Trung Quốc tính toán sai trong vụ giàn khoan




 Trung Quốc tính toán sai trong vụ giàn khoan

http://basamnews.info/2014/05/21/2251-trung-quoc-tinh-toan-sai-trong-vu-gian-khoan/#more-131406



Tác giả: Bill Hayton
Người dịch: Huỳnh Phan
19-05-2014
Bắc Kinh đã với tay quá xa ngoài biển Đông?
Trung Quốc đã đạt được gì khi đưa giàn khoan nước sâu của họ vào vùng biển ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa?
Với một hành động đơn lẻ họ đã ‘thành công’ làm vỡ mối quan hệ với những người cộng sản anh em tại Việt Nam, làm công luận Việt Nam phẫn nộ, tạo ra hàng gigabyte tin trên phương tiện truyền thông quốc tế quan trọng, làm sống lại diễn từ về “mối đe dọa Trung Quốc” ở Đông Nam Á và làm ASEAN thống nhất, đứng sau một tuyên bố quan trọng về hành động của họ. Ít nhất 3.000 người Trung Quốc đã bị buộc phải rời khỏi Việt Nam trước đám đông giận dữ đã đốt hàng chục nhà máy, không phân biệt là của người Hoa Đài Loan hay Hoa lục địa. Và để làm gì? 

Luôn có cơ may để giàn khoan dầu này có thể khoan ra dầu nhưng xác suất rất mỏng manh. Có thể CNOOC [Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (China National Offshore Oil Corporation – CNOOC / wiki] đã nắm được các khảo sát địa chấn của khu vực này nhưng dường như có nhiều khả năng là chỗ đặt giàn khoan được chọn vì lý do địa chính trị hơn là địa lý. Chưa có mỏ dầu nào khác được phát hiện gần quần đảo Hoàng Sa.
Theo Yenling Song của Platts Energy ở Singapore, ước tính CNOOC phải chi 328.000 USD một ngày để giữ giàn khoan ở điểm đó. Mặc dù CNOOC có đầy rẫy tiền mặt, nó không thể để giàn khoan ở mãi một vị trí mà chẳng tìm ra thứ gì. Giàn khoan cuối cùng sẽ phải rút đi, và một khi nó ra đi, biển sẽ trống vắng trở lại. Tất cả những rắc rối gây ra hơn hai tuần qua sẽ chẳng vì lợi lộc kinh tế nào cả.
Nếu lợi nhuận không phải là lý do để CNOOC khoan ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa thì chúng ta phải giả định rằng có các yếu tố khác đã ảnh hưởng đến những người ra quyết định ở Bắc Kinh. Tuy nhiên, khi chúng ta lần lượt nhìn vào từng yếu tố, có vẻ như khó để thấy cuộc đối đầu hiện nay sẽ thúc đẩy lợi ích tổng thể của Trung Quốc đi lên như thế nào. Thật ra, có vẻ lợi ích đó có nhiều khả năng sẽ bị tổn hại hơn.
Có thể Bắc Kinh nghĩ rằng khoan dầu sẽ là một sự khẳng định rõ ràng chủ quyền thuộc về Trung Quốc: một hành động sẽ hậu thuẫn cho yêu sách lãnh thổ của đất nước này. Tuy nhiên, có thể dự đoán được là Việt Nam cũng thực hiện một phản ứng không kém quyết đoán. Tòa án quốc tế sẽ không coi cuộc đối đầu hiện nay là việc củng cố cho yêu sách của bên nào đối với các đảo và vùng nước xung quanh. Nếu việc củng cố vị thế pháp lý của Bắc Kinh là lý do cho thao tác đó thì họ đã thất bại.

Chia tách ASEAN?
Động thái này có thể là một nỗ lực để chia tách Hiệp hội các nước châu Á và cô lập Việt Nam. Có lẽ Bắc Kinh đã hy vọng lặp lại việc làm thành công của họ tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN họp tại Phnom Penh vào tháng 7 năm 2012. Cuộc họp đó tiếp sau việc Trung Quốc chiếm đóng thành công bãi cạn Scarborough, một rạn san hô nằm ngay trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines, và cũng sau việc CNOOC thông báo mời đấu thầu các lô thăm dò dầu trong Vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam. (Những lô này nằm ngay phía nam địa điểm tranh chấp hiện nay).
Tại cuộc họp Phnom Penh, Philippines và Việt Nam yêu cầu các đồng nhiệm ASEAN ra một tuyên bố ủng hộ. Nỗ lực của họ đã bị cản trở bởi những hành động của nước chủ nhà, Campuchia phủ quyết bất kỳ tuyên bố nào có đề cập đến các sự cố này. Nhiều tường thuật vào thời điểm đó cho thấy rằng Campuchia đã làm như vậy là do ảnh hưởng mạnh mẽ của ngoại giao và viện trợ của Trung Quốc. ASEAN gánh chịu chia rẽ và thương tổn.
Có lẽ Trung Quốc hy vọng sẽ lặp lại thành công đó lần này bằng việc ra tay với Việt Nam chỉ vài ngày trước hội nghị thượng đỉnh ASEAN. Có lẽ các nhà ngoại giao của TQ tự tin rằng họ có thể thuyết phục Campuchia và có thể Myanmar, Thái Lan hoặc Lào phủ quyết một tuyên bố chung, để Việt Nam bị cô lập và ASEAN chia tách. Điều đó đã không xảy ra. ASEAN đã ra tuyên bố đặc biệt phê phán các sự cố ở biển Đông.
Một số nhà quan sát cho rằng vì tuyên bố không nêu rõ tên Trung Quốc, nên Việt Nam đã thất bại trong việc giành lấy sự ủng hộ của các nước ASEAN. Nhưng ASEAN không làm việc theo cách đó. Quay trở về tận tuyên bố lần đầu tiên của ASEAN về biển Đông vào năm 1992, sau khi Bắc Kinh cấp chuyển nhượng quyền khai thác dầu ngoài khơi bờ biển Nam Việt Nam cho một công ty Mỹ, và khi Bắc Kinh chiếm đảo Vành Khăn trong EEZ của Philippines năm 1995 – ASEAN luôn luôn bày tỏ mối quan ngại của mình với sự kiềm chế và bình thản. Bất cứ ai mong đợi ASEAN áp đặt trừng phạt kinh tế Trung Quốc, hoặc phái một lực lượng đặc nhiệm biển ra tống tiễn giàn khoan dầu của CNOOC cần tìm hiểu thêm một chút về Đông Nam Á.
Tuy nhiên, nếu Bắc Kinh hy vọng cô lập Việt Nam và chia tách ASEAN, họ đã thất bại. ASEAN đã đứng lên từ khủng hoảng, đoàn kết và cảnh giác hơn bao giờ hết về ý định của Trung Quốc.

Gây sức ép với Việt Nam?
Tháng 12 năm 2000 Trung Quốc và Việt Nam thoả thuận đường phân giới biển chung nằm trong Vịnh Bắc Bộ. Đường này chạy từ biên giới Trung Quốc trên bờ biển đất liền theo hướng đông nam xa tới đảo Hải Nam. Mặc dù đã gần 14 năm đàm phán kể từ đó, hai bên đã không thể thoả thuận đường này sẽ đi tiếp tới chỗ nào. Điểm bế tắc là tranh chấp về quyền sở hữu quần đảo Hoàng Sa. Quần đảo này nằm ngoài cửa Vịnh và nếu không có một giải pháp cho tranh chấp này thì không thể có thoả thuận về đường phân giới.
Tháng 10 năm ngoái, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đến thăm Việt Nam và Chính phủ hai nước đã đồng ý thành lập một “nhóm công tác biển”. Tuy nhiên, dù có sự thúc giục của Lý Khắc Cường vẫn không có tiến bộ nào trong việc vẽ đường ranh giới. Trong bối cảnh đó, việc triển khai giàn khoan dầu có thể được hiểu như nỗ lực của Bắc Kinh để nâng tầm quan trọng, cố cho Việt Nam thấy rằng Bắc Kinh không đùa trong việc xốc tới với việc phát triển các nguồn tài nguyên biển dù Hà Nội có đồng ý hay không.
Tuy nhiên, động tác mạnh bạo này dường như không có hiệu quả. Có vẻ không thể xảy ra việc giàn khoan sẽ khám phá ra mỏ dầu khí có trữ lượng thương mại. Thậm chí nếu có thì những khó khăn trong việc đặt đường ống dẫn hoặc duy trì một đội sà lan đối mặt với sự phản kháng của Việt Nam sẽ là đáng kể. Việt Nam có thể chỉ cần thách thức ý định của TQ. Sẽ không có sự phát triển chung thực sự của khu vực này mà không có sự đồng ý của Việt Nam.

Gây áp lực ASEAN
Tương tự, động thái mới nhất này có thể được hiểu như là Trung Quốc gây sức ép với Việt Nam và các thành viên ASEAN khác đồng ý các chi tiết của một Bộ Quy tắc Ứng xử mới cho biển Đông. ASEAN hy vọng Bộ Quy tắc này sẽ ngăn chặn các tranh chấp trên biển nhưng Trung Quốc không vội vã trong việc đưa nó thành hiện thực. Các cuộc đàm phán, hoặc thường hơn là những đàm phán về đàm phán, đã kéo lê năm này qua năm khác. Bế tắc mới nhất này có vẻ gần như đảm bảo sẽ làm cho ASEAN đòi hỏi một bộ quy tắc ứng xử cứng rắn hơn để ngăn chặn những sự cố tương tự xảy ra lần nữa. Đó không phải là điều mà Bắc Kinh mong muốn. Một lần nữa, việc triển khai giàn khoan dường như đã gây tổn hại lợi ích lâu dài của Trung Quốc.

Chiến thuật đánh lạc hướng
Cách giải thích có lý nhất về việc triển khai giàn khoan, và là cách duy nhất cho thấy Bắc Kinh sẽ đạt được những gì họ muốn, là việc phát hiện mới đây rằng các lực lượng Trung Quốc đang tham gia vào một dự án xây cất quy mô lớn trên đá Gạc Ma (Johnson Reef). Đây là một bãi cát, chìm dưới nước khi triều cao mà lực lượng Trung Quốc chiếm lấy bằng vũ lực vào năm 1988, một động thái kích động nên một trận đánh làm mấy chục binh sĩ Việt Nam bị tàn sát bằng súng máy Trung Quốc. (Một đoạn video về cuộc tàn sát này phổ biến trên YouTube.) Có suy đoán rằng Trung Quốc có ý định biến rạn san hô này thành một căn cứ không quân. Bằng cách chuyển sự chú ý toàn cầu và của cảnh sát biển và hải quân Việt Nam vào quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc có thể cho mình khoảng trống cần thiết để bắt đầu công trình mà không bị quấy rối.

Tại sao?
Một ngày nào đó chúng ta có thể phát hiện chính xác lý do tại sao phía Trung Quốc quyết định triển khai giàn khoan cùng đội tàu đi kèm đến chỗ đó vào thời điểm này. Chúng ta biết rất ít về cách mà những quyết định như thế được đưa ra. Các nhà quan sát đóng tại Bắc Kinh cho rằng Bộ Ngoại giao gần như không có quyền lực trong guồng máy Trung Quốc.
Một nhà phân tích nói với International Crisis Group (Nhóm giải quyết các khủng hoảng quốc tế) năm 2012 rằng, Bộ này đứng đâu đó giữa thứ hạng 40 và 50 trong hệ thống tầng bậc của guồng máy.
Quan trọng hơn nhiều là quân đội, những bộ phận thuộc sở hữu nhà nước tạo được thu nhập lớn như CNOOC và các tỉnh như Hải Nam và Quảng Đông. Cũng có thể là đây chính là những diễn viên đã thúc đẩy chiến dịch quần đảo Hoàng Sa. Bộ Ngoại giao có thể đã không đủ khả năng chống lại áp lực kết hợp của họ.
Người nước ngoài có xu hướng xác định việc hoạch định chính sách ngoại giao Trung Quốc theo hai cách. Thứ nhất là “Trung Quốc Toàn Năng” – những hành động của một cường quốc kiên quyết vươn lên, quyết chí đạt tới việc thống trị Đông Á, đe dọa các nước láng giềng và phá hoại lợi ích của Mỹ trong khu vực.
Đôi khi có xu hướng giải thích theo khuôn mẫu phương Đông về các quan chức khôn ngoan, thông thái che giấu ý định thực sự của họ đằng sau lớp mặt nạ rất bí mật. Chúng ta có thể gọi đây là “Trung Quốc Toàn Giác”.
Nhưng bế tắc mới nhất này cũng cung cấp bằng chứng cho một cách giải thích thứ ba. Bắc Kinh đã không tạo được tiến bộ trong bất kỳ mục tiêu lớn hơn trong khu vực: chỉ toàn điều ngược lại. Họ đã khó chịu, căm ghét và lo ngại các nước láng giềng và cho họ thêm lý do để ôm lấy việc Mỹ chuyển trục sang châu Á. Cả Malaysia lẫn Indonesia đều đang nói công khai hơn bao giờ hết về các quan ngại của họ. Có lẽ chúng ta nên xem vở diễn này như là một trường hợp về “Trung Quốc thiếu năng lực” trên cơ sở là việc vạch ra chính sách đối ngoại của họ thực sự là không thật tốt.

Bill Hayton là tác giả quyển sách “Việt Nam: con rồng đang lên” (NXB Yale, 2010) và “Biển Đông và cuộc đấu tranh giành quyền lực ở châu Á” được Yale xuất bản trong tháng 9 [năm 2010].

 ......./.

Mồi Lửa & Đống Củi



__________________

Mồi Lửa & Đống Củi
___________________


19 Tháng 5 2014 
Huy Đức



Sự kiện Bình Dương - Vũng Áng cho thấy, khi gậy gộc đã ở trong tay đám đông, mọi giá trị đều trở nên vô nghĩa[1].Tuy nhiên, còn "vô nghĩa" hơn nếu sự kiện "Bình Dương - Vũng Áng" được sử dụng như những con ngoáo ộp để dọa dân chúng nhằm củng cố độc tài, toàn trị.




Một Thế Lực Bành Trướng & Một Nền Kinh Tế

Trong số 315 nhà đầu tư chịu thiệt hại trong vụ Bình Dương, có 12 công ty bị cháy lớn (nhiều nhà xưởng bị cháy rụi), 3 công ty bị cháy nhỏ, 33 công ty bị trộm cướp tài sản, 196 nhà xưởng bị đập phá, 241 văn phòng bị hư hại, có nhiều văn phòng bị đốt sạch, phá sạch. Con số thiệt hại chưa được quy thành tiền nhưng cho dù nó lớn tới mức nào, đó cũng chỉ là những tổn thất có khả năng đo, đếm được.

Chưa biết bao giờ các nhà máy trong 29 khu công nghiệp ở Bình Dương mới có thể trở lại hoạt động bình thường. Điều này, ảnh hưởng trực tiếp ngay tới hơn hai trăm ngàn lao động Việt Nam. Thiệt hại vì sự sút giảm uy tín của môi trường đầu tư còn khó định lượng hơn.

Trong mấy năm gần đây, Trung Quốc là thị trường có mức độ phát triển tốt nhất của ngành hàng không Việt Nam. Trước 13-5-2014, trung bình mỗi ngày có gần 20 chuyến bay Việt - Trung. Nay con số đó đang có nguy cơ bằng không. Thiệt hại cho Hàng không Việt Nam có thể lên đến hàng nghìn tỷ.

Chủ một resorts thường xuyên có 30% khách đến từ Trung Quốc ở Hội An cho biết, tất cả khách đặt phòng người Trung Quốc đều đã "cancelled". Hàng nghìn biệt thự trên bãi biển Đà Nẵng vốn lâu nay sống nhờ khách Trung Quốc nay đang lần lượt bị trả lại....

Những phản ứng vừa qua cho thấy, người Việt Nam chỉ mới nhạy cảm trước một Trung Quốc bành trướng, trong khi, Trung Quốc còn là một nền kinh tế lớn.

Yếu Tố Bên Trong

Người Việt có vẻ như đã xích lại gần nhau trong những ngày vừa qua. Dân chúng dễ dàng bỏ qua những chính sách đã đưa đất nước lún sâu. Một vài nhà lãnh đạo bỗng dưng sáng lên. Nhưng, chúng ta sẽ làm gì nếu giàn khoan HD 981 vẫn nằm lì ngoài biển đông. Chúng ta sẽ làm gì nếu tất cả những nguyên nhân làm cho đất nước thất thế, tụt hậu vẫn tiếp tục phát huy; những kẻ bảo thủ, trì trệ vẫn bình chân và bọn tham nhũng vẫn tiếp tục ngự trị.

Một quốcgia không thể giữ yên bờ cõi nếu không đoàn kết.
Nhưng nếu một quốc gia chỉ thực sự đứng bên nhau khi "tổ quốc bị xâm lăng" thì bi kịch còn lớn hơn. Nếu không sớm tìm ra một yếu tố bên trong để đoàn kết quốc gia, chủ nghĩa dân tộc cực đoan sẽ luôn dễ dàng bị các bên lợi dụng (cả Chính phủ và những người được coi là "dân chủ").

Cái giá mà dân tộc Việt Nam phải trả cho cuộc chiến kéo dài mười năm, 1979-1989, là không chỉ bằng sự kiệt quệ nội lực, sự cô lập trên trường quốc tế mà còn bằng xương, máu của hàng triệu thanh niên. Chúng ta cần một chính phủ ứng xử với Trung Quốc bằng tư thế của một quốc gia có chủ quyền chứ không phải một chính phủ, lúc thì quá lệ thuộc, lúc lại đẩy dân ra chỗ hòn tên mũi đạn.

Sáng 1-1-2014, khi nói chuyện với chúng tôi, ông Trần Việt Phương, người giúp việc của nhiều nhà lãnh đạo Hà Nội - từng sống và làm việc bên cạnh Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh từ 1949 - 1969 - nói: Trong lịch sử nghìn năm giữ nước, chưa có thời nào Việt Nam mất cảnh giác và chịu lệ thuộc vào Trung Quốc như 'triều đại' ngày nay.
Sở dĩ có điều đó là vì chúng ta đã nhiều lúc ứng xử với tư thế một ông em ngoan, ngây thơ tin các ông anh cũng vì tinh thần quốc tế vô sản. Theo ông Trần Việt Phương, thời còn Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã từng ở trong một nền thực dân kém văn minh hơn nền thực dân trước kia.

Trong những ngày giàn khoan HD 981 đang ở trong vùng biển Hoàng Sa nhiều người Việt bàn đến chuyện "thoát Trung". Nhưng theo tôi trước khi "thoát Trung", người Việt phải thoát ra khỏi chính vấn đề đang ở trong tay người Việt.

Năm 1974, nếu người Việt chúng ta ở chung một chiến hào, chắc chắn Hoàng Sa không thể rơi vào tay Trung Quốc. Chắc chắn không có sự kiện HD 981. Chắc chắn Trung Quốc không thể khoan vào những nơi người Việt Nam rất dễ bị tổn thương.

Theo tôi, điều cấp bách nhất mà chúng ta, bao gồm cả những người cầm quyền, phải làm là phải thoát hoàn toàn ra khỏi ý thức hệ, điều khiến cho Chính quyền có những lúc "ngây thơ" tin vào "mười sáu chữ vàng"; điều đã khiến cho lãnh thổ quốc gia bị hơn hai mươi năm chia cắt; điều khiến cho người Việt Nam, gần 40 năm sau chiến tranh, vẫn không thể nào ngồi bàn với nhau hòa giải.


Giai Cấp Trai Làng

Nói chuyện với hàng chục chủ doanh nghiệp và công nhân ở Bình Dương, chúng tôi nhận thấy cách lôi kéo công nhân biểu tình hôm 13-5-2014 gần giống như cách mà các cuộc đình công vẫn diễn ra ở đây. Liên đoàn Lao động không bao giờ có vai trò nào ngoài việc buộc các doanh nghiệp phải trả công đoàn phí hàng tháng một khoản tiền bằng 2% quỹ lương.

Đứng sau các cuộc đình công thường là một bọn người giấu mặt.   

Bọn người tương tự đã xuất hiện vào ngày 13-5-2014, xông vào các nhà máy, yêu cầu giới chủ phải cho công nhân nghỉ để đi "biểu tình chống Trung Quốc". Đề nghị này ngay lập tức được công nhân hoan nghênh. Một số bỏ về nhà nghỉ ngơi, vui vì được "hưởng nguyên lương". Một số khác đi theo những người cầm đầu cuộc "biểu tình". Những công nhân vô tội này không ngờ rằng, họ đang bị kéo vào một âm mưu nguy hiểm.

Người lao động ở Bình Dương mà những người Marxists thích gọi là "giai cấp công nhân", thực chất vẫn là những nông dân. [Trong số 235.800 lao động làm việc trong 29 khu công nghiệp ở Bình Dương chỉ có 9,8% là người địa phương.] Họ phải rời bỏ quê hương vì chính sách đất đai và chính sách công nghiệp hóa sai lầm.

Chính sách đất đai không cho phép tích tụ những mảnh ruộng manh mún để hình thành các trang trại lớn, nơi có thể hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp và phát triển công nghiệp chế biến nông sản, nơi các trai làng có thể ở tại chỗ mà ly nông thay vì phải ly hương.  

Họ bị dồn vào một nơi cách xa lũy tre, vẫn chất phác nông dân nhưng bị lẫn trong bộ đồng phục, không danh tính, không làng xóm. Họ ngây thơ đi theo đoàn "biểu tình chống Trung Quốc", bị cuốn trong một cơn kích động, nghĩ là mọi hành động đập phá, lấy cắp của họ sẽ bị lẫn vào đám đông.


"Ý Thức Hệ"

Hôm 29-4-2014, Cựu Bộ trưởng Trương Đình Tuyển đã được hoan nghênh khi ông phát biểu công khai ở Diễn đàn kinh tế mùa xuân Hạ Long: "Đã đến lúc phải thừa nhận xã hội dân sự". Nhưng, cũng ông Trương Đình Tuyển vào ngày 17-4-2014, khi nói chuyện nội bộ về TPP với các đại biểu quốc hội ở Văn phòng Quốc hội phía Nam lại cho rằng, phá bỏ thế độc quyền của Liên đoàn lao động Việt Nam (cho công nhân lập các công đoàn độc lập), là điều không thể thương nghị.

Hy vọng ông Trương Đình Tuyển, người đang cố vấn cho Chính phủ về đàm phán TPP, tìm hiểu vai trò Liên đoàn lao động trong các vụ đình công, bạo động, ở Bình Dương, để thấy, chỉ vì ngăn cản công nhân hình thành các tổ chức đại diện cho mình (điều kiện mà TPP đòi), khi lâm sự, chủ doanh nghiệp cũng như Đảng, Nhà nước đã không có ai để mà "thương nghị". Công nhân nhanh chóng bị cuốn vào những đám đông không còn khả năng kiểm soát.

Cũng hôm 17-4-2014, ông Trương Đình Tuyển giải thích, Liên đoàn lao động là tổ chức của Đảng, giữ vị trí độc quyền của nó là giữ một đặc trưng của chế độ. Tiền thuế của dân đang được chi để nuôi các đoàn thể quốc doanh. Điều này rất dễ ru ngủ Chế độ khi trong ấm, ngoài êm. Nhưng, khi lâm trận thì mới thấy những tổ chức rình rang tốn kém đó nhanh chóng trở nên vô dụng.

Cựu Phó thủ tướng Trần Phương, một nhà lý luận gần gũi với Tổng bí thư Lê Duẩn thừa nhận: "Cho đến trước khi Liên Xô sụp đổ, đầu óc chúng tôi vẫn bị cầm tù trong sự giáo điều của chủ nghĩa Marx - Lenin". Thật khó để biết một cách chắc chắn, thế hệ lãnh đạo hiện nay đã để cho đầu óc của mình ra khỏi "nhà tù ý thức hệ" như thế hệ Trần Phương hay chưa. Một người được coi là cởi mở như ông Tuyển, mà vẫn tư duy như vậy thì liệu có ai thực sự đã thoát khỏi "chiếc còng tư tưởng".


"Mồi Lửa Đã Ở Dưới Đống Củi"

Nếu có một xã hội dân sự trưởng thành, công nhân có các tổ chức đại diện cho mình, chắc chắn sẽ không dễ bị kéo vào một đám đông như thế. Nếu có một nhà nước pháp quyền (và có luật biểu tình), cảnh sát tự tin vào tính chính danh của quyền lực công, chắc chắn đã có hành động thích hợp trước khi đám đông phạm tội.

Không chỉ gây ra thiệt hại, phải coi sự kiện "Vũng Áng - Bình Dương" là những cảnh báo sớm. Một chế độ toàn trị rõ ràng đã không có khả năng gìn giữ "ổn định chính trị" như nhiều người vẫn tưởng lầm. Mồi lửa đã ở dưới đống củi.

Đi đến tự do chính trị mà không có lộ trình thích hợp thì rất dễ gây rối loạn. Nhưng khước từ dân chủ hóa thì sự sụp đổ là chắc chắn xảy ra. Khi đó, bạo loạn sẽ không còn ở mức độ "Vũng Áng - Bình Dương" như chúng ta vừa chứng kiến.

Việt Nam đã rất cô độc trong xung đột Biển Đông không chỉ vì không có ai thực sự là đồng minh, mà còn, thay vì hòa vào xu thế của thời đại văn minh, Hà Nội lại tự xích mình trong nhóm những quốc gia bị "loài người (thực sự) tiến bộ" đặt sang bên lề thương hại.
Cho dù không thể có ai là "bạn vĩnh viễn", nhưng nếu Việt Nam có một chế độ chính trị tiến bộ, bên trong tôn trọng dân chúng, bên ngoài chỉ "trao đổi vàng" với những nhà nước dân chủ văn minh, chúng ta chắc chắn sẽ có rất nhiều bạn đồng hành.

Trong những ngày này, tôi tin là có hàng triệu người Việt Nam tuy không xuống đường biểu tình nhưng vẫn đang nung nấu trong mình lòng yêu nước. Nhưng tôi tin, không ai, không riêng một đảng phái nào, đứng riêng lẻ mà có thể tìm được cho Việt Nam một con đường đi đến dân chủ, văn minh mà tránh được những tháng năm tao loạn.

Mỗi chúng ta phải bắt đầu làm gì đó trong nỗ lực của mình, để Đảng cầm quyền ngồi lại với nhân dân, cùng đối thoại để tìm ra lối thoát. Để đất nước rơi vào nông nỗi này, chúng ta có thể đổ lỗi cho những người cộng sản. Nhưng, nếu cứ để đất nước tiếp tục tình trạng này, mỗi chúng ta đều phải cộng đồng trách nhiệm.

Không ai thách thức quyền lực của những người cộng sản nếu như quyền lực đó không đặt chế độ lên trên sự phát triển bền vững của quốc gia. Không ai có thể ngồi mãi trên đỉnh cao quyền lực, Nếu anh thiết lập trên đầu dân chúng một phương thức cai trị thực dân, sẽ có ngày anh trở thành nô lệ trong nền thực dân do chính anh tạo lập.

Đừng cố gắng giữ nền độc tài cho tới ngày con cháu có thể thừa kế ngai vàng. Hãy thiết lập một thể chế mà nếu con cái quý vị xứng đáng, nhân dân sẽ trao "ngai vàng" cho chúng.



[1] Đám đông không còn phần biệt Hàn Quốc, Nhật hay Đài Loan, trong số 315 công ty có nhà xưởng bị đập phá ở Bình Dương chiều 13 rạng sáng 14-5-2014, chỉ có 12 công ty của Trung Quốc và 5 liên doanh có đối tác là TrungQuốc (không tính Hong Kong).




........./.

Nhìn lại Trường Y khoa Đại học Sài Gòn với GS Phạm Biểu Tâm



http://nguyenvantuan.org/tin-tuc/nhin-lai-truong-y-khoa-dai-hoc-sai-gon-voi-gs-pham-bieu-tam.aspx#.U3NsNYF_tIc



Xin giới thiệu các bạn một bài của GS Nghiêm Đạo Đại viết về GS Phạm Biểu Tâm. Đây là một bài viết trong Tập san Y sĩ 201 chủ đề GS Phạm Biểu Tâm do BS Ngô Thế Vinh biên tập. Tập san sẽ phát hành nay mai. Bài viết làm sống lại một số kỉ niệm của GS Đại với GS Tâm.




NHÌN LẠI TRƯỜNG Y KHOA ĐẠI HỌC SÀI GÒN VỚI GIÁO SƯ PHẠM BIỂU TÂM

NGHIÊM ĐẠO ĐẠI
Nguyên Giáo sư Giải phẫu ĐH MCP / Hahneman / Drexel
Pittsburgh, PA.




      Khoảng đầu tháng 12, 2013, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Thầy Phạm Biểu Tâm, anh Ngô Thế Vinh có nhã ý gửi cho tôi đọc bản thảo “Tìm lại thời gian đã mất: Tưởng nhớ Giáo sư Phạm Biểu Tâm”, từ lúc đó anh Vinh đi tới quyết định phụ giúp anh chủ bút Tập San Y Sĩ trong số báo chủ đề “Trường Y khoa Đại học Sài gòn với Giáo sư Phạm Biểu Tâm”. 
      Bài viết này nói lên kỷ niệm những năm theo học Thầy tại bệnh viện Bình Dân và Trường Y, cùng ghi chép lại thành quả gặt hái của Y khoa Đại học Sài Gòn dưới thời Thầy Phạm Biểu Tâm.

THÂN THẾ, GIA ĐÌNH SỰ NGHIỆP
      Thầy sinh ngày 13 tháng 12 năm 1913 tại làng Nam Trung, Phú Vang, Thừa Thiên trong một gia đình khoa bảng. Thầy thi vào trường Y Dược Hà Nội năm 1932. Sau 15 năm dùi mài y học, Thầy trình luận án “Sự Du nhập của Y học Tây Phương vào Viễn Đông – Introduction de la Médecine Occidentale  en Extrême Orient”, nói lên sự quan trọng của Tây Y trong các nước chỉ biết y học cổ truyền. Trong 8 năm nội trú, Thầy đã lĩnh hội được các tinh túy của giải phẫu toàn khoa, tiết niệu, tiểu nhi, ung thư, chỉnh hình, lồng ngực… sau này trở thành các bộ môn riêng biệt.
      Năm 1948 ở tuổi 35, Thầy được cử sang Pháp tu nghiệp và trúng tuyển Thạc sĩ Y khoa (Professeur Agrégé des Universités) tại Paris. Thầy trở về nước giảng dạy tại Đại học Y Dược Hà Nội, kiêm nhiệm chức giám đốc bệnh viện Yersin (nhà thương Phủ Doãn), cùng đảm trách chức vụ phó giám đốc trường Quân Y Việt Nam mới được thành lập với cấp bậc y sĩ Trung tá.
      Sau khi hiệp định Genève chia đôi đất nước năm 1954, Thầy và gia đình cùng một triệu người di cư vào miền Nam tìm tự do. Để đáp ứng với làn sóng người tỵ nạn, bệnh viện Bình Dân (tên Thầy đặt cho bệnh viện) được xây cất bởi các nhà hảo tâm dẫn đầu bởi bác sĩ Trần Hàm Nghiệp. Bệnh viện được đặt dưới quyền trường Y Dược Nha khoa và tiếp nhận những nhân viên di cư từ bệnh viện Phủ Doãn.
      Ngày 11 tháng 5 năm 1955, Thầy được đề cử làm Khoa trưởng trường Y Dược Đại học Sài Gòn. Các giáo sư người Pháp cũng bắt đầu rời khỏi Việt Nam.
      Ngày 31 tháng 7 năm 1967, Thầy từ nhiệm chức vụ Khoa trưởng để trở lại chức vụ trưởng khu Giải phẫu B, sau khi hoàn tất và đặt nền móng cho một Trung tâm Giáo dục Y khoa tối tân và một ban giảng huấn hùng mạnh.
      Năm 1975 Thầy kẹt lại Sài Gòn và tiếp tục dìu dắt, đào tạo nhiều thế hệ y sĩ trẻ tới khi về hưu năm 1984. Năm 1989, Thầy định cư với gia đình tại Tustin, California, Hoa Kỳ.  Thầy mất ngày 11 tháng 12 năm 1999, hưởng thọ 86 tuổi.

PHONG CÁCH, TRÁCH NHIỆM VÀ GIẢNG DẠY
     Thầy sống một cuộc đời bình dị và thanh bạch. Thầy có dáng người nhỏ nhắn, nhanh nhẹn. Nét mặt đăm chiêu khắc khổ với đôi mắt sáng ngời. Quanh năm suốt tháng hình như Thầy chỉ mặc một bộ đồ xám thẫm, một cái sơ mi ngắn tay với cái cà vạt thắt nút nhỏ. Thầy ít nói, nhưng khi bắt chuyện rồi, Thầy cho ta cảm giác rất gần, cởi mở. Tôi chưa nghe Thầy lên tiếng với ai song cách trách cứ nhỏ nhẹ thấm thía cũng đủ làm người đối thoại ngột ngạt và nhớ đời. 
      Trên cương vị lãnh đạo trường Y, Thầy làm việc có công tâm, nghiêm túc và nhân hậu. Khi tôi lên năm thứ nhất thì nghe nói Thầy quyết tâm chống lại áp lực để cho cô Ngô Đình Lệ Thủy, cháu gái của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào học lớp PCB vì cô không đủ điểm trong kỳ thi tuyển. Năm năm sau, nghe nói trong một kỳ thi ra trường, Thầy nghiêm nghị hỏi một anh sinh viên: “Hôm qua có cô X tới thưa chuyện với tôi rằng anh đã có liên hệ mật thiết với cô ta rất lâu, nay khi cô ta có bầu thì anh lại thay đổi ý kiến. Bây giờ anh tính làm sao? Anh phải nhớ rằng người bác sĩ luôn luôn đứng đắn, từ bi và tha nhân. Anh nghĩ có nên tiếp tục làm bác sĩ không? Anh sinh viên xanh mặt. Sau đó nghe nói anh kết duyên cùng cô bạn đó và hai người sống với nhau rất hạnh phúc. 
      Cũng như năm xưa (1948) khi người sinh viên thi clinic cuối cùng ra khỏi phòng thì cô thư ký của Thầy bước vào báo tin là phòng mổ trên lầu đã sắp sẵn chỉ còn chờ Thầy mà thôi. Thầy rón rén đứng dậy, nhăn mặt rồi trèo cầu thang lên lầu. Cô thư ký cho mọi người biết là Thầy có triệu chứng đau ruột dư từ mấy hôm trước nhưng Thầy quyết định chấm thi xong rồi mới lo chuyện của Thầy, vì “các anh ấy phải biết kết quả sớm để lo liệu trước”. Tôi được biết sau đó là Thầy bị abcès appendiculaire và phải nằm bệnh viện rất lâu vì ruột dư đã bể vì Thầy chờ quá lâu. Tôi không bao giờ quên được câu chuyện này. 
      Ngược lại, đối với người bệnh thì Thầy không bao giờ chần chờ  phút nào và để tên bệnh nhân trên bảng mổ ngay khi có bằng chứng chụp hình quang tuyến X. Thầy hay giải phẫu cắt bao tử (gastrectromie à la Polya hay Billroth II), 5 - 6 ca một tuần. Thầy mổ rất đẹp và nhanh. Tính sơ trong 29 năm (1955-1984) Thầy đã giải phẫu cho khoảng 7500 bệnh nhân ung loét bao tử, một kinh nghiệm khó có được. Trong suốt bao nhiêu năm học và làm tại bệnh viện Bình Dân, tôi chưa bao giờ gặp biến chứng xì tá tràng (duodenal stump leak) rất nguy hiểm cho tính mạng bệnh nhân cho đến khi tu nghiệp và dạy học ở ngoại quốc. Trong khi giải phẫu, Thầy bàn nhiều về cách thức giải quyết một chỗ mổ “dính và khó” một cách an toàn bằng cách “ăn cháo nóng húp quanh”. 
      Sau nửa năm làm nội trú với Thầy, có lúc tôi tự hỏi “không biết đến bao giờ Thầy mới để mình mổ một mình”, vì trong bất kỳ một phẫu thuật nào, lớn hay nhỏ, Thầy đều làm từ đầu đến cuối: từ lúc trải khăn mổ, rạch da, đến khi mổ, đóng thành bụng, băng vết mổ, đẩy bệnh nhân ra phòng hồi sức, viết protocole opératoire rất tỉ mỉ, và đọc lại cho mọi người nghe để ôn lại những gì đã làm trong cuộc giải phẫu. Có biết đâu là Thầy đã nhiếp tâm truyền nghề cho mình từ lâu rồi, ngày này sang ngày khác, tháng này qua tháng khác. Một hôm, thay vì lên phòng mổ khoảng 11 giờ (hàng ngày tôi thường mổ một  hay hai trường hợp nhỏ như sa ruột, lấy túi mật trước khi phụ mổ Thầy) thì Thầy gọi điện thoại lên nói là Thầy bận có khách, cứ mổ đi đừng có chờ Thầy. Như một con chim có đủ lông cánh, tôi cất cánh ngay. Tôi mổ, và rất tự nhiên vô tư giảng giải cho người phụ mổ từ cách đi đứng, cách tiếp đưa dây cột, cách cột dây làm sao cho đẹp cho đúng. Nửa chừng khi thấy chị Vân tiếp viên dụng cụ ra hiệu, tôi nhìn ngang và thấy Thầy đứng ngay sau lưng tôi từ lúc nào không biết, gật gù với ánh mắt hài lòng. Mổ xong tôi tự động chuyển bệnh, đẩy giường bệnh ra phòng hồi sức làm tiếp nhiệm vụ. Cho đến nay 40 năm sau, tôi vẫn giữ thói quen đó. Tôi đã thấm nhập những điều dậy dỗ của “lò Bình Dân”. Quả như vậy, sau khi vào ban giảng huấn Đại học Iowa bảy năm, trường Medical College of Pennsylvania / Hahneman / Drexel Pittsburgh gần 3 thập niên, tôi đã cảm nhận được là mình có phước rất lớn được học những tinh túy của các Thầy ở bệnh viện Bình Dân. Các Thầy đã trao cho tôi một hành trang đầy đủ để xử dụng trong suốt cuộc đời đi dậy học. 
     Như để chứng minh sự hoàn hảo của giải phẫu hồi đó, trong Đại hội Y sĩ tại Orlando, Florida, Cô Phạm Biểu Tâm đã kể lại chuyện về Thầy đã mổ cho một ông Đại sứ Trung Hoa Dân quốc. Để bày tỏ lòng biết ơn, vị Đại sứ này đã tặng Thầy bức tranh “Hoa Đà mổ Quan Công” để vinh danh Thầy như một Hoa Đà tái thế, chứng tỏ Thầy “mát tay” như thế nào.  Cô cũng đã tặng lại cho Đại hội bức tranh này.   
      Thầy luôn luôn có mặt khi học trò gặp khó khăn. Một đêm trực tôi mổ cho một bà bệnh nhân gầy còm bị tắc ruột với triệu chứng đặc biệt của sa ruột qua lỗ bít (obturator hernia) mà tôi chỉ được biết qua sách vở mà thôi. Lúc đó khoảng một giờ sáng, tôi bí quá phải mời Thầy tới, theo lời yêu cầu của bác sĩ thường trú Nguyễn Quang Huấn, y sĩ khu giải phẫu ung thư thời đó. Chờ không tới 20 phút thì Thầy bước vào phòng mổ, hỏi vài câu rồi đi rửa tay, mặc áo và đeo găng. Thầy xem xét chỗ ruột sa và đồng ý với chẩn bệnh giải phẫu nhưng Thầy lại nói thêm “tôi chưa từng gặp trường hợp này bao giờ cả.” Hai Thầy trò bàn cãi về cách bít lỗ sa ruột. Thầy còn nói trước khi ra về “anh kiếm thêm sách báo xem người ta chữa làm sao và cho tôi biết nhé.” Sau cuộc tra cứu, bài tường trình đã được đăng trong báo Acta Medica Vietnamica năm 1970. Tôi vừa mới biết gần đây, tờ báo của trường Y khoa Sài Gòn này được sáng lập bởi Thầy năm 1957.

XÂY DỰNG TRUNG TÂM GIÁO DỤC Y KHOA SÀI GÒN
      Từ thuở đầu trường Đại học Y khoa được thành lập năm 1902 bởi chính quyền bảo hộ Pháp như là một chi nhánh Đông Dương của Đại học Y khoa Paris. Trường được các giáo sư danh tiếng như Alexandre Emil John Yersin, Pierre Huard… đảm trách. Cũng vì lẽ đó mà khi Viện trợ Mỹ được dưa vào Việt Nam sau năm 1954, Thầy và ban Giảng huấn trường Y khoa Đại học Sài Gòn cũng như AMA đã có những quyết định rất thận trọng, chỉ chấp nhận và làm những công tác tuyệt hảo mà thôi. 
      Trung Tâm Giáo Dục Y khoa được nghiên cứu bởi bác sĩ Robert Jason, khoa trưởng trường Đại học Howard ở District of Columbia năm 1957, dưới sự chỉ định của USAID. Trường được thiết kế bởi kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, giải khôi nguyên Kiến trúc La Mã và cũng là người đã vẽ Dinh Độc lập tại Sài Gòn. Viên đá đầu tiên được đặt bởi Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1962, ngôi trường mới hoàn tất năm 1966. Trong kỷ nguyên mới này, Thầy và Hội đồng Khoa phải đương đầu với nhiều vấn đề liên quan tới các mục sau đây:

      CHUYỂN NGỮ
      Với sự bùng nổ của các môn sinh lý, sinh hoá và sinh học vào thập niên 1950-1960, các Đại học Y tại Hoa kỳ đã chuyển mình và đưa các bộ môn này vào Y học. Trong khi đó thì các nước ở Châu Âu, kìm hãm bởi Thế chiến, đã không theo kịp đà tiến triển, nên Anh ngữ tất nhiên trở thành sinh ngữ của khoa học và y học. Lại nữa vì tiếng Việt chưa đủ danh từ khoa học nên việc xử dụng Anh ngữ làm chuyển ngữ được chấp thuận. Với thư viện y khoa được xây cất và sách vở được cập nhật đầy đủ, y học bắt đầu được giảng dạy bằng Anh ngữ  từ năm 1965. Đến năm 1968, sinh viên Y khoa viết và thông thạo sinh ngữ này.

      QUY CHẾ ĐẠI HỌC
      Đây là vấn đề nan giải nhất vì có sự tranh chấp giữa các cá nhân tu nghiệp tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức. Nói một cách đơn giản, trường Y lúc đó có ngạch giáo sư thực thụ, thường là giáo sư Thạc sĩ đỗ khoảng thập niên 1950-1960 và trình luận án khoảng 10-15 năm trước. Tiếp theo đó là giáo sư diễn giảng ra trường được khoảng từ 5 tới 10 năm.  Sau đó là giáo sư uỷ  nhiệm du học tại ngoại quốc và cuối cùng là giới giảng nghiệm viên ra trường trong nước hoặc chỉ có bằng tiến sĩ khoa học căn bản nhưng không phải là y sĩ. Tình trạng hồi đó nhá nhem nên có người chưa học hết chuyên môn đã được làm trưởng khu. 
      Quy chế này cũng không khác biệt mấy so với thể chế ngày nay tại Đại học Iowa, Medical College of Pennsylvania, Pittsburgh và Mayo Clinic. Thường các bác sĩ ra trường sau khi học chuyên môn (fellowship) được làm huấn luyện viên hay nghiệm chế viên (instructor hay assistant). Sau một năm thử lửa, người đó lên làm giáo sư uỷ nhiệm (assistant professor) và có thời gian từ 5 tới 7 năm để nhậm chức giảng sư (associate professor). Đương sự phải có nhiều khảo cứu trình bày tại các hội thảo quốc nội trong một thời gian từ 7 đến 10 năm mới được lên chức giáo sư. Chức vụ này đòi hỏi đương sự phải có danh tiếng trên trường quốc tế và được giới thiệu của 5 đến 7 vị giáo sư tại Hoa kỳ vả Gia Nã Đại gửi cho hội đồng khoa. Giáo sư thực thụ là mức cuối cùng của ngành giáo sư Y khoa Đại học. Hàng năm nhân viên giảng huấn phải có tối thiểu 5-10 bài khảo cứu y khoa được đăng tải. 
      Hồi đó một Hội đồng Qui chế tại Đại học Y khoa Sài Gòn đã được thiết lập để xét lại Quy chế, xong chưa bắt đầu làm việc thì biến cố 1975 xảy ra. 

      BAN GIẢNG HUẤN
      Đào tạo nhân viên giảng huấn là một công việc rất khó khăn và phức tạp. Thập niên 1960-1970 sôi động vì biến cố chính trị và khủng hoảng chiến tranh. Tất cả nam sinh viên ra trường đều bị trưng tập nên ban giảng huấn không đủ nhân lực. Trong thời kỳ này, không có một cuộc tuyển chọn nhân viên giảng huấn được tổ chức. Trong khi đó thì Bộ Y tế phải lo cho sức khoẻ dân chúng  và y tế phòng ngừa, cũng cần thêm người nhưng lại không có thực   lực nên không giúp được gì nhiều hơn. Tuy vậy các cố gắng của trường Y khoa và AMA cũng mang lại kết quả khả quan. Các môn khoa học căn bản như cơ thể học, sinh hoá, vi trùng và ký sinh trùng, bệnh lý học… Các bộ môn khoa học lâm sàng như sản phụ, nhi khoa… được sự cộng tác chặt chẽ của nhiều bộ môn danh tiếng tại Hoa Kỳ. Đặc biệt các bộ môn như gây mê, nội khoa, sản phụ khoa, nhi khoa, giải phẫu tổng quát, quang tuyến… đã gửi được nhiều nhân viên giảng huấn sang tu nghiệp tại Hoa Kỳ cùng cung cấp những chứng chỉ chuyên môn cho học viên. 
      Đã có 171 nhân viên giảng huấn danh tiếng  Hoa Kỳ từ các bộ môn đã nhiệt tâm góp sức xây dựng Trung Tâm Giáo Dục Y khoa, trong đó có 22 trưởng khu, 37 nhân viên dài hạn và 112 nhân viên làm việc ngắn hạn. Một trăm bốn mươi nhân viên giảng huấn trường Y khoa Sài Gòn đã sang tu nghiệp tại Hoa Kỳ.  Bẩy nhân viên giảng huấn trẻ tu nghiệp tại Mỹ về giữ chức vụ giáo sư uỷ nhiệm. Sau đó có thêm 6 vị đến từ các nước khác. Từ 1967 đến 1975, số nhân viên giảng huấn tăng từ 91 đến 195.

KẾT LUẬN
      Nhìn lại nền Y học Việt Nam trước và sau 1955 ta thấy một bước tiến lớn lao. Trong thời kỳ Pháp thuộc, số nhân viên giảng huấn đếm được trên đầu các ngón tay và y khoa chủ yếu dựa trên lâm sàng. Số bác sĩ ra trường khoảng 354 người tính theo số luận án đệ trình. Sau 1955 trường Y khoa Sài Gòn đã thay đổi hoàn toàn với gần 200 nhân viên giảng huấn và khoảng 2000 luận án được đệ trình. Y khoa được giảng dạy theo đà tiến triển y khoa quốc tế trong một trường sở đầy đủ tiện nghi. 
      Khác biệt này có được là nhờ Thầy Khoa trưởng Phạm Biểu Tâm mà ít ai để ý tới và vinh danh, vì Thầy làm nhiều và nói lại rất ít. Hồi trẻ Thầy thường ngâm câu thơ “trăm năm sau có cũng như không” nhưng Thầy đã để lại một di sản quý báu cho cả ngàn học trò cùng cả ngàn hậu duệ của họ để mang lại sức khỏe cho đồng bào. Một di sản đức độ áp dụng muôn đời cho mọi người.

NGHIÊM ĐẠO ĐẠI
Để tưởng nhớ Thầy
Westminster, 21/ 02/ 2014

Tài liệu tham khảo:
1/ Đào Hữu Anh: Y khoa Đại học Sài Gòn. Nhìn lại 60 năm lịch sử. Tập San Y Sĩ số 190,82, tháng 7-2011
2/ Phạm Tu Chính: Một chút gì để nhớ. Trường Đại học Y khoa Hà Nội-Sài Gòn (1902-1975), Tập San Y Sĩ số 200,13,tháng 1-2014
3/ Trường Y khoa Sài Gòn: ykhoasaigon.com ngày 10 tháng 12, 2014
4/ C.H. W. Ruhe, N.W. Hoover, I. Singer: Saigon Medical School. An Experiment in International Medical Education. An Account of the  AMA’s Medical Education Project in South Vietnam, 1966-1975. AMA  1988.

Học để làm gì?




Học để làm gì?




Giáp Văn Dương




Trọng tâm của giáo dục là việc học, chứ không phải là việc dạy hay nội dung chương trình. Vì thế, mọi hoạt động của giáo dục theo tôi đều phải xoay quanh việc học.
Với việc học, có ba câu hỏi tối quan trọng cần phải trả lời: “Học cái gì?”, “Học thế nào” và “Học để làm gì?”. Trong số ba câu hỏi này theo tôi, “Học để làm gì?” là quan trọng nhất, vì nếu trả lời được câu hỏi này thì hai câu còn lại sẽ tự động có đáp án.
Hệ thống giáo dục hiện thời đang đặt trọng tâm vào “Học cái gì?”, vì thế sách giáo khoa sẽ chiếm vị trí là trung tâm. Đó là lý do vì sao những cuộc cải cách giáo dục trong suốt mấy chục năm qua chỉ loay hoay vào sách giáo khoa. Ngay cả đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đang được triển khai cũng tập trung vào sách giáo khoa với lượng kinh phí lớn.
Sách giáo khoa là chân lý. Ông thầy với cuốn sách giáo khoa trong tay chính là hiện thân của chân lý. Học sinh sẽ không được nói những điều khác sách, không được phản biện, chất vấn thầy cô. Việc học sẽ tiến hành theo kiểu đọc - chép, học thuộc, luyện tập nhuần nhuyễn các dạng bài, theo mẫu hoặc sách tham khảo.
Việc lấy “Học cái gì?” làm trọng tâm cũng dẫn đến một hệ quả tất yếu là học để thi vì đó là cách dễ nhất để kiểm tra xem học sinh đã học được cái gì. Mà khi đã học để thi thì bệnh thành tích cũng là hệ quả hiển nhiên, không cách nào khắc phục được.
“Học cái gì?” và “Học để thi” cũng là cách tốt nhất để thể hiện quyền uy của người thầy, vì chỉ cần kiểm tra học sinh xem có thuộc như sách hay không là nắm trọn quyền sinh, quyền sát trong tay. Đây là cách tiếp cận yêu thích của các nhà quản lý vì dễ dàng kiểm soát. Chỉ cần nắm chặt sách giáo khoa là kiểm soát được cả hệ thống.
Muốn thoát khỏi cách tiếp cận này thì hệ thống giáo dục cần phải thay đổi từ “Học cái gì?” sang “Học thế nào?” và lý tưởng nhất là chuyển hẳn sang “Học để làm gì?”.
Càng lên cao thì “Học để làm gì?” càng trở nên quan trọng. Với bậc đại học thì “Học để làm gì?” là câu hỏi chủ chốt mà mỗi sinh viên, và rộng hơn là nhà trường, cần phải trả lời. Với một cá nhân, muốn việc học có hiệu quả thì phải trả lời bằng được câu hỏi “Học để làm gì?”. Với một hệ thống giáo dục, muốn cải cách thành công thì câu hỏi này cũng phải được bàn thảo một cách thấu đáo.
Vậy nên, trong hơn một năm qua, tôi thường làm các khảo sát bỏ túi xung quanh câu hỏi “Học để làm gì?” với những bạn học sinh, sinh viên hoặc phụ huynh mà tôi gặp. Câu trả lời thường rơi vào các nhóm như sau: Học để thi; học vì bố mẹ bảo học; học vì không biết làm gì khác; học mà không biết học để làm gì; học vì tất cả mọi người đều như vậy; học như một quán tính, hết cấp 1 thì lên cấp 2, lên cấp 3, rồi vào đại học.
80% học sinh trung học cơ sở và phổ thông trung học, 50% sinh viên trả lời: học để kiếm tiền hoặc học để sau này có công ăn việc làm. Khoảng 40-50% sinh viên đại học và 20-25% học sinh phổ thông trung học nói rằng: học để có thể tự lo cho cuộc sống của mình, kiếm được công việc phù hợp, sau này đỡ khổ và giúp đỡ gia đình.
80-90% bậc phụ huynh trong kỳ thi đại học vừa rồi trả lời: học để mở mang hiểu biết hoặc học để có địa vị trong xã hội.
Câu trả lời chung trong các nhóm khác nhau, chiếm tỷ lên khoảng 5-10%, tùy theo nhóm là học để tự hoàn thiện mình. Với một số người có tuổi, hoặc giáo viên, thì có thêm câu trả lời: Học để làm người.
Như vậy có thể thấy, phần lớn các bậc phụ huynh đặt mục tiêu cho việc học của con để sau này có một công ăn việc làm tốt, kiếm được tiền lo cho bản thân và gia đình. Một số khác ít hơn cho rằng học để mở mang hiểu biết, để có địa vị trong xã hội. Với sinh viên thì mục tiêu học để kiếm tiền, để có công ăn việc làm chiếm khoảng một nửa, còn lại là học mà không có bất cứ mục tiêu nào.
Điều ngạc nhiên là trong số những người được hỏi, có đến >95% cho biết họ chưa từng tự đặt câu hỏi này cho bản thân mình.
Xét về logic thì đây là một sự bất hợp lý. Trung bình một người đang đọc bài viết này chắc hẳn đã đầu tư khoảng 10-20 năm để đi học. Một đầu tư rất lớn về thời gian và tiền bạc như vậy mà mục đích lại không rõ ràng thì thật là kỳ lạ.
Tất cả đều quay cuồng dạy và học, đua nhau nhồi nhét kiến thức, mà rất ít khi dừng lại tự hỏi: Học để làm gì?
Xét rộng hơn cho cả hệ thống thì kết luận cũng tương tự. Khi câu hỏi “Học để làm gì?” không được trả lời thì tính hướng đích của hệ thống sẽ không rõ ràng. Hoạt động của hệ thống sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn. Cải tiến, cải lùi, rồi lại cải tiến, rồi chạy lại vòng vòng, như mấy chục năm qua, là kết quả có thể dự đoán trước.




Trong mớ bòng bong đó, rất may, UNESCO đã đưa ra câu trả lời giúp chúng ta nhân dịp bước sang thiên niên kỷ mới, rằng: Học để biết, Học để làm, Học khẳng định mình và Học để chung sống với người khác (learning to know, learning to do, learning to be and learning to live together). Đây là một nhận định sáng suốt của UNESCO và cần được phổ biến. Nhưng đây không phải là câu trả lời duy nhất.
Trong số các câu trả lời mà tôi nhận được thì cá nhân tôi cho rằng, học để làm người là một nhận định xác đáng và sẽ vẫn còn chỗ đứng trong giáo dục. Vấn đề là người như thế nào?
Điều đó cho thấy câu trả lời này có nội hàm mập mờ, thậm chí hàm chứa cạm bẫy áp đặt quan niệm, nên cần làm rõ. Chẳng hạn, chỉ cần dấn thêm một bước bằng câu hỏi người là gì, hay làm người theo tiêu chí nào, thì câu trả lời này sẽ rơi vào thế tắc hoặc hỗn loạn vì có quá nhiều đáp án.
Thử tự trả lời: Trong ba câu hỏi của việc học, thì đâu là câu hỏi quan trọng nhất? Bạn đã từng đặt câu hỏi “Học để làm gì?” chưa? Nếu có thì câu trả lời của bạn là gì? Bạn hiểu thế nào về học để làm người?
Bạn sẽ có đáp án cho việc học của mình.

Giáp Văn Dương

..../.


Paco de Lucia (1947-2014) R.I.P. ********


***************************
 Paco de Lucia 
(1947-2014) 
R.I.P.

***************************


 Paco de Lucía , người được sinh ra trong một gia đình âm nhạc và lớn lên trở thành một trong những nghệ sĩ guitar vĩ đại nhất của thế giới, làm chủ âm nhạc flamenco và tìm kiếm các đối tượng mới bằng cách kết hợp nó với nhạc jazz và các thể loại khác, đã qua đời ở tuổi 66, hôm thứ tư ở Mexico.   

[..] Sinh ngày 21 Tháng Mười Hai 1947, ông de Lucía lớn lên trong một gia đình âm nhạc và khao khát chơi guitar từ thời thơ ấu sau khi nhận được bài học đầu tiên của mình từ cha mình. Ông đã giành một cuộc thi flamenco quốc tế khi ông 14 tuổi. 
Ngay sau đó, ông đã thu âm đầu tiên của mình, "Los Chiquitos de Algeciras," với anh trai Ramón, người cũng chơi guitar.   

Ông lấy tên sân khấu của mình từ thực tế là khu vực giang hồ của ông là đầy đủ của trẻ em được gọi là Paco (viết tắt của Francisco), do đó ông đã thường được gọi là "Paco của Lucía," tên của mẹ mình. văn phòng thị trưởng ở Algeciras, miền nam Tây Ban Nha, nơi ông sinh ra.  

[Đọc trên tại NYT: Paco de Lucía, Flamenco guitar, qua đời ở tuổi 66]














........../.