LŨ KỀN KỀN

 

Chiều 28-7-2023 , hội đồng xét xử đã tuyên các mức án đối với 54 bị cáo trong vụ án chuyến bay giải cứu. 4 bị cáo bị tuyên mức án chung thân.







Thử thách nền dân chủ Israel

Thử thách nền dân chủ Israel


****

Ngô Nhân Dụng



Từ khi lập quốc, Israel đã chọn làm quốc gia không đề cao một tôn giáo nào. Nhưng trong vòng một thế hệ qua các phái bảo thủ muốn đề cao Do Thái Giáo ngày càng mạnh. Cuộc tranh chấp đang diễn ra tại Israel là biểu hiện của cuộc đương đầu giữa hai quan niệm đối nghịch này.


Ba quốc gia nhỏ được nhiều người ngưỡng mộ. 

Thụy Sĩ tập hợp mấy sắc dân, sống hòa bình, nghệ thuật làm đồng hồ và hệ thống ngân hàng dẫn đầu thế giới. 

Singapore kinh tế phồn thịnh, dân kỷ luật, sạch sẽ, trọng chữ Tín, như một Thụy Sĩ ở châu Á. 

Và Israel bé hạt tiêu, 9 triệu dân; từ khi lập quốc, gần 3 phần tư thế kỷ, đã phải đương cự với mấy trăm triệu người Á Rập và các giáo sĩ Iran; luôn luôn sống trong tình trạng chiến tranh nhưng vẫn duy trì chế độ tự do dân chủ.

....

Hiện nay, nền Dân Chủ của Israel đang bị thử thách. Từ đầu năm nay, dân đi biểu tình mỗi ngày hàng chục ngàn người, phản đối Thủ tướng Benjamin Netanyahu đang làm suy yếu nền tảng của chế độ dân chủ.

Ông Netanyahu, thủ lãnh đảng Likud, phải liên hiệp với các đảng khác trong quốc hội (Knesset) mới đủ phiếu lập chính phủ. Ông đã hứa hẹn với mấy đảng cực hữu, nhất là đảng Do Thái Giáo Chính thống Cực đoan (ultra-Orthodox), muốn giảm bớt quyền hạn của ngành tư pháp. Các nhóm này bất mãn vì Tối cao Pháp viện đã ngăn cản những chính sách quá khích, đề cao chủng tộc và tôn giáo Do Thái mà họ chủ trương.

Tòa án Tối cao đã cấm không cho sáp nhập vào lãnh thổ Israel một số vùng đất của người Á Rập Palestine, bị chiếm đóng sau khi quân Israel thắng trận năm 1967. Tòa không cho phép dân Israel được tự do chiếm đất của người Palestine để lập trại định cư; cũng như không cho dân Israel chiếm đất của dân Á Rập trong thành phố Jerusalem, thánh địa của Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo.

Chính phủ liên hiệp của ông Netanyahu đã soạn các dự thảo luật nhắm vào hai điều: Một dự luật cho quốc hội có thể xóa bỏ các quyết định của Tối cao Pháp viện, chỉ cần trên 50% số phiếu. Một dự luật khác, dành cho quốc hội quyền tối hậu khi bổ nhiệm các thẩm phán. Những dự luật này sẽ thay đổi cán cân quyền lực giữa Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp.

.........

Ai cũng biết rằng chế độ Dân Chủ dựa trên quy tắc “Tam quyền phân lập,” ba ngành độc lập, có địa vị ngang nhau, và kiểm soát lẫn nhau. 

Nếu dự án của chính phủ Netanyahu được thực hiện, Lập pháp và Hành pháp có thể lấn quyền ngành Tư pháp. Trong thể chế Đại nghị, các đảng chiếm đa số trong quốc hội lập chính phủ, họ nắm quyền Lập pháp và cũng chiếm quyền Hành pháp; hai ngành không còn phân biệt nữa. 
Chỉ còn ngành Tư pháp để đóng vai cân bằng quyền lực. Nếu quốc hội có quyền xóa bỏ các phán quyết của Tối cao Pháp viện, thì cả ba quyền căn bản được thu vào một mối.

Đó là lý do hàng trăm ngàn dân Israel đã lần lượt đi biểu tình phản đối chính phủ Netanyahu.


Cảnh sát đụng độ người biểu tình chống ông Benjamin Netanyahu tại Jerusalem, 24 tháng Bảy, 2023.

...........

Theo hiến pháp Mỹ, các quyền hành đều bị kiểm soát và giới hạn. 

Hai viện quốc hội hoạt động độc lập đối với nhau và cả hai độc lập với hành pháp. Các Thẩm phán Liên bang và Tối cao Pháp viện do Chính phủ đề cử và phải được Thượng viện chuẩn y. Thay đổi hiến pháp Mỹ rất khó, cần được 2 phần 3 đại biểu mỗi viện đồng ý, sau đó lại cần 3 phần tư các tiểu bang chấp nhận.

Từ khi ra đời, Israel không lập hiến pháp; thay thế bằng một đạo Luật Căn Bản. Chỉ cần đa số quá bán, quốc hội cũng có thể thay đổi Luật Căn Bản. 

Vì thế, quốc hội là nơi tập trung mọi quyền hành. 

Quốc hội có thể sử dụng quyền hành theo các quy tắc dân chủ, thí dụ đa số thắng thiểu số. 

Nhưng trong bất cứ chế độ tự do dân chủ nào, cũng có những giới hạn không cho phép phe đa số được vượt qua. 

Thí dụ, không ai được vi phạm nhân quyền, quyền sống xứng đáng làm người. Vì thế, sau khi có bản hiến pháp, nước Mỹ đã viết thêm Tu chính án số 1, nêu rõ các quyền tự do mà quốc hội không được xóa bỏ. 

Nước Canada, sau khi chuyển về nước bản hiến pháp do quốc hội Anh soạn, đã phải làm thêm một đạo luật bảo vệ Nhân quyền.

.....

Tối cao Pháp viện Israel đã tự cho mình đóng vai bảo vệ quyền tự do của các sắc dân thiểu số, thí dụ như người Palestine gốc Á Rập, chiếm một phần 5 dân số, các người gốc Do Thái từ các nước Châu Phi xin về tị nạn, hoặc những người không phải công dân Israel.

Khi ông Netanyahu đưa ra các dự luật hạn chế quyền hạn của ngành Tư pháp và Tối cao Pháp viện, nhiều người lo rằng sẽ không còn định chế nào đóng vai kiểm soát và hạn chế quyền hành của quốc hội và chính phủ nữa. 

Luật sư đoàn Israel phản đối. 

Các bác sĩ đình công tượng trưng trong một ngày. 

Các nghiệp đoàn dọa sẽ đình công. 

Giới kinh doanh dọa sẽ đi đầu tư chỗ khác.

 Đồng shekel, tiền Israel, đã mất giá 10% so với đô la Mỹ. 

Lực lượng chống đối đáng kể nhất là các quân nhân trừ bị.

Quân đội Israel hùng mạnh, chiến đấu giỏi nhất vùng Trung Đông, có 169,000 quân đội chính quy và 465,000 binh sĩ trừ bị. Quân trừ bị được gọi vào tập luyện mỗi năm một lần, từ một ngày đến cả tháng. Tất cả các thanh niên đều nhập ngũ, trừ những người thuộc Do Thái Giáo Chính thống Cực đoan (ultra-Orthodox) được miễn dịch hoàn toàn. Nhiều binh sĩ trừ bị đã gửi thư cho cấp chỉ huy, báo trước rằng họ sẽ không trình diện khi được gọi.


Trước ngày quốc hội biểu quyết dự luật của chính phủ Netanyahu, nhiều cựu sĩ quan và chỉ huy các cơ quan an ninh, cựu giám đốc Mossad, cơ quan tình báo, và Shin Bet, an ninh quốc nội, đã lên tiếng ủng hộ các quân nhân trừ bị phản kháng. Họ viết thư cảnh cáo ông thủ tướng rằng nền móng đoàn kết trong xã hội sẽ hao mòn, giảm bớt sức mạnh của quân đội.


Trước những cuộc biểu tình phản đối mạnh mẽ, ông Netanyahu đã bầy mưu đối phó: Ngày Thứ Hai vừa qua, ông cho quốc hội, Knesset, biểu quyết một đạo luật giản dị và nhẹ nhàng, chỉ xóa bỏ một phần quyền can thiệp của ngành tư pháp: Tối cao Pháp viện sẽ không có quyền bác bỏ một chính sách của chính phủ chỉ vì lý do chính sách đó “không phải chăng” (unreasonable trong tiếng Anh). 

Đạo luật được thông qua với tỷ số 64 phiếu thuận, không phiếu chống, vì tất cả 56 đại biểu đối lập phản kháng bỏ phòng họp ra ngoài.

Nhưng thế nào là “không phải chăng?” 

Không ai có thể quyết đoán. 

Phe chính phủ nói rằng với ba chữ đó, Tối cao Pháp viện có thể lạm dụng quyền hành, bác bỏ các quyết định của những đại biểu do dân chúng bầu lên. 

Phe đối lập vạch ra rằng xưa nay Tòa Tối Cao chỉ áp dụng tiêu chuẩn “không phải chăng” trong một số trường hợp hãn hữu, như khi chính phủ quyết định những điều quá đáng, hoặc tuyển mộ phe đảng và sa thải các công chức bất đồng ý kiến. 

Nếu xóa bỏ tiêu chuẩn đó, các đảng cầm quyền có thể dễ tham nhũng, lộng quyền. 

Hiện nay, một người đang bị ông thủ tướng nhắm cách chức là bà bộ trưởng Tư pháp, bà đã cử các thẩm phán điều tra và xét xử ông Netanyahu về các hành vi “tham nhũng” trong thời gian làm thủ tướng trước đây. Ông là người nắm giữ chức vụ này nhiều lần, thời gian tổng cộng dài hơn tất cả các vị thủ tướng trong lịch sử Israel.

Phe đối lập cũng nêu lên các hành động lạm dụng quyền hành khác của chính phủ Netanyahu. Một thí dụ là trợ cấp quá nhiều cho các trường học theo phái Do Thái Giáo Chính thống. Những trường này chỉ chú trọng việc dạy Kinh Thánh, không lo đến những môn học cơ bản như Khoa học, Toán học, ngoại ngữ. 

Một thí dụ khác là ông Itamar Ben-Gvir, chính trị gia thuộc một đảng cực hữu quá khích được trao quyền chỉ huy lực lượng cảnh sát, ông đã đàn áp nhiều người Palestine, bênh vực những người Do Thái quá khích chiếm đất xây nhà.

Những hành động lạm quyền này chỉ có thể bị ngăn chặn nếu ngành tư pháp nước Israel còn giữ được vị thế độc lập. 

Khi vai trò của tòa án bị quốc hội khuynh loát, chính phủ Netanyahu có thể thi hành nhiều chính sách khác theo các đảng cực hữu và các giáo phái thủ cựu. Họ sẽ mở rộng các khu định cư của người gốc Do Thái trên vùng đất chiếm của người Á Rập. Người Do Thái Giáo sẽ được ưu tiên, nhiều nhóm thiểu số sẽ bị bỏ rơi. Các luật lệ về hôn nhân, li dị, bình đẳng nam nữ, giới tính, sẽ thay đổi theo quan điểm tôn giáo.


Từ khi lập quốc, Israel đã chọn làm một quốc gia không đề cao một tôn giáo nào. Nhưng trong vòng một thế hệ vừa qua các phái bảo thủ muốn đề cao Do Thái Giáo ngày càng mạnh. Cuộc tranh chấp đang diễn ra tại Israel, trong quốc hội và trên đường phố, là biểu hiện của cuộc đương đầu giữa hai quan niệm đối nghịch này.


Những cuộc nghiên cứu dư luận gần đây cho thấy nếu tổ chức bầu cử bây giờ, đảng Likud sẽ thua, từ 32 xuống 28 ghế; liên minh của chính phủ trong Knesset sẽ giảm từ 64 xuống 53 hoặc 54 ghế, trong tổng số 120 đại biểu.

Trong cuộc bầu cử sắp tới, dân Israel sẽ quyết định còn giữ bản chất quốc gia như khi mới thành lập hay không.

................./.

https://d2k5by73l7lynl.cloudfront.net/a/thu-thach-nen-dan-chu-israel-/7200421.html?utm_medium=social-media&utm_campaign=mirror&utm_source=facebook&fbclid=IwAR17Qj14nNisXdkt_PUSl2AH1sWLk9FvNyJV9-qvyTNuwbzFbXfe8Zu2D7s

..đạo đức làm người trước vành móng ngựa


Tuần qua, vụ xét xử đại án 'Chuyến bay giải cứu' thu hút dư luận với những lời khai của các bị cáo, từ tố cáo nhau trước tòa, làm thơ cho đến định nghĩa thế nào là người tử tế.
Trước vành móng ngựa, một số bị cáo nói về đạo đức làm người. Các bị cáo thường lập luận bản thân không biết là tiền hối lộ, chỉ nghĩ là "quà tết", "quà cảm ơn"...

Về công cuộc đốt lò, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh, "Phải cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cây".

Nhà nghiên cứu chính trị Đông Nam Á, David Hutt hôm qua bình luận với BBC News Tiếng Việt về cách chống tham nhũng thông qua đại án 'Chuyến bay giải cứu'.
Theo ông thì "Chỉ có một thay đổi về hệ thống chính trị mới giải quyết hiệu quả được nạn tham nhũng."

/////////////









Khảo tả đặc điểm của nhóm... “người Bắc có lý luận”

 Khảo tả đặc điểm của nhóm... “người Bắc có lý luận”


Đồng Phụng Việt



Tiếng Dân News


**********


“Người Bắc có lý luận” chính thức trở thành yếu tố định tính của những cá nhân thủ giữ vai trò “trụ cột quốc gia” hồi 2015 – thời điểm đảng CSVN chuẩn bị cho Đại hội đảng CSVN lần thứ 12 (1/2016) để bầu giới lãnh đạo đảng nhiệm kỳ từ 2016 đến 2020.




Thân sinh của khái niệm “người Bắc có lý luận” dường như là ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư đảng CSVN nhiệm kỳ 11 và sau đó, ông Trọng tiếp tục đảm nhiệm vai trò Tổng Bí thư nhiệm kỳ 12 rồi nhiệm kỳ hiện nay, bất chấp Điều lệ đảng CSVN minh định - không chấp nhận bất kỳ ai đảm nhiệm vai trò Tổng Bí thư quá hai nhiệm kỳ liên tục (Khoản 1, Điều 17) [1]. Chuyện ông Trọng và đảng của ông bất chấp Khoản 1, Điều 17 là ví dụ cho
đặc điểm đầu tiên của nhóm...
“người Bắc có lý luận”: Nói một đằng, làm một nẻo. Cũng vì vậy “kỷ luật nghiêm minh” ở phần giới thiệu về “Ðảng và những vấn đề cơ bản về xây dựng đảng” trong Điều lệ đảng CSVN chỉ để cho... vui, còn thiên hạ có... vui hay không, “người Bắc có lý luận” không bận tâm!

Đặc điểm thứ hai của nhóm...
“người Bắc có lý luận” là kiểu “lý luận” bất chấp luận lý. Luận lý là một lĩnh vực khoa học (Luận lý học) được Việt hóa từ Logic học (một nhánh của triết học nhằm hỗ trợ con người tư duy và hành động hợp lý, hợp cách). Nếu đa số người Bắc bình thường tư duy và hành động theo lẽ thường dù có học luận lý hay không thì thiểu số người Bắc chịu khó... “phấn đấu” để được học “lý luận” ở mức “cao cấp” và trở thành thành viên trong nhóm “người Bắc có lý luận” lại thể hiện kiểu tư duy và hành xử theo hướng đặc biệt khác thường, mức độ khác thường vượt xa khả năng hình dung không chỉ của đồng hương, đồng bào mà ngay cả phần còn lại của đồng loại cũng không thể tưởng tượng được!
Hoạt động giải cứu người Việt ở nước ngoài khi COVID 19 trở thành đại dịch trên phạm vi toàn cầu, hay việc nghiên cứu – nghiệm thu - sản xuất – cung cấp bộ xét nghiệm COVID 19 dưới danh nghĩa Công ty Việt Á,... là một số trong vô số ví dụ cụ thể minh họa cho đặc điểm thứ hai. Chính kiểu “lý luận” bất chấp luận lý biến Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thành nơi bị thiên hạ dè bỉu là chuyên đào tạo và cung cấp phạm nhân cho đủ loại đại án “kinh thiên, động địa”. Thực tế cho thấy, nếu chưa phải là tội phạm thì các thành viên trong nhóm “người Bắc có lý luận” cũng đã là ứng cử viên của tội nào đó vì “ăn xương, uống máu” đồng bào, đồng loại theo kiểu nào đó và chưa... đắc cử là vì chưa... thất thế và chỉ vì thế mà thôi.
Có rất nhiều ví dụ cho khía cạnh vừa đề cập, chỉ xin dẫn trường hợp mới nhất: Ông Trịnh Văn Chiến – cựu Ủy viên BCH TƯ đảng CSVN, cựu Bí thư Thanh Hóa. Ông Chiến vốn đã là tâm của đủ thứ scandal khuấy động dư luận cách nay hàng chục năm, chẳng hạn scandal liên quan đến cô Trần Vũ Quỳnh Anh (2), song nhân vật thuộc nhóm “người Bắc có lý luận” này vẫn “bình an vô sự”. Mãi tới cuối tháng vừa rồi vì lẽ nào đó, nhóm “người Bắc có lý luận” mới chính thức xác định ông Chiến có “sai phạm”, cần “xử lý” (3). Nếu đem các sai phạm của những người như ông Chiến đặt bên cạnh “quá trình công tác” của họ ắt sẽ nhận ra

đặc điểm thứ ba của nhóm “người Bắc có lý luận”. Đó là nói lấy được và làm lấy được cho chính mình!

Bởi vậy, đừng ngạc nhiên khi đã đứng trước vành móng ngựa, thành viên nào trong nhóm “người Bắc có lý luận” cũng thản nhiên biện bạch kiểu như bà Nguyễn Thị Hương Lan (Cục trưởng Cục Lãnh sự của Bộ Ngoại giao, bị truy tố do đã nhận 25 tỉ khi thực hiện hoạt động “giải cứu” hàng trăm ngàn người Việt kẹt lại ở nước ngoài giữa đại dịch COVID 19) vừa... tự bào chữa: Xin Hội đồng xét xử xem xét tinh thần và thái độ trách nhiệm của bị cáo. Trong quá trình làm việc, bị cáo luôn đặt công tác bảo hộ công dân lên trên hết, đặt lợi ích của công dân lên trên tất cả. Bị cáo luôn coi công dân bị mắc kẹt hoặc gặp khó khăn ở nước ngoài như người thân của gia đình, cần phải hỗ trợ để đưa công dân về nước sớm nhất và hiệu quả nhất (4)...

Bỏi nói lấy được và làm lấy được cho chính mình là đặc điểm chung nên ngoài bà Lan còn có những viên chức khác như ông Trần Việt Thái (Đại sứ Việt Nam tại Malaysia) không những không động lòng trắc ẩn trước tình trạng thê thảm của 1.900 người Việt bị Malaysia giam giữ vì đánh bắt hải sản trong lãnh hải Malaysia hay hoạt động mại dâm tại Malaysia,... rồi được Malaysia trả tự do, tống xuất vì đang có đại dịch mà còn xem đó là cơ hội để cưỡng ép đồng bào, đồng loại phải cống nạp 44 tỉ đồng (5)...

Ba đặc điểm vừa kể của nhóm “người Bắc có lý luận” tạo ra

đặc điểm thứ tư của nhóm này:
Phi nhân, phi nghĩa, chỉ trung và hiếu với lợi ích cá nhân. Sở dĩ “người Bắc có lý luận” quần tụ thành nhóm với các đặc điểm như vừa đề cập vì đặc điểm thứ năm...
Tại Việt Nam, chỉ “người Bắc có lý luận” mới có tư cách nắm giữ công quyền và sử dụng công quyền để cưỡng đoạt, chia chác mọi thứ lợi ích chính đáng của hàng trăm triệu người Việt.
Phiên xử việc tổ chức – thực hiện hoạt động giải cứu người Việt bị kẹt tại nước ngoài chính là ví dụ mới nhất về đặc điểm thứ năm và đó cũng chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân.
Không cần tìm kiếm, chỉ nhìn quanh nơi mình sống, người Việt nào cũng có thể nhận ra thực tế: Các thành viên hoặc thân nhân, thân hữu của các thành viên trong nhóm “người Bắc có lý luận” đã cũng như đang và sẽ tiếp tục còn là chủ những bất động sản có giá trị cao nhất, những tài sản có giá trị lớn nhất, sinh hoạt xa hoa nhất và hành xử, phát ngôn trịch thượng nhất!

Bình đẳng không chỉ là tiêu chí mà còn là giá trị được tất cả các cộng đồng văn minh chung sức kiến tạo, bảo vệ bằng mọi giá, đồng thời không ngừng điều chỉnh để bình đẳng hoàn chỉnh hơn ở tất cả các khía cạnh, các đối tượng.
Ở Việt Nam, xương chất thành núi, máu chảy thành sông cũng vì khát vọng đạt được sự bình đẳng về chính trị - tiền đề để có bình đẳng trong sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt xã hội, không chỉ nhằm bảo đảm cơm no, áo ấm mà còn bảo vệ phẩm giá con người, tạo ra động lực cho phát triển.

Có nên tiếp tục chấp nhận tình trạng “người Bắc có lý luận” trở thành giai tầng duy nhất được phép nắm giữ quyền lực tại Việt Nam và sử dụng quyền lực làm công cụ tước đoạt mọi thứ cả ở hiện tại lẫn tương lai?


Tham khảo

HCM / Sắc lệnh về “trưng thu, trưng dụng và trưng tập”

Sắc lệnh về “trưng thu, trưng dụng và trưng tập”



Ngô Nhật Đăng
****

“Điều thứ 50 :
Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc” – Trích Hiến pháp nước VNDCCH năm 1946.



Sau ngày 2/9/1945 dù ông Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập” và thành lập chính phủ lâm thời nhưng không được quốc gia nào công nhận. Phương Tây gọi đó là “ Một chính phủ sinh ra trong hỗn loạn, bất hợp pháp” vì thực chất đó là một cuộc “cướp chính quyền” trong tay chính phủ Trần Trọng Kim.

Để đối phó, ông Hồ đề nghị soạn thảo một bản Hiến pháp và tổ chức tổng tuyển cử. Dù được hoàn thành rất sớm (tháng 11/1945) rồi tổ chức tổng tuyển cử nhưng bản hiến pháp bị trì hoãn đến tận đầu tháng 12/46 mới được thông qua quốc hội nhưng không công bố chính thức vì “hoàn cảnh chiến tranh”.


 Sinh viên Tân xã Hà Nội biểu tình




Ông Hồ đã đạt thắng lợi trong việc gài điều 50 Hiến pháp về quyền hạn của chủ tịch nước để rảnh tay hành động. 

Trong thời gian này Hà Nội và Bắc bộ nổ ra các cuộc biểu tình lớn với thành phần chính là sinh viên đòi chính phủ HCM phải từ chức. 

Nhất là sau khi ông Hồ ký Hiệp định sơ bộ với Pháp và bị coi là “phản quốc”, ông ta phải thanh minh với quốc dân trên đài phát thanh : “Hồ Chí Minh này không bao giờ bán nước”. Tình hình nguy ngập đến nỗi trong “Lời kêu gọi nhân dân Bắc bộ” Hồ viết :

“Vậy tôi, Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời, HẠ LỆNH cho nhân dân Bắc Bộ lập tức đình chỉ việc bất hợp tác”.

Trong thời gian ngắn ngủi cầm quyền này, chính phủ Việt Minh chủ yếu làm việc thanh trừng các đảng phái đối lập và cướp bóc tài sản, công sức của nhân dân dưới hình thức “trưng thu, trưng tập” thể hiện qua các Sắc lệnh như Sắc lệnh ngày 30/11/1945. 

Khi mà người dân đã nhìn ra bản chất của một chính quyền “vì dân” không phải vì dân nên đã không giúp đỡ chính quyền như thời kỳ đầu qua các cuộc quyên góp kiểu “Tuần lễ Vàng”. 

Sơn Tùng (một “nhà văng” được phân công chuyên viết về “Bác Hồ” ) viết : “Sau tuần lễ Vàng, số vàng thu được Bác phải cho đúc một bức tượng bằng vàng nặng 54kg kèm theo một người con gái 15 tuổi còn trinh tặng cho tướng Tiêu Văn”.

Ps : Thực ra sáng kiến “Tuần lễ Vàng” được khai sinh từ trùm phát-xít Ý Mussolini, ông ta phát động trên toàn nước Ý phong trào đổi trang sức bằng vàng lấy chiếc nhẫn bằng sắt có in biểu tượng phát- xít gọi là “Tuần lễ Vàng”.

Toàn văn Sắc lệnh về “trưng thu, trưng dụng và trưng tập” :

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 1945

SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI

SỐ 68 NGÀY 30 THÁNG 11 NĂM 1945

CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Theo lời đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ;
Sau khi Hội đồng Chính phủ đã thoả thuận;

SẮC LỆNH:

Điều I: Trong thời kỳ quốc gia còn cần phải bảo vệ và củng cố nền độc lập trên khắp địa hạt Việt Nam các nhà chức trách quân sự hoặc hành chính, định trong điều thứ 3, nếu không điều đình thoả thuận được với tư nhân thì có quyền:
1- Trưng dụng bất động sản;
2- Trưng thu hoặc trưng dụng động sản;
3- Trưng tập người, để dùng vào việc cần thiết cho quốc gia. Khi trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập, Chính phủ sẽ bồi thường cho tư nhân theo những điều kiện định trong sắc lệnh này.

Điều II: Khi nhà chức trách trưng thu vật gì, nghĩa là sung công quyền sở hữu vật đó, thì tư nhân bắt buộc phải nhường hẳn vật ấy cho Nhà nước.
Khi Nhà nước trưng dụng vật gì, nghĩa là sung công quyền sử dụng của nó thôi, thì tư nhân vẫn là chủ của cải bị trưng dụng duy phải để cho Nhà nước dùng của cải ấy trong một thời hạn định rõ trước hoặc không định rõ trước. Dùng xong, Nhà nước lại hoàn lại của cải ấy cho người chủ.
Về bất động sản Nhà nước chỉ trưng dụng thôi chứ không trưng thu.
Trưng dụng các xưởng hoặc các sở tư là bắt những xưởng và sở ấy sản xuất, chế tạo, vận tải, chuyên chở hoặc làm những việc khác cho Chính phủ.
Trưng tập người là bắt những người ấy phải làm cho Nhà nước trong một thời hạn định trước hoặc không định trước những việc thuộc về quân sự hoặc về một công vụ nào khác.

Điều III: Khi quân đội cần trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập ở một chiến khu nào thì lệnh trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập do viên chỉ huy quân đội của chiến khu ấy cấp cho, rồi thông tri cho Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ biết.
Các Bộ trưởng có quyền phát lệnh trưng tập. Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông có thêm quyền phát lệnh trưng thu, trưng dụng để dùng vào những việc có liên can đến mỗi Bộ. Bộ trưởng Bộ Nội vụ có thể uỷ quyền phát lệnh trưng thu, trưng dụng cho các Uỷ ban nhân dân mỗi kỳ hoặc các Uỷ ban nhân dân hàng tỉnh.
Bộ trưởng Bộ giao thông có thể uỷ quyền phát lệnh trưng thu, trưng dụng cho các Giám đốc công chính các kỳ.
Lệnh trưng thu hoặc trưng dụng phải báo cho người chủ tài sản biết trước khi chiếm giữ đồ vật, của cải trừ những trường hợp khẩn bách không kể.

Điều IV: Mệnh lệnh trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập phải viết trên phiếu xé ở một quyển sổ có cuống. Trong mệnh lệnh ấy phải biên rõ tên họ chức vị của người ra lệnh trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập, tên của người có của bị trưng thu, trưng dụng hoặc của người bị trưng tập, ngày và nơi thi hành sự trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập, vật hạng bị trưng thu, trưng dụng hoặc số người bị trưng tập. Nhà chức trách ra lệnh trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập ký vào phiếu ấy.

Điều V: Viên chức nào thi hành sự trưng thu hoặc trưng dụng phải giao cho người có của phiếu lệnh trưng thu hoặc trưng dụng. Khi ấy nếu thuộc vào trường hợp trưng thu và trưng dụng tài sản thì chủ có của sẽ làm hai bản kê khai rõ chi tiết những bất động sản bị trưng dụng và những động sản bị trưng thu hoặc trưng dụng, rồi đưa cho người đi, thi hành việc, trưng thu hoặc trưng dụng, xem, để người này kiểm soát lại ký nhận rồi giữ lấy một bản còn một bản thì giao cho chủ có của. Lúc giả lại cũng làm bảng mục lục kê rõ đồ vật.

Điều VI: Bất cứ lúc nào nhà chức trách cũng có thể đổi trưng dụng ra trưng thu.

Điều VII: Số tiền bồi thường cho chủ có của bị trưng thu hoặc trưng dụng sẽ tính theo sự thiệt hại mà người chủ có của đã phải chịu lúc trưng thu hay trưng dụng.
Về những của cải bị trưng dụng thì tiền bồi thường sẽ căn cứ vào sự thiệt hại do sự không được hưởng dụng của cải ấy mà tính. Tính thiệt hại thì căn cứ vào lợi tức trung bình trong năm năm cuối cùng trước ngày sung công.
ở trường hợp nhà chức trách trưng dụng nếu về sau lại đổi ra trưng thu, hoặc nếu tới lúc phải hoàn lại của cải cho người chủ, mà của đó không còn nữa vì đã bị mất, hoặc bị hoại, bị hư hỏng thì số tiền bồi thường cho chủ có của sẽ tính theo giá của tài sản ấy lúc thi hành sự trưng dụng đầu tiên. Nếu chủ có của đã nhận ít nhiều tiền bồi thường về sự trưng dụng rồi thì số tiền đó sẽ phải tính sổ trừ đi.

Điều VIII: Nếu không điều đình thoả hiệp được với tư nhân thì việc ấn định tiền bồi thường cho chủ có của sẽ để những Uỷ ban ước giá đảm nhận. Một sắc lệnh sẽ ấn định sau những người nào dự vào Uỷ ban cùng công việc, trụ sở, địa phương thẩm quyền và những quy tắc làm việc của Uỷ ban.

Điều IX: Nếu trưng thu tài sản thì số tiền bồi thường sẽ giả ngay một lúc. Nếu trưng dụng thì số tiền bồi thường sẽ giả từng kỳ một, thời hạn mỗi kỳ sẽ theo sự thoả thuận của nhà chức trách đứng trưng dụng và chủ có của bị trưng dụng, hoặc do Uỷ ban ước giá bồi thường định.

Điều X: Về trường hợp trưng dụng xưởng hoặc sở tư nếu không điều đình thoả hiệp được với tư nhân thì việc ấn định tiền bồi thường hoặc giá các nguyên liệu cũng sẽ do một Uỷ ban tổ chức như trên đảm nhiệm.

Điều XI: Những người bị trưng tập không được hưởng bồi thường gì cả, Nhà nước chỉ hoàn lại cho họ tiền phí tổn đi đường và giả lương hoặc công cho họ trong thời gian họ làm việc. Bất cứ lúc nào Nhà nước cũng có thể thôi không dùng họ nữa.

Điều thứ XII: Người nào nhận được lệnh trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập mà không tuân thì có thể bị phạt tiền từ một trăm đồng (100 đ) đến hai nghìn đồng (2.000 đ) và phạt tù từ sáu ngày đến ba tháng hay bị một trong hai thứ trừng phạt ấy. Toà án có thể cho phạm nhân hưởng án treo.
Người nào tái phạm có thể bị phạt tiền từ ba nghìn đồng (3.000đ) đến hai vạn đồng (20.000 đ) và phạt tù từ hai tháng đến hai năm.
Ngoài những trừng phạt nói trong hai đoạn trên, toà án còn có thể bắt niêm yết bản án về các việc này ở những nơi định trong bản án. Tiền phí tổn về sự niêm yết này phạm nhân sẽ phải chịu.
Nhà chức trách ra lệnh trưng tập sẽ định công giả cho người làm căn cứ vào mức giá ở trong miền.

Điều XIII: Sắc lệnh ngày mùng 6 tháng 9 năm 1945 nay bãi bỏ đi.

Điều XIV: Các ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính chịu uỷ nhiệm thi hành sắc lệnh này./.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký.


///////////

Ảnh : Sinh viên Tân xã Hà Nội biểu tình.



.........../.

Về huyền thoại Hồ Chí Minh

Về huyền thoại Hồ Chí Minh

Nguyễn Gia Kiểng



Đài "Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại" phỏng vấn tôi về ông Hồ Chí Minh nhân ngày sinh thứ 104 của ông. Sau nhiều tài liệu của các nhà nghiên cứu, đài này muốn cho thính giả nghe quan điểm của một người hoạt động chính trị về một nhân vật chính trị. Câu hỏi đầu tiên của ký giả Hồng Phúc làm tôi bối rối: "Xin ông cho thính giả biết những nét chính về nhân vật Hồ Chí Minh".

Nét đậm đầu tiên của ông Hồ Chí Minh là ông là một người lý lịch không rõ rệt.



Ngay cả ngày sinh của ông, 19-5-1890, mà Đảng Cộng Sản Việt Nam dùng làm một ngày lễ, cũng không có gì chắc chắn. Ở những dịp khác nhau, chính ông Hồ Chí Minh đã khai những ngày sinh khác nhau, mặc dầu không có nhu cầu phải giấu giếm. Thí dụ như khi nộp đơn xin học Trường Thuộc Địa Pháp, ông khai là sinh năm 1892; sau đó ít lâu, trong hồ sơ gia nhập Hội Tam Điểm (Free Mason, Franc Maçonnerie) ông khai ngày sinh là 15-2-1895. Cho đến một ngày rất gần đây mọi người vẫn đinh ninh rằng ông họ Nguyễn, tên Nguyễn Tất Thành, sau đổi thành Nguyễn Sinh Cung, con ông phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Thế rồi sử gia Trần Quốc Vượng đưa ra một giả thuyết mới theo đó ông thực sự họ Hồ, cháu nội ông Hồ Sĩ Tạo, và đã chỉ cho mang họ Nguyễn sau một thảm kịch gia đình: bà nội ông đã có thai với ông Hồ Sĩ Tạo dù ông này đã có vợ con, gia đình bà đã phải đem gả bà cho một ông đồ già họ Nguyễn, vì thế thân phụ ông đã mang tên Nguyễn Sinh Huy. Trần Quốc Vượng đưa ra những chứng cứ và biện luận khó phản bác.

Hồ Chí Minh đã sống thời niên thiếu như thế nào tại Việt Nam, đã làm gì tại Pháp và tại Nga, đã có thành tích và trách nhiệm nào trước và trong thời gian làm chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa? Ngay cả những tài liệu về Hồ Chí Minh do những người cộng sản kỳ cựu gần gũi với ông viết ra cũng đã mâu thuẫn.

Chính Hồ Chí Minh cũng đóng góp tích cực vào việc gây hoang mang và lẫn lộn về tiểu sử của ông. Ông dùng những bí danh T. Lan và Trần Dân Tiên để viết về mình một cách mơ hồ. Trong cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch", ông Trần Dân Tiên, tức Hồ Chí Minh, thuật lại cảm giác bồn chồn sung sướng khi được "Hồ chủ tịch" tiếp và được ông Hồ Chí Minh trả lời như sau khi ngỏ ý muốn viết tiểu sử của ông: "Tiểu sử? Đấy là một ý kiến hay. Nhưng hiện nay còn nhiều việc cần thiết hơn. Rất nhiều đồng bào đang đói khổ". Câu chuyện này chứng tỏ Hồ Chí Minh là một người giả dối muốn đánh bóng tiểu sử của chính mình; đó là tâm lý của những người trong thâm tâm không hãnh diện về mình.
Điều đáng ghi nhận là mặc dù đã bỏ ra rất nhiều thời giờ và công sức và dùng tới hai bút hiệu để viết về chính mình, một việc có lẽ chưa một nhà chính trị nào làm, nhưng cả hai hồi ký của ông Hồ Chí Minh đều không có một giá trị lịch sử hay chính trị nào cả, bởi vì chúng không đóng góp giải thích một sự kiện lịch sử nào mà chỉ là những mẩu chuyện nhắm mục đích ca tụng ông Hồ Chí Minh như một người tốt, tài giỏi, dũng cảm, có chí lớn, có quyết tâm, đáng ngưỡng mộ v.v.

Hồ Chí Minh hoàn toàn không hiểu ý nghĩa và hậu quả của những biến cố lớn của một giai đoạn lịch sử trọng đại, trong đó ông là nhân vật chính; ông chỉ chú trong đến những chuyện vụn vặt về cá nhân mình. Đây là một điều đáng buồn cho cả ông Hồ Chí Minh lẫn dân tộc Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã phá mọi kỷ lục Việt Nam về tiểu sử. Số sách và bài viết về ông đã gấp hàng trăm lần bất cứ nhân vật lịch sử Việt Nam nào. Tuy vậy bí ẩn về ông vẫn còn nguyên vẹn. Bài này vì vậy không phải là một đóng góp thêm về tiểu sử ông Hồ Chí Minh mà chỉ có mục đích nhận diện một trong những huyền thoại nền tảng của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chế độ cộng sản Việt Nam.

.....
Có một số dữ kiện mà mọi người có thể đồng ý. Ông sinh vào khoảng 1890-1895 tại Nghệ An, mồ côi mẹ rất sớm, cha đậu phó bảng, làm quan đến chức tri huyện nhưng vì say rượu đánh chết người nên mất chức, bị tù, rồi lưu lạc vào Nam chết trong cô đơn và nghèo khổ. Hồ Chí Minh học hết tiểu học, đang học trường Quốc Học tại Huế thì phải bỏ học vì cha bị mất chức. Ông sống vất vưởng ở trong Nam, đặc biệt tại Sài Gòn vài năm, rồi đi làm phụ bếp trên một tàu buôn và tới Pháp năm 1911. Tại đây ông làm đơn xin vào học Trường Thuộc Địa, một trường đào tạo công chức cho chế độ thuộc địa Pháp ở Nantes, nhưng bị từ chối.
Ông lên Paris sinh sống bằng nghề tô ảnh, gặp một số trí thức có tinh thần quốc gia trong đó có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và hợp tác với họ.
Ông gia nhập Đệ Nhị Quốc Tế, rồi Đảng Cộng Sản Pháp, và được gửi đi Nga huấn luyện năm 1923. Cuối năm 1924 ông được cử làm thông ngôn cho phái đoàn Nga tại Trung Quốc do Borodin cầm đầu; do biến cố này mà sự nghiệp chính trị của ông trở thành gắn bó với Việt Nam. Ông trở thành đại biểu Đông Dương tại Đệ Tam Quốc Tế, đóng vai trò then chốt trong việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam và trở thành lãnh tụ số 1 của đảng này từ khi thế chiến II bùng nổ.
Ông lãnh đạo cuộc Cách Mạng Tháng 8, rồi cuộc kháng chiến chống Pháp và chống chính quyền Bảo Đại do Pháp yểm trợ, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Genève.
Ông mất năm 1969, giữa lúc cuộc chiến tranh Nam Bắc đạt đến mức độ gây cấn nhất.

Về đời tư ông có khá nhiều người tình và cũng đã có vợ, có con, nhưng ông giấu nhẹm những chuyện này. Một trong những người phụ nữ này là cô Nông Thị Xuân, có con với ông, đã chết trong một trường hợp bí ẩn, thân nhân quả quyết là đã bị thủ tiêu. Những sự kiện này được mọi nhà nghiên cứu nhìn nhận và cũng chưa hề bị Đảng Cộng Sản Việt Nam bác bỏ.

Đảng Cộng Sản Việt Nam và chế độ cộng sản Việt Nam đặt nền tảng trên ba huyền thoại:

+chủ nghĩa cộng sản chủ trương giải phóng giai cấp vô sản và thiết lập một thế giới công bằng lý tưởng;

+cuộc chiến đấu oanh liệt thắng Pháp, thắng Mỹ đem lại độc lập và thống nhất đất nước;

+và thần tượng Hồ Chí Minh, một nhà tư tưởng lớn, một nhà chính trị lỗi lạc, một mẫu mực về đạo đức, đồng thời cũng là một người giản dị, khắc khổ chỉ sống cho đất nước.

Mỗi huyền thoại có một công dụng riêng.

Chủ nghĩa cộng sản là một cứu cánh, một biện minh sau cùng cho mọi hành động. Chiến công giành độc lập, thắng ngoại bang cho Đảng Cộng Sản Việt Nam một sự chính đáng lịch sử và, quan trọng hơn, tiêu biểu cho dụng cụ bạo lực sẵn sàng đập tan mọi chống đối.

Thần tượng Hồ Chí Minh là đối tượng để ngưỡng mộ và kính phục và đem lại cho đảng sự chính đáng về mặt đạo đức.

Ngày nay lý tưởng cộng sản không những đã sụp đổ mà còn bị lố bịch hóa.

Nó chỉ được duy trì qua loa như vòng phòng thủ bên ngoài. Còn lại cặp bài trùng cố hữu và bắt buộc của mọi quyền lực: bạo lực và đạo đức. Bạo lực để đập tan mọi chống đối, đạo đức để đừng bị chống đối. Đảng cộng sản dùng bạo lực để áp đặt sự tôn sùng Hồ Chí Minh, ngược lại sự tôn sùng thần tượng Hồ Chí Minh, biểu tượng của đảng, có tác dụng triệt tiêu ý muốn chống đối và do đó cho phép tiết kiệm việc sử dụng bạo lực. Nếu một trong hai thành tố này không còn thì chế độ cộng sản không thể tiếp tục tồn tại.

Vậy thì Hồ Chí Minh là nhân vật như thế nào?

Một tranh cãi quen thuộc là Hồ Chí Minh có phải là một người yêu nước và nhân bản hay không? Sở dĩ câu hỏi này được đặt ra là vì Đảng Cộng Sản Việt Nam đề cao ông như là chân dung của lòng yêu nước và đức hạnh, nhưng đây là một tranh cãi phiến diện.

Yêu nước là tình cảm tự nhiên của mọi người và ngay cả những kẻ phản quốc cũng yêu nước. Sự quyến luyến với phần đất mà mình sinh ra và lớn lên nằm trong phản xạ của mọi động vật, không cứ gì loài người.

Vậy thì ông Hồ Chí Minh chắc chắn là có yêu nước.

Cũng thế, những giá trị nhân bản có sẵn trong mọi người. Ngay cả những kẻ gian ác nhất cũng ưa chuộng sự lương thiện, sự thủy chung và lòng bao dung. Con người đã được cấu tạo như thế. Vấn đề thực sự đặt ra là trong hoàn cảnh khó khăn và trước hiểm nguy, lòng yêu nước và các giá trị đạo đức như tình bạn, tình yêu có trọng lượng nào?

Hồ Chí Minh đã thẳng tay thủ tiêu các lực lượng chính trị, dù là cộng sản đệ tứ, hay Đại Việt, hay Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông thừa biết là họ rất yêu nước, nhưng họ không thuộc đảng cộng sản của ông và do đó sự hiện hữu của họ đe dọa độc quyền lãnh đạo của ông.

Hồ Chí Minh biết bà Nguyễn Thị Năm là người vô tội, hơn thế còn là người tốt, đã giúp đỡ nhiều cho đảng cộng sản và có con trai đang là trung đoàn trưởng quân đội cộng sản. Ông quí bà Năm, nhưng khi cố vấn Trung Quốc cho biết là không thể thay đổi quyết định xử bắn bà để thị uy vì tất cả mọi nghi thức đã sắp xếp xong rồi thì ông im mồm và để cho bà Năm bị bắn.

Sau này, trong các vụ Nhân Văn - Giai Phẩm và "xét lại chống đảng" ông cũng để mặc cho các cộng sự viên gần gũi bị bách hại oan ức. Ông bỏ rơi bà vợ chính thức Tăng Tuyết Minh để giữ hình ảnh một lãnh tụ thánh thiện chỉ sống cho đất nước và lấy đất nước làm gia đình. Cũng vì hình ảnh này mà ông hoặc đã ra lệnh hoặc đã chấp nhận thủ tiêu cô Nông Thị Xuân và bỏ rơi người con của ông với cô này. Có rất nhiều khả năng là chính ông đã quyết định tội ác này bởi vì ông quan tâm một cách bệnh hoạn đến hình ảnh của mình, ông đã dùng cả hai bí danh để viết sách tự đánh bóng mình.

Một người không mắc bệnh tâm thần không thể làm như thế.

Tóm lại, khi đứng trước khó khăn thì lòng yêu nước, những giá trị đạo đức, cũng như danh dự và an ninh của những người thân thiết với ông không có một trọng lượng nào đối với Hồ Chí Minh cả, ông có thể nhẫn tâm một cách đáng sợ.

Ông Hồ Chí Minh thiếu hẳn những kiến thức cần thiết mà mọi người lãnh đạo quốc gia, ngay cả trong thời đại của ông, phải có.

Ông hoàn toàn không biết gì về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, tài chính, luật pháp, và ngay cả về nông nghiệp. Trong cuốn sách "Mấy kinh nghiệm Trung Quốc cần phải học" mà ông viết dưới bút hiệu Trần Lực (nhà xuất bản Sự Thật, 1958, tr. 41), ông tin và kêu gọi mọi người tin là một mẫu lúa tại Trung Quốc có thể đạt được 333 tấn lúa mỗi năm. Những phát biểu của ông, dù là bài viết hay bài nói, không chứng tỏ một sự hiểu biết nào, dù sơ sài đến đâu, về lịch sử thế giới và tư tưởng chính trị. Việc Đảng Cộng Sản Việt Nam đề cao ông như một nhà tư tưởng là cả một xúc phạm đối với trí tuệ.

Không phải là Hồ Chí Minh không có tài, nhưng cái tài của ông ở chỗ khác. Ông lặn lộn và từng trải, học được nhiều bài học thực dụng. Ông sống một thời niên thiếu bi đát, một tuổi thanh niên chật vật, được hoàn cảnh đưa đẩy đến những hoạt động phiêu lưu nguy hiểm, được huấn luyện để làm gián điệp tại Nga và đã hoạt động tình báo thực sự với cả Nga, Trung Quốc lẫn Mỹ và Pháp trong bối cảnh chiến tranh và khủng bố.

Có thể nói ông là người Việt Nam đầu tiên trong thế kỷ 20 có huấn luyện và kinh nghiệm trong các tổ chức quốc tế. Cuộc sống đó đã tạo cho ông một bản năng sống còn đặc biệt bén nhậy và đã khiến ông hạ được các đối thủ, trong cũng như ngoài đảng cộng sản, nhưng mặt khác cũng đã khiến ông đặt an ninh, địa vị và danh tiếng cá nhân lên trên hết, và ông trở thành nguy hiểm cho mọi người vô tình hay cố ý trở thành một đe dọa thực sự hay tưởng tượng đối với ông.

Quãng đời đấu tranh chống chế độ thuộc địa của ông ngay trên đất Pháp trong thời gian 1915-1923, thường được Đảng Cộng Sản Việt Nam nhắc tới như một thiên anh hùng ca.

Hai sự kiện nói lên con người Hồ Chí Minh. Ông rất ít nhắc tới những đồng chí của ông trong giai đoạn này, như các ông Phan Chu Trinh, Phan Văn Truờng, Nguyễn Thế Truyền đã hướng dẫn ông, nhất là Nguyễn Thế Truyền, người bạn thân đã đem ông vào Đảng Cộng Sản Pháp. Ông giành mọi thành tích của nhóm này cho riêng mình.

Một sự kiện khác là ông đã tham gia hội Tam Điểm.

Đây là một hội kín mà theo một số tài liệu đã xuất hiện từ thế kỷ thứ 10 và có thế lực lớn tại các nước phương Tây, kể cả tại Pháp. Hội này có đặc tính nổi bật là các hội viên che chở cho nhau, mặt khác nó cũng chống chính sách thực dân. Tam Điểm có vô số nhân vật đầy quyền lực cho nên khi ra mặt đả kích chế độ thực dân tại Pháp Hồ Chí Minh đã được bảo vệ. Nhưng Tam Điểm mâu thuẫn với Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản nên từ 1920 các đảng viên cộng sản bị cấm gia nhập hội này. Hồ Chí Minh đã chọn Đệ Tam Quốc Tế vì phong trào này cho ông một triển vọng thăng tiến lớn.

Ông lặng lẽ bỏ hội Tam Điểm như một thành viên bị mất tích và cũng không khai báo gì với Đệ Tam Quốc Tế.

Hồ Chí Minh đi hai hàng, Tam Điểm không biết ông là cộng sản, ngược lại Đệ Tam Quốc Tế cũng không biết ông là hội viên Tam Điểm.

Sau Cách Mạng Tháng 8, những người hoạt động chính trị tại Việt Nam và thuộc hội Tam Điểm, do đó có khả năng biết Hồ Chí Minh cũng thuộc hội này, như Tạ Thu Thâu, Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo, v.v. đều bị thủ tiêu nhanh chóng.

Ngoài ra còn có một đợt tàn sát khó hiểu đối với chức sắc Cao Đài, một biến thể của hội Tam Điểm tại Việt Nam, mà Nguyễn Hộ có kể lại trong hồi ký của ông.

Sự tàn sát này phải chăng có mục đích khiến không ai ngờ rằng Hồ Chí Minh có một liên hệ nào với Tam Điểm? Điều chắc chắn là cho tới khi ông qua đời không ai biết Hồ Chí Minh đã thuộc hội này. Sự thực mới chỉ được phơi bày gần đây.

Cái gì đã khiến Hồ Chí Minh thành công?

Có lẽ lý do chính là ông đã được huấn luyện tại Nga trong bối cảnh khủng bố của các thập niên 1920 và 1930 nên đã hiểu được bí quyết thành công của Đảng Cộng Sản Nga và hiệu lực của khủng bố.

Đừng nên quên rằng cuộc cách mạng lật đổ Nga hoàng đã xảy ra vào tháng 2-1917, trong đó đảng cộng sản chỉ có một vai trò không đáng kể. Cách Mạng Tháng 10 Nga chỉ là cuộc đảo chính của đảng cộng sản sau khi đã nắm được thế thượng phong nhờ khủng bố.

Hồ Chí Minh đã được huấn luyện về khủng bố và đã áp dụng khủng bố một cách thẳng tay. Cách Mạng Tháng 8 đã khởi đầu với sự thủ tiêu hàng loạt các "phần tử phản động".

Cuộc chiến tranh 1946-1954 đã là một giai đoạn khủng bố kinh hoàng. Đặc tính lãnh tụ khủng bố của Hồ Chí Minh cho đến nay chưa được nhấn mạnh đúng mức. Hồ Chí Minh sử dụng khủng bố ngay cả khi không cần thiết như trong vụ Nhân Văn - Giai Phẩm và nhất là trong đợt Cải Cách Ruộng Đất năm 1955, trong đó hàng trăm ngàn người đã bị sát hại. Không thể đổ lỗi cho Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt và Hồ Viết Thắng vì lúc đó Hồ Chí Minh còn nắm mọi quyền hành.

Cũng nên nhớ là mãi tới năm 1958, ba năm sau khi Cải Cách Ruộng Đất đã được nhìn nhận là một sai lầm đẫm máu, Hồ Chí Minh vẫn còn cho xuất bản cuốn sách mà ông viết dưới bút hiệu Trần Lực ca tụng cải cách ruộng đất tại Trung Quốc, khuôn mẫu của đợt cải cách ruộng đất tại Việt Nam.

Hồ Chí Minh chắc chắn là có tài, nhưng là cái tài của một chuyên viên sách động, khủng bố, lật đổ và cướp chính quyền, chứ không phải là cái tài của một người lãnh đạo quốc gia.

Còn về con người Hồ Chí Minh? Có thể tóm tắt ông đã là một đứa trẻ không may, không được nuôi nấng và dạy dỗ trong tình yêu và hạnh phúc, mất mẹ sớm lại phải chịu đựng một ông bố nghiện ngập và hung dữ.

Gia đình ông đã là một thảm kịch và ông đã phải bỏ học và lăn lộn với đời rất sớm. Mỗi thảm kịch trong tuổi thơ đều để lại một thương tích trong con người và Hồ Chí Minh cũng không phải là một ngoại lệ.

Ông đã bị chấn thương về tâm thần.

Có lẽ chính thảm kịch gia đình, mà theo Trần Quốc Vượng đã bắt đầu ngay từ bà nội ông nhưng chắc chắn là đã trầm trọng từ đời thân phụ ông, đã khiến Hồ Chí Minh không có tình cảm gia đình.

Tất cả những tài liệu do những người gần gũi với ông viết ra đều không bao giờ thuật lại một lần nào Hồ Chí Minh nhắc đến cha mẹ, anh em, ngày giỗ v.v. Đặc biệt không coi trọng phụ nữ, dù là bà Tăng Tuyết Minh hay cô Nông Thị Xuân hay những người đàn bà khác.

Trong cuộc đời ông không có những người đàn bà sung sướng và được quí trọng. Chị ông, mẹ ông và có lẽ cả bà nội ông, đã chỉ là những người sinh ra để làm nạn nhân. Thảm kịch cá nhân của Hồ Chí Minh đã biến ông thành một người mưu lược, khéo léo, nhưng vô nguyên tắc và không bị trói buộc bởi một giá trị nào.

Hồ Chí Minh có công hay có tội?

Đó là một vấn đề sẽ còn tranh cãi rất nhiều và rất lâu. Nhưng nếu ta đặt câu hỏi một cách khác: "Nếu không có Hồ Chí Minh và đảng cộng sản thì Việt Nam sẽ khá hơn hay sẽ kém hơn hiện nay?" thì chắc chắn tuyệt đại đa số người Việt sẽ có cùng một câu trả lời. Nói chung Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã là những sự kiện đáng tiếc. Trong cuốn Thời Dựng Đảng do Đảng Cộng Sản Việt Nam xuất bản, ông Thép Mới viết: "Các thế hệ Việt Nam sau này sẽ nhớ đến Hồ chủ tịch như là người đã có công đem chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam". Nhận định này đúng, và giải thích lý do tại sao Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn cố gượng gạo duy trì trên đầu môi chủ nghĩa Mác - Lênin. Vấn đề là việc đem chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam có lợi gì?

Nhưng dù Hồ Chí Minh có thế nào đi nữa, dù ông có công hay có tội, thì ông cũng vẫn là một con người và vẫn phải được hưởng quyền tối thiểu của một người chết, nghĩa là được yên nghỉ. Việc đem xác một người đã chết trưng bày ở giữa một công trường, dù là trong một lăng đồ sộ và trong một lồng kiếng, là một hành động dã man theo văn hóa Việt Nam.
Không một người Việt Nam nào có thể bị đối xử như thế.
Hồ Chí Minh đã bị sử dụng như một dụng cụ tuyên truyền. Đã đến lúc ông có quyền được an táng một cách văn minh.


Nguyễn Gia Kiểng
(2004)

www.thongluan.org/diendan/tl181_ngk.shtml




......