"DÂN CHỦ LÀ ĐỂ CHO DÂN ĐƯỢC MỞ MỒM RA NÓI"


Phải thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh: "DÂN CHỦ LÀ ĐỂ CHO DÂN ĐƯỢC MỞ MỒM RA NÓI"




 Tống Văn Công 


Dự thảo “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung và phát triển năm 2010” không có ghi nhận tự do báo chí, tự do ngôn luận – một vấn đề mà các Hiến pháp từ năm 1946 đến nay đã ghi nhận, dù chưa được thực hiện đầy đủ.
Trong dự thảo Cương lĩnh ở mục 6 nói về “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến” có đoạn viết: “Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân. Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng đồng bộ, hiện đại, thông tin chân thực, đa dạng, kịp thời, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc".



Bảo đảm “quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân“ chỉ là một phần của quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của công dân Việt Nam được quy định trong tất cả các Hiến pháp của nước Việt nam từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1992. Nhà nước tạo điều kiện để công dân có quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền được thông tin theo quy định của pháp luật". Việc “Phát triển các phương tiện thông tin” là tạo ra nhiều thiết bị, công cụ phục vụ cho việc truyền đạt các yêu cầu tuyên truyền của nhà nước tới người dân thuận tiện hơn, chứ chưa hẳn đó là công cụ thực hiện quyền tự do báo chí của người dân.

Trong quyển “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông dương" do Nguyễn Ái Quốc viết từ những năm 1921 – 1926 có đoạn: “Mãi tới bây giờ chưa có một người Việt Nam nào được phép xuất bản một tờ báo nào cả. Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như ta thấy ở Châu Âu và các nước Châu Á khác chứ không phải một tờ báo do chính quyền thành lập…” (Hồ Chủ tịch với báo chí, Hội nhà báo TP HCM, 1980, trang 9). Như vậy, có thể hiểu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gửi thư đến Hội nghị Versailles đòi quyền tự do báo chí cho nhân dân Việt Nam là đòi quyền tự do cho từng người, cho mỗi “một người". Tư tưởng đó sau Cách mạng Tháng 8, được Hồ Chí Minh diễn đạt một cách dân dã, giản dị: Dân chủ là để cho dân mở mồm ra nói. Dân chủ là đừng bịt miệng dân.

Đọc lại lời mở đầu Tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh viết: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Có thể hiểu quyền tự do của con người là quyền tự nhiên, không do ai ban cho mà là bản chất của con người để tồn tại.
Thomas Jefferson nói: “Chính phủ lập ra không phải để ban phát các quyền tự do mà để bảo vệ nó".

Hiến pháp Việt Nam ghi nhận tự do báo chí, tự do ngôn luận, nhưng Luật báo chí lại không cho phép tư nhân có quyền ra báo! Mặc dù nếu cho phép ra báo tư nhân mà quản lý theo cách từng thời gian ra chỉ thị những vùng cấm không được nói (dù không thuộc lĩnh vực an ninh quốc gia hay đạo đức xã hội) thì cũng chưa có tự do báo chí.
Karl Marx nói: Đối lập với báo chí tự do là báo chí bị kiểm duyệt. Ông cho rằng, báo chí bị kiểm duyệt là “con quái vật được văn minh hóa, cái quái thai được tắm nước hoa".

Báo chí của ta hiện nay là tiếng nói của tập thể các giới thông qua đoàn thể chính trị xã hội của giới mình. Đó cũng là một bước dài (một nửa?) trên con đường tự do báo chí của nhân dân ta. Chúng ta mới có tự do báo chí cho tập thể chứ chưa có tự do báo chí cho từng người dân. Tức là chưa có mỗi “người dân được mở mồm ra nói".
Có lẽ nền báo chí đó chỉ thích hợp với thời chiến, chứ không còn thích hợp trong thời bình, đặc biệt là trong thời hội nhập quốc tế. Ngày nay những quốc gia có chế độ quản lý báo chí siết chặt gần giống với ta chỉ còn đếm trên đầu ngón tay!
Từ sau Đổi mới mở cửa hội nhập quốc tế, Việt Nam được bạn bè khen ngợi về thành tích phát triển kinh tế, nhưng thường xuyên bị chê trách về việc không thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận. Các cơ quan theo dõi tự do báo chí quốc tế luôn xếp Việt Nam ở dưới hơn 150 nước khác! Hội đồng nhân quyền họp năm 2009 có 15 quốc gia đề nghị Việt Nam sửa đổi Luật báo chí sao cho phù hợp với Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam đã gia nhập từ 24 tháng 9 năm 1982,

Điều 19:
1- Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào.
2- Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận, và truyền đạt mọi tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng chữ viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ.
3 – Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định, tuy nhiên những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để:
a/ Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác;
b/ Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng.
Chế độ quản lý báo chí của Việt Nam trái với nội dung Điều 19 nói trên, được thể hiện trong phát biểu của ông Bộ trưởng Bộ Thông tin – Truyền thông ngày 4 tháng 8 năm 2007 tại Hội trường Quốc hội:
- “Tổng biên tập là người của Bộ Thông tin – Truyền thông sau này cắm ở từng tờ báo".
- Báo chí “hoàn toàn có tự do, nếu đi đúng lề đường bên phải và chúng tôi sẽ cố gắng làm cho các đồng chí lề đường đó".
Từ phát biểu nói trên đã đẻ ra bao chuyện phản ứng, châm biếm: Báo chí lề phải, báo chí lề trái; hơn 700 tờ báo ở Việt Nam chỉ do một Tổng biên tập điều hành!
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có lần nói: ”Kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức và không để bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng, chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước".

Toàn dân Việt Nam chắc chắn không ai dung tha kẻ nào có hành vi gây tổn hại lợi ích đất nước. Thế nhưng không có cơ sở nào để cho rằng thực hiện tự do báo chí và cho ra báo tư nhân thì sẽ bị lợi dụng gây tổn hại lợi ích đất nước. Bởi vì:
1- Trong chế độ ta đã từng thực hiện tự do báo chí và sự cho phép ra báo tư nhân đã thu được kết quả rất tốt đẹp. Sau Cách mạng Tháng 8, mặc dù có nhiều đảng phái hoạt động rất phức tạp, nhà nước non trẻ vẫn thực hiện tự do báo chí, cho ra nhiều tờ báo tư nhân. Lúc ấy tuy trình độ dân trí còn thấp nhưng nhân dân vẫn nhận ra tiếng nói chính nghĩa, tuyệt đối tin theo những tờ báo có tiếng nói bảo vệ độc lập, thống nhất Tổ quốc. Sau khi giặc Pháp chiếm Hà Nội, trong các tờ báo rút ra ngoại thành có tờ báo tư nhân Bạn Trẻ được Ủy ban kháng chiến Khu 3 đánh giá là tờ báo hàng đầu về kỹ thuật làm báo. Nhà nghiên cứu Nhật Hoa Khanh đã sưu tầm được bản tin đăng trên báo Độc Lập về cuộc họp báo ngày 21-3-1946 của Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng thông báo việc ban hành sắc lệnh cho phép báo chí xuất bản không phải xin phép mà chỉ thông báo cho các nhà chức trách biết.
2- Sau 1975, tờ báo tư nhân Tin Sáng đã tồn tại hơn 4 năm, đóng góp rất lớn cho việc ổn định tư tưởng đối với đồng bào miền Nam. Tờ báo được cho “hoàn thành nhiệm vụ” chỉ vì thực hiện đường lối cải tạo xã hội chủ nghĩa toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội của Nghị quyết Đại hội 4 của Đảng. Nhiều cán bộ phóng viên báo Tin Sáng đã góp phần cải tiến các báo Tuổi trẻ, Sài Gòn Giải phóng, Lao động…
3- Không cần thuyết lý dài dòng, ai cũng phải đồng ý rằng thực dân Pháp coi nhân dân ta là những kẻ nô lệ mất nước, bị chúng cai trị. Chúng luôn phải đề phòng đồng bào ta lợi dụng báo chí để kích động lòng yêu nước, chống lại chúng. Thế nhưng theo báo cáo của Nguyễn Ái Quốc “Về tình hình chính trị ở Đông Dương từ 1936 đến 1938", phần nói về báo chí, ông cho biết cả nước ta lúc đó có 12 tờ báo “tán thành đòi tự do dân chủ và ân xá chính trị phạm". Nguyễn Ái Quốc viết: “Tờ Dân chúng (ở trên người đã chú thích Dân chúng là tờ báo cộng sản) xuất bản ở Sài Gòn, là tờ báo đầu tiên đã bất chấp đạo luật cấm phát hành báo nếu không được cho phép trước. Sau khi nó ra đời một tháng, quyền tự do báo chí được ban hành" (Hồ Chủ tịch với báo chí).
Chẳng lẽ chúng ta ngày nay cảnh giác đối với đồng bào mình còn gay gắt hơn bọn thực dân Pháp ngày xưa? Câu hỏi này, tôi chỉ lặp lại lời cầu xin Quốc hội của nhà báo cộng sản tiền bối là cụ Nguyễn Văn Trấn, Ủy viên Ban biên tập báo Dân chúng nói trên.
Những người bênh vực cho việc tiếp tục để các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quản lý chặt báo chí như hiện nay lập luận rằng: Làm như vậy là để cho toàn dân chỉ nghe một quan điểm chính thống. Nhờ đó không có người nào bị phân tâm, tất cả đồng thuận, tạo nên sức mạnh, chống lại sự xuyên tạc, chống phá, xuyên tạc của bọn thù địch. Thực tế chứng minh ý kiến trên hoàn toàn không chính xác. Trong thời đại bùng nổ thông tin, cách quản lý nói trên không thể bịt miệng những người có ý kiến phản biện, mà tác dụng ngược là tự bó tay mình, tự bịt miệng mình và làm tăng thêm sự tin cậy của người dân đối với các trang web, các blog, các báo đài nước ngoài. Nhà bình luận báo chí nổi tiếng F. B. White cho rằng, sự đa dạng của thông tin tự do có cái hay là, nhiều chủ thể cùng theo đuổi một sự thật thì người dân có nhiều cơ hội để nhận ra chân lý; mọi ý đồ xấu sẽ nhanh chóng bị phát hiện, kẻ xấu không tìm đâu ra chỗ ẩn nấp.

Có một câu danh ngôn bênh vực cho tự do báo chí là: “Phương thuốc chữa sai sót của tự do ngôn luận là hãy tự do ngôn luận hơn nữa”.

Tiếp tục quản lý báo chí như hiện nay thì sẽ có hại gì? Chỉ xin phân tích vài điều trong rất nhiều điều có hại.
Đài Truyền hình Việt Nam đang chiếu bộ phim Bí thư Tỉnh ủy, chuyện phim phỏng theo cuộc đời của ông Kim Ngọc. Hồi sự kiện ông Kim Ngọc xảy ra, các nhà báo chúng tôi cũng có nghe xì xầm, nhưng nghe rồi để lại tiếp tục xì xầm với nhau thôi. Chẳng có nhà báo nào, kể cả những cây bút chuyên viết về nông nghiệp rất nổi tiếng thời ấy xem đó là đề tài nóng mà mình có trách nhiệm điều tra và bảo vệ. Trí tuệ và lương tâm của nhà báo xã hội chủ nghĩa không nằm ở đây. Đảng đã bao cấp trí tuệ và cả lương tâm nghề nghiệp trong những vấn đề đại sự như thế rồi! Nhà báo chỉ có trách nhiệm xông pha dưới ánh sáng của các Nghị quyết Đảng để xem ở đâu, người nào đi chệch hướng! Bây giờ nhìn lại, tiếc phải chi ngày ấy có tờ báo nào, nhà báo nào có quyền, hoặc có gan dám đăng ý kiến của ông Kim Ngọc và hàng ngàn ý kiến của nông dân đang trăn trở cùng ông ấy thì chắc chắn chân lý đã sớm lộ ra hơn 20 năm và đồng bào ta được ấm no cũng sớm hơn 20 năm!
Năm 2009, trả lời TuanVietnam.net, nhà báo Hữu Thọ, cũng đồng thời là nhà lý luận lớn về báo chí của chế độ, nói: “Chúng ta đang làm báo ở thời kỳ tế nhị cả về đối ngoại, kinh tế".

Có lẽ các nền báo chí tự do sẽ không thể hiểu được tại sao lại có một nền báo chí “tế nhị”?!

Chẳng là, báo chí Việt Nam đang vướng trong việc gọi đúng tên nước đưa tàu ra Biển Đông bắn giết ngư dân Việt Nam! Bạn ư? Không được! Thù ư? Càng không được! Đành phải tế nhị gọi chúng là nước lạ, tàu lạ vậy!

Câu trả lời của ông Hữu Thọ làm tôi nhớ lại chuyện ở Hội nghị tổng kết công tác báo chí năm 1989, gồm các Tổng biên tập các báo chí Trung ương, do ông Đào Duy Tùng – Ủy viên Bộ Chính trị chủ trì. Trong năm đó, báo Tuổi trẻ có đăng bài bút ký của nhà báo Kim Hạnh – Tổng biên tập báo này, miêu tả rất sinh động tệ sùng bái cá nhân lãnh tụ Kim Nhật Thành ở Bắc Triều Tiên.
Ngoại giao Bắc Triều Tiên lập tức có công hàm phản đối Việt Nam xúc phạm lãnh tụ vĩ đại của họ. Ông Tùng đề nghị mổ xẻ sự việc này, rút kinh nghiệm cho các báo biết né tránh những gai góc khi đăng bài có liên quan đối ngoại với các nước phe ta. Ông Hà Xuân Trường – Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản xin hiến kế. Ông Trường cho rằng, sở dĩ Bắc Triều Tiên có cớ để phản ứng bài báo của Kim Hạnh là do cơ chế quản lý báo chí của Đảng: “Báo chí là công cụ của Đảng nói tiếng nói của Đảng”. Để tránh bị phản ứng kiểu này, nhân đây, nên đổi mới, thay đổi cơ chế quản lý báo chí: “Đảng lãnh đạo báo chí, nhưng mỗi tờ báo có tiếng nói riêng của mình. Như vậy tờ báo nào nói thì tờ báo đó chịu trách nhiệm, chứ không phải Đảng chịu trách nhiệm cho tất cả…”. Hình như ông Trường chưa nói hết ý mình thì ông Đào Duy Tùng đã cắt lời ông: ”Đồng chí phụ trách tạp chí lý luận cao nhất của Đảng, chẳng lẽ đồng chí quên rằng, báo chí là công cụ của Đảng, một vấn đề của tính nguyên tắc? Đó là vấn đề bất di bất dịch, không bao giờ được phép thay đổi, không có đổi mới ở chỗ này!”

Đã qua 20 năm, do “không có đổi mới ở chỗ này“ mà báo chí Việt Nam vẫn bị vướng vào chứng bệnh “tế nhị” rất nan giải!

Vấn đề sẽ dễ dàng biết bao nhiêu nếu mọi ”người dân được mở miệng ra nói“ và sẵn sàng chịu trách nhiệm. Tám mươi triệu dân Việt Nam có đủ cách nói phong phú, sinh động và chịu trách nhiệm thay cho Đảng và Nhà nước trong những câu chuyện tế nhị mà về phương diện quốc gia chưa cần phải lên tiếng.

Trong một dịp tới Hoa Kỳ, tôi rất ngạc nhiên khi đọc một tờ báo tiếng Việt, tức là báo của những người đang “ở nhờ” nước người ta, lại dám chạy một hàng tít lớn đầu trang nhất: “Tổng thống Bush, kẻ phản bội lý tưởng dân chủ". Đó là tiếng nói của một số người còn mang nặng hận thù. Tiếng nói đó không làm lung lay chiếc ghế Tổng thống Mỹ, ngược lại giúp Tổng thống biết chính sách của mình có bao nhiêu người dân chưa đồng tình, họ thuộc thành phần nào và nên giải quyết thế nào. Tiếng nói đó gây tranh cãi trong người Việt, dần dần tạo nên xu thế hòa giải.
Mới đây, sự kiện Ủy ban giải thưởng Nobel của Na Uy quyết định trao giải thưởng Hòa Bình cho ông Lưu Hiểu Ba là một sự kiện lớn, được báo chí quốc tế tốn nhiều giấy mực. Báo chí Việt Nam chỉ đưa tin Trung Quốc phản đối, cho rằng ông Lưu là một tội phạm, việc trao giải là vi phạm các nguyên tắc của giải Nobel và làm tổn hại quan hệ Trung Quốc – Na Uy. Có lẽ báo chí Việt Nam lại bị “thời kỳ tế nhị về đối ngoại“ trong vụ này!

Tự do báo chí, tự do ngôn luận, vấn đề được loài người tiến bộ tiếp nhận hơn 200 năm rồi, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh lên tiếng đòi hỏi cho dân tộc 100 năm rồi và nay đang trong xu thế của thời đại. Tại sao những nhà lý luận soạn thảo Cương lĩnh chưa bức xúc ghi nhận một cách sâu sắc, để luồng gió tự do bùng lên phơi phới mọi tâm hồn Việt Nam khát khao?

Ngày 10 tháng 10 năm 2010

 Tống Văn Công 

......../.

Quyền xả của ông, quyền… chết của dân



Quyền xả của ông, quyền… chết của dân 







Ông Doãn Mạnh Dũng là Chuyên gia độc lập về biến đổi khí hậu, Phó chủ tịch Hội khoa học kỹ thuật và kinh tế biển TP.HCM, kiêm Tổng thư ký Hội.

{keywords}


Ông Doãn Mạnh Dũng. Ảnh: Duy Chiến

Quyền “bấm nút xả lũ trong tay ông thủy điện”

Thưa ông, những trận lũ lụt ở miền Trung đang ngày càng dày đặc hơn và hậu quả khủng khiếp hơn. Ngoài chuyện thiên nhiên đang ngày càng “khó ăn khó ở” thì còn nguyên do từ đâu nữa không?
Có ba nguyên nhân chính khiến tình hình lũ lụt ở miền Trung ngày càng gay gắt, ác liệt.
Thứ nhất là chiến lược phát triển về hướng Tây của các tỉnh miền Trung, tức khai thác rừng phát triển SX trên đất rừng.
Thứ hai, làm con đường Hồ Chí Minh chạy lưng chừng dãy Trường Sơn chẳng khác chi con đê dài ngăn nước từ trên cao đổ xuốngmà các giải pháp kỹ thuật không đồng bộ.
Thứ ba, quản trị xả lũ kém. Mạnh “ông” nào “ông” nấy xả cùng thời điểm khiến cho lượng nước đổ về hạ nguồn ồ ạt.
Ba nguyên nhân này đã gây ra tình trạng lũ lụt khủng khiếp mà trong lịch sử chưa hề xảy ra, gây thiệt hại rất nặng nề. Và nguy cơ với tương lai còn lớn hơn nữa nếu không có giải pháp khắc phục sớm.
Ở đây, ta cần nhấn mạnh một nguyên lý, nước là nguồn tài nguyên quý giá nhưng cũng là hiểm họa khủng khiếp nếu chúng ta không biết cách sử dụng hiệu quả!

Ông có bằng chứng gì cho nhận định của mình trong khi nhiêu chuyên gia khác và dư luận xã hội đang “soi” vào hệ thống thủy điện?
Tất nhiên hệ thống thủy điện không thể vô can nếu không nói là “kẻ” trực tiếp gây ra! Nhưngtrước hết tôi sẽ nói các vấn đề tôi vừa nhận định ở trên.
Tư duy tiến về hướng tây rất phổ biến ở các tỉnh khu vực miền Trung từ Quảng Bình cho tới tận vùng Đông Nam Bộ. Tôi đã nghe trực tiếp nhiều vị lãnh đạo cao cấp của các tỉnh nói công khai. Anh hãy thử lên cửa khẩu Bờ Y (tỉnhKon Tum) xem, đây là ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia. Phía Việt Nam rừng đã bị phá sạch trong khi phía Lào và Campuchia rừng còn nguyên!
Hoặc đi tàu lửa Bắc – Nam đến Quảng  Bình, qua sông Gianh thì đường sắt không còn đi dọc ven biển nữa mà trở lên hướng Tây. Ngồi trên xe lửa bằng mắt thường thấy rất rõ rừng chẳng còn nữa. Sát chân núi là những nương rẫy trồng ngô,khoai. Rõ ràng là việc phá rừng đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát khi chưa có chiến lược giải quyết công ăn việc làm cho người dân. Tôi đã nghe nhiều diễn đàn công khai nói về chuyện này.
Nước ta có con đường huyết mạch là QL1A chạy dọc ven biển, còn con đường Hồ Chí Minh thì chạy lưng chừng dãy Trường Sơn. Hệ thống đường này như con đê chắn ngang dòng nước đổ từ trên cao xuống. Nước chạy dọc con đê công phá rất lớn vào những điểm yếu và tập trung đổ xuống …
Ngoài ba nguyên nhân nói trên, thì nguyên nhânthứ tư chính là thủy điện. Thủy điện không vô can mà chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra thảm họa.
Hệ thống này đang được quản trị rất kém, nằm trong tay những “ông” DN đầu tư và xem nguồn nước như của mình. Không ai có thể kiểm soát được. Điều vô lý nhất là, như tôi đã nói, tài nguyên nước có mặ tlợi và mặt hại, “ông” thủy điện chỉ quan tâm khai thác mặt lợi, còn mặt hại “ông” xả ra mặc cho bao nhiều người dân ở hạ lưu gánh chịu, Nhà nước phải lo lắng!
Hiện nay chẳng ai được sờ vào nút bấm xả lũ cả. Quyền bấm nút trong tay những“ông” chủ thủy điện không hề biết tới hậu quả thật là vô lý và nguy hiểm!

Quyền xả là của “ông”

Theo ông, việc cần phải làm ngay là gì?
Cần phải ngăn chặn ngay kiểu quản trị không hiệu quả như lâu nay! Việc xả nước từ các đập thủy điển cần phải được quản lý tập trung bằng Hội đồng xã lũ. Hội đồng này là những đại diện cho quyền lợi của nhân dân ở vùng hạ lưu.
Ví dụ sông Ba, sông Thu Bồn hay sông Côn đi qua địa phương nào thì địa phương đó có đại diện trong Hội đồng. Phía sau hội đồng là các chuyên gia cung cấp tình hình khí tượng thủy văn và thống kê để Hội đồng quyết định thời điểm “bấm nút” xả.
Vào mùa mưa, nước tràn về, căn cứ vào tình hình và dự báo, Hội đồng sẽ quyết định nhà máy nào phải xả trước bao nhiêu mét. Cứ lần lượt như vậy, các nhà máy phải xả trước khi lũ tràn về để đảm bảo an toàn cho nhân dân ở hạ lưu…
Hội đồng xả lũ làm việc theo nguyên tắc lấy an toàn của nhân dân làm đầu và chịu trách nhiệm với nhân dân và pháp luật.
Nhưng có vẻ như lâu nay chính quyền các địa phương cũng rất quan tâm và thường có chỉ đạo cho việc xả lũ ở các nhà máy thủy điện chứ không phải phó mặc cho các ông chủ?
Việc từng tỉnh quan tâm chỉ đạo như lâu nay không thể có hiệu quả vì hệ thống thủy điệndày đặc nằm trên nhiều địa phương. Chính quyền các tỉnh không thể phối hợp được với nhau. Và việc xả lũ là quyền của các “ông” chủ nhà máy. Từng tỉnh phải “đề nghị” hoặc“yêu cầu”, nên việc vận hành chung thiếu đồng bộ.
Trong khi đó, ông chủ nào cũng muốn tích trữnước, đợi sát nút mới xả thì thiệt hại,chết người là phải! Và “ông” này xả mà “ông” kia không xả hoặc nấn ná thêm thờigian là cũng đủ chết dân rồi!

Nếu vận hành mô hình Hội đồng như ông nói,nhưng các dự báo không chính xác, dẫn đến quyết định không chính xác thì cũng sẽ gây thiệt hại lớn cho nhà đầu tư thưa ông?
Giả sử có rủi ro như vậy thì DN phải chịu! Phải lấy lợi ích của người dân lên hàng đầu. Bởi vì liên quan đến mùa màng, nhà cửa, hoa màu và tính mạng của nhân dân cùng hàng loạt cơ sở hạ tầng của các địa phương. Chuyện rất lớn!
So với lợi ích đó, thì số các DN thủy điệnlà thiểu số. Với lại, so ra nếu giảm lợi nhuận trong mùa mưa lũ nhưng đảm bảo an toàn cho dân cư và cơ sở hạ tầng tích lũy làm ra biết bao công sức thì lợi ích này vẫn lớn hơn nếu không nói là vô giá.
Mặt khác, đảm bảo an toàn cho nhân dânhạ lưu nghĩa là giữ được sự ổn định trật tự xã hội. Không thể chỉ vì chăm lo cho lợi ích của nhà đầu tư mà gây hiểm họa cho người dân.
Chẳng phải duy trì tình trạng như hiện nay thìNhà nước cũng vẫn phải nơm nớp lo sợ mỗi khi mùa mưa đến như mấy năm nay đó sao!
Đừng để no vài bữa mà nhà bay sạch

Vậy còn với ba nguyên nhân khác như ông nói ban đầu, cần hướng khắc phục như thế nào?
Đây là dịp để chúng ta nhìn lại các chiến lược phát triển kinh tế và có sự lựa chọn, thay đổi đúng đắn hơn. Chúng ta vẫn đang có nhiều cơ hội để khắc phục những sai lầm như lâu nay. Nói một cách hình ảnh,để giải quyết công ăn việc làm và bảo đảm đời sống của nhân dân bằng cách “phát triển theo hướng tây”, tức phá rừng, khai hoang để SX trên đất rừng thì chẳng khác chi rút tranh, rút củi trên mái nhà để nấu cơm vậy! Có thể được ăn no vài bữa nhưng căn nhà sẽ bay sạch, chẳng còn chỗ trú ngụ nữa!
Hội nghị BCH TƯ lần thứ 4, khóa X đã xác định chiến lược tiến ra biển, phát triển kinh tế biển, đảm bảo thu nhập từ kinh tế biển đạt 53% GDP là rất đúng đắn,khôn ngoan.
Đây là dịp để các tỉnh miền Trung khởi động chiến lược này, thay thế cho “tiến về hướng Tây” như lâu nay. Có như vậy chúng ta mới giữ được rừng. Một số ít nhân dân ở lại rừng được Nhà nước đảm bảo thu nhập để sống và giữ gìn, bảo vệ rừng nghiêm ngặt.
Còn hệ thống đường Hồ Chí Minh chạy dọc lưng dãy Trường Sơn, cần phải xây dựng nhiều cầu để thoát nướcchứ cống không thể tải nổi. Việc này tốn kém lắm, cần làm dài lâu. Trong tư duy chiến lược về xây dựng hạ tầng giao thông miền Trung,theo tôi phải xây dựng mạng lưới đông tây trước, tức mạng lưới xươngcá chạy dọc theo dòng chảy của nước, sau đó kết nối với trụcbắc – nam. Làm như vậy vừa khai thác có hiệuquả và tránh được cản trở dòng chảy từ Trường Sơn đổxuống. Lũ lụt sẽ được hạn chế dần.

DUY CHIẾN (THỰC HIỆN)


Hải quân Mỹ cung cấp nước sạch cho người dân Philippines như thế nào?



http://tinnong.vn/pages/20131118/hai-quan-my-cung-cap-nuoc-sach-cho-nguoi-dan-philippines-nhu-the-nao.aspx


Mỗi ngày, các trực thăng từ nhóm tàu sân bay USS George Washington chở thực phẩm và gần 60.000 lít nước sạch cung cấp cho người dân Philippines ở các khu vực bị siêu bão Hải Yến tàn phá. Nguồn nước lấy ở đâu? Xin thưa: Từ nước biển.


Chuẩn bị đưa nước sạch lên trực thăng trên tàu sân bay USS George Washington mang vào đất liền Philippines, ngày 16.11 - Ảnh: Facebook tàu sân bay
Mỗi tàu chiến Mỹ đều có máy lọc nước biển thành nước sạch để dùng. Trung bình một khu trục hạm có thể sản xuất được 72.000 gallon (272.550 lít) nước. Còn tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân USS George Washington sản xuất đến 400.000 gallon (1,5 triệu lít) nước sạch/ngày đêm, đủ dùng cho 2.000 hộ gia đình.
Theo trang tin tức của Hải quân Mỹ (navy.mil), khi bắt đầu chiến dịch Damayan cứu trợ người dân Philippines ở các vùng bị siêu bão Hải Yến tàn phá, một nhóm nhân viên cơ khí trên tàu sân bay USS George Washington được giao nhiệm vụ: thiết kế lắp đặt một hệ thống ống nước ngay trên boong tàu để cấp nước vào các bình chứa, đưa lên trực thăng mang vào đất liền.
Nhóm nhân viên cơ khí này thuộc bộ phận Cơ khí bảo dưỡng thân tàu (HT) chỉ có chưa đến 9 tiếng đồng hồ để thiết kế, chế tạo, lắp đặt hoàn chỉnh đường ống dẫn nước này. "Chúng tôi được thông báo sơ bộ ý tưởng này và phải chạy đua với thời gian", nhân viên HT cấp 3, Jacob Kaiser nói.
Thế là nhóm HT bắt tay thiết kế lắp đặt hệ thống ống dẫn nước, đặt tên là bạch tuộc, gồm một ống chính và 8 vòi để có thể cấp nước cùng lúc cho 8 bình.
Trong vòng chưa đến 9 giờ, cả đội cưa, cắt, hàn và nối các ống kim loại để hoàn thành một đường ống nước trên đường băng tàu sân bay. Các nhân viên kỹ thuật khác của tàu cũng tham gia hỗ trợ thêm phần giá đỡ để đường ống đủ cao dễ dàng cho các nhân viên trên tàu mở vòi cấp nước vào các bình chứa.
“Đây là một công việc vất vả nhưng chúng tôi tự hào về nó", anh Kaiser nói.

Bộ phận Cơ khí bảo dưỡng thân tàu (HT) chỉ có chưa đến 9 tiếng đồng hồ để thiết kế, chế tạo, lắp đặt hoàn chỉnh đường ống dẫn nước

Thành quả của nhóm là đường ống nước “bạch tuộc” phục vụ việc tiếp nước cùng lúc 8 bình
Trung bình mỗi ngày nhóm tàu sân bay USS George Washington chở vào đất liền Philippines 11 tấn hàng hóa (gồm thực phẩm, thuốc men), và chừng 2.800 bình nước loại 5 gallon (gần 20 lít). Để kịp giao nước sạch đúng tiến độ, nhân viên trên tàu còn tranh thủ dùng những container loại 48 feet khối (khoảng 1.360 lít) vốn dùng chứa các vật liệu cồng kềnh, rửa sạch, bọc nhựa rồi đổ nước vào và đặt trong các phòng đông lạnh thành nước đá. Sau đó họ đưa chúng lên trực thăng, khi chở vào đất liền thì nước đá cũng đã tan dần ra.
Các bình chứa cũng là một vấn đề mà tàu sân bay George Washington sắp phải đương đầu. Những ngày đầu, các bình chứa nước bằng nhựa màu xám được xài hết sạch, phải dùng đến các bình chứa màu xanh, và chẳng hiểu tiến độ này tiếp tục thì tàu còn có đủ bình chứa nước hay không.
Do vậy trên tài khoản Twitter của Đại sứ quán Philippines tại Washington đã kêu gọi người dân Philippines sau khi dùng nên trả lại các bình chứa cho nhân viên cứu trợ để đưa về lại tàu sân bay tiếp tục lấy nước.
Hiện tàu sân bay George Washington đang cung cấp nước và dụng cụ vệ sinh cho các khu vực Guiuan/Samar, Ormoc, Borongan và Leyte, sử dụng 20 trực thăng/ngày, kể từ ngày 14.11 đến nay.
Được biết tàu sân bay trực thăng HMS Illustrious của Anh, với 7 trực thăng trên khoang cùng các thiết bị sản xuất nước sạch, sẽ đến tham gia cứu trợ Philippines từ 25.11.
Chùm ảnh từ Facebook tàu sân bay về hoạt động tiếp tế nước sạch cho người dân Philippines:

Chuyển nước sạch lên trực thăng MH-60S Seahawk đưa vào đất liền, những ngày đầu còn dùng loại bình xám, trên thân bình có ghi: “Tài sản của chính phủ Mỹ”

Đến ngày 16.11, loại bình xám gần hết, phải dùng loại bình nước màu xanh

Chuyến hàng này vào Guiuan, tỉnh Eastern Samar chủ yếu là nước sạch

Giao nước sạch cho người dân

Thủy thủ Mỹ và nhân viên cứu trợ Philippines chuyển các bình chứa nước đã dùng hết lên xe tải, mang về lại tàu sân bay USS George Washington (CVN 73) để bơm nước vào, tiếp tục tiếp tế cho người dân
Anh Sơn

Văn minh Sicagô



Văn minh Sicagô

Phạm Thị Hoài



Từ khoảng 1955-1956 trở đi, dưới những bút danh Trần Lực, Chiến Sĩ, D.X., T.L. và C.B.,  Chủ tịch Hồ Chí Minh viết nhiều bài trên báo Nhân dân về nước Mỹ [1], đặt nền tảng cho tư duy và cảm nhận của nhiều thế hệ người Việt về cái thế giới kinh hoàng rùng rợn của chủ nghĩa tư bản ở những xứ sở phương Tây bất hạnh trên địa cầu. “Mỹ mà xấu” trở thành một cách nói phổ biến ở miền Bắc Việt Nam trong chiến tranh và được coi là một phát ngôn châm biếm thành công, một cách chơi chữ độc đáo của ông Hồ. Chúng ta hãy đọc lại một số bài báo đó.


Bài kí tên C.B. sau đây đăng trên Nhân dân số 838, ngày 20-6-1956.

Sicagô và Sài Gòn
Sicagô là một thành phố to hạng nhì ở Mỹ, có độ ba triệu dân và rất nhiều công nghiệp và thương nghiệp. Nó cũng là sào huyệt của những “vua” cướp của, giết người, buôn lậu và các thứ tội ác.
Hiện nay, Mỹ đang đưa “văn minh” Sicagô đến miền Nam Việt Nam ta.
Tối hôm 9-6, hai nhân viên của “phái đoàn viện trợ” Mỹ đã bắn nhau chết ở tiệm rượu “Đồng tiền vàng”. Có lẽ đó mới là bước đầu.
Hôm 12-6, một bọn cướp với súng ống đầy đủ, đã cướp chuyến xe hơi ở Xuân Lộc, cách Sài Gòn 80 cây số.
Các báo miền Nam cho biết: từ 21-5 đến 7-6, ở Sài Gòn và các thành phố xung quanh có 48 vụ trộm cướp và 47 vụ tống tiền. Ở Sài Gòn – Chợ Lớn, ngày nào cũng xảy ra những vụ ăn cắp xe đạp và xe hơi. Có những tên đã đánh cắp hơn 20 chiếc xe hơi.
Tệ hại nhất là “văn minh” Sicagô đã lan rộng đến lớp thanh niên học sinh. Thí dụ: 1 nam học sinh 17 tuổi, ở Tân Sơn Nhất, đã phạm tội giết người, cướp của.
Một nữ học sinh trường luật, 23 tuổi, đã phạm tội tống tiền gần nửa triệu đồng…
Đế quốc Mỹ xúi giục Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Giơnevơ, âm mưu trường kỳ chia cắt đất nước ta. Đó đã là một tội ác tày trời, không thể tha thứ. Chúng lại còn âm mưu phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta, đầu độc thanh niên ta – Hai tội chồng chất, càng không thể tha thứ. [2]

*
Bài kí tên Trần Lực sau đây đăng trên Nhân dân số 2051, ngày 28-10-1959.
Mỹ mà phong không thuần, tục không mỹ
Do kết quả của giáo dục và ảnh hưởng của xã hội, số phạm tội trong đám thiếu niên và thanh niên (từ 10 đến 20 tuổi) ngày càng tăng. Trên báo chí Mỹ thường có những tin tức rùng rợn như sau:
Thằng bé E. Pakét, 16 tuổi, đã giết chết cha và một em gái của con bé S. Phrốtxlen, 15 tuổi, là “người yêu” của nó. Mẹ và hai em gái của Phrốtxlen cũng suýt bị Pakét giết chết (14-10-1959).
Tuần báo Tin tức Mỹ và báo cáo thế giới ( 14-9-1959) viết: Bọn phạm tội trẻ tuổi ngày càng táo bạo. Ở các thành phố to, đi ra đường là có nguy hiểm. Sự khủng bố ở ngoài đường đã trở nên một vấn đề ngày càng nghiêm trọng
Báo Ngôi sao, xuất bản ở thủ đô Mỹ đã đăng những lời khuyên răn của sở cảnh sát đối với phụ nữ, trong đó có mấy điều như sau:
- Khi các bà, các cô ra đường, nên có người đưa đi.
- Nên chọn những đường phố đông người và nhiều đèn sáng.
- Trước khi đi vào ngõ, phố ít đèn, nên để ý có ai theo đuổi mình chăng.
- Nếu có chút đáng ngờ, thì nên vào ngay một nhà gần nhất ở đó để gọi cảnh sát.
- Nên nắm thật chặt cán túi tay của mình.
- Không nên mang trên mình vòng xuyến quý và nhiều tiền bạc.
- Nếu đi xe hơi của mình, thì chỉ nên dừng xe ở những phố đông người. Nên luôn luôn đóng kín cửa sổ xe.
- Không nên tắt máy, để khi cần thì cho xe chạy được ngay.
Và nhiều điều dặn dò khác, để tránh nguy hiểm do bọn du côn trẻ tuổi gây ra.
Đó là một “nếp sống văn minh” mà đế quốc Mỹ muốn đưa ra làm gương cho thiên hạ noi theo! Ngu ngốc thay đế quốc Mỹ vậy! [3]

*
Bài kí tên T.L. sau đây đăng trên Nhân dân số 2003, ngày 30-3-1960.
Chế độ nào, thanh niên ấy
Ngày 17 tháng 1 năm 1960, chiếc thuyền nhỏ chở 4 thủy thủ trẻ tuổi Liên Xô (Digansin, Palốpxki, Criútcốpxki, Phêđôtốp), bón người thuộc ba dân tộc, đều mới vào bộ đội bị bão to cuốn ra khơi Thái Bình Dương. Máy vô tuyến điện hỏng, đứt liên lạc với trên bờ. Trên thuyền chỉ còn lương đủ cho hai ngày và hai mươi kilô khoai. Bốn người lênh đênh xiêu bạt suốt bốn mươi chín ngày đêm. Lương thực hết, họ phải nấu giày ủng để ăn. Ăn hết giày ủng, họ phải nấu cả chiếc đàn gió bằng da. Nước hết, họ phải hứng nước mưa và mỗi người mỗi ngày chỉ được uống nửa cốc. (Để mừng ngày sinh của Criútcốpxki, các bạn tặng anh một cốc nước đầy, nhưng anh không nỡ uống.)
Đói, khát, rét, mệt, nguy hiểm đến cực độ, nhưng bốn thanh niên anh hùng ấy vẫn giữ vững tinh thần, không chút nản chí. Lênh đênh trên mặt biển, không có việc gì làm, họ thay phiên nhau ngâm thơ, đọc sách, kéo đàn (khi chiếc đàn hãy còn) để khuyến khích lẫn nhau.
Cuối ngày thứ bốn mươi chín thì một chiếc tàu binh Mỹ vớt họ lên.
Đó là tiêu biểu của tinh thần đoàn kết và chí khí bất khuất của thế hệ thanh niên dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.
Ai cũng biết rằng ở Mỹ, số thiếu niên và thanh niên phạm tội ngày càng nhiều. Nhất là ở những thành phố lớn, ngày nào cũng xảy ra những vụ thiếu niên và thanh niên phạm tội trộm cắp, hãm hiếp, cướp của, giết người. Ví dụ, cách đây không lâu, tên E. Pakê, mười sáu tuổi, đã bắn chết cha và em gái của cô A. Khi bị bắt, nó khai rằng nó đã chuẩn bị kế hoạch từ lâu định giết cả mẹ và hai em gái của cô A. Nhưng “không may” ba người đã chạy thoát [4].
Vừa rồi, chỉ trong mấy ngày (từ 2-2 đến 2-3), tên D. Hoaini, mười bảy tuổi, quê ở Caliphoónia, đã giết chết năm người đàn ông và một người đàn bà. Khi bị bắt, nó thản nhiên nói: “tôi định giết mười hai người. Tiếc rằng tôi chưa làm được như ý muốn.”
Đó là đầu óc hư hỏng và cử chỉ điên cuồng của thế hệ thanh niên dưới chế độ tư bản chủ nghĩa.
Hai chế độ xã hội khác nhau đã giáo dục nên hai thế hệ thanh niên khác nhau? [5]
*
Tôi cũng thuộc những thế hệ lớn lên bằng gạo mốc và lòng tự hào rằng chúng ta còn thiếu thốn, nhưng có thừa những phẩm chất tốt đẹp để vẫy gọi phía bên kia. Rằng ngoài chính nghĩa, lí tưởng, lòng nhân ái và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chúng ta còn lành mạnh. Chúng ta đầy giun sán trong người nhưng không mắc bệnh giang mai. Không cao bồi, đĩ điếm, xì-ke ma túy. Không bệnh hoạn, đồi trụy, dâm ô. Không thần kinh, không tự tử. “Mỹ mà xấu” bao nhiêu, chúng ta tốt đẹp bấy nhiêu.
Có thể cái ưu thế đạo đức ấy từng có thật ở một mức độ nhất định và đóng một vai trò chưa thể đánh giá hết trong hoàn cảnh đặc biệt của chiến tranh. Song từ ấy đến nay chẳng có gì – từ truyền thống và thuần phong mĩ tục đến tín ngưỡng và quốc giáo Mác-Lê-Hồ – chứng tỏ và bảo đảm rằng người Việt thượng đẳng hơn những dân tộc khác về đạo đức. Chẳng có gì để chúng ta phải sững sờ không tin nổi, vì sao một điều khủng khiếp này, một tội ác tày trời nọ lại có thể xảy ra trong “xã hội ta”.
Ngược lại. Sẽ có ích hơn, nếu xuất phát từ tiền đề rằng không có vực thẳm đạo đức nào của nhân loại là quá sâu với người Việt. Tôi từng đinh ninh rằng xâm hại tình dục trẻ em chỉ có thể là sản phẩm của phương Tây. Bây giờ hiếp dâm trẻ em ở Việt Nam đã thành tin nhàm.Một bé gái 8 tuổi. Một bé gái 7 tuổi. Một bé gái 6 tuổi. Một bé gái 5 tuổi. Một bé gái 4 tuổi. Một bé gái 3 tuổi… Không ngưỡng nào là cuối cùng. Chúng ta không là một ngoại lệ nào hết. Cũng đầy đủ khả năng hư hỏng, điên rồ, méo mó, bệnh hoạn, hủy diệt kẻ khác và tự hủy diệt như con người ở bất kì đâu. Xã hội Việt Nam ngày nay cũng tràn ngập những điều rùng rợn kinh hoàng mà Hồ Chí Minh quy về cho xã hội Mỹ, cộng thêm bản sắc dã man mông muội rất riêng của văn hóa Việt Nam.
Muộn nửa thế kỉ, cuối cùng Hà Nội cũng đến kịp với nền “văn minh Sicagô”. Và đang nôn nóng vượt qua, như thường thấy ở kẻ đến muộn. Trước sau Mỹ vẫn dẫn đầu về tỉ lệ tội phạm trong các nước phát triển. Nhưng nếu đi tìm một cái xác trên dòng Chicago River, người ta sẽ không thể trong vỏn vẹn mười ngày ngẫu nhiên gặp luôn sáu thi thể khác, như trên sông Hồng.

Tháng 11 4, 2013
© 2013 pro&contra


[1] Những bài này sau được tập hợp thành sách trong Nói chuyện Mỹ…, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1972, 352 trang. Ngoài ra còn một cuốn sách khác, nhan đề Mỹ mà xấu, ghi tên tác giả là Vladimia Pôzônê, Nxb Văn học, Hà Nội, 1964, tái bản năm 1989. Vladimia Pôzônê – hay Vla-đi-mia Pô-dơ-ne – có phải là một trong vô vàn bút danh khác của Hồ Chí Minh không, là một nghi vấn hợp lí.
[2] In lại trong Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, 2000
[3] Sđd, tập 9
[4] Tác giả lặp lại sự việc đã được kể trong bài viết kí tên Trần Lực 5 tháng trước, ngày 28-10-1959, nhưng tên các nhân vật liên quan có chút thay đổi.
[5] Sđd, tập 10





......../.

BIẾM HỌA THẾ GIỚI tuần 43 + 44


PHOTO BY GOOGLE.COM

********************


...................giới chính khách của cả thế giới 
bực bội vì bị NSA (Mỹ) nghe lén

































*******************************











Phụ nữ Saudi Arabia đòi quyền được lái xe











********************





ông PUTIN người được cho là 
LÃNH ĐẠO có quyền lực nhứt thế giới












*******************************




ở  SÀI GÒN VIỆT NAM có tin đồn nhảm (từ Facebook)
rằng  "hủ tíu gõ" nấu nước lèo bằng chuột cống !









........../.