị đối phó. Ngày xảy ra hiện tượng, các quan văn võ, dân chúng đều tề tựu ở triều đình và đi đến một nơi có thiết lập bàn thờ (hương án). Khi xảy ra hiện tượng, vua lạy bốn lạy, rửa tay thắp hương, cầm dùi đánh ba tiếng trống. Sau đó, tất cả các trống khác đều được đánh lên và bắn súng trường (súng hỏa mai), súng thần công, còn dân chúng khua đập các thứ đồ dùng làm bếp cho đến khi hết nhật thực”[21].
6. Trong đời sống hằng ngày
* Ăn uống, hút thuốc
Đến như ăn uống và hút thuốc mà cũng gây tiếng động để cảm nhận hết được sự sảng khoái thì chỉ có các dân tộc Á Đông mà đặc biệt là Trung Hoa và Việt Nam mà thôi (mặc dù lễ giáo không cho phép). Còn gì thú vị bằng xuýt xoa ăn một trái ớt hiểm, hoặc húp một món thức ăn lỏng kêu xì xụp hay uống cạn một ly rượu kêu đánh chót một cái, hoặc húp một bát canh cua rau đay mùng tơi hay xơi quả cà pháo kêu dôm dốp, nhai rau ráu thì ngon tuyệt không gì bằng. Nhưng thế vẫn chưa đủ, còn phải đánh một điếu thuốc lào mà kêu ro ro bất tận như sấm động thì mới thật khoái tỉ. Ta có câu đố về việc hút thuốc lào "Lấy lửa ông táo, đốt đầu ông sư, sấm động ù ù, rồng bay phấp phới"[22].
* Chơi tổ tôm điếm
Có lẽ tổ tôm là một trò chơi phản ánh nhân sinh quan và vũ trụ quan Á Đông: Thuyết âm dương và ngũ hành - Vì cấu trúc của tổ tôm gồm các thành phần sau:
Bài nọc: biểu tượng cho nguyên lý dương.
Bài cái: biểu tượng cho nguyên lý âm.
Bài chân dài: biểu tượng cho Ngũ hành (trong đó có bài cái).
Sự hòa hợp giữa âm dương và Ngũ hành sinh biến hóa (sinh khoái). Phải chăng vì thế mà đánh tổ tôm rất thú vị !?
Ở đây không giới thiệu về cách chơi tổ tôm mà chúng tôi chỉ nói về việc gây tiếng động trong thể loại giải trí hào hứng này. Tổ tôm là loại bài lá xuất xứ từ Trung Quốc được du nhập vào Việt Nam từ lâu đời, nhưng phong cách đánh tổ tôm điếm thì hoàn toàn Việt Nam. Tổ tôm điếm thường được chơi trước sân đình hay trên một bãi đất trống. Người ta làm năm cái chòi (điếm) ở năm phía (ngũ phương) cách đều nhau, ở giữa (trung tâm) đặt một cái giá để cấm bài Nọc. Trên mỗi chòi được trang bị một cái trống để mỗi chân đánh tổ tôm dùng phát biểu khi chơi bài:
Đánh ba tiếng trống: bài đã lên xong, sẵn sàng chơi.
Đánh một tiếng trống: bài ăn được.
Đánh hai tiếng trống: bài ăn được nhưng còn suy nghĩ.
Đánh một tiếng vào tang trống: bài không ăn được hay không muốn ăn.
Đánh một hồi trống: bài ù, hay bài tới.
Linh hồn của cuộc chơi là anh Trung quân: người chạy bài, bốc nọc, có giọng tốt, giải ví von, ứng khẩu tài tình, xuất khẩu thành thơ… để mỗi khi chuyển bài từ cửa này sang cửa khác hay bốc nọc được quân bài nào, anh Trung quân sẽ ứng khẩu ngân nga lớn tiếng cho cả làng (những người chơi bài) cùng nghe. Ca dao có câu:
Tài trai biết đánh tổ tôm, 
Uống chè (trà) mạn hảo, ngân nôm Thúy Kiều.
Lúc sống thì đánh tổ tôm, đến khi chết, cỗ bài tổ tôm cũng còn theo người ta xuống mồ![23].
* Tại trường học
Carl Crow và Lê Văn Phát đều có những nhận xét giống nhau về các trường tiểu học ở Trung Hoa và Việt Nam: trẻ con học trong sự huyên náo, gắng sức đọc thật to khiến từ xa cũng biết ngay đó là lớp một học[24].
B. Trường hợp không gây tiếng động
1. Lúc lâm chung
Khi đau nặng gần chết, theo Lê Văn Phát ghi lại tục lệ ở Nam Kỳ: “Trong lúc đó, người ta không cho con nít lại gần và kiêng gây tiếng động để người đau tĩnh tâm”[25].
Đối với người miền Bắc, Toan Ánh đã ghi lại: “Người xưa, ai đau ốm đến lúc biết mình không thể sống được, hoặc người nhà nhận thấy người đau sắp đến lúc qua đời, thì phải cho người tới căn nhà chính tâm, đặt ngoảnh đầu về phương đông để được sinh khí.
Lúc đó con cháu phải yên tĩnh.
Người nhà sẽ hỏi người bịnh xem có dối dăng (trối trăng) gì không. Nếu người bệnh có nói điều gì, con cháu phải ghi lấy, và sau này sẽ cố tuân theo để vong hồn người khuất được ngậm cười nơi chín suối”[26].
2. Đám tang vào dịp lễ
Thời xưa, khi trong làng đang có hội hè, đại lễ thì “đám ma phải thực hiện trong im lặng, không được kèn trống, than khóc to tiếng”[27].
3. Nhà bếp
Dumoutie đã ghi lại những kiêng kỵ ở miền Bắc hồi đầu thế kỷ, liên quan đến nhà bếp, tác giả kể ra 12 điều kiêng kỵ không được vi phạm ở khu vực nhà bếp như: nói to tiếng, đi giậm chân, gây huyên náo vô cớ, để bát đĩa nồi niêu va chạm nhau, đổ vỡ, bổ củi bằng búa rìu v.v.  Đó là những kiêng kỵ nghiêm nhặt hơn cả trong số 12 điều kiêng kỵ[28].
4. Mùa dịch
Trong lúc đang xảy ra nạn dịch phải “kiêng đánh trống, hoặc đốt pháo”[29]. Nhưng trước khi xảy ra nạn địch thì lại phải gây tiếng động (đánh trống, đốt pháo…) để ngăn ngừa xua đuổi.

C. Ý nghĩa chức năng của việc gây hay kiêng tiếng động
Không phải chỉ ở Việt Nam hay Á Đông mới thấy những trường hợp phải kiêng gây tiếng động mà nhiều dân tộc khác ở châu Âu, châu Mĩ, châu Phi đều thấy có cả. Theo Claude Lévi Strauss cho biết có rất nhiều thần thoại của các sắc tộc dân châu Mỹ La tinh đều thấy những kiêng kỵ gây tiếng động ở nhà bếp. Còn tục phải gây tiếng động khi có hiện tượng nhật thực, nguyệt thực thì rất phổ biến, miền nào, dân tộc nào cũng thấy có: Trung Hoa, Ấn Độ, Mã Lai, châu Phi, châu Mĩ từ Canada đến Pérou, Âu Châu…
Về mặt xã hội, ở châu Âu cổ, có tục dân kéo đến nhà nào có đám cưới “bất chính” (lấy nhau không xứng đôi, hoặc có tai tiếng, ngang trái…) họ đập gõ om sòm các thứ nồi, xoong, chảo, chậu để phá đám (gọi là Charivari)[30].
Đó là một số trong muôn vàn sự kiện. Cho đến nay, theo chỗ chúng tôi biết, chưa thấy một tác giả Việt Nam nào giải thích những kiêng kỵ gây tiếng động, nhưng về gây tiếng động thì có nhiều. Theo Nhất Thanh cũng như đa số các tác giả viết về phong tục đều cho tiếng pháo trong ngày tết, ngày cưới là biểu hiện vui mừng[31]. Kim Định đi xa hơn, liên hệ tiếng pháo với tiếng sấm. Theo Đặng Văn Nhâm, kiến trúc nhà cửa Việt Nam, thường làm ba gian, hai chái (con số lẻ) và nhà hướng nam. Đàn ông con trai ở gian chái phía tây gọi là tây phòng, đàn bà con gái ở gian chái phía đông gọi là đông phòng (trái ngược với người Trung Hoa: nam đông phòng, nữ tây phòng và nhà hướng đông). Như vậy nơi ngủ của đàn bà ở phía đông nam cũng là nơi để thóc, hạt giống. Đông nam là cung quẻ Chấn (một quẻ trong bát quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài) mà Chấn có nghĩa là Sấm và động bụng khi mang thai. Vậy quẻ Chấn cũng báo tin sự sinh nở của lúa gạo vào mùa xuân. Tiếng sấm là điềm tốt, báo hiệu sắp mưa, vì thế người làm ruộng mong sấm như trẻ con mong mẹ chợ về. Cho nên tiếng sấm làm trào dâng hi vọng. Ban đầu chỉ biết dùng tre, luồng, nứa, mỗi khi cháy đến một đốt, phát ra tiếng nổ, sau mới biết đến dồn chất nổ vào ống tre, và cuối cùng, nghĩ ra cách nhồi thuốc nổ vào giấy thay ống tre[32].
Đúng là có tình cảm tích cực khi nghe tiếng pháo, nhưng nếu đốt pháo để biểu lộ niềm hi vọng, vui mừng, tại sao cũng đốt pháo trong đám tang, gây tiếng động để xua đuổi ôn dịch thần khí? Phải có lối giải thích khác vượt khỏi tình cảm vui buồn: Đánh trống, đốt pháo để xua đuổi tà ma. Theo sách Kinh Sở tuế thời ký: “Những tà thần ở trên núi thích nhập vào người để làm hại, gây tật bệnh, chết chóc, nhất là vào dịp tết, nên phải gây tiếng động để xua đuổi chúng đi”[33].
Đốt pháo trong đám tang còn biểu lộ quan niệm về sống, chết của người Việt. Vì người xưa thường nói: “Trẻ làm ma, già làm hội” hoặc “Sống gửi, thác về” (sinh ký, tử quy). Về cõi thọ, nơi không còn chết nữa. Quan niệm này được biểu lộ qua màu sắc của tang chế: màu trắng của khăn, áo tang tượng trưng cho sự hồn nhiên trong trắng và đối với người quá cố thì đã “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo”. Cỗ áo quan (hòm, hàng) còn được gọi là cỗ thọ hay cỗ hậu, được sơn son thiếp vàng, đầu áo quan có khắc chữ thọ, ngay cả hương án, nhà táng, và cỗ đòn (đòn rồng) để khiêng áo quan đều được sơn son thiếp vàng là những màu sắc chỉ về hỷ sự, sống động (khác hẳn với người Âu Mỹ, màu tang chế là màu đen buồn thảm và chết chóc). Thái độ của ông cha ta lúc về già cũng rất bình thản, nhiều người sắm sẵn cho mình cỗ hậu sự để trong nhà, cho làm sẵn cả sinh phần (kim tĩnh). Qua ngôn ngữ của Việt Nam chỉ về sự chết: hai năm mươi, cưỡi hạc quy tiên, qua đời, khuất núi… Và nhất là thời điểm chết lại được gọi là Sinh Thì, như vậy chết là thay đổi trạng thái từ hữu hạn (trăm năm) sang vô hạn (vĩnh hằng)…
Còn việc gây tiếng động (đánh chiêng, trống, đốt pháo…) để xua đuổi ôn dịch, tà thần, âm khí, rồi lại kiêng gây tiếng động khi đang xảy ra nạn dịch, thoạt nghe có vẻ mâu thuẫn. Theo Cadière ghi lại: “Vì dân không muốn để cho ôn dịch, tà thần biết mà làm hại thêm những nhà khác trong làng. Rồi khi trong làng đang có hội hè, đại lễ thì “đám tang phải được thực hiện trong im lặng, không được kèn trống than khóc to tiếng” vì nhà hiếu không muốn làm ảnh hưởng đến không khí mừng vui của tập thể. Thế là đã quá rõ: Vì tập thể, người xưa có hi sinh mọi sự kể cả tình cảm thiêng liêng nhất của cá nhân. Nếu có sống trong khung cảnh làng xã xưa với não trạng “sống dầu đèn, chết kèn trống” và “nghĩa tử là nghĩa tận” mà nhà hiếu phải “bấm bụng” tổ chức tang lễ trong thầm lặng thì mới thấy được cái nghĩa cả “mình vì mọi người” của cổ nhân chúng ta.
Có những nhà dân tộc học giải thích ý nghĩa, chức năng những cấm kỵ hay bó buộc như sau:
Người xưa tin vào vũ trụ là một thể thống nhất: trời đất liên hệ tác động lẫn nhau. Biến cố xảy ra trên trời có ảnh hưởng xấu tốt dưới đất. Trời đất vẫn xoay có quy luật theo một trật tự nhất định. Do đó, những gì xảy ra khác thường đều tạo nguy cơ làm rối trật tự: hạn hán, lụt lội, động đất, sao chổi, nguyệt thực, nhật thực, lấy vợ lấy chồng, đau ốm, xây nhà mới, dời chỗ ở v.v. đều là những cái khác thường. Do đó cần ấn định những điều phải làm, phải tránh bằng các nghi thức để phục hồi trật tự: đưa cái khác thường vào khuôn nếp bình thường[34].[35].[36]
Trong hướng trên, Claude Lévi Strauss giải thích những kiêng kỵ gây tiếng động ở nhà bếp là một cách dễ giữ sự kết hợp hài hòa cân xứng giữa mặt trời và trái đất. Trước khi khám phá ra lửa bếp, con người chỉ biết ăn sống, nên đồ ăn không để lâu được vì dễ bị ung thối. Hoặc dễ tiếp xúc trực tiếp với mặt trời thì lại bị khô cháy. Lửa bếp qua trung gian đồ dùng nấu bếp làm cho đồ ăn chín và do đó thực hiện được sự kết hợp hài hòa. Muốn được như vậy, người làm bếp phải tập trung chú ý, nếu nói chuyện, gây tiếng động tức là lơ đãng có thể làm hư việc nấu nướng. Hơn nữa, trước cảnh nhà tranh vách lá, phải chăng những kiêng kỵ nơi nhà bếp còn có ý nghĩa cảnh giác tối đa về rơm lửa (củi lửa) để tránh hỏa hoạn, và nhất là để bảo toàn hạnh phúc gia đình được trong ấm ngoài êm? Như ca dao có câu:
Chồng giận thì vợ bớt lời,
Cơm sôi nhỏ lửa, một đời không khê.
Trái lại, khi có biến cố bất thường xảy ra (kết hợp sai trái) phải gây tiếng động, càng lớn càng nhiều càng tốt dễ gây chú ý của tập thể nhằm ngăn chặn giảm bớt hậu quả tai hại của biến cố.
Nói cách khác, tất cả những biến cố thiên nhiên hay xã hội là những thay đổi khác thường hoặc định kỳ đã làm cho người xưa sợ hãi lo lắng, nhất là vì người không chủ động trước biến cố. Hơn nữa, biến cố không phải chỉ liên hệ đến cá nhân, gia đình như một việc tư riêng mà đến sự sống còn, số phận của cả thế hệ, làng xóm, dân tộc nữa.
Ngày nay sống ở thành thị hay ở thôn quê đã có điện, con người không còn thấy lo lắng, sợ hãi mỗi khi đêm xuống, nhưng ở thôn quê xưa, đặc biệt đêm 30 tết trời tối đen như mực, cả làng gây tiếng động, phải chăng là biểu lộ một phản ứng tự vệ tập thể, trước khi biểu lộ một niềm vui hi vọng sắp bước sang năm mới?[37]
Người xưa cho rằng biến cố xảy ra tiêu biểu cho hiện tượng vượt qua (passage) từ không sang có (sinh) hay từ có sang không (tử) hoặc từ trạng thái này sang trạng thái khác, đều có tà thần lợi dụng thời cơ thay đổi để làm hại con người, nên phải đặt toàn thể cộng đồng vào tình trạng báo động và đề ra những biện pháp đối phó có tính cách tập thể. Đối phó thường không hiệu nghiệm vì chưa nắm được lý do thực sự của thay đổi nhưng qua cách đối phó có tính chất tập thể, có thể nhận ra:

1. Ý nghĩa của những tập tục, kiêng kỵ: biểu lộ tính liên đới nhân loại, liên đới số phận tập thể.
2. Chức năng của những tập tục, kiêng kỵ:  bảo vệ sự sống của tập thể.

Tình liên đới nhân loại, đặc biệt đối với dân tộc Việt Nam, thông qua ngôn ngữ xưng hô thường sử dụng những danh từ thân thuộc (con, cháu, ông, bà, bác, cô, dì, cậu, mợ, anh, chị, em…) đã trở thành tình liên đới ruột thịt và tất nhiên ý thức về sự sống còn của tập thể lại càng được củng cố mạnh mẽ thêm.
Ngày nay chúng ta không còn tin vào tà ma, không khua chiêng, đánh trống mỗi khi có hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, nhưng có còn giữ được cảnh giác tập thể và ý thức về tình liên đới nhân loại trước những biến cố đe dọa sự sống còn của loài người như chiến tranh hạt nhân hay không?

3. Thích tiếng động, tâm lý dân tộc?
Đốt pháo hay gây tiếng động không phải chỉ do một tục lệ lâu đời, mà còn do tâm lý thích gây tiếng động. Không phải chỉ con nít mới thích đốt pháo mà cả người lớn, nhiều người đổ ra đường nghe xem, hoặc ngừng câu chuyện hay việc đang làm mà không nghĩ đến đó là một vi phạm quyền tự do của mình[38].
Đời sống hàng ngày của người Việt Nam, và nói chung của người Á Đông chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa đầy dẫy tiếng động mà đốt pháo chỉ là một trong muôn ngàn cách để biểu lộ. Carl Crow trong cuốn sách viết về đời sống hàng ngày của Trung Hoa là một "vương quốc pháo" hay là một "vương quốc của tiếng động náo nhiệt". Trẻ con học bài to tiếng ở nhà cũng như ở trường. Từ đàng xa đã nhận ra đó là những lớp học. Trong tiệm ăn, không nói đến tiệc, ngay cả chỉ có hai ba người cũng nói cười lớn tiếng, cả tiệm như cái chợ. Người nấu bếp, hầu bàn thay vì đi đến đâu nói nhỏ, lại la lên khi gọi bảo nhau. Trong nhà chơi đàn dịch, vặn radio, tivi thật to cả xóm đều nghe… Ngoài đường tiếng còi xe nổ, nhiều loại còn tháo bỏ bộ phận hãm thanh để được gọi là "xế nổ"; tiếng trống lân, tiếng loa phóng thanh từ các rạp hát, câu lạc bộ, trụ sở phường, tụ điểm văn nghệ công cộng… Gần đây Hồng Ba đã viết bài phóng sự giới thiệu cảnh im lặng trong nhà, ngoài đường của thành phố Paris[39]. Nếu đem so sánh với Sài Gòn thì quả thật hai nếp sống đô thị trái ngược nhau.
Carl Crow đã ghi lại nhận xét của một nhà xã hội học nổi tiếng: “Ở Trung Quốc, về mặt gây tiếng động, ai cũng công nhận quyền mỗi người được làm ồn đến mức tối đa, nhưng không nghĩ đến tôn trọng quyền được hưởng sự trầm lặng mà tập thể cho phép”[40]. Theo Carl Crow, sở dĩ các dân tộc Á Đông theo văn hóa Trung Hoa thích ồn ào vì họ là những dân tộc trẻ (có cái tâm “xích nhi” hồn nhiên, tươi mát mà đầy sức sống). Trẻ con ở đâu và vào thời nào cũng đều thích ồn ào. Chỉ người lớn, người già mới ít thích hay thôi hẳn thích ồn ào. Chúng tôi nghĩ rằng đến nếp sống thầm lặng của các đô thị Âu châu đúng là do văn minh kỹ thuật và pháp luật như Hồng Ba đã ghi nhận. Chỉ có văn hóa Tây phương mới có truyền thống pháp lý dựa trên sự tôn trọng những quyền của con người như một cá nhân. Nếu một vài cá nhân có quyền làm ồn thì quyền đó cũng bị giới hạn để tôn trọng quyền được im lặng của người khác, nhưng quan niệm cá nhân không dừng lại ở các quyền, mà còn liên hệ đến số phận của một cá nhân hiểu như là chính mình đảm nhận lấy một mình sự sống, sự chết, sự cứu rỗi của mình mà thôi, trước Thượng đế. Nếu không tin có Thượng đế thì cũng không thay đổi quan niệm trách nhiệm cá nhân về số phận cuộc đời mình. Do đó, mà đám tang ở Âu châu, dù là theo nghi lễ Thiên Chúa giáo hay không đều diễn ra trong thầm lặng, vì biến cố ở đây chỉ liên quan đến một cá nhân.
Trong xã hội Âu châu cổ, như ở phần trên chúng ta đã trình bày, quan niệm về nhân sinh và vũ trụ giữa Đông phương và Tây phương không khác nhau bao nhiêu (đại đồng và tiểu dị) ít ra qua những cách thế biểu lộ trước những tình trạng khác thường của thiên nhiên và xã hội như các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực và nhất là tục "charivari" của người châu Âu cổ. Quan niệm về cá nhân hay đúng hơn lịch sử đời sống tư riêng (histoire de la vie privée) của văn hóa Tây phương và nói chung của nền văn minh nhân loại ngày nay đã bắt nguồn từ Kitô giáo. Theo các tác giả Philippe Ariès và Georges Duby: Từ đầu thế kỷ thứ 5 (năm 417) Jean Gassien, vị sáng lập tu viện ở miền Nam nước Pháp (Marseille) là người khởi xướng phương pháp giáo dục tâm hồn bằng kinh nghiệm ở nước Pháp cổ (Gaule). Đến đầu thế kỷ thứ 9 (năm 817) dòng thánh Benoit de Nursie đã hoàn chỉnh và phổ biến phương pháp giáo dục này cho tất cả các tu viện, và dòng đã ảnh hưởng trên toàn thể cộng đồng Thiên Chúa giáo thời Trung cổ. Như vậy kể từ thế kỷ 5, Kitô giáo Tây phương đã dần dần hoàn thành một cuộc cách mạng tinh thần (cuộc cách mạng cơ bản). Đó là sự khám phá ra đời sống nội tâm (nội giới). Sự tập luyện này khởi dầu bằng kinh nghiệm, sự cô tịch và thinh lặng. Sự cầu nguyện, đọc và suy ngẫm kinh Thánh (lời Chúa) sẽ đưa con người tới cảnh cô lặng. Công cuộc chinh phục nội giới này không bỏ phế thế giới bên ngoài. Trái lại, nó là khởi điểm để dẫn đến sự nghiệp đổi mới bộ mặt thế giới. Bởi vì lý tưởng của các tu sĩ dòng thánh Benoit có thể tóm lược bằng công thức: “cầu nguyện là làm việc” (Ora et labora). Cầu nguyện trong cô lặng để làm việc có hiệu quả. Cầu nguyện và làm việc đều nhằm một mục đích hiến dâng: Cầu nguyện để hiến dâng cho Thiên Chúa, và vì Chúa đã nhập thể làm người nên làm việc để hiến dâng cho đời[41]. Hoàn toàn khác biệt với quan niệm của nền văn minh cổ La Mã đã coi việc lao động là một sự đau khổ. Sự đau khổ không có giá trị cứu rỗi vì phải diệt dục để hết đau khổ (Phật giáo), cũng như quan niệm về hưởng nhàn của người Á Đông “một chữ nhàn giá đáng muôn chung”. Các đạo giáo Đông phương như Phật và Lão, nhất là phái Thiền tông đã khám phá ra nội giới (tâm thức) rất sớm nhưng phải chăng vì  những quan niệm xuất thế, vô vi, tiêu dao, hưởng nhàn nên đã tỏ ra thiếu tích cực trong việc thúc đẩy sự nghiệp cách mạng khoa học kỹ thuật nhằm biến đổi thế giới và giải phóng con người khỏi sự nghèo nàn và lạc hậu?
Tuy nhiên, có thắc mắc tại sao người theo đạo Thiên Chúa ở Việt Nam lại không từ bỏ được tâm lý thích ồn ào ngay cả trong các nghi lễ phụng vụ? Điều này trái ngược với phong cách cầu nguyện suy ngẫm trong thinh lặng của tinh thần Kitô giáo. Tín đồ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam họ có thể cầu nguyện riêng lẻ với Thiên Chúa của mình trong thinh lặng mà không thông qua cộng đồng bằng những câu kinh tiếng hát tập thể. Đối với họ, cầu nguyện nhất thiết phải đọc kinh, như thể khẩu có niệm thì tâm mới suy được!
Trong đời sống gia đình xã hội, đám ma, đám cưới của các tín đồ Thiên Chúa giáo cũng đốt pháo, kèn trống rình rang đã đành, vì là con dân đất nước phải có “phép đời, phép đạo”. Nhưng có những nghi lễ phụng vụ chỉ thuần có tính cách “đạo” mà thôi thì cũng đã được Việt Nam hóa. Những cuộc rước sách tại các xứ đạo thường tập trung vào các tháng 5 và tháng 10 dương lịch để kính Đức Mẹ: rộn ràng tiếng kèn, trống, chiêng, phách và những lời kinh tiếng hát tưng bừng náo nhiệt chẳng khác gì những ngày hội mùa nhưng trang nghiêm hơn.
Nhất là vào “Tuần Thánh” trước lễ Phục sinh thì cái phong cách, tâm lý dân tộc được thể hiện một cách trọn vẹn trong các nghi lễ phụng vụ tại các xứ đạo (nhất là các xứ đạo Bùi Chu, Phát Diệm ở miền Bắc và Hố Nai, Gia Kiệm trong miền Nam). Ngay từ ngày đầu Tuần Thánh (nay chỉ còn ba ngày trước lễ Phục sinh) người ta tổ chức lễ Ngắm nhân tài (miền Nam gọi là ngày Lễ Đèn) suy ngẫm về 15 sự thương khó của Chúa Giêsu bằng lời than vãn theo thể điếu văn nghe rất bi ai thảm thiết. Người điều khiển cuộc lễ dùng phách để làm hiệu lệnh. Mọi tín đồ trong nhà thờ thầm thì theo dõi người đại diện. Đến chiều tối thứ năm Tuần Thánh trong nhà thờ các xứ đạo tổ chức nghi lễ Rửa Chân (diễn lại vở kịch Chúa rửa chân cho mười hai tông đồ) sau đó có chia bánh dày cho các người đóng vai mười hai tông đồ. Trong đêm thứ năm Tuần Thánh, có nơi còn tổ chức diễn lại tấm thảm kịch Giuda bán Chúa và quân Giuđêu (Do Thái) đi lùng bắt chúa Giêsu: cũng gậy gộc, giáo mác, chiêng, trống, thanh la, não bạt và những tiếng la ó ầm ĩ chẳng khác gì khung cảnh của Hèm là những nghi lễ gợi lại hành trang của các vị thần thành hoàng trong đời sống xã thôn Việt Nam[42].
Ngày thứ sáu Tuần Thánh (ngày Chúa chết) tín đồ Thiên Chúa giáo tại một số xứ đạo tổ chức đám tang lớn: mọi người đều chít khăn tang kêu khóc ồn ào “như ri vỡ tổ”. Năm nào vì hoàn cảnh không “mở lễ” được thì năm đó kém vui!
Chúng tôi nghĩ rằng sở dĩ tín đồ Thiên Chúa giáo Việt Nam chưa có những thái độ sống tôn giáo như đồng đạo ở Âu châu là vì đạo mới du nhập mới vài trăm năm, và nhất là đa số tín đồ là quần chúng bình dân. Và cũng chính nhờ đa số tín đồ là quần chúng bình dân nên mới có sắc thái đặc biệt Việt Nam.
Một vài dữ kiện và nhận định kể trên cho thấy vấn đề thích ồn ào hay không bắt nguồn từ những quan niệm văn hóa, ý thức hệ về xã hội, con người. Sự lựa chọn không nhất thiết là phải theo Tây phương nhưng cũng phải công nhận cuộc sống hiện nay ở đô thị như Sài Gòn thực quá ồn ào về mọi mặt… và do đó có thể tiến tới chỗ mọi người có thể chấp nhận được: Tôn trọng quyền được làm ồn, đồng thời cũng tôn trọng quyền được im lặng. Nói cách khác thích đốt pháo thì cứ đốt, nhưng phải có pháp luật, biện pháp ngăn cấm và nghiêm trị những vi phạm quyền của người không đốt pháo hay không thích đốt pháo.
Qua những trường hợp và giả thuyết kể trên, hướng tìm hiểu là làm sao nhận diện được ý nghĩa, chức năng của những phong tục lâu đời… từ đó xác định được cái gì là lệch lạc, lỗi thời, cái gì là cốt lõi, có ý nghĩa, giá trị đạo lý nên giữ lại.
Ngày nay, nhiều người phê bình phong tục xưa cũ theo lối nhìn duy lý phương Tây, hiểu theo nghĩa triết học Tây phương thế kỷ 19 (Rationalisme) mà nay bị coi là lỗi thời, chật hẹp, nên đã chỉ nhìn thấy cái ngớ ngẩn, mê tín dị đoan, phi lý trong các phong tục xưa mà không hiểu rằng chính lối phê bình của mình mới thật ngớ ngẩn, tỏ ra chẳng hiểu gì người xưa, như Phan Kế Bính đã viết trong Việt Nam phong tục:
“Ma quỷ đâu mà lại đốt pháo, đốt vàng… Tiễn ma bếp đã là chuyện hão huyền, mua cá làm ngựa mới lại nực cười thay!”.
Thực ra, người xưa đã gán cho thần bếp vai trò của lương tâm nên mới có tục cúng tế, thú tội, chuẩn bị hành trang cho thần bếp lên trời. Điều cốt yếu rút  ra được từ tục lệ thờ cúng ông Táo là niềm tin vào một thẩm quyền đạo đức. Bây giờ chúng ta nhận ra thẩm quyền đó chính là lương tâm con người. Do đó, người xưa chỉ khác chúng ta về cách biểu lộ diễn tả thẩm quyền đạo đức. Đáng lẽ nên phân biệt cái lý là bản chất, cốt lõi, vĩnh hằng và cái biểu hiện, tượng trưng là hiện tượng, dáng vẻ bên ngoài, thay đổi tùy nơi tùy thời của một phong tục, để giữ lại cái bản chất, thì thái độ duy lý chỉ nhìn thấy cái biểu tượng nên đã coi toàn bộ sự tích, tục lệ là nhảm nhí, đưa đến chỗ không tin thần linh và gạt bỏ luôn cả tục lệ. Điều đáng tiếc là không tin thần linh lại đưa đến chỗ cũng chẳng còn đếm xỉa gì đến lương tâm luân lý nữa!
                                                                                            



14.1.1988
NVT & ĐĐT

****************************************





[1]. Trần Thiện Dương, “Bài khuyên ăn tết”, Lục tỉnh tân văn số 12, ngày 30 - 03 - 1908, tr. 3.
[2]. Marcel Mauss, Essai sur le don, forme archaique de l’échange, Année Sociologique, Vol. II, 1923 - 1924. Tiếp nối Mauss đã có nhiều công trình minh chứng hiện tượng Potlatch. Xin kể vài tác phẩm đã tham khảo:
 -  Số đặc biệt tạp chí Arc, tưởng niệm M. Mauss (số 48, năm 1972).
 -  G. Bataille, La part maudite, Ed. de Minuit 1967.
 -  Ignacy Sachs, “La notion de surplus et son application aux économies primitives”, tạp chí L’Homme Revue d’AnthropologieJuillet Sept. 1966.
 -  P. Boudon, L’Essai sur I`Interpretation de la notion d`échange, L’Homme Av. Juin 1966.
[3]. Đại Nam nhất thống chí, bản dịch của Tổng bộ VHXH Saigon 1966 tr. 23: Nói về phong tục ăn Tết ở Hà Nội.
[4]. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa Saigon 1972: Nói về phong tục ngày Tết ăn chơi thách thức nhau ở Gia Định.
[5]. Nguyễn Hiến Lê,  Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Saigon 1972  tr. 116: Công tử Bạc Liêu.
[6]. Vũ Xuân Tự, Túi bạc Sài Gòn, Trung Bắc thư xã, Hà Nội 1942: Cách ăn chơi của người Saigon.
[7]. Bùi Tường Huân, “Ảnh hưởng các giá trị truyền thống và cơ cấu xã hội đối với mức sinh hoạt”, tạp chí Quê Hương số 13 Saigon, 1960, tr.  234 - 250.
[8]. Chương Đắc Long, Le Têt du Vietnam, Rites et Interdictions du Têt, France Asie số 68 Janv. 1952.
 -  Điển cố văn học, Nxb KHXH, Hà Nội, 1977: Trống Thôi Hoa, tr.  409 - 410.
[9]. Trịnh Hoài Đức, sđđ. tr. 9: Pháo đồng, pháo thiếc là một loại pháo lệnh bọc đồng hay thiếc, tiếng nổ rất lớn thường dùng để làm hiệu lệnh.
[10]. Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Tục ngữ phong dao, Nxb Mặc Lâm, 1967, trang 18.
[11]11. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục.
[12]. Toan Ánh, Nếp cũ, Nam Chí Tùng Thư, Sài Gòn, 1966  tr. 163, 165, 283, 285, 308, 312, 315.
[13]. Xem chú thích 12.
[14]. Xem chú thích 12.
[15]. Xem chú thích 12.
[16]. Xem chú thích 12.
[17]. Xem chú thích 12.
[18]. Lê Văn Phát, “La vie intime d’ un Annamite de Cochinchine et ses croyances vulgaires”, BSEI Année 1906 2è sem, No 52, tr. 138.
[19]. Toan Ánh, sđd, tr. 320 - 321.
[20]. Louis Chochod - Huế, La Mystériques, Paris Mercure de France 1943, tr. 123.
[21]. Charles Borri, “Relation de la Cochinchine”, Bull. des Amies du Vieux Huế, Juillet Dec. 1931, tr.  374.
[22]. Lâm Ngữ Đường, The Importance of Living  (Lạc thú ở đời ), Trình Xuyên dịch, Nxb Á Châu Sài Gòn, 1955 tr. 417. Đỗ Đức Thịnh, Thuốc lào trong tình tự dân tộc. Tiểu luận cao học khoa học nhân văn, ĐHVK Sài Gòn, trích đăng trong tạp chí Quần Chúng số 1, 2 Sài Gòn  1968 tr. 30 - 39 và 28 - 35.
[23]. Pierre Huard, Connaissace du Viet Nam. Toan Ánh, sđd. tr. 303 (Người ta thường bỏ theo vào áo quan một cổ bài tổ tôm cũ).
[24]. Lê Văn Phát, sđd, tr. 62. Carl Crow, Mes amis des Chinois dans leur vie quotidienne, Payot, Paris 1939, tr. 125.
[25]. Lê Văn Phát, sđd, tr. 108.
[26]. Toan Ánh, sđd., tr. 296.
[27]. Nghiêm Thẩm, Esquisse d’ une Etude sur les Interdits chez les Vietnamiens, Tủ sách Viện khảo cổ, Sài Gòn 1965, tr. 151.
[28]. G. Dumoutier, “Les Cultes Annamites”, Revue Indoch, số 15 tháng 4. 1905, tr. 461. Le Chochod cũng ghi lại kiêng cữ này ở vùng Huế (trang 146), sđd.
[29]. L. Cadière, “Sur quelques Faits religieux ou magiques observés pendant une épidemie de Choléra en Annam”, Anthropologie V. 1910, tr. 519 - 529. Hoặc trong Croyances et Pratiques religieuses des Vietnamiens Tome I Ecole fran. D’ Extr. Orient, Paris 1957, tr. 209.
[30]. Claude Lévi - Strauss, Mythologiques, Tập 1, Le Cru et le Cuit. Paris 1964, tr. 292 - 293.
[31]. Nhất Thanh, Đất lề quê thói, Cơ sở ấn loát Đường Sáng, Sài Gòn 1970, tr. 369.
[32]. Kim Định, Triết lý cái đình, Nguồn Sáng, Sài Gòn 1971, tr. 59 - 60. Đặng Văn Nhâm, “Kiến trúc nhà của Việt Nam”, Bách Khoa số 13, Sài Gòn 1957, tr. 24.
[33]. Pisier, “Variétés sur Le Tet, Indochine Heddomadaire Illustré”, số viết về Tết năm 1942. Tác giả nói là ghi theo lời người Việt Nam kể.
[34]. L. Chochod Sđd tr. 123.
[35]. C. Borri Sđd tr. 374.
[36]. Có thể xem J. Casaneuve, Sociologie du Rite, P.U.F. Paris 1971, đoạn giải thích những kiêng kỵ,  trang 108 - 111.
[37]. Claude Lévi - Strauss, sđd., tr. 299 - 300. Hoàng Trọng Miên,Việt Nam Văn học Toàn thư II -  Văn Hữu Á Châu xuất bản, 1959, trang 74. Vợ chồng hung thần Na Á chuyên gây tai ách cho người dân Việt -  Không có bùa phép nào trị nổi vợ chồng hung thần này ngoại trừ ánh sáng và tiếng động. Thừa lúc giao thời năm cũ và năm mới, các thần phù trợ dân gian phải về trời chầu Ngọc Hoàng, vợ chồng hung thần tha hồ tác oai tác quái. “Để trừ cái họa ông bà Na Á làm lộng trong mấy ngày Tết, người ta mới bày ra đốt pháo, thắp nhiều đèn trong nhà để xua đuổi hai hung thần sợ tiếng ồn và ánh sáng. Cho nên tối đêm 30 Tết, nhất là từ lúc giao thừa, mọi nhà đua nhau đốt pháo ầm ĩ… để xua đuổi vợ chồng hung thần…”.
[38]. Pháo nổ là chủ yếu để nghe và giá trị của nó là tiếng nổ to, ròn, liên tục, còn pháo bông chủ yếu lại để nhìn và giá trị là ở màu sắc và ánh sáng.
[39]. Hồng Ba, “Những nốt trầm trong cuộc sống phố phường Paris”, Sài Gòn Giải Phóng trang Chủ nhật 13.12.1987.
[40]. Carl Crow, sđd, tr. 123.
[41]. Philippe Ariès và Georges Duby, L`Histoire de la Vie privéetập I - II, Seuil xuất bản, tạp chí Lire trích đăng trong số báo 124 tháng 1 - 1986, tr. 57 - 59.
 -  Thánh Benoit du Nursie (480 - 547) sáng lập tu viện  Mont Cassin lập luật dòng Bénédictin, ảnh hưởng đến toàn thể cộng đồng Thiên Chúa giáo thời Trung cổ.
[42]. Đỗ Đức Thịnh, “Hiện tượng thành hoàng trong đời sống xã thôn Việt Nam”, tạp chí Quần Chúng số 3, 1968, tr. 20 - 28






........./.


CHIẾN BINH BÀN PHÍM







CHIẾN BINH BÀN PHÍM
Sự kiện sập mạng tại CHDCND Triều Tiên sau vụ hãng phim Sony bị hack cho thấy những gì từng được dự báo về chiến tranh “không gian số” không phải trò đùa. Nó đã xảy ra, đang xảy ra và chắc chắn sẽ xảy ra.
Năm 2006, một viên chức cấp cao Syria đến London. Ngày nọ, khi đương sự ra khỏi khách sạn, điệp viên Mossad lẻn vào phòng và cài “virus thành Troy” vào máy tính đối tượng để giám sát mọi liên lạc. Khi lục lạo các tập tin trong máy, Mossad phát hiện một bức ảnh độc: một người châu Á vận bộ đồ thể thao xanh dương đứng cạnh một gã Arab giữa sa mạc. Điều khiến “hết hồn” là đây: gã châu Á là Chon Chibu, một trong những chỉ huy của chương trình hạt nhân Bình Nhưỡng; người kia là Ibrahim Othman, giám đốc Ủy ban năng lượng hạt nhân Syria.
Bức ảnh, cùng tài liệu trong máy tính, cho thấy Bình Nhưỡng đang giúp Syria xây một nhà máy xử lý plutonium tại Al Kibar (điều tra của Cơ quan nguyên tử năng quốc tế sau đó xác nhận). Thế là Israel thực hiện Chiến dịch Phong lan. Sau nửa đêm ngày 6-9-2007, 7 chiến đấu cơ F-15I của Israel bay vào Syria. Mục tiêu bị dội bom tan nát. Hệ thống phòng không Syria im thin thít, không bắn trả, dù một phát. Syria thất bại không phải bởi hệ thống radar tê liệt mà bởi Israel đã thâm nhập hệ thống máy tính quân đội Syria và tải dữ liệu điều khiển vào, tạo ra ảnh giả trên màn hình, khiến lính radar Syria tưởng chẳng có chuyện gì xảy ra, thậm chí ngay khi máy bay địch quân bay sâu vào không phận.
Thuật lại chuyện trên, Popular Science (9-2014) cho biết thêm, hơn 100 quân đội thế giới đã thành lập bộ phận chuyên biệt về chiến tranh mạng (cyberwarfare). Khu phức hợp Fort Meade tại bang Maryland (tổng hành dinh của Cơ quan an ninh quốc gia Hoa Kỳ-NSA; và Bộ tư lệnh chiến tranh mạng-Cyber Command) có nhân sự đông hơn cả Ngũ Giác Đài. Tất cả bộ phận cyber quân đội thế giới đều thuộc nằm lòng chức năng “5D”: “destroy, deny, degrade, disrupt, deceive” (phá hủy, từ chối, làm suy giảm, gián đoạn, đánh lừa).
Năm 2012, trong bản đệ trình ngân sách quốc phòng Hoa Kỳ, từ “cyber” xuất hiện 12 lần; năm nay, nó xuất hiện 147 lần. “Lính bàn phím” ngày nay được đánh giá nguy hiểm không thua lính trận. Màn hình có sức công phá ghê hơn đại bác. Không như thời Thế chiến thứ hai, ngày nay người ta không chỉ đọc được mật mã vô tuyến mà còn điều khiển được cả thiết bị vô tuyến mà đối phương không hề biết. “Lính bàn phím” có thể phá hỏng hệ thống liên lạc chỉ huy, ngăn chặn lệnh tác chiến giữa bộ tư lệnh với sĩ quan hoặc giữa các đơn vị, làm nhiễu thông tin, tạo lệnh chỉ huy giả...
Hơn 100 hệ thống phòng thủ Mỹ, từ hàng không mẫu hạm đến tên lửa, đều dựa vào sự điều phối GPS (định vị toàn cầu). Nếu lọt vào được hệ thống này, đối phương có thể gây ra tổn thất cực kỳ nghiêm trọng. Năm 2010, một lỗi phần mềm đã phá gục 10.000 thiết bị nhận tín hiệu GPS quân sự Mỹ trong hơn hai tuần. Điều đó có nghĩa mọi thứ, từ xe tải quân sự đến chiến đấu cơ không người lái X-47 đều không thể xác định được vị trí chúng. Cyberwarfare có thể tạo ra lỗi phần mềm tương tự một cách chủ ý. Đầu năm nay, quân đội Ukraine tại Crimea đã bất ngờ bị cắt liên lạc với bộ chỉ huy khi quân Nga đưa quân vào. Bị cô lập, thiếu vũ khí và không biết nên làm gì, họ, cuối cùng, hạ súng đầu hàng! Tinh vi hơn, người ta có thể thay đổi lệnh chỉ huy, tạo báo cáo dỏm, khiến ảnh hưởng việc ra quyết định của bộ tư lệnh. Năm 2013, Lầu năm góc thực hiện một kịch bản trong đó người ta thâm nhập hệ thống máy tính đối phương. Thay vì phóng tên lửa tiêu diệt đội tàu chiến đối phương, họ cài loại virus tương tự Stuxnet (từng phá nát hệ thống máy tính hạt nhân Iran) để làm hỏng hệ thống điện khiến đội tàu trôi lờ đờ như những bóng ma bất lực.
Tháng 2-2013, báo cáo 60 trang của hãng an ninh mạng Mandiant (Mỹ) đã phanh phui Đơn vị 61398 trực thuộc quân đội Trung Quốc. Đơn vị 61398 làm việc trong một tòa nhà 12 tầng (xây năm 2007) tại đường Đại Đồng thuộc trấn Cao Kiều ở Phố Đông tân khu (Thượng Hải). Thành phần 61398 được tuyển mộ từ các trường đại học trong đó có Viện kỹ thuật Cáp Nhĩ Tân và Đại học khoa học công nghệ Chiết Giang… Sau báo cáo của Mandiant, tháng 4-2013, tổ chức nghiên cứu mạng Akamai cũng công bố báo cáo “Tình trạng internet” với kết luận, chỉ riêng quí tư 2012, 41% các vụ tấn công mạng trên thế giới đều xuất phát từ Trung Quốc – hơn gấp đôi 10 nước đứng đầu khác cộng lại!
Tháng 10-2009, tập đoàn Northrop Grumman từng thực hiện một báo cáo tỉ mỉ về cái gọi là “Võng điện nhất thể chiến” - “Integrated Network Electronic Warfare”), tức hình thái cuộc chiến trên mạng trong đó Trung Quốc hoạch định và tiến hành các chiến dịch thu thập tài liệu cũng như phá rối hệ thống quốc phòng Mỹ. Báo cáo cho biết giới “điệp viên mạng” Trung Quốc đã chôm chỉa các tài liệu kỹ thuật trị giá 40-50 tỉ USD/năm từ các tổ chức Mỹ. Trong một vụ năm 2007, “điệp viên mạng” Trung Quốc đã tiến hành chiến dịch do thám, rình mò và nhận biết được trương mục máy tính của nhân viên tại các công ty mục tiêu tại Mỹ. Một số trương mục máy tính thậm chí được “thăm” thường xuyên đến gần 150 lần! Từ đó, họ có thể đánh cắp mật mã công ty để mò vào hệ thống máy chủ chứa các tài liệu có mức độ nhạy cảm cao. Các nhóm “đặc nhiệm mạng” Trung Quốc còn “đục tường” thâm nhập vào mạng NIPRNet của Lầu năm góc (nơi chứa các thông tin nhạy cảm nhưng không thuộc loại tài liệu mật). Theo tướng William Lord, “Trung Quốc đã truy xuất từ 10-20 terabyte dữ liệu từ NIPRNet…
Chiến tranh mạng không phải là chuyện tương lai. Nó đã hình thành. Kết quả một cuộc chiến, ngay thời điểm này, có khi được quyết định từ con chuột và bàn phím. Chạy đua vũ trang ngày nay còn phải hiểu là xây dựng được đội ngũ cyberwarfare chuyên nghiệp chứ không phải chúi mũi vào việc sắm máy bay hay tàu ngầm.
Ảnh: PopSci


CÁC ĐỊA DANH MIỀN NAM



CÁC ĐỊA DANH MIỀN NAM
https://cadaotucnguvietnam.wordpress.com/2011/07/18/cac-d%E1%BB%8Ba-danh-mi%E1%BB%81n-nam/



Tác giả: Trần Nguơn Phiêu

Miền Nam Việt Nam là miền đất mới với lịch sử vài trăm năm so với đất Bắc “ngàn năm văn vật”. Các địa danh ở miền Bắc thường mang những tên Hán Việt như Thăng Long, Hà Nội, Lạng Sơn, Sơn Tây, Hòa Bình… Miền Trung có Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Bình Định… Miền Nam, nơi định cư của những người phải bỏ các xóm làng cũ từ miền ngoài vào khai quang để tìm cơ hội mới lập nghiệp, nên các địa danh do họ đặt tên có nhiều đặc thù, khác với các địa danh Trung Bắc.
Người Việt vào Nam khẩn hoang vẫn mang theo mình nền văn minh lúa nước nhiều đời của dân tộc. Tuy đất ở miền Nam vào thời bấy giờ còn rất hoang vu nhưng họ đã thấy đây là một vùng có tiềm năng trong tương lai về nông nghiệp, một “địa cuộc” tốt (“địa cuộc”, danh từ do Trịnh Hoài Đức viết đầu tiên trong Gia Định thành Thông chí).
Làng mạc lúc đầu thường được bố trí sao cho thích hợp với việc làm ruộng nước. Nghề làm ruộng là một việc chăm lo lúa không kể ngày đêm, giờ giấc. Vì thế nên nhà không thể cất xa thửa ruộng và cần phải có nước uống cho gia đình. Nơi tiện lợi nhất để chọn nơi cất nhà phải là nơi tương đối cao ráo. Giồng là những nơi đất cao được ưa chuộng để lập xóm làng. Nơi đây khi đào giếng lại có được nước ngọt để sinh sống. Nhìn trên bản đồ, giồng ở miền Nam là những lằn song song, hết giồng tới nước, dọc theo sông Tiền và sông Hậu. Địa danh các nơi đây đã được lưu truyền qua nhiều đời như Giồng ông Tố gần Sài Gòn, đất Ba Giồng trù phú miền Mỹ Tho, giồng Càng Long, giồng Cầu Kè, giồng Cầu Ngang, giồng Tiểu Cần, giồng Chùa Chim ở Trà Vinh, giồng Vũng Liêm, giồng Trôm ở Bến Tre, giồng Riềng ở Rạch Giá…
Vùng đất cao, nhỏ hơn giồng được gọi là gò, cũng được ưa chọn làm nơi cư ngụ như Gò Vấp gần Sài Gòn, gò Bắc Chiên trên con đường Sài Gòn lên Nam Vang, gò Đen vùng Tân An quê hương của nhà cách mạng Nguyễn Văn Tạo, gò Dưa gần Thủ Đức, gò Lũy hay gò Lữ vùng Cai Lậy, Gò Dầu Hạ gần Tây Ninh, Gò Quao, Gò Công…
Việc trao đổi hàng hóa, mua bán phẩm vật ở các nơi đông dân cư đưa đến hình thành các chợ. Sài Gòn được biết ngày xưa với danh xưng Chợ Bến Thành. Địa danh Sài Gòn có nhiều giả thuyết. Có thể do phiên âm của tiếng Prei-kor(rừng cây bông gòn) hoặc của tiếng Prei-Nokor(đô lâm hay hoàng lâm) vì đây có tư dinh của Phó vương Cao Miên. Một giả thuyết khác là năm 1778, người Minh hương còn sống sót sau khi quân Nguyễn Huệ tàn sát dân Cù lao Phố ở Biên Hòa họ phải rút về đây sống dọc kinh Tàu Hủ. Để ngăn nước họ đã xây bờ gạch cao dọc kinh. Bờ gạch này được họ gọi là Thày-ngòn (Đê ngạn). Người Pháp phiên âm ra Sài Gòn. Thêm một thuyết nữa là Sài Gòn có thể do phiên âm của Tây cống, nơi nhận cống lễ của các đời vua Cao Miên dâng cho vua Việt Nam. Khít bên Sài Gòn là Chợ Lớn với các tiệm buôn của người Hoa, Chợ Cũ Sài Gòn, Chợ Quán, Chợ Cầu Ông Lãnh, Chợ Rẫy, Chợ Bà Chiểu Gia Định, Chợ Bà Điểm, Chợ Bà Hom, Chợ Bà Quẹo..; Chợ Lách ở Vĩnh Long. Chợ Đệm ở Tân An quê của “hung thần” Nguyễn Văn Trấn người đã theo lịnh Trần Văn Giàu thủ tiêu bao nhà ái quốc miền Nam, Chợ ông Văn, Chợ Gạo ở Mỹ Tho nơi các ghe lúa từ Lục Tỉnh tập trung xay ra gạo để đưa vào Chợ Lớn- Sài Gòn; Chợ Dinh gần Nha Mân…
Đồng bằng sông Cửu Long là nơi sông rạch chằng chịch nên các bến là nơi quan trọng để ghe thuyền có nơi thuận tiện trao đổi hàng hóa. Bến Nghé có thể là bến lớn đầu tiên trong Nam vì dân cố cựu vẫn gọi Bến Nghé là tên cũ của Sài Gòn. Ngoài ra còn bao nhiêu bến như Bến Tre hoặc Bến Tranh, Bến Lức ở Mỹ Tho. Thủ Dầu Một có Bến Cỏ. Biên Hòa có Bến Cá vùng Tân Triều, nơi sản xuất bưởi ổi danh tiếng, Bến Gỗ thuộc Biên Hòa quê hương của cố Trung tướng Đỗ Cao Trí…
Một danh từ khác đặc biệt ở miền Nam là nơi các cửa sông rạch đổ ra các sông lớn hay sông cái, tên rạch thường mang chữ “cái” đứng đầu. Việc này có thể do chữ “ngã cái”, tức ngã đổ ra sông cái. Vì được gọi tắt nên gọn lại chỉ còn chữ cái?. Các nơi nổi tiếng gồm có: Cái Bè tỉnh Mỹ Tho với loại cam Cái Bè lớn và ngon thơm, Cái Mơn với cây trái nổi tiếng, Cái Nhum với Nhà Dòng Cái Nhum nơi đào tạo các thầy giảng Thiên Chúa Giáo, Cái Nước ở Cà Mau, Cái Môn nơi đồn binh của Quản Trần Văn Thành án ngữ căn cứ chống Pháp ở Láng Linh, Cái Cối, Cái Lớn ở Rạch Giá, Cái Dầu thuộc Châu Đốc. Cái Sắn là vùng dinh điền rộng lớn miệt Rạch Giá. Cái Vồn thuộc Cần Thơ đã nổi tiếng một thời khi Tướng Hòa Hảo Năm Lửa đặt bản doanh nơi đây. Cái Tàu là con sông nối với sông Ông Đốc của Cà Mau. Vùng đất giữa hai con sông Cái Tàu và sông Ông Đốc cùng với bờ biển Vịnh Thái lan tạo một thể hình tam giác tức vùng U Minh Hạ. Cái Tàu Thượng, Cái Tàu Hạ giữa Mỹ Thuận và Sa Đéc là hai con rạch khác với sông Cái Tàu ở Cà Mau. Riêng Cái Răng ở Cần Thơ là do từ tiếng Miên “kran”, loại lò nấu củi nắn bằng đất sét. Người Việt phát âm từ karan biến ra Cái Răng. Nơi đây người Thổ chuyên làm loại “cà ràng ông Táo” ở Xà Tón Tri Tôn chở ghe theo Sông Cái đến đậu nơi này để bán.
Giao thông đường thủy còn có các rạch nhỏ. Đây là đặc điểm của miền Hậu Giang. Rạch đưa nước từ các sông cái vào các ruộng lúa. Nước rạch chảy theo thủy triều chớ không chảy theo độ nghiêng của đất: nước lớn thì chảy từ sông cái vào ruộng, nước ròng thì từ ngọn rút ra sông. Từ Thốt Nốt lên chợ Long Xuyên trên khoảng đường 19 cây số có thể đếm đến 30 con rạch cắt ngang bờ sông Hậu! Tên các rạch thì nhiều vô số kể. Thường chỉ có người địa phương mới biết chắc các vị trí ngoại trừ các rạch danh tiếng trong lịch sử như Rạch Gầm là nơi Nguyễn Huệ đã tiêu diệt các hải thuyền của quân Xiêm. Tên rạch thường lấy tên các thảo mộc mọc theo rạch như Rạch Chanh, có khi còn được gọi là kinh Bà Bèo (Nơi đây toàn là bàu và bèo, dân chúng nói nhanh nên sau thành “bà bèo”. Thật ra theo các nghiên cứu, không có bà nào tên Bèo ở nơi này). Rạch Chanh còn có tên chữ nho là Đăng Giang với sự tích Nguyễn Ánh trên đường bị quân Nguyễn Huệ đuổi bắt phải cởi lưng trâu vượt rạch vì nơi đây ngày xưa đầy cá sấu. Đời sau lại đặt truyền thuyết “vua nhờ cá sấu đưa qua sông” và đặt lò sứ bên Trung Hoa làm những bộ chén trà “Ngư Gia độ Hoàng Gia, Âm tinh ngộ đế tinh”! Rạch Chiết nối sông Đồng Nai qua sông Sài Gòn. Rạch Choại vùng Biên Hòa(choại là một loại mây dùng bện sáo). Rạch Lá vùng Gò Công, rạch Thốt Nốt vùng Thất Sơn, rạch Xoài Mút vùng Mỹ Tho, Rạch Giá tên dân giả của tỉnh Kiên Giang( giá là một loại cây tràm, bông trắng, ong hút mật làm ra loại sáp rất trắng. Loại sáp này ngày xưa phải nạp ra Huế gọi là “thuế bạch lạp”). Rạch Dừa ở Hà Tiên. Rạch Gỗ Đền vùng An Giang. Ngoài việc đặt tên rạch theo các loại cây, rạch nhiều khi được đặt tên theo các cơ cấu đất đai hay theo tên các nhân vật được biết tiếng. Đó là trường hợp như Rạch Sỏi ở Rạch Giá, Rạch Cát vùng Chợ Đệm nhưng tên rạch cát cũng còn thấy ở nhiều nơi như Rạch Cát ở Biên Hòa. Vùng Kiến Phong có con rạch tên ngộ nghĩnh là rạch Cái Thia. Biên Hòa có Rạch Lá Buông, Rạch Ông Lớn, Rạch Ông Nhỏ (chảy từ rạch Ông Lớn vô Chợ Lớn), Rạch Nước Lộn trổ ra vàm sông lớn Mô Xoài. Mỹ Tho có rạch Ông Hổ nơi chôn tổ tiên của Tả quân Lê Văn Duyệt. Vùng Mộc Hóa còn có con kinh tên Kinh Ông Lớn nối liền kinh Lagrange ra sông Vàm Cỏ Tây. Ông Lớn đây là Thiên hộ Dương anh hùng kháng Pháp. Rạch Thị Nghè ở Sài Gòn thời trước được gọi Rạch Bà Nghè. Bà tên Nguyễn Thị Khánh con của Thống xuất Nguyễn Cữu Vân. Bà đẹp duyên với một ông Nghè ở Thạnh Mỹ tây thuộc mé bên kia rạch. Ông Nghè mỗi ngày phải lấy đò qua rạch nên bà ra công xây cầu cho ông đi làm việc. Cầu được gọi là cầu Bà Nghè, con rạch cũng được dân chúng gọi là rạch Bà Nghè. Người Pháp sau đặt tên là Thị Nghè. Có lẽ vì kị không dám kêu tên nên dân chỉ dùng chức tước. Trong thành phố Sa Đéc có rạch Ông Nhiêu là một chức quan. Vị này là cố của vợ tác giả bài viết này. Vì đất ở đây bị sụp lở từ Sông Tiền vào nên nay rạch Ông Nhiêu đã biến mất. Ở bờ phía Nam của sông Tiền tỉnh lỵ Sa Đéc có sông Sa Đéc với các rạch tên rất “Nam Kỳ” như rạch Nàng Hai, ngã ba Nước Xoáy, chợ Cồn, rạch Đất Sét… Một trong những sông quan trọng miền Cà Mau có tên Sông Ông Đốc, có thể là một chức tước thay vì là tên họ? Hai con rạch khác tỉnh Kiến Phong ở tả ngạn sông Tiền là Đốc Vàng Thượng và Đốc Vàng Hạ. Đốc binh Vàng và chưởng binh Lễ đã toàn thắng liên quân Xiêm-Cao Miên ở Cù Hu năm 1837 nhưng cả hai đều tử trận! Đốc Vàng Hạ là nơi Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đã bị Việt Minh ám hại năm 1946.
Nói về sông rạch phải kể đến vàm. Miền nam có Vàm Cỏ là sông lớn chảy từ cửa Soài Rạp đến chợ Xà bang mới chia thành hai nhánh Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Hà Tiên có Vàm Cậu. Long Xuyên có Vàm Cống. Ngọn rạch từ giữa rừng Sác ra sông Soài Rạp mang tên Vàm Sác. Vàm Nao là con sông ăn thông từ sông Tiền qua sông Hậu giữa Long Xuyên và Châu Đốc. Đây là nơi năm 1787, Nguyễn Ánh hội binh các Trấn để đánh Tây Sơn.
Sông Cửu Long là một sông dài trên 4000 cây số bắt nguồn từ Tây Tạng. Đến miền Nam sông Cửu Long chia làm hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, trước khi đổ ra biển qua chín cửa. Bắt đầu là Cửa Tiểu là cửa thứ nhất kể từø Sài Gòn kể xuống. Đây là nhánh thứ nhất chảy ngang thành phố Mỹ Tho rồi đổ ra Nam Hải. Nhánh thứ hai sông Tiền đổ ra Cửa Đại. Các nhánh sông Tiền khác đổ ra biển gồm có cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Ba Lai, cửa Cung Hầu (còn được gọi tên khác là cửa Cồn Ngao). Sông Hậu đổ ra Nam Hải bằng cửa Ba Thắc cạnh cù lao Dung, ở giữa hai bên là cửa Tranh Đề (còn có tên là Trấn Di) và cửa Định An. Ngoài chín cửa của sông Cửu Long còn các cửa khác như cửa Bãi Ngao hướng nam tỉnh Vĩnh Long. Thượng Tân Thị có bài thơ:
Đứng ngó quanh về phía Bãi Ngao,
Một trời, một biển, một cù lao…
Về phía Tây Nam lối 100 dặm có cửa Gành Hào là một nơi có nhiều thổ sản như mật ong, sáp trắng…và thủy sản cá cua rất dồi dào. Rạch Gành Hào là con sông hợp lưu với sông Ông Đốc chảy ngang Cà Mau để trổ ra Nam Hải. Cà Mau còn có Cửa Lớn một con sông bắt nguồn ở Đầm Dơi chảy ngang Năm Căn rồi đổ ra Nam Hải ở vàm Cửa Lớn. Một sông trùng tên Cửa Lớn khác của Cà Mau là con sông nối liền sông Bảy Háp và sông Tràm Chim và đổ ra eo biển Cà Mau. Vùng Cà Mau còn cửa Bồ Đề chảy ra Nam Hải và cửa Ông Đốc chảy ra Vịnh Thái Lan. Sông Ông Đốc trong lòng Cà Mau chia thành hai nhánh: một chảy ngược nối với rạch Cái Tàu đổ ra Vịnh Thái Lan, nhánh kia nối với sông Gành Hào chảy ra Nam Hải. Cửa Bồ Đề và cửa Ông Đốc là nơi các ghe, tàu từ Bắc Việt đổ bộ vũ khí, đạn dược để tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Các tàu này từ hải phận quốc tế chờ lúc thuận tiện, tránh né tàu tuần Hải Quân miền Nam để lén lút đổ bộ quân dụng. Vòng lên phía Bắc vịnh Thái Lan còn có cửa quan trọng khác là cửa biển Rạch Giá.
Ở miền Nam, ngoài các sông rạch phụ thuộc sông Cửu Long còn phải kể thêm các sông khác như sông Đồng Nai ở miền Đông. Đây là một sông lớn bắt nguồn từ Đồng Nai thượng với hai phụ lưu: sông Bé và sông La Ngà. Nước sông Đồng Nai vốn có tiếng là nước trong và ngọt (“Gạo Ba Thắt, nước Đồng Nai”). Vùng Biên Hòa, về hạ lưu sông Phước, hai sông Đông Giang và Tây Giang bị cù lao Cái Tắt chia hai. Đến chỗ hai sông này nhập lại, ông bà ngày xưa đặt cho cái tên ngộ nghĩnh là sông Chàng Hãng, tên chữ là Lan Vu Giang.
Giao thông đường thủy miền Nam do các sông rạch thiên nhiên còn được bổ túc với bao nhiêu kinh đào. Nhiều kinh đã được đào từ thời người Chân Lạp nhưng đã bị lấp cạn phần nào. Thời thuộc địa Pháp, với phương tiện cơ giới nên rất nhiều kinh đã được hoàn thành để nối các sông rạch cho thuận tiện ghe thuyền di chuyển và cũng để tháo nước phèn để thêm đất canh tác. Có một con kinh được Pháp đặt tên Kinh 4 bis (Kinh số 4 phụ), được dân chúng phiên âm thành Kinh Cát Bích hoặc Cát Bít! Tổng thống Ngô Đình Diệm đã có công hoàn thành con kinh quan trọng ở Đồng Tháp là kinh Đồng Tiến. Thời nhà Nguyễn phải kể đến việc đào thành công con kinh chiến lược nối liền đường nước từ Châu Đốc ra cửa biển Hà Tiên. Phải mất 5 năm, từ 1819 đến 1824 mới đào xong. Ngoài việc giúp tiện lợi giao thông, con kinh còn để phân định biên giới giữa Việt Nam và Cam Bốt. Vua Minh mạng đã ban cho tên kinh là kinh Vĩnh Tế, tên của vợ công thần Thoại Ngọc Hầu.
Vì có nhiều sông ngòi nên một đặc điểm khác của miền Nam là có vô số cù lao và cồn trên sông. Các cù lao loại lớn bắt đầu từ miền Đông có Cù Lao Phố ở Biên Hòa. Đây là một cù lao trù phú danh tiếng chẳng những ở Việt Nam mà cả ở Đông Nam Á thời đàng cựu. Ghe tàu ngoại quốc tấp nập đến đây trao đổi hàng hóa. Trần Thượng Xuyên, Tổng binh tỉnh Quảng Đông thời nhà Minh vì không thuần phục nhà Thanh nên đã dùng 50 chiến thuyền cùng bộ hạ và gia đình đến xin được tá túc với chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Tần (Hiền Vương) cho họ vào đây lập nghiệp. Trần Thượng Xuyên lá người đã có tài và công xây dựng được trung tâm thương mại quan trọng này. Trong thời tranh chấp Nguyễn Ánh- Nguyễn Huệ, quân Nguyễn Huệ đã tàn sát cư dân ở đây, khiến những người sống sót phải di dân về thành lập khu Chợ Lớn phồn thịnh ngày nay. Trên các sông Tiền và sông Hậu, cù lao hay được nhắc tên là cù lao Giêng ở Long Xuyên. Nơi đây có cô nhi viện lâu đời do các dì phước phụ trách. Cù lao Đại Châu gồm có 5 làng là cù lao giữa cửa Tiểu và cửa Đại, còn có tên gọi là Trấn Hải Châu. Một cù lao lớn thuộc Sóc Trăng dài trên 35 dặm trên sông Hậu là cù lao Dung. Cù lao Minh giữa Cổ Chiên và Hàm Luông (Bến Tre), cù lao Năm Thôn là một trong vài cù lao lớn miền Lục Tỉnh. Các cù lao lớn nhỏ khác kể ra không siết. Tưởng chỉ nên kể thêm một cù lao đặc biệt trấn giữ mặt trước cho châu thành Mỹ Tho: đó là cù lao Rồng. Nơi đây trước kia là chỗ an trí các người mắc phải bịnh cùi. Miền Hậu Giang, nói đến cù lao phải kể đến cù lao Ông Chưởng, nơi Chưởng binh Nguyễn Hữu Cảnh bị bịnh nặng phải bỏ mình sau khi chiến thắng quân Chân Lạp của Nặc Thu năm 1699. Câu hát đưa em ở miền Nam đã đi vào văn hóa bình dân:
Bao phen quạ nói với diều:
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm.
Trên mặt biển các cù lao thường được gọi là hòn. Lớn nhất và có tiềm năng kinh tế rất quan trọng là hòn Phú Quốc, rộng 200 dặm từ Đông đến Tây. Ngoài việc sản xuất các thổ sản như tiêu, dừa… Phú Quốc còn được biết trên toàn quốc với loại nước mắm hòn thơm diệu. Vùng Hà Tiên còn có các hòn Dầu Rái, hòn Chông nơi có động gọi chùa Hang. Trong Chùa Hang có hai tượng Phật tạc từ thế kỷ thứ XIV. Từ hòn Chông trông ra biển còn có hòn Phụ Tử. Ngay cửa biển Rạch Giá có Hòn Tre châu vi 20 dặm. Ngang vàm sông Ông Đốc ngoài vịnh Thái Lan có hòn Đá Bạc, rộng độ một cây số vuông. Nơi hòn này Việt Minh đã xử tử nhà ái quốc Hồ Văn Ngà. Trước khi chết ông Ngà đã nói với phía Cộng Sản:
Giết thì cứ giết nhưng đừng kêu qua là Việt gian
Phía tây cách Mũi Cà Mau độ 10 cây số có Hòn Khoai (Poulo Obi). Nơi đây có một ngọn hải đăng và đặc biệt lại có nguồn nước ngọt. Các ghe từ Cà Mau thường ra đây để lấy nước chở về tiếp tế cho dân chúng. Ngoài khơi tỉnh Rạch Giá có hòn Sơn Rái (Tamassou) và quần đảo Cổ Tròn (Poulo Dama) là hai nơi các tàu tuần duyên Hải Quân thường ghé khi thủy thủ đoàn cần tạm nghỉ. Kể về các hòn, ngoài quần đảo Côn Sơn danh tiếng mọi người đều biết, không thể quên một hòn nằm xa nhất về phía Nam vịnh Thái Lan. Đó là hòn Thổ Châu (Poulo Panjang), diện tích trên 100 dặm. Các ghe của dân chài lưới thường đến đây và tùy theo hướng gió mùa, cập bến hoặc bên bờ Đông hay bờ Tây của đảo. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Hải Quân thiết lập một căn cứ thường trực nơi đây. Trên núi còn có một ngôi cổ tự được các vị sư ẩn tu chăm sóc.
Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.
Ngày xưa các đường trong thị trấn không mang tên các nhân vật như ngày nay. Tỉnh lỵ Gia Định có các đường được dân chúng gọi theo các loại cây trồng: đường Hàng Bàng từ Cầu Bông đến Lăng Ông, đường Hàng Thị nơi có Kho Bạc và căn phố của ông Nguyễn An Ninh với tủ sách quý, đường Hàng Xanh từ Gia Định qua Thị Nghè với chùa Sư Muôn, đường Hàng Keo với cái bót mật thám Pháp giam các nhà ái quốc, đường Thốt Nốt gần Lăng Ông nơi có căn phố của Tạ Thu Thâu từng ở nhiều năm. Nhiều con đường khác sau này được đặt tên các nhân vật nhưng dân chúng vẫn dùng các tên xưa: đường Lò Heo Mới, đường Lò Heo Cũ, đường Nhà Thờ, bến Tắm Ngựa.
Miền Nam là vùng đồng bằng với rất nhiều sông rạch. Trái lại, núi non ở đây rất hiếm hoi. Ở mạn Đông Bắc mới có các núi nhỏ như Biên Hòa có núi Châu Thới cao độ 60 thước với chùa Hội Sơn trên đỉnh, núi Bữu Long, núi Đá Lửa, núi Đá Trắng…; núi Thị Vãi, núi Dinh vùng Bà Rịa; núi Lớn ở Vũng Tàu. Núi cao miền Đông chỉ có núi Chứa Chan (803 thước). Tây Ninh có núi Bà Đen, người khơ me gọi làyéay khmau (lảo bà đen) một nữ thần gốc Thổ, được vua Gia Long phong “Linh Sơn Thánh Mẫu”. Về phía Tây, vùng Hà Tiên có vài núi nhỏ như núi Phù Dung, núi Địa Tạng, núi Đá Dựng, núi Mây(Vân Sơn). Chỉ có vùng Châu Đốc mới có dải núi quan trọng là Thất Sơn hay Bảy Núi. Được biết nhiều nhất là Núi Sam, nơi có mộ phu nhân Thoại Ngọc Hầu, mộ Phật Thầy Tây An và miếu bà Chúa Xứ; núi Sập với đền thờ Thoại Ngọc Hầu. Núi Sập còn có tên Thoại Sơn, do triều đình Huế đặt để tưởng thưởng Thoại Ngọc Hầu, người có công đào cảng Đông Xuyên tức sông Ông Thoại và kinh Vĩnh Tế.
Tóm lại, trong khi ở miền Bắc hay Trung, các địa danh thường có những tên văn hoa thì ở miền Nam các địa danh lại có đặc tánh bình dân, mộc mạc. Chỉ trừ các nơi khi bắt đầu khai phá được các quan chức thời xưa đặt cho các tên văn chương Hán Việt như Biên Trấn, Gia Định, Tân An, Long Hồ…tên các nơi khác thường được dân chúng kêu trại ra từ các tên của hoặc Chàm, hoặc Khơ Me. Bắt đầu như Bà Rịa do tiếng Yéay Ria của Thổ tức lão bà hay mụ Ria. Châu Đốc theo người Khơ Me tên Mắt cruk và họ gọi đây là sóc Miệng heo. Sốc Trăng tên Khơ me là Păm prêk srok khlẳn (Péam: vàm; prêk: sông; srok: sốc; klẳn: kho bạc. Thời Khơ Me nơi đây có đặt một kho bạc). Đời Minh Mạng, tên chữ là Nguyệt Giang Tinh, dân gian gọi nôm na lại thành Sốc Trăng, bỏ chữ Nguyệt! Cà Mau do tiếng Khơ Me Tuk-khmau (nước đen). Vĩnh Bình do tiếng Khơ Me Preatrapeang (Hồ thánh). Bạc Liêu do tên Khơ Me Po-Loeuh (Cây da cao). Từ Long Xuyên đi Châu Đốc có Chắc Cà Đao nơi được biết tiếng do việc tướng Hòa Hảo Lê Quang Vinh tức Ba Cụt đã bị bắt nơi đây. Ba Cụt đã được Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ dụ ra hàng nên đã bị bắt và đã bị Tổng thống Ngô Đình Diệm xử tử bằng máy chém ở Cần Thơ. Chắc Cà Đao có lẽ là nói trại từ tiếng Khơ Me Cháp Cà Đam (cháp: bắt; Kdam: cua). Khi cuộc Nam Tiến kết thúc ở Hà Tiên, có lẽ nhờ ảnh hưởng phát huy văn hóa của các danh nhân khai phá vùng đất này như Mặc Cữu và con là Mặc Thiên Tứ (tác giả mười bài: Hà Tiên thập cảnh) nên nơi đây lại có những địa danh Hán Việt: Hà Tiên, Đông Hồ, Tô Châu, Hà Giang, Vân Sơn, Phù Dung…
Người bình dân thích chọn những danh từ họ dễ nhớ, phù hợp với sự suy diễn của họ. Trong việc giao dịch hằng ngày, dân chúng vẫn dùng những ngôn ngữ quen thuộc được truyền lại từ nhiều đời. Tổng thống Ngô Đình Diệm, người từ miền Trung vào nắm vận mạng miền Nam, đã có một thời đặt lại tên có tánh cách Hán Việt cho các địa danh ở miền đất này nhưng dân chúng vẫn thích gọi Cà Mau thay vì An Xuyên, Rạch Giá thay vì Kiên Giang, Long Xuyên thay gì An Giang, Cần Thơ thay vì Phong Dinh, Sốc Trăng thay vì Ba Xuyên, Mộc Hóa thay vì Kiến Tường, Blao thay gì Bảo Lộc…!
Để kết thúc bài viết này, tác giả không thể không kể đến một chuyện vui. Khi có cuộc hành quân Sóng Tình Thương vào vùng Cà Mau, một an toàn khu nhiều đời của Cộng Sản, trong buổi ăn sáng ở phòng ăn sĩ quan trên Hải Vận Hạm Cam Ranh HQ 500, Chỉ huy trưởng cuộc hành quân, cố Trung tướng Thủy quân Lục chiến Lê Nguyên Khang – lúc ấy còn mang cấp bực Trung tá – đã nói: “Trước giờ xuất phát, tôi xin nói với các đơn vị trưởng: Tối hôm qua, tôi xem trên bản đồ thấy gần Ngã ba Hóc Năng có rạch Ông Phiêu. Tôi không thể viết trong lịnh Hành quân nhưng tôi yêu cầu quý vị đơn vị trưởng đừng có đem bác sĩ Phiêu léng phéng đến cái rạch đó!”” 


Trần Nguơn Phiêu 
.........../.


Chiêu bài đường sắt Trung Quốc





Chiêu bài đường sắt Trung Quốc: Dò đường thò...chân cáo?


http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/chieu-bai-duong-sat-trung-quoc-do-duong-thochan-cao-3215462/



********

"Khi TQ đã cho 1 chân vào như 1 con cáo, thì có thể gây ra các tệ nạn còn 

kinh khủng hơn như tham nhũng, dung túng cho quan chức"


PGS.TS. Lưu Ngọc Trịnh - Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế và chính trị thế giới nhận định 

********

TQ đang dò đường để đưa "chân cáo"


PV: -Thời gian gần đây, Trung Quốc tiếp tục có hàng loạt các dự án đường sắt trị giá nhiều tỷ USD trên khắp thế giới như ở châu Phi, Nam Mỹ, nối Nga - Trung...
Việc đầu tư như vậy liệu có đảm bảo cho Trung Quốc nắm giữ huyết mạch vận chuyển hàng hóa của các quốc gia nói trên hay không, thưa ông? Nếu làm được như vậy, Trung Quốc sẽ đạt được bước tiến gì không trong việc từng bước kiểm soát nền kinh tế các khu vực đó?
PGS.TS. Lưu Ngọc Trịnh:- Tất cả thế giới đều đang quan tâm đến việc TQ đang trỗi dậy hòa bình hay là sự trỗi dậy hòa bình của TQ, nhưng theo quan điểm của riêng tôi, TQ trỗi dậy không hòa bình, không vì hòa bình.
Hiện nay, sự phát triển của TQ, ở trong nước của họ, không phải là suôn sẻ, không phải là tốt đẹp, hậu quả của sự phát triển kinh tế ở TQ là môi trường bất bình đẳng XH. Chính vì vậy, tham vọng của TQ là không tạo ra một TG hòa bình, không vì hòa bình.


Bề ngoài đối với các nước láng giềng, TQ luôn đề ra tôn chỉ là hữu hảo cùng phát triển, nhưng trên thực tế gần như tất cả các nước đều bị TQ tranh chấp lãnh thổ. Bên cạnh đó, là hàng hóa xâm nhập từ TQ vào, nhưng đều là hàng kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái, thậm chí hàng độc hại, với mục tiêu gây nhiễu loạn, phá hoại nền kinh tế của các nước, chứ không phải mang tính chất cạnh tranh theo nghĩa tích cực.
Chưa kể các thủ đoạn mua chuộc các nước láng giềng, rồi đưa sang phá hoại nền kinh tế. Đặt trong bối cảnh gần đây, TQ có hướng hình thành những con đường tơ lụa trên đất liền, còn trên biển thì xây dựng các tuyến đường sắt, đường cao tốc, từ TQ lan tỏa xuống vùng Đông Nam Á, Tân Cương, Nga...
Về đường thủy thì xây dựng các hải cảng, tất cả đều được lựa chọn ở những địa điểm rất quan trọng, điểm yết hầu của nền kinh tế mỗi khu vực, nằm trên tuyến đường vận chuyển hàng hóa từ TQ đi đến các nước.
Đặc biệt trong các con đường tơ lụa thì nổi lên đường sắt, đơn giản, bởi vì đường sắt là huyết mạch của nền kinh tế, giữ vị trí quan trọng số 1. Bởi nó có thể vận chuyển nhiều hàng hóa, với tốc độ tốt, hơn thế tất cả hàng hóa siêu trường, siêu trọng đều vận chuyển bằng đường sắt, hơn thế những hàng hóa này còn có vị trí quan trọng trong 1 nhà máy, 1 đơn vị.
Còn trong thời gian gần đây, sau khi phát triển được tương đối mạnh mẽ hệ thống đường sắt trong nước, TQ mới bắt đầu bành trướng xây dựng đường sắt từ TQ đi ra nước ngoài, cụ thể là các nước châu Phi, Mỹ Latinh, vùng Đông Á.
Để làm được điều này, TQ nổi lên trong nhiều năm gần đây với mức tăng trưởng nhanh, thực chất nó trở thành công xưởng của TG. TQ đi nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài về, gia công chế biến sau đó xuất khẩu chủ yếu là mặt hàng tiêu dùng với chất lượng thấp, tiêu hao nhiều lao động, những mặt hàng đó gây ô nhiễm môi trường, tiêu hao nhiều nhiên liệu, tiêu hao nhiều lao động, từ đó xuất khẩu ra nước ngoài.


PV:- Trong khi đó, thực chất, việc Trung Quốc đầu tư hàng tỷ USD ra nước ngoài từ trước đến nay luôn đi kèm với những ràng buộc về công nghệ và nhân lực Trung Quốc. Với chiến lược đường sắt lần này, kịch bản tương tự có lặp lại hay không?
Các nước nhận đầu tư của Trung Quốc sẽ phải đối mặt với những thách thức thế nào từ kịch bản trên?
PGS.TS. Lưu Ngọc Trịnh:-  Thực ra, dự án nào thì cũng đem lại lợi ích cho đối tác, cũng giúp cho các quốc gia đang phát triển cải thiện được phần nào cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, vốn xây dựng chủ yếu là vốn viện trợ.
Nước nào cũng thế, không riêng TQ, càng cải thiện thì lại càng cần chuyển các ngành: vật tư, máy móc, thiết bị, sắt thép, lao động sang các nước khác. Họ luôn có ràng buộc, nếu như nhận viện trợ thì phải mua hàng hóa, sử dụng nhân công của TQ, dưới danh nghĩa chuyên gia, nhưng thực chất là công nhân.
TQ nhằm tới mấy mục đích: Một là, mở ra thị trường tiêu thụ cùng hệ thống đường sắt hàng chục tỷ USD, kèm theo đó ít nhất cũng phải 1 nửa hoặc hơn 1/3 hàng hóa phải mua từ TQ.
Tuyến đường sắt Trung-Mỹ
Tuyến đường sắt Trung-Mỹ
Hai là, đưa người qua giải quyết công ăn việc làm cho công nhân, như dự án Nigeria hơn 12 tỷ USD cũng phải hơn 200.000 người lao động, trong đó có lao động địa phương, nhưng lao động TQ chiếm một nửa.
Đáng lo hơn, đó chính là lao động TQ không chỉ là lao động chuyên gia mà là lao động chân tay, chính sách của TQ là di dân, đưa lao động ra nước ngoài làm việc, rồi quay trở về, đây là hình thức di dân ra nước ngoài, di dân này không phải lao động bình thường, rất nhiều trong số đó là tù binh, bất hảo trong nước. TQ có chính sách sẽ không phải đi tù, được giảm án nếu đi ra nước ngoài, thậm chí lấy vợ nước ngoài, đồng hóa người dân địa phương. Để thấy, tính không vì hòa bình của TQ là ở chỗ đó, không vì lợi ích quốc tế, vì lợi ích các nước khác.
Đồng thời, hơn 30 năm TQ phát triển các mô hình xuất khẩu hàng hóa công nghiệp, tiêu dùng ra nước ngoài, thực chất là hàng xén, vào siêu thị VN từ cái tăm, giấy vệ sinh, tất cả đều là hàng chất lượng thấp.
Nhưng vì cách kinh doanh như vậy, nên đã mang lại thành tựu lớn, tạo ra lượng dự trữ ngoại tệ lớn cho đất nước này. Hiện nay, TQ có khoảng 3.500 - 4.000 tỷ USD, gấp nhiều lần các nền kinh tế tiếp sau nó như Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kong (Trung Quốc)...
Ở đây, để thấy, điều kiện viện trợ của TQ đơn giản, nhưng đằng sau nó lại là vấn đề khác, như đối với các nước đang phát triển thì đều có lãi suất thấp, nhưng điều kiện là không được can thiệp vào việc nội bộ.
Trong khi đáng lẽ, viện trợ phải đi kèm với giải quyết vấn đề tự do báo chí, tự do nhân quyền, chống tham nhũng, điều kiện lao động, không ngược đãi trẻ em, phụ nữ, nhưng TQ lại không kèm theo những điều kiện đó, mà luôn giương cao ngọn cờ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước.
Khi TQ đã cho 1 chân vào như 1 con cáo, thì sẽ gây ra các tệ nạn còn kinh khủng hơn như tham nhũng, dung túng cho quan chức...



Thực hiện chiến lược xâm lược bằng kinh tế

PV:- Đặt trong bối cảnh Trung Quốc cũng đang đầu tư cho các hệ thống kênh đào nối các đại dương, bằng mọi giá (thậm chí bất chấp luật pháp quốc tế) nắm kiểm soát những tuyến đường hàng hải quan trọng, có thể hiểu "giấc mộng Trung Hoa" thực chất là giấc mộng bá quyền kinh tế được hay không, thưa ông?
Và với những cách thức Trung Quốc đang tiến hành để thực hiện giấc mộng đó, mối nguy cho thế giới phải được nhìn nhận ra sao?
PGS.TS. Lưu Ngọc Trịnh:- Đầu tiên phải nói đến kênh đào Nicaragua do Công ty Đầu tư phát triển kênh đào Nicaragua (HKND) với trụ sở tại Hồng Kông đầu tư hơn 40 tỷ USD.
Tuyến đường thủy tương lai sẽ đi từ cửa sông Brito trên bờ Thái Bình Dương đến cửa sông Punta Gorda trên bờ Đại Tây Dương. Chiều dài của con kênh tương lai là 278 km. Như dự kiến ​​con kênh mới sẽ đảm bảo khoảng 5% lưu lượng vận tải đường biển quốc tế.
Trong khi Trung Mỹ là khá nhỏ, tổng sở hữu nội địa chỉ có hơn 20 tỷ USD. Hơn thế, cách nơi đó 600 km có kênh đào Panama dài khoảng 82 km, nổi tiếng hơn 100 năm nay.
Tất cả để chúng ta thấy rằng, trên đất liền là đường sắt, dưới biển là xây các cảng biển trong các quốc gia, xây các kênh đào, đều với mục đích mở đường tiêu thụ hàng hóa TQ, xuất khẩu các thiết bị kém chất lượng sang các nước. Theo chủ trương viện trợ để nắm chính phủ nước đó, tạo công ăn việc làm cho người dân TQ và người dân địa phương.


Đặc biệt, những nơi TQ chọn để đầu tư xây dựng, các vị trí đó đều là vị trí địa chính trị rất quan trọng, nếu nắm được thì sẽ chi phối được. Chỉ ví dụ đơn giản, nếu tàu có trọng tải 300.000 nghìn tấn không đi qua được kênh đào Parama thì nó sẽ đi qua kênh đào Nicaragua được, dần dần từ đó nó sẽ chi phối toàn bộ khu vực vận chuyển hàng hóa lưu thông bờ đông và bờ tây nước Mỹ.
Chưa dừng ở đó, Trung Quốc lại quyết định bỏ ra 25 tỷ USD xây Kênh Kra nối Ấn Độ Dương với các vùng biển Đông Á.
Eo Kra là một dải đất hẹp chạy dài theo hướng Bắc-Nam, nối bán đảo Malaysia với lục địa châu Á. Phần phía Đông của eo đất Kra thuộc Thái Lan và trông ra vịnh Thái Lan. Phần phía Tây thuộc Myanma và trông ra biển Andaman. Trước đây, Thái Lan đã muốn mở nhưng không làm được, vì thế nên TQ mới nhảy vào.
Nếu làm được kênh đào này, đương nhiên sẽ tạo ra các lợi ích về mặt kinh tế cho việc vận chuyển hàng hóa của các nước, trong khu vực giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á, Đông Bắc Á như Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc sang miền Tây Âu, dầu mỏ vận chuyển từ Trung Đông về TQ.
Khi kênh Kra đi vào hoạt động sẽ tạo nên một hành lang sầm uất, nâng cao giá trị của Biển Đông. Kênh đào Kra ra đời cùng với đường bộ, đường sắt và tuyến đường ống dẫn dầu dưới lòng đất xuyên qua khu vực Isthmus sẽ làm giảm đáng kể sự phụ thuộc quá nhiều của Trung Quốc vào Eo biển Malacca.
Nhưng đồng thời nó cũng chi phối rất nhiều, bởi TQ xây dựng thực chất là thuê đất của các nước, còn quyền điều hành, quyền thu phí trăm năm vẫn là người TQ, nắm quyền khai thác.
Để thấy TQ có tham vọng rất lớn trên Biển Đông, họ đang triển khai chiến lược tằm ăn dâu, đi từng bước một, như chúng ta hay gọi là "dò đá qua sông", cứ thò chân ra để dò, bị đạp thì co lại, còn nếu không thì cứ bước tiếp. Đó cũng chính là cách TQ dùng để chi phối nền kinh tế của các nước, trong chiến lược bành trướng ra nước ngoài, tạo nên một giấc mộng Trung Hoa - kiểm soát kinh tế toàn cầu.
Đáng sợ hơn giấc mộng này tồn tại từ ngàn xưa chứ không phải là bây giờ, chỉ là nó thể hiện bằng hình thức này, hình thức kia, biện pháp này, biện pháp kia tùy theo hoàn cảnh. Trong bối cảnh đó, các nước sẽ gặp phải rất nhiều thách thức, vì vậy, phải hết sức tỉnh táo, không sẽ rơi vào tình trạng xây dựng nền kinh tế lệ thuộc, nguy cơ.
Về lâu dài TQ sẽ bá quyền, trước mắt là về kinh tế, nên mới gọi là CN thực dân mới, CN bá quyền mới, nếu như ngày xưa xâm lược bằng súng ống, thì giờ xâm lược bằng kinh tế.
Hiện nay nền kinh tế VN là cánh tay nối dài của nền kinh tế TQ, hay nói cách khác, kinh tế VN là cửu vạn cho nền kinh tế TQ.
Ngành may mặc là một thí dụ: ta chỉ làm được có một khâu là cắt may, thiết kế của thằng khác từ chỉ, vải, cúc cũng là TQ hết. Ta làm mỗi cắt, may, đó chính là cánh tay nối dài của TQ.


PV:- Vậy đứng trước mối nguy đó, thế giới cần phải đối phó ra sao?
PGS.TS. Lưu Ngọc Trịnh:- Vấn đề ở đây, đó chính là không phải mọi người không nhìn thấy, cũng không phải tất cả đều nhìn thấy, nhưng nói chung là có nhìn thấy, nhưng lợi ích chi phối.
Lãnh đạo các nước hiện nay đang quá dựa vào lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ, mà dĩ nhiên như vậy thì lợi ích đất nước sẽ bị thiệt hại nặng.
Lợi ích lâu dài là lợi ích dân tộc, nhưng vì nó quá xa nên trở thành quá nhỏ trong con mắt của các nhà lãnh đạo những nước kém và đang phát triển. Điều cần nhất hiện nay là cần có những chính sách đi vào cụ thể, thu hút ODA, đầu tư, chính sách đấu thầu các dự án phải công khai, minh bạch, nghiên cứu dự án cho đúng, cho chuẩn, cứ theo Luật mà làm.
VN cũng vậy, có cứ đúng luật mà làm hay không, có dám phát triển hay không.

- Xin cảm ơn PGS.TS đã chia sẻ với Đất Việt!
  • Thanh Huyền
......./.

Vuốt ve vùng cấm và ý kiến dân biểu




Vuốt ve vùng cấm và ý kiến dân biểu
XUÂN DƯƠNG

****

http://giaoduc.net.vn/Goc-nhin/Vuot-ve-vung-cam-va-y-kien-dan-bieu-post152603.gd

****

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu về tình trạng tham nhũng khi tiếp xúc cử tri Hà Nội: “Cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi, như ngứa ghẻ phải gãi rất khó chịu". [1]
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nêu ý kiến trong cuộc họp với doanh nghiệp tại TP HCM: “Họp cứ vuốt ve nhau, nguy hiểm lắm”. [2]
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng trong phiên thảo luận dự án Luật tổ chức tòa án (sửa đổi), nói: “Các anh phải căn cứ vào quy định của Hiến pháp, quyền của người ta sao lại bảo là muốn hay không muốn…”. [3]
Một ý kiến khác của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: “tiền ăn, chơi, chạy chạy không phải từ tham nhũng thì từ đâu”. [1]
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan phát biểu về một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay như sau: “ (họ) ăn của dân không từ cái gì”. [1]
 Báo cáo trước Quốc hội về tình hình kinh tế Xã hội năm 2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định: “Công tác phòng chống tham nhũng lãng phí chưa được đẩy lùi, chưa đạt yêu cầu, tham nhũng lãng phí vẫn còn nghiêm trọng. Thanh tra, kiểm tra chưa cao, ít phát hiện, xử lý còn chậm, tình trạng nhũng nhiễu của một số cán bộ công chức gây bức xúc trong nhân dân chậm khắc phục”. [4]
Đại diện cho tiếng nói của người dân, đại biểu quốc hội Nguyễn Bá Thuyền nêu ý kiến: “chúng tôi thấy từ 1949 đến 1975 chỉ có một ông quản gia nhưng kiểm kê tài sản của Dinh Bảo Đại không thiếu một cái gì. Đến chúng ta, mỗi lần kiểm tra thì có bao nhiêu con dấu nhưng vẫn mất dần, mất mòn. Toàn là đảng viên giữ tài sản sao mất nhiều thế?”. [5]
Còn đại biểu đoàn Thanh Hóa Lê Nam thì cho rằng: “nếu đụng tới cán bộ càng cao thì càng cần phải công khai minh bạch. Nếu chỉ làm từ vai trở xuống thì nhân dân không tin đâu”. [5]
Về phía truyền thông, đài truyền hình kỹ thuật số VTC nêu câu hỏi: “Sao tài sản của dân giao cán bộ cứ mất dần mất mòn?”. [5]
Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam viết: “Chống tham nhũng đã nói nhiều, bàn nhiều từ trung ương đến địa phương, nhưng chưa giảm được nhiều như kỳ vọng của nhân dân, là thách thức lớn đối với cả hệ thống chính trị và công cuộc kiết thiết đất nước. Vẫn biết đấu tranh chống tham nhũng cần phải có giải pháp đồng bộ, kiên quyết, kiên trì, nhưng điều quan trọng mà dư luận đang đòi hỏi và chờ đợi là những hành động “nói thật - làm quyết liệt”. [6]
Nhận xét về vai trò của người dân và báo chí trong cuộc đấu tranh chống tham những bài báo kết luận: “Nhiều vụ án tham nhũng lớn bị phơi bày, phần nhiều là do người dân và báo chí phát hiện. Điều đó cho thấy, số vụ việc tham nhũng được phát hiện và xử lý qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra còn ít”. [6]
Nếu để ý kỹ đồng tiền trong ảnh minh họa trên bài báo sẽ nhận thấy có điều thú vị.
Đề cập đến chất vấn của ĐBQH về vụ việc ông Trần Văn Truyền, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ có dấu hiệu sai phạm nhưng Thanh tra chính phủ chưa có ý kiến gì. Báo Vietnamnet viết: “Đứng lên trao đổi lại với đại biểu về khiếu nại tố cáo và phòng, chống tham nhũng sau đó, ông Huỳnh Phong Tranh trả lời rất dài song lại "quên" nội dung này (liên quan đến ông Truyền - TG), khiến Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn phải nhắc”.
Sau đó ông Huỳnh Phong Tranh cho biết: "Ông Truyền là cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý của Ban Bí thư. Sau phiên chất vấn lần trước, Ban Bí thư đã họp, chỉ đạo UB Kiểm tra TƯ kiểm tra đúng quy trình những vi phạm của ông Truyền. Đến nay chưa có kết luận nên chưa có thông tin để báo cáo ĐBQH". [7]
Phát biểu của Tổng Thanh tra Chính phủ trước Quốc hội cho thấy Thanh tra chưa thể trả lời Quốc hội vì chưa có thông tin, Thanh tra còn phải chờ kết luận mới có thể báo cáo Quốc hội.
Cho đến thời điểm này (ngày 21/11/2014)  thì vụ việc liên quan đến ông Truyền đã có kết luận, và vì kết luận của UBKT TƯ đã công bố rộng rãi nên sẽ không còn gì để hỏi, dù sao đây cũng là dịp để các vị dân biểu cân nhắc trước khi đề xuất một vấn đề gì.
Trước khi có kết luận vụ ông Truyền, ông Trần Xuân Giá, nguyên Ủy viên TƯ, nguyên bộ trưởng và ông Phạm Tuấn Chiêm, nguyên thẩm phán Tòa án Tối cao đã bị truy tố, điểm chung của cả ba vị này là đều đã nghỉ hưu, trở lại làm dân thường. Giả sử họ có mắc tội thì đứng trước vành móng ngựa là một “dân thường” chứ không phải một quan chức!
Đối với những người đương chức, cấp cao nhất bị miễn chức có lẽ là lãnh đạo cấp tỉnh (Nguyễn Trường Tô – Hà Giang; Trương Tấn Thiệu – Bình Phước; Lê Công Nghiệp – Cà Mau, Lữ Ngọc Cư – Đắc Lắk…). Những vị bị miễn chức này không thấy truyền thông đăng các thông tin gì thêm mặc dù có vị “ liên quan đến vụ tham ô, cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”. [8] Còn mấy vị thẩm phán đương chức xử sai hai phiên phúc thẩm vụ “vườn mít” khiến Tòa án Tối cao phải xử phiên thứ ba thì vẫn cặm cụi làm tiếp công việc, giống như ông Lữ Ngọc Cư chuyển sang Ban chỉ đạo Tây Nguyên. [9]
Chống tham nhũng không có vùng cấm, điều này không chỉ đúng về lý thuyết mà cả thực tế nhìn từ trường hợp ông Trần Xuân Giá, ông Trần Văn Truyền.
Báo Motthegioi đã bỏ công sưu tầm các phát ngôn ấn tượng của ông Truyền, dưới đây là một số ví dụ:
Bất cứ cuộc thanh tra nào, bất cứ vụ giải quyết án nào cũng đều có “chạy”. Chạy trực tiếp, chạy gián tiếp, chạy nhiều, chạy ít tùy mỗi việc”.
Năm 2005, khi còn là Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TƯ ông Truyền nói: “Qua những vụ tham nhũng lớn vừa rồi, chúng tôi nhận thấy xử lý cán bộ đã nghỉ hưu dễ hơn nhiều. Còn người gián tiếp mà đang tại chức, họ chạy rất dữ".
Nhận định của ông Truyền cho thấy, gần mười năm trước ông là con người nhìn xa, trông rộng. Không những ông nói đúng với suy nghĩ của nhiều người mà có một phần cũng đúng với tương lai của chính mình.
Còn một ý kiến khá hay của ông Truyền được TTO ghi lại ngày 31/10/2008: “Nếu được nói trên diễn đàn Quốc hội, tôi sẽ nói công tác chống tham nhũng hiện không chùng xuống, nếu chùng xuống thì chỉ có báo chí chùng, còn các cơ quan chống tham nhũng khác không chùng". [10]
Nếu giả sử ông Truyền vẫn còn đương chức, xét về tình hình chống tham nhũng hiện nay không biết ông có giữ nguyên quan điểm của mình đối với báo chí, rằng “chỉ có báo chí chùng, còn các cơ quan chống tham nhũng khác không chùng”?
Giữa lời nói và việc làm của ông Truyền có khoảng cách hay không, người đọc sẽ tự đánh giá. Người viết thì cho rằng, theo những gì mà UBKT TƯ công bố, ông Truyền chỉ có chút ham muốn về nhà đất, nhưng dẫu sao ông  cũng mất công viết đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, xin tỉnh nọ, thành phố kia phê duyệt cấp cho ông, có giấy tờ đàng hoàng chứ tuyệt không có chuyện “ăn của dân không từ một cái gì”. Lo cho con cháu mình ai chẳng thế, vấn đề là vì sao người ta lại cấp hoặc bán cho ông nhà, đất dù biết là sai nguyên tắc? 
Kết luận của UBKT TƯ không đề cập đến chuyện ông Truyền trước khi nghỉ hưu ký quyết định bổ nhiệm 60 công chức, nghĩa là cho đến thời điểm này ông Truyền không sai. Nếu ông Truyền không sai thì những ngôn từ liên quan đến ông như: “60 chức được bổ nhiệm ở phút 89" hoặc “Bổ nhiệm 60 cán bộ ở phút 89”… rõ ràng là không phù hợp, không biết ông Truyền có nên kiện những người hay cơ quan đã nói sai sự thật hay không?
Trộm nghĩ tốt nhất là ông không nên kiện vì tuổi cao, sức yếu vả lại như chính ông nói: “xử lý cán bộ đã nghỉ hưu dễ hơn nhiều”!
Có thể còn một hai vị được báo chỉ “điểm danh” sẽ được nêu tên trở lại trong tương lai, dẫu sao đó không phải là điều mà người dân mong muốn. Mong sao những “lời có cánh” mà ông Truyền nói khi đương chức luôn đồng bộ với những việc mà ông làm, càng mong sao người dân sẽ không mất thời gian đọc kết luận về những việc làm của “một bộ phận không nhỏ” mà hiện thời vẫn “không biết nằm ở đâu”.
Nguồn trích dẫn:




......./.