ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC : VI PHẠM TIÊN ĐỀ THÌ ĐỪNG!


ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC : VI PHẠM TIÊN ĐỀ THÌ ĐỪNG!


****


1.
Đứng trong rừng, khó xác định đường ra khỏi rừng. Đứng trên núi cao nhìn hết toàn rừng lại xác định hướng đi dễ. Nhiều vấn đề phức tạp, nhìn thấy được các tiên đề thì sẽ trở thành đơn giản. Sa vào tính toán tiểu tiết, không tìm ra lối thoát.
Ở mặt khác, chẳng hạn như trong chiến tranh, quyết định tiến hành một chiến dịch hay không tiến hành, thường dựa trên các yếu tố mang tính tiên đề. Còn tiến hành chiến dịch như thế nào lại thuộc về giai đoạn khác, thuộc bộ tổng tham mưu, nơi thảo ra những tính toán chi tiết.



Quyết định về xây dựng Đường sắt cao tốc (ĐSCT) hay Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) cho tuyến đường Hà Nội – TP HCM là một quyết định không phức tạp khi biết dựa vào các nhân tố mang tính tiên đề.
2.
Trong suốt hơn 15 năm qua, đã có nhiều bài viết, nhiều ý kiến, nhiều tính toán chỉ ra sự vi phạm tiên đề trong đề xuất xây dựng ĐSCT tuyến Hà Nội – TP HCM, tốc độ 320-350 km/h, chỉ chở khách mà không chở hàng. Bất chấp các vi phạm tiên đề, dường như có một “dòng chảy ngầm” xuyên suốt ở Bộ GTVT và ở cấp cao hơn, không ngừng ủng hộ ĐSCT chở khách mà không chở hàng, đồng thời kiên trì loại bỏ ĐSTĐC 200 km/h chở khách và 120 km/h chở hàng mà Bộ KH&ĐT và Hội đồng thẩm định Nhà nước đã đề xuất [1].
Lập luận rằng ĐSCT tốc độ 320 km/h (mà vận hành thực tế chỉ ở khoảng 250-260 km/h) sẽ cho người dân ăn sáng ở Hà Nội, ăn tối ở TPHCM, cạnh tranh được với máy bay, đi tắt đón đầu, không bị lạc hậu, ngang bằng với các nước tiên tiến. Còn vận tải hàng hoá thì dựa vào lý lẽ sẽ nâng cấp tuyến đường hiện hành (mà trên thực tế, không biết đến bao giờ mới có tài chính để thực hiện).
Ai đó đã cố tình quên đi:
- Vận tải hàng không vận tải đường sắt bổ sung hộ trợ cho nhau, chứ không phải cạnh tranh với nhau.
Xây dựng ĐSCT tốc độ 320 km/h thì 10 người chỉ có 1 người đủ khả năng tài chính để đi, 9 người ngồi nhà; còn xây dựng ĐSTĐC thì cả 10 người được đi. Hãy tính lưu lượng di chuyển giữa 10 triệu người với 100 triệu người đi lại để thấy được sự khác biệt của nền kinh tế.
- ĐSTĐC 200 km/h chở khách, 120km/h chở hàng, giúp cho 70 triệu người dân nông thôn được đi lại, nông sản không bị thối rữa, vận chuyển hàng hoá nhanh chóng, chi phí thấp, giúp cho cạnh tranh quốc tế.
- ĐSCT tốc độ 320 km/h để lại một gánh nợ khổng lồ khoảng 70 tỷ USD, chưa biết lúc nào có thể vận hành toàn bộ, chưa biết lúc nào có thể cắt lỗ, không giúp gì được cho vận tải hàng hoá cũng như vận tải quốc phòng.
- Xây dựng ĐSTĐC 200 km/h chở khách, 120km/h chở hàng thì 10 năm sau đưa vào vận hành được, không bị lỗ.
Xin lưu ý những người hay đề cao “ đi tắt đón đầu”, “tiến thẳng lên hiện đại”:
- ĐSCT tốc độ 320 km/h không thể cho Việt Nam bắt kịp được các nước tiên tiến. Khi ĐSCT tốc độ 320 km/h nếu may mắn hoàn thành được vào năm 2050 ở Việt Nam, thì thế giới đã có ĐSCT tốc độ 500 - 600 km/h. Việt Nam, một nước không sở hữu nền công nghiệp hiện đại, không sở hữu công nghệ nguồn thì không bao giờ đi đầu, ngang bằng được với các nước tiên tiến. Hôm nay bạn có Iphone 14 đời mới nhất, thì cùng lúc có người khác đã sở hữu Iphone đời mới tiếp theo rồi. Chừng nào còn là quốc gia tiêu thụ, thì chừng đó luôn là người tiêu dùng hàng thế hệ, may ra là , “áp cuối”.
- Ảo tưởng tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN là một thực tế đau xót bắt khoảng một nửa nhân loại phải trả giá gần suốt một thế kỷ, dẫn đến Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, buộc Trung Quốc (TQ) phải mở cửa từ năm 1978 với khẩu hiệu “mèo trắng mèo đen miễn là bắt được chuột”, với sự từ bỏ trá hình “CNXH mang màu sắc TQ”; Còn Việt Nam thì phải tiến hành chính sách “Đổi mới” từ tháng 12/ 1986. Hãy quên đi sự hô hào bắt kịp các nước tiên tiến trên thế giới trong xây dựng ĐSCT. Một tốc độ chạy tàu 150- 200 km/h, để đi từ Hà Nội vào Vinh chỉ 2 tiếng đã là một ước mơ thế kỷ.





Để cảnh tỉnh xin nhắc lại vài con số :
Theo thiết kế, tuyến đường sắt TPHCM – Cần Thơ dài 174,41 km, tốc độ chở khách 190 km/h, tốc độ chở hàng 120 km/h, có 15 nhà ga, 11 trạm bảo dưỡng. Tổng mức đầu tư 9, 07 tỷ USD (213 948 tỷ đồng). Bình quân 52 triệu USD/km [3].
Trong khi đó, tuyến đường sắt Lào – Trung Quốc (TQ) đoạn Vientiene- Botan dài 422 km, tốc độ chở khách 160 km/h, tốc độ chở hàng 120 km/h, 10 ga hàng hoá, 10 ga hành khách, 75 đường hầm, 77 cây cầu. Tổng mức đầu tư 5,9 tỷ USD. Bình quân 14 triệu USD/km cho tuyến đơn và 28 triệu USD/km cho tuyến đôi [4]
Như vậy, một cách tương đối, giá thành 1 km tuyến đường sắt TPHCM – Cần Thơ đắt gấp 1,85 lần tuyến đường sắt Lào – Trung Quốc (cho tuyến đôi). Nếu lưu ý rằng, vốn chung 2 nước chiếm 40%, vốn vay Trung Quốc 60%, Trung Quốc là người xây dựng, thì có thể đồ rằng, giá trị xây dựng thực của nhà thầu không quá 75%, tức là khoảng 10,5 triệu USD/km cho tuyến đơn, và 21 triệu USD cho tuyến đôi. Nếu tính theo giá thành này, tuyến ĐSTĐC Hà Nội – TP HCM dài 1 508,6 km có giá thành khoảng 31 tỷ 680 triệu USD gần với con số dự báo ban đầu của Bộ KH&ĐT. Còn nếu là các tập đoàn tư nhân xây dựng, thì chi phí nằm trong khoảng 20- 25 tỷ USD, với thời gian xây dựng chừng 10 năm là có thể đưa vào khai thác.



Hội đồng thẩm định nhà nước đã đề xuất phương án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, tốc độ chở khách 200 km/h, tốc độ chở hàng 120 km/h, mà không chấp thuận phương án chỉ chở khách 320 km/h. Hội động thẩm định Nhà nước cũng đã có công khi điều chỉnh rút ngắn tuyến đường xuống 1.508,6km thay vì 1.559km., và giảm giá thành đầu tư xuống 61,02 tỷ USD, ít hơn 15,34 tỷ USD so với 76,39 tỷ USD theo đề xuất của Bộ GTVT [1].
3.
TQ không phải là quốc gia có công nghệ tiên tiến bậc nhất, nhưng xây dựng ĐSCT thì TQ là quốc gia đứng số 1, làm nhanh nhất, rẻ nhất. Nhưng đó là người TQ làm cho người TQ. Còn người TQ làm ĐSCT, ĐSTĐC cho nước ngoài, muốn nhanh phải có cổ phần áp đảo của TQ, do TQ khai thác vận hành. Tuy nhiên lúc đó giá thành được đẩy lên, ít nhất là bù đủ chi phí của TQ.
Còn làm cho nước ngoài, không có cổ phần của TQ thì giá thành tăng gấp 2,3,4,5 lần. Thời gian thi công kéo dài. Như trường hợp tàu điện trên cao Cát Linh – Hà Đông.
Nhưng nỗi lo chính khi TQ xây đựng ĐSCT hay ĐSTĐC mà không có cổ phần áp đảo của TQ nằm ở điểm khác, chứ không phải chỉ ở giá cao, thiết bị không an toàn. Các nước Âu Mỹ lo về công nghệ gián điệp của TQ. Vụ nổ máy nhắn tin làm gần 3000 người bị thương và thiệt mạng ở Lebanon ngày 17/9/2024 [2] là một chứng cớ sởn gai ốc. Các nước sở hữu công nghệ, có khả năng truy xét thiết bị gián điệp như Mỹ mà còn phải tránh xa thiết bị TQ, thì đừng nói đến Việt Nam - “i tờ” về công nghệ cao. Không có khả năng kiểm soát, tiên đề là “tránh xa”.
4.
Quyết định xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội – Sài Gòn là một quyết định ảnh hưởng to lớn đến các đời con cháu mai sau. Hoặc giúp cho con cháu giàu có lên, hoặc đưa đến cho cháu con những khoản lỗ khổng lồ. Lúc đó, dẫu không muốn lưu danh, thì hậu thế cũng buộc phải nhắc đến.
Bởi thế, các UVTƯ là những người biểu quyết quyết định phương án xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội – TP HCM cần rất thận trọng. Chọn ĐSTĐC 200 km/h chở khách và 120 km/h chở hàng hay chọn ĐSCT 320 km/h chỉ chở khách phụ thuộc vào lợi ích của ai? Số đông hay số ít? . Đó không thể là một biểu quyết vì ai đó đã quyết, hay vì đối ngoại, càng không thể sợ cản bước tiến cá nhân. Cá nhân không thể đạp lên vai số đông cần lao để thăng tiến.
5.
Chu Văn An dâng sớ thất trảm, chỉ lui về ở ẩn ở Chí Linh mà không nguy hại đến tính mệnh. Vương Luỹ treo mình trước cổng thành can ngăn Lưu Chương, tự mình cắt dây rơi xuống thiệt mạng chứ không do Lưu Chương giết. Nhưng Điền Phong can Viên Thiệu bị giam vào ngục, bị Thiệu bức tự tử. Còn Tỷ Can ngăn Trụ Vương thì bị moi tim. Đó là thời xa xưa.
Trong dự án xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội – TP HCM, đã từng có một số tờ báo lớn đăng nhiều bài viết phản biện về ĐSCT và ĐSTĐC.
Đặc biệt Bộ KH&ĐT đã đề xuất và kiên trì ủng hộ cho phương án 200 km/h chở khách, 120km/h chở hàng. Hy vọng Bộ KH&ĐT từ góc nhìn của cần lao số đông mà kiên trì phản biện đến cùng.
Hội đồng thẩm định Nhà nước đã thể hiện chính kiến của mình, bảo vệ và góp ý cho phương án vừa chở khách vừa chở hàng, càng không thể vì lý do gì mà rời xa bản chất khoa học.
Còn nữa là Bộ NN &PT NN, đừng quên lợi ích của 70 triệu dân vùng nông thôn miền núi nghèo khó. Họ cần được di chuyển. Họ cần được bán hàng. Họ là đối tượng lớn cần được để tâm nếu muốn Việt Nam sớm vượt qua mức sống trung bình của thế giới.

................../.

VĂN HOÁ CÓ BẢO TỒN ĐƯỢC HAY KHÔNG?


PHẢN BIỆN THÙY MINH VIETCETARA & LÊ CÁT TRỌNG LÝ - VĂN HOÁ CÓ BẢO TỒN ĐƯỢC HAY KHÔNG?

 Nguyễn Ngọc Long



Gần đây, trên mạng đang viral trở lại một đoạn phỏng vấn của Thuỳ Minh Vietcetara (Minh) với Lê Cát Trọng Lý (Lý) về bảo tồn văn hoá. Trong đó, trích nguyên văn theo đoạn clip mà Lý cho rằng bị cắt ghép, thì nội dung như sau:

Lý: Em nghĩ văn hoá là không bảo tồn được, vì sao, vì không có sức mạnh nào chống được với thời gian. Văn hoá chỉ có thể phát triển thôi, theo kiểu nó phải làm người ta thích thú ấy. Chứ mình không thể bảo tồn một cái xác ướp được. Nó liên quan đến đời sống mình đâu mà mình bảo tồn? Em xin lỗi nếu có đụng chạm...

Minh: Không, không. Cái này cũng là một cái ý cũng rất là hay. Đúng. Tại sao mình phải…

Lý: Tại vì, chắc gì cái mình đang bảo tồn là nguyên gốc. Vì nó đã phát triển rồi mà. Ví dụ khi bà mình hát cho mẹ mình, mẹ mình nhớ được phần nào đó thôi. Mẹ mình hát cho mình, mình cũng chỉ nhớ được tới đó thôi. Về cơ bản là mình bảo tồn bằng cách nào bây giờ trước một cái sự thay đổi? Ý em là mình cứ tưởng tượng là mình bảo tồn nhưng thực ra mình đang giữ một cái gì đó mình đang không thực sự hiểu, không thực sự thích…

[...hết trích]
///////////////////
Trong đó:
(1) Câu so sánh có đề cập chữ “xác ướp” của Lê Cát Trọng Lý bị chỉ trích mạnh mẽ nhất vì cộng đồng mạng cho rằng ca sỹ này đang ám chỉ và xúc phạm Bác Hồ.
(2) Lê Cát Trọng Lý bị cho là chủ ý nói chứ không lỡ miệng vì câu “xin lỗi nếu có đụng chạm” liền sau đó
(3) Thuỳ Minh bị chỉ trích gián tiếp vì cho rằng “cái này cũng là một cái ý rất là hay”
.........

Tuy nhiên, ở bài viết này, cô giáo sẽ bỏ qua Lê Cát Trọng Lý và chủ ý phản biện Thuỳ Minh vì những lý do sau:

(1) Bối cảnh bài phỏng vấn đề cập nhiều tới việc Lê Cát Trọng Lý đang có những dự án “làm sống lại âm nhạc dân tộc” theo hướng âm nhạc của các tộc người, chủ yếu là thiểu số. Tức là, LCTL đang làm một việc tốt.

(2) Mới gần đây, khi bị chỉ trích, Fanpage LCTL đã lên bài “Nói lại cho rõ ý”. Và khẳng định rằng LCTL không định phát biểu gì xấu xí hay lệch lạc. Nếu cách nói của cô ấy có gì khiến người khác hiểu lầm thì cô ấy xin lỗi. Tất nhiên, LCTL cũng không đề cập chữ “xác ướp” cô ấy ám chỉ ai, hay điều gì? Có người comment phản biện, ngay cả đề cập đến xác ướp Ai Cập cũng là thiếu văn minh thì Fanpage LCTL đã không hồi đáp. Tuy nhiên, về tổng thể, cô giáo đánh giá nếu có gì không hay cũng là “lỡ lời” chứ không phải chủ ý xấu gì.

(3) Podcast lên sóng được thì phải qua khâu kiểm duyệt. Và hiển nhiên, ngay từ nội dung “góp giọng” khẳng định “cái này cũng là một cái ý rất là hay” của Thuỳ Minh thì cô hiểu rằng quan điểm này cũng là quan điểm của Thuỳ Minh, hoặc Thuỳ Minh cho rằng nó đúng.

Vậy nên, cô sẽ chỉ phản biện “quan điểm của Thuỳ Minh” và tập trung trực diện vào việc Văn hoá của bảo tồn được hay không, không đề cập tới các ồn ào xung quanh nữa.

Tình cờ, có phóng viên mới gọi điện hỏi cô về tiết mục Trống Cơm của NSND Tự Long, Cường Seven & Soobin Hoàng Sơn trong Anh trai vượt ngàn chông gai. Câu hỏi mà phóng viên muốn làm rõ là Tại sao tiết mục này lại được viral?

Câu trả lời của cô gồm 4 ý:
1) Nó hay. Tất nhiên, không phải cứ cái gì hay thì sẽ viral. Thậm chí, sản phẩm dở tệ có khi còn viral dữ dội hơn cả sản phẩm hay. Nhưng Trống Cơm là một tiếc mục hay. Hay có thực chứng.
2) Nó được “phát tán” bởi một chương trình cũng hay không kém. Nguồn phát trong viral cũng tương đối quan trọng.
3) Nó được sự góp mặt của 3 thay vì 1 ngôi sao. Và 3 ngôi sao có ảnh hưởng với 3 nhóm người xem công chúng khác nhau, nên mức độ quan tâm cũng được x3 là tối thiểu
4) Yếu tố này, với cô là quan trọng nhất. Đó là nó được “gặp thời”. Tức là, cô cho rằng, nếu tiết mục này ra mắt sớm vài năm trước sẽ không thành công như vậy.

Trống cơm là một tiết mục có liên quan đến văn hoá truyền thống rất hay. Nhưng nó không phải trường hợp đầu tiên thành công như vậy.

Chắc các em còn nhớ Hoài Lâm, một nghệ sỹ tài năng thực sự. Bạn này chỉ sau một đêm chung kết Gương mặt thân quen đã làm sống lại ca khúc Xẩm Thập Ân và làm cho bao nhiêu người trẻ ồ à lần đầu biết tới nghệ nhân xẩm Hà Thị Cầu.

Sau đó, phải kể tới Hoàng Thuỳ Linh với Để Mị Nói Cho Mà Nghe, rồi Tứ Phủ… (cô giáo không theo dõi bạn này quá nhiều nên không nhớ hết các bài). NSND Bạch Tuyết cùng ca sỹ trẻ Hoàng Dũng làm sống lại nghệ thuật cải lương khi kết hợp với RAP.

Ca sỹ Hoà Minzy với MV Thị Mầu. MV này đặc biệt ở chỗ không chỉ chinh phục khán giả ở phần nghe mà còn cả ở phần nhìn với gần trăm triệu lượt biến hình áo mớ 3 mớ 7 của các bạn trẻ đu trend trên tóp tóp.

Lội ngược dòng xa hơn nữa, thì lớp nghệ sỹ đời đầu phải kể tới Ngọc Khuê, khi ca sỹ này kết hợp với nhạc sỹ Lê Minh Sơn, ra hẳn một album khuấy đảo dòng nhạc dân gian đương đại gồm những bài hát như Chuồn chuồn ớt, Bên bờ ao nhà mình… Mà theo cô nhớ, đó là lần đầu tiên tiếng rao “ai chổi đót đây” đầy cảm xúc, đầy hồn cốt của người “nhà quê” được đưa vào âm nhạc.

...............

Vậy câu hỏi đặt ra là, âm nhạc dân gian - một cấu phần của Văn hoá dân tộc đã chết chưa?

Hiển nhiên, các nghệ sỹ tài năng kể trên đã cho chúng ta câu trả lời rất rõ ràng.
Nó chưa chết.

Không chết và không thể chết.

Cái chính là, chúng ta cần có cách bảo tồn riêng để nó hoà được vào hơi thở của thời đại, và hướng tới phát triển thật là bền vững. Tức là, phù hợp với thời cuộc nhưng vẫn giữ được tính truyền thống và có sự truyền thừa.

Nhưng âm nhạc không phải là tất cả khi nói về văn hoá. Hãy nhìn rộng ra một chút.

Chúng ta có quyền tự hào khi các bạn trẻ đã “đu trend” Việt phục. Họ cất công nghiên cứu, sưu tầm và đưa trang phục cổ của người Việt vào đời sống, theo một cách rất… GenZ.

Đó không phải là việc vận động người người nhà nhà mặc khăn đóng áo dài đi làm nơi công sở. Mà đó là những bộ trang phục mặc để checkin nơi bảo tàng, thành cổ, đại nội Huế, Hoàng thành Thăng Long hay những nơi phù hợp. Việt phục cũng được sử dụng trong phim ảnh, sàn diễn thời trang và đặc biệt là lễ cưới.

Tiếp đến, là ẩm thực. Hàng loạt account, tài khoản chuyên về ẩm thực đang ngày đêm góp phần đưa những món ăn mang đậm nét văn hoá của các dân tộc khác nhau, các vùng đất khác nhau lên Internet và ra thế giới. Thắng cố, mèn mén của người H'Mông, Cơm lam của người Tày, Nùng, Pà pỉnh tộp của người Thái, Canh chua cá thát lát của người Khơ Mú, Lẩu cá suối người Mường, Xôi ngũ sắc của người Chăm, Rượu cần của người Gia Rai, Ê Đê… Gần gũi và quen thuộc hơn thì có Thịt trâu gác bếp, Măng chua, Khoai lang sấy, Hồng treo gió, Lẩu mắm cá linh… Vốn là những món ăn vùng miền bỗng trở thành “quốc dân” ai ai cũng nghe, cũng biết.

Không phải là cuối cùng, nhưng khía cạnh cuối cùng trong khuôn khổ bài viết của cô, đó là lịch sử.

Có thể khẳng định ngay rằng, chưa bao giờ các câu chuyện lịch sử lại trở nên gần gũi và sinh động như hiện tại.

MV Không thể cùng nhau suốt kiếp của Hòa Minzy, Sách ảnh Dệt nên triều đại, Lam Mộc Kỷ thuộc dự án Việt sử kiêu hùng của nhóm Đuốc Mồi; Hùng ca sử Việt của Đạt Phi Media, Tứ Bất Tử truyền kỳ của Minh Vy Home, Podcast của Sử Talk… cùng với đó là hàng trăm nghìn video trên mạng xã hội khai thác đề tài lịch sử, các vị anh hùng dân tộc, các trận chiến anh dũng của QĐND Việt Nam trải dài qua các cuộc thời kỳ chống Pháp, Mỹ và chống Nhật thu hút hàng trăm triệu lượt xem. Mà tiêu biểu nhất trong số này là bộ phim điện ảnh Đào, Phở và Piano trở thành hiện tượng suốt một thời gian dài.

Tức là, các yếu tố truyền thống đã được bảo tồn rất tốt và HIỆN NAY đang sống dậy vô cùng mạnh mẽ ở trong dòng chảy của âm nhạc, điện ảnh, thời trang, lịch sử và văn hoá ẩm thực (cũng như nhiều khía cạnh khác mà cô giáo chưa thể thống kê hết được).

Như vậy thì, quan điểm cho rằng văn hoá không bảo tồn được là đúng hay sai, mỗi người tự có câu trả lời cho riêng mình.

Cô giáo cho rằng nó hiển nhiên tới mức không cần phải tái khẳng định lại làm gì nữa cho mất công!

Câu hỏi đặt ra, là tại sao vào thời điểm này, văn hoá dân tộc lại trỗi dậy mạnh mẽ như thế mà không phải 5 hay 10 năm trước?

Phóng viên có hỏi cô một câu tương đối nhạy cảm, rằng có phải việc ra đi của Bác Trọng và câu nói của Bác về Văn hoá khiến tiết mục trống cơm có không gian và thêm cơ hội để viral?

Cô cho rằng, nếu khẳng định như vậy thì hơi khiên cưỡng và rất khó thuyết phục số đông.

Nhưng mọi việc xảy ra trên đời đều có nguyên do của nó!

Chất liệu truyền thống dân tộc được chú ý, được yêu thích và được lan truyền mạnh mẽ, công đầu phải đề cập tới thế hệ genz.

Chúng ta đang có một thế hệ trẻ cực kỳ văn minh, tiến bộ nhưng rất giàu bản sắc dân tộc. Và điều đó cũng không tự nhiên mà có. Nó phải đến từ sự ảnh hưởng của Gia đình, Giáo dục và đặc biệt là sự hà hơi góp sức của Truyền thông.

Mà một môi trường truyền thông định hướng được những điều tốt đẹp thì phải đến từ các Quyết sách ở phía Thượng tầng.

Bác Hồ từng nói, văn hóa là bản sắc của một dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn. Văn hóa mất thì dân tộc mất. Cố TBT Nguyễn Phú Trọng thì nói “văn hóa hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp đều nói đến những gì tinh hoa, tinh túy nhất, được kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, tiến bộ”.
“Người ta thường nói một con người có văn hóa, một gia đình có văn hóa, một dân tộc có văn hóa... Hạnh phúc của con người không phải chỉ ở chỗ nhiều tiền, lắm của, ăn ngon, mặc đẹp, mà còn ở sự phong phú về tâm hồn, được sống giữa tình thương và lòng nhân ái”.

Sẽ nguy hiểm vô cùng nếu cho rằng văn hoá không thể bảo tồn, để rồi quá tôn sùng và chạy theo những giá trị ngoại lai.

Nhưng trước hết, chúng ta cần tự hỏi, khi sống trong một giai đoạn mà khắp nơi đang “hừng hực” dòng chảy văn hoá lại không cảm nhận được gì. Thì có đáng thương quá hay không?


................/.

Nhát đinh của Phù Nam

 Nhát đinh của Phù Nam


Có những cái chết (dự báo trước), hoặc cận kề cái chết, đáng lý cần được chú ý hơn, bởi nó liên quan đến mạng sống của hàng triệu người dân Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và an ninh quốc gia Việt Nam nói chung. Đó là dự án kênh đào Phù Nam, mà theo nhận định của Brian Eyler, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á thuộc Trung tâm Stimson, là: “Chiếc đinh cuối cùng đóng vào cỗ quan tài ĐBSCL" (“This artificial canal project could be the final nail in the Mekong Delta coffin”). Ngày 5-8-2024, dự án này bắt đầu được khởi công.
Viết trên Nikkei Asia ngày 23-5-2024, chính trị gia Campuchia lưu vong, Sam Rainsy (đồng sáng lập và quyền lãnh đạo Đảng Cứu quốc Campuchia, cựu Bộ trưởng Tài chính) nhấn mạnh, yếu tố thương mại lẫn nông nghiệp dường như không phải là lý do thực sự khiến Hun Sen (cựu Thủ tướng và là đương kim Chủ tịch Thượng viện Campuchia) và Hun Manet (đương kim Thủ tướng) theo đuổi dự án kênh đào Phù Nam (Funan Techo).


Điểm cần chú ý – theo Sam Rainsy - là cửa kênh Phù Nam nằm cách căn cứ Hải quân Ream chỉ khoảng 70 km về phía Đông, nơi được tin là tiền đồn nước ngoài của Hải quân Trung Quốc. Cho đến nay (hạ tuần tháng 7-2024), ảnh vệ tinh cho thấy hai tàu chiến Trung Quốc vẫn hiện diện tại Căn cứ Hải quân Ream. Hai tàu chiến này có mặt từ cuối năm 2023. Ngày 3-12-2023, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Campuchia Tea Banh thậm chí đã đến thăm các tàu Trung Quốc cùng với đại sứ Bắc Kinh tại Phnom Penh.
Cựu Thủ tướng Hun Sen liên tục phủ nhận việc Campuchia cho phép Trung Quốc sử dụng Ream làm căn cứ, gọi những kết luận như vậy là “vu khống”. Con trai ông, Hun Manet, bắt đầu ngồi ghế thủ tướng từ tháng 8-2023, cũng nhắc lại vào tháng 1-2024 rằng sẽ không có căn cứ quân sự nước ngoài nào trên đất Campuchia vì điều đó trái với Hiến pháp.
Trong bài viết thượng dẫn, Sam Rainsy nhắc lại, một số nhà phân tích phương Tây tin rằng Bắc Kinh đang hối thúc Campuchia tiến hành dự án kênh đào Phù Nam (có chiều rộng lên tới 100 mét và độ sâu 5,4 m) để Hải quân Trung Quốc có thể sử dụng tấn công Việt Nam trong trường hợp xảy ra xung đột. Kênh đào còn cung cấp cho Bắc Kinh một ngả ra biển, khi xuất phát từ tỉnh Vân Nam; đồng thời tàu Trung Quốc có thể đi đến tận Vịnh Thái Lan.
Cần nhấn mạnh, Campuchia không bỏ một xu trong dự án Phù Nam ước tính 1,7 tỷ USD, dự kiến hoàn thành trong ba năm. Không như nhiều dự án cơ sở hạ tầng của Trung Quốc ở các nước đang phát triển, Campuchia không tốn hoặc vay đồng nợ nào để thực hiện Funan Techo vì nó được làm trên cơ sở “xây dựng-vận hành-chuyển giao” (BOT), trong đó nhà thầu Trung Quốc giữ quyền khai thác, “lời ăn lỗ chịu”, trong 50 năm.
Xét về tác hại môi trường và sinh thái, Việt Nam từng nhiều lần bày tỏ lo lắng việc kênh Phù Nam gây ảnh hưởng nghiêm trọng sông Mekong, đặc biệt ĐBSCL (Đồng bằng sông Cửu Long). Việc phân phối lại các nguồn nước sẵn có là điều phải làm; tuy nhiên, Hun Sen đã từ chối đàm phán với Hà Nội về vấn đề này, nói rằng ông chưa bao giờ ra quyết định sai lầm trong 47 năm qua. Các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Stimson, một tổ chức tư vấn tại Washington, cho biết Phù Nam sẽ ngăn lũ vào mùa mưa và gây thiệt hại cho các vùng ngập nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp lẫn hệ sinh thái lưu vực Mekong. Brian Eyler, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á thuộc Trung tâm Stimson, thậm chí nói: “Dự án kênh đào nhân tạo này có thể là chiếc đinh cuối cùng đóng vào cỗ quan tài (ĐBSCL).
Cảnh báo của Brian Eyler không phải không có căn cứ. Ngày 27-4-2020, trong hội nghị chuyên đề do Diễn đàn Môi trường Mekong, một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Cần Thơ tổ chức trực tuyến, nhà nghiên cứu Philip Minderhoud và Sepher Eslami Arab thuộc Đại học Utrecht, thành viên Dự án Rise and Fall, đã chia sẻ kết quả cuộc điều tra kéo dài sáu năm của họ. Nghiên cứu của họ cho thấy chưa đến 5% lượng nước mặn xâm nhập ĐBSCL là do biến đổi khí hậu. Thủ phạm chính xác hơn là hệ thống thủy điện chằng chịt. Hai nhà nghiên cứu khẳng định, các con đập ở thượng nguồn là nguyên nhân khiến nguồn cung cấp trầm tích của ĐBSCL giảm hơn 90%. Trong thực tế, Mekong hấp hối từ lâu đã là tiếng chuông được gióng lên nhiều lần.
Với ĐBSCL, chịu ảnh hưởng mạnh bởi kênh Phù Nam là những nơi nằm dọc sông Tiền và sông Hậu, trong đó có An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng… Báo Thanh Niên ngày 24-4-2024 cho biết, ông Lê Anh Tuấn, cựu Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ), nhận định rằng, bởi tác động của kênh Phù Nam, sự thiếu hụt nước ở ĐBSCL sẽ trầm trọng hơn, thậm chí có thể ảnh hưởng trên một nửa diện tích canh tác của vùng vào mùa khô!
Trở lại với âm mưu sử dụng Phù Nam làm “đường dẫn quân sự”. Việc Bắc Kinh nuốt chửng Campuchia và biến Phnom Penh thành chư hầu đã không là chuyện gì bí mật. Từ nhiều năm nay, Hà Nội đã để tuột Phnom Penh vào vòng tay Bắc Kinh. Campuchia không chỉ lệ thuộc Bắc Kinh vào kinh tế mà còn cho phép họ trở thành “một phần đất” thuộc sở hữu Trung Quốc.
Việc thành lập căn cứ hải quân Trung Quốc ở Campuchia - tiền đồn thứ hai ở nước ngoài và là căn cứ đầu tiên ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương - có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng đối với Trung Quốc. Nó là một phần trong chiến lược xây dựng mạng lưới cơ sở quân sự trên khắp thế giới nhằm hỗ trợ tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Căn cứ quân sự nước ngoài duy nhất của Trung Quốc hiện nay được đặt ở Djibouti (Đông châu Phi).
Bắc Kinh bắt đầu dòm ngó Campuchia như một căn cứ quân sự từ năm 2019 và đó là thời điểm họ bí mật xây một cơ sở hải quân ở phía Bắc Căn cứ Hải quân Ream của Campuchia. Theo một thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, trong chuyến công du Campuchia năm 2021, Thứ trưởng Ngoại giao Wendy Sherman đã yêu cầu Phnom Penh nói rõ lý do san bằng hai cơ sở do Mỹ tài trợ trên Căn cứ Hải quân Ream vào năm trước đó. Theo Bộ Quốc phòng Mỹ, việc phá hủy này xảy ra sau khi Campuchia từ chối đề nghị trả tiền của Mỹ để cải tạo một trong hai cơ sở này. Khi khước từ đề nghị Mỹ, Phnom Penh lại bí mật bắt tay với Bắc Kinh. Năm 2021 cũng là khoảng thời gian mà tòa nhà “Hữu nghị chung Việt Nam” (do Việt Nam xây) được dời khỏi Căn cứ Hải quân Ream!
Quan hệ Bắc Kinh-Phnom Penh ngày càng được thắt chặt hơn bao giờ hết. Tờ Khmer Times ngày 24-5-2024 cho biết, Chủ tịch Thượng viện Hun Sen đã tiếp Shohrat Zakir, Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc tại Phnom Penh. Trong cuộc gặp, Hun Sen nhấn mạnh lập trường Campuchia đối với Trung Quốc là không thay đổi; rằng Trung Quốc nên tiếp tục coi Campuchia là một người bạn đáng tin cậy; tân chính phủ Hoàng gia, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Hun Manet, đang “cố gắng củng cố mối quan hệ hiện có bằng những ý tưởng mới để làm cho mối quan hệ trở nên mạnh mẽ và sâu sắc hơn.”
Phần mình, Việt Nam vừa vuột mất con cừu Campuchia vừa tiếp tục ngán ngại con sói Trung Quốc. Viết về vụ kênh đào Phù Nam, báo chí trong nước không dám đề cập yếu tố rủi ro từ mối đe dọa an ninh quốc gia mang lại từ một dự án mà Trung Quốc thầu trọn gói với thời hạn khai thác lên đến nửa thế kỷ. Chẳng ai biết, trong vòng 50 năm đó, chuyện gì sẽ xảy ra.
Tường thuật chuyến công du Campuchia (và Lào) vào giữa tháng 7-2024 của Tô Lâm, với cương vị chủ tịch nước, báo chí tuyệt đối không nhắc đến dự án Phù Nam. Tô Lâm có đề cập Phù Nam với Campuchia hay không, không ai biết. Báo chí trong nước cũng đã hoàn toàn ngưng nói về Phù Nam. Truy cập ngày 25-7-2024 cho thấy những bài báo liên quan Phù Nam đã bắt đầu ngưng từ cuối tháng 5-2024. Liệu có “chỉ đạo” về việc ngừng này?
Xét riêng về truyền thông, ngay cả khi được phép viết, báo chí Việt Nam cũng thua xa báo chí Campuchia, đặc biệt mặt trận truyền thông tiếng Anh. Họ được bật đèn xanh hết cỡ để viết về lợi ích của kênh đào Phù Nam. Riêng về báo tiếng Anh, điều rất đáng nói là Việt Nam cho đến nay vẫn không có tờ báo tiếng Anh nào đủ mạnh cỡ Khmer Times của Campuchia. Đây là một yếu kém không thể chấp nhận. Thực tế này cho thấy tiếng nói truyền thông Việt Nam trên các diễn đàn “phản biện” quốc tế là rất kém và vô cùng yếu ớt. Không thể cất tiếng để bênh vực lợi ích an ninh và chính trị quốc gia của chính mình thì ai có thể nói thay cho mình.
Dự kiến hoàn thành năm 2027, và sau ba năm, cái đinh cuối cùng của cỗ quan tài sẽ được đóng nhát cuối cùng. Bất lực trước việc ngăn cản dự án Phù Nam, Việt Nam sẽ làm gì, đặc biệt vấn đề an ninh quốc gia, khi mà cái thòng lọng Trung Quốc từ nay bắt đầu lơ lửng và luôn trong tình trạng sẵn sàng?
________

70 năm sự kiện di cư 1954

 70 năm sự kiện di cư 1954



70 năm đã trôi qua kể từ cuộc thiên di vĩ đại nhất Việt Nam đương đại. Gia đình ông nội tôi là một trong những gia đình có mặt trong cuộc di cư lịch sử. Khi mẹ mang bầu tôi thì ông nội tôi mất. Bố tôi mất sớm nên tôi cũng không có cơ hội hỏi ông về những gì xảy ra vào năm 1954.
Tôi chỉ biết rằng, khi vào Nam, một trong những nơi đầu tiên mà ông nội tôi lập nghiệp, cùng bà vợ trẻ và đàn con nheo nhóc gần 10 người, là Tây Ninh. Sau đó ông đưa cả nhà về Phú Nhuận. Đến khi tôi trưởng thành, căn nhà gỗ một tầng mà ông dựng lên vẫn còn và đó vẫn là nơi mà con cháu luôn tề tựu mỗi năm vài lần, vào dịp Tết nhất và dịp giỗ ông.
Lúc còn sống, bà nội kể với tôi, khi ông bà dọn về đây – trước 1975 gọi là đường Nguyễn Huệ và sau 1975 đổi thành Thích Quảng Đức – khu vực này vẫn còn hoang vắng. Chung quanh đều là rừng. Cỏ lau ngập đầu người. Thú hoang vẫn còn đầy khắp. Tối ngủ có khi còn nghe cọp rống. Lưa thưa mới có vài căn nhà. Hầu hết là dân Bắc di cư 54 cả. Nhắc đến bà, tôi nhớ như in hình ảnh một bà nông dân Bắc Bộ truyền thống. Răng nhuộm đen, nhai trầu bỏm bẻm, chít khăn mỏ quạ, thỉnh thoảng “nhạt mồm” hát ư ử vài câu Quan họ.
Bà vẫn giữ nếp quê nghèo khó dù gia đình chưa bao giờ thiếu ăn thiếu mặc. Trong nhà lúc nào bà cũng “tích trữ lương thực”, từ lọ đậu vừng đến thố cải chua. Bà ăn uống tằn tiện như thể ngày mai chẳng còn gì mà ăn. Thỉnh thoảng tôi hỏi bà này nọ. Vẫn giữ nếp quê rặt một nông dân Bắc bộ, bà nằm trên chiếc võng căng giữa nhà, đung đưa cọt kẹt, tay cầm quạt mo phe phẩy, bà kể chuyện quê ngoài Bắc. Bà tiết lộ bí quyết nấu món cá chép kho riềng. Bà vừa nhổ bã trầu vừa nói về kỹ thuật nấu xôi vò.
Nếu bây giờ bà còn sống, tôi sẽ không thắc mắc về chuyện nấu xôi đúng kiểu người Bắc. Tôi sẽ hỏi bà về chuyện bà gánh gạo đi bộ từ làng Ngọc Trì, Bắc Ninh, lên tận Hà Nội để nuôi bố tôi ăn học ra sao, rằng bà đi nhọc như thế mất bao nhiêu ngày, bà nghỉ ở đâu, rồi bà ở Hà Nội bao lâu hay lại quày quả quay về ngay để còn kịp ngày ra ruộng. Và nữa, tôi sẽ hỏi bà, rằng ông cùng bà vào Nam như thế nào. Tôi không biết và không thể tưởng tượng nổi, dù cố gắng hết mức, có thể hình dung tâm trạng của ông và bà tôi khi quyết định chọn con đường duy nhất đầy rủi ro là bỏ hết tất cả tài sản để vào Nam với bàn tay trắng.



Cuộc ra đi kéo dài 300 ngày đó là cuộc ra đi lịch sử của dân tộc. Nó là cuộc thiên di định mệnh của gần một triệu đồng bào Bắc Việt tay xách nách mang vào Nam tạo dựng lại cuộc đời. Dù không thể biết tâm trạng và cảm xúc của những người như ông nội tôi nhưng chắc chắn một điều rằng chẳng có cuộc ra đi nào khỏi nơi chôn nhau cắt rốn là một chọn lựa nhẹ nhõm. Nó rất nặng nề. Thậm chí vô cùng đau đớn. Họ để lại phía sau vô số kỷ niệm. Họ để lại không chỉ hình ảnh bụi tre, sân đình hay giếng nước. Họ thậm chí để lại những cuộc tình.




Có điều tôi biết chắc rằng, khi di cư năm 1954, người Bắc đã bỏ lại quê hương chôn nhau cắt rốn nhiều thứ nhưng có một thứ mà họ ôm khư khư trong lòng, giữ chặt trong tim và sau đó khi định cư nơi miền đất mới Nam kỳ, họ lại xõa nó ra, như xõa cái búi tóc từ chiếc khăn mỏ quạ: Hương hồn văn hóa đất Bắc kinh kỳ. Văn hóa miền Nam trước 1975 không thể phát triển đến mức đồ sộ như được biết nếu không có đóng góp của nhân tài đất Bắc. Họ mang vào miền Nam những thi bá Vũ Hoàng Chương…; những nghệ sĩ Thái Thanh, Phạm Duy, Kiều Chinh, Hoàng Trọng, Phạm Đình Chương, Dương Thiệu Tước, Khánh Ngọc…; những văn sĩ Mai Thảo, Duyên Anh, Doãn Quốc Sỹ…; những nhà báo Nguyễn Mạnh Côn…




Giới trí thức Bắc kỳ di cư ngày ấy là tinh hoa không chỉ của miền Nam mà của cả dân tộc. Những gì họ để lại là một di sản văn hóa khổng lồ. Họ mang vào Nam một cách sống và đặc biệt: Một giọng nói nhẹ nhàng sang trọng lịch lãm rất đặc thù mà bây giờ vẫn còn nghe ở những người gốc Bắc di cư thuở ấy, như ông Nguyễn Ngọc Ngạn chẳng hạn. Họ nói năng nhẹ nhàng, lịch sự, hòa nhã, từ tốn, khiêm cung và dĩ nhiên rất văn hoa lả lướt. Lời lẽ ý nhị và cầu kỳ. Đến bây giờ, họ vẫn giữ sự lịch lãm không thể lẫn vào đâu được của tinh hoa văn hóa một thời.
Trong lần phỏng vấn nghệ sĩ Kiều Chinh, tôi luôn nghe bà bắt đầu câu trả lời bằng “Dạ thưa, chuyện thế này anh ạ…”. Tiếp xúc nhiều lần với những người khác, từ giáo sư Lê Xuân Khoa, bác sĩ-nhà văn Ngô Thế Vinh, kỹ sư Phạm Phan Long, nhạc sĩ Nam Lộc, đến nhà báo Uyên Thao…, tôi cũng thấy họ vẫn giữ phong cách lịch lãm ngày nào, như thể điều đó đã bám rễ sâu vào nhân cách họ.
Vào Nam, những người như ông bà tôi, bố tôi, cô chú tôi, và cả triệu người Bắc khác, đã hòa nhập rất nhanh với văn hóa miền Nam. Vừa hòa nhập, họ vừa mang lại những ảnh hưởng văn hóa Bắc bộ cho đồng bào miền Nam. Không chỉ văn hóa. Phải kể đến ẩm thực. Quán cơm Bà Cả Đọi không chỉ thỏa mãn những Vũ Bằng hoặc Hoàng Hải Thủy mà còn chinh phục cả thường dân Sài Gòn Nam kỳ chính cống. Người miền Nam bắt đầu quen với cà pháo mắm tôm và tiết canh lòng luộc.
Trước 1975, gia đình tôi sống ở hẻm Đội Có (đường Cô Giang, Phú Nhuận). Đó là xóm di cư, nơi có cái giếng cạn trong suốt quanh năm mà nhà ông kịch sĩ Thanh Hoài ở gần đó. Tôi có thể thấy rõ sự hòa nhập Bắc-Nam ngay trong xóm tôi ở. Những lạ lẫm ban đầu mà người Bắc mang vào Nam đã trở thành một phần của văn hóa miền Nam, nơi dung nạp tất cả đặc tính văn hóa vùng miền của dân tộc.
Trong “Văn học miền Nam tổng quan”, ông Võ Phiến viết:
“Cuộc di cư còn có ảnh hưởng vào văn hóa miền Nam một cách sâu xa hơn, tuy âm thầm lặng lẽ hơn. Thật vậy, từ sau cuộc di cư 1954, ngày một ngày hai không ai để ý đến, nhưng cuộc sống ở miền Nam đổi khác: Cái quai nón của người con gái đổi khác, chiếc áo đàn bà mặc trên người đổi khác, món quà người ta ăn hàng ngày không giống xưa, cái bìa báo bìa sách biến dạng đi v.v... Giọng nói miền Nam cũng biến đổi nữa, không sao! Sau này có cô ca sĩ nào mà không hát giọng Bắc; vả lại không cần phải chờ đến lúc thành ca sĩ mới đổi giọng: mọi nữ sinh, kể cả những cô nữ sinh trung học tận dưới Rạch Giá, Cà Mau hễ cất giọng lên là cũng hát giọng Bắc luôn...”
________
Chỉ khoảng hai năm sau khi di cư vào Nam, trong tạp chí “Sáng Tạo”, số tháng 10-1956, ông Mai Thảo đã viết về Sài Gòn như được trích sau đây. Phải là người rất yêu miền Nam và yêu Sài Gòn, hòa nhập thật sự vào văn hóa miền Nam, mới có thể viết được như thế. Những gì ông Mai Thảo viết chắc chắn là cảm nhận của nhiều người, những người Bắc di cư vào Nam và chọn vùng đất này, để sống và để chết, cùng với nó:
“Sài Gòn thủ đô văn Hóa Việt Nam: Không phải là một danh từ, một câu nói xuông nhạt. Không phải là một ảnh hình trừu tượng. Không phải là một ảo tưởng mong manh còn nằm trong ngày tới xa thẳm. Không phải là một ý niệm khát khao đợi chờ. Đã là một thực thế được minh định: Văn Hóa Việt Nam, thực hiện hôm nay và sẽ được kiện toàn trong ngày tới đã có được một trung tâm xuất phát và sinh thành: Thủ đô Sài Gòn (...)
Tôi đặt chân xuống phi trường Tân sơn Nhất từ mùa nắng 54. Những người bạn đường đã sinh trưởng ở đây kể từ ngày thành phố xuất hiện trên những kinh rạch ẩm ướt đen tối. Những người bạn đường còn ở rải rác trên những đô thị thế giới, bên kia muôn ngàn trùng dương. Tất cả đời sống chúng ta, kể cả phần tâm tưởng thầm kín đến phần sinh hoạt thường nhật, đều hướng về Sài Gòn. Như những nhành hoa hướng dương nở về một phía bình minh. Như những bước chân đi về trạm hẹn (...)
Bởi vì Sài Gòn, nếu chưa thật sự – một trưởng thành nào cũng phải có đủ thời gian – thì cũng đang trở nên trung tâm văn hóa đất nước. “Trung tâm” xứng đáng với ý nghĩa của toàn thể toàn diện. Những hạt muối đang kết tinh trong nắng. Những bông hoa đang phơi mở. Những trái ngọt đang căng đầy. Từ trung tâm, những nền tảng đã đặt định đề văn hóa được trưởng thành. Những nỗ lực này tiếp tay những nỗ lực khác. Trên một hình thức kiến trúc những công trình thể hiện đang làm đầy phần chứa đựng, phần nội dung. Những vật liệu văn hóa còn ngổn ngang bộn bề, nhưng hình thể của lâu đài văn hóa đã nhìn thấy (…)
______________
Một điều nữa, trong rất nhiều điều không thể viết ngắn trong một bài, cần nhắc lại là di sản lớn nhất của người Bắc di cư lẫn văn hóa miền Nam trước 1975 là sự tôn vinh cội nguồn. Người ta có thể thấy rõ điều đó trong những tác phẩm văn học, thi ca và âm nhạc mà họ để lại. Đọc lại những tản văn về văn hóa dân tộc hoặc nghe lại những ca khúc quê hương của họ, vào giai đoạn này, sau bao nhiêu năm rồi, vẫn không có cách nào có thể cảm nhận được đầy đủ sức nặng dữ dội của tình cảm quê hương chất chứa trong lòng họ. Tình cảm cội nguồn, với họ, có giá trị thiêng liêng vĩnh cửu như những nén nhang thắp cho tổ tiên không bao giờ tắt. Trong cuộc phỏng vấn bà Kiều Chinh vào tháng 10-2021 nhân dịp bà ra mắt hồi ký “Kiều Chinh-Nghệ sĩ lưu vong”, tôi có hỏi:
-Thưa bà, những người thuộc thế hệ bà, những Mai Thảo, Nguyên Sa, Phạm Duy, Du Tử Lê… có một đặc điểm chung nổi bật: Thường tự vác lên vai hai chữ “Việt Nam” và yêu mến quê hương không chỉ bằng tình cảm mà còn với một sự kính trọng thiêng liêng. Nhờ đâu mà các vị nuôi dưỡng bền bỉ một tình cảm đặc biệt như vậy, khi dường như không bao giờ các vị có thể trút khỏi vai cái gánh nặng tự tình dân tộc, cho dù các vị ở bất kỳ đâu?
Bà trả lời:
“Cá nhân mình, tôi thấy tình cảm dành cho quê hương là quan trọng vô cùng. Dù ở đâu thì cái identity của mình, gốc gác của mình, cũng phải luôn nhớ đến. Cội nguồn quan trọng lắm. Năm nay tôi hơn 80 tuổi. Tính từ năm 1937 khi sinh ra cho đến năm 1954, tôi ở Hà Nội trên 16 năm; rồi vào miền Nam ở hơn 21 năm cho đến 1975. Vậy thì tôi chỉ ở Việt Nam 37 năm thôi; trong khi đó, tôi sống ở Mỹ hơn 46 năm rồi. Thế nhưng, cho dù ở Mỹ nhiều hơn trên đất nước mình, tôi lúc nào cũng nghĩ đến Việt Nam cả. Mà nghĩ đến Việt Nam là nhớ đến Hà Nội, nơi mình sanh ra, nơi ông bà bố mẹ mình lớn lên và mất tại đó...”
________
Một phần bài viết này tôi đã đăng trên tờ Người Việt ngày 20-7-2024, trong loạt bốn bài về sự kiện di cư 1954.
__________________

Ảnh: Naval History and Heritage Command