Giáo dục vì lợi ích của ai?



Bài phỏng vấn giáo sư Hồ Ngọc Đại trên PetroTimes

***




“Có đến đâu làm đến đó”

PV: Gần đây dư luận đang sôi nổi bàn về việc học sinh phổ thông chỉ cần học 9 năm là đủ, giáo sư nghĩ thế nào về vấn đề này?

GS Hồ Ngọc Đại: Học 9 năm hay 12 năm không phải là vấn đề cốt lõi. Thực ra, xưa nay người ta không dám công khai đề cập đến vấn đề của giáo dục Việt Nam là giáo dục vì lợi ích của ai? Tôi có thể khẳng định, ở bất cứ thời đại nào, đó vẫn là câu hỏi mấu chốt nhất.

Vì lợi ích của ai mà cần học 9 năm hay 12 năm? Theo tôi, có hai lợi ích và hai cách xử lý, một là lợi ích của người hưởng giáo dục và lợi ích của những người xung quanh nó bao gồm thầy giáo, gia đình, các nhà quản lý, Đảng và Nhà nước… Nếu lợi ích đó mọi người không nói ra một cách công khai, minh bạch thì sẽ làm giáo dục một cách “ậm ờ”.

Sai lầm hiện nay là không xác định được đâu là mục đích cơ bản của giáo dục vì lợi ích của ai. Vì thế, những người viết sách giáo khoa về cơ bản là vì lợi ích của chính họ. Tất nhiên không ai dám nói ra điều đó, nhưng bản chất là như vậy.

PV: Thế nhưng, người ta đang có ý định viết lại sách giáo khoa. Nói như thế, chẳng hóa ra là chúng ta lại đang thay cái sai bằng một cái sai khác?

GS Hồ Ngọc Đại: Nhiều nhà giáo dục hiện nay đều dùng “vốn tự có” để kiếm sống, tức là luyện đại học rồi phiên phiến dùng kiến thức đó để dạy phổ thông. Viết giáo khoa nhưng họ không nghiên cứu đối tượng mà họ phải phục vụ. Ví như chuyện huy động những người dạy đại học viết sách giáo khoa phổ thông là điều hoàn toàn vớ vẩn vì họ có biết gì về phổ thông, về trẻ em đâu. Với mấy chữ “vốn tự có” họ viết “phiên phiến” đi là thành sách giáo khoa phổ thông. Đã có lần tôi gọi một số người viết sách giáo khoa vừa bất tài vừa thất đức. Và điều nguy hiểm nhất là họ chỉ vì lợi ích của chính họ, bằng “vốn tự có” của họ. Đó là điểm mấu chốt nhất mà có ai dám nói ra đâu?
Họ nhân danh nhiều thứ, nhưng bản chất là phục vụ lợi ích cho chính họ. Và khi mà người ta đặt lợi ích của mình lên trên hết thì con trẻ sao còn được coi trọng nữa.

Trước đây, có những người từng làm việc ở cơ quan tôi, sau đó bị loại vì không đủ sức nhưng họ lại là tác giả sách giáo khoa, thậm chí còn là chủ biên. Họ bị loại vì không chịu tu dưỡng nghiệp vụ mới mà chỉ dựa vào vốn liếng kiến thức ít ỏi. Tôi đã cảnh báo chuyện này cách đây mấy chục năm rồi nhưng không ai để ý.

Vừa rồi giáo dục có chương trình giảm tải vì chương trình nặng quá. Nguyên tắc giảm tải về mặt chính trị xã hội là đúng nhưng về mặt nghiệp vụ thì hoàn toàn vớ vẩn, thực thi hoàn toàn sai lầm.

PV: Đúng là luôn tồn tại khoảng cách giữa chính sách và sự thực thi trong nhiều lĩnh vực ở nước ta. Cụ thể thì sai lầm về mặt thực thi chính sách giảm tải giáo dục thể hiện ở đâu, thưa giáo sư?

GS Hồ Ngọc Đại: Tư duy của họ thô sơ lắm, theo kiểu thấy phần nào nặng quá là họ vứt bỏ luôn.
Như kiểu người ta đang gánh thấy nặng quá là nhặt bớt bỏ đi. Lẽ ra cách giảm tải hữu hiệu nhất là không gánh bằng vai mà bằng trí óc ví như chở bằng ôtô. Phải xác định được rằng, những thứ đang gánh không đáng gì cả nhưng vì anh gánh bằng đôi vai thịt, bằng sức cơ bắp thì thấy mệt là phải. 
Do đó, mục đích của giảm tải không phải là giảm bớt chương trình đang dạy hiện nay mà phải thay đổi toàn bộ cơ cấu cả nội dung, phương pháp, thể chế tổ chức. Nhưng họ lại không đủ sức làm việc ấy vì trong “vốn tự có” của họ không có sẵn. Đó là vấn đề trước đây mọi người chỉ dám nói à ơi nhưng nay, với nền văn minh hiện đại thì phải rạch ròi.


Bây giờ, đổi mới căn bản và toàn diện là phải xác định lại vì lợi ích của ai mà làm. Nếu vì lợi ích trẻ con mà anh điều chỉnh lợi ích bản thân thì quá tốt nhưng ngược lại, anh từ bỏ lợi ích của bọn trẻ, chỉ chăm chăm làm lợi cho bản thân thì là vô đạo đức.
Việc dung hòa hai lợi ích hoàn toàn có thể thực hiện được. Anh phải nghiên cứu lợi ích của trẻ con, hỏi chúng nó muốn gì chứ anh không thể áp đặt chúng nó. Chẳng hạn người ta bán hàng hóa ngoài chợ, người buôn bán có lợi nhưng song song đó vẫn phải có lợi ích của người tiêu dùng. Nhưng hàng hóa khác giáo dục, sách giáo khoa với chương trình dạy là một món hàng buộc khách phải mua, dù có lợi hay không có lợi cho họ. Bản chất của sản xuất hàng hóa phải vì lợi ích người tiêu dùng, từ đó mới có quyền mưu cầu lợi ích cho mình. Chỉ tiếc là giáo dục chỉ có một, duy nhất nên nó bắt ta phải dùng, phải nghe và theo.


PV: Chúng tôi đã từng hỏi một cô giáo rằng, nếu bây giờ muốn đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục thì phải bắt đầu từ đâu. Cô giáo ấy đã không trả lời được vì cho rằng, có quá nhiều thứ phải làm và đều nên làm cùng với nhau, không phân thứ hạng. Giáo sư nghĩ thế nào về chuyện này?

GS Hồ Ngọc Đại: Cá nhân tôi không nghĩ như vậy. Bây giờ phải điều tra lại lợi ích trẻ con. Trẻ con chấp nhận, chưa chắc anh đã thành công, nhưng trẻ con không chấp nhận nhất định anh thất bại. Trẻ con, gia đình, xã hội không chấp nhận thì rõ ràng là thất bại. Hiện giờ, mọi người buộc phải chấp nhận vì không còn sự lựa chọn thứ hai.

Đã đến lúc mình phải minh bạch mọi chuyện, đã qua rồi giai đoạn mập mờ. Vì vậy, vấn đề căn bản nhất hiện nay là phần lớn những nhóm tác giả hay chủ biên đều vì lợi ích của họ mà hy sinh lợi ích dân tộc, tập thể. Đó là tội ác. Tôi là người trong cuộc nên hiểu rõ, cũng vì vậy khi tôi nói không ai cãi được. Bởi nó là toàn bộ sự thật chưa ai dám nói ra. Bắt con người ta học thêm vì lợi ích của ai, chẳng phải vì lợi ích của những người dạy thêm sao?

PV: Nói như thế có hơi cực đoan không thưa giáo sư? Chẳng lẽ lại không có chút hữu ích nào cho học sinh? Thực tế thì chúng ta cũng có những học sinh học giỏi và theo được các chương trình giáo dục đang bị xem là quá nặng hiện nay?

GS Hồ Ngọc Đại: Họ chỉ vin vào cái cớ, chứ đó không phải căn cứ vào nguyên nhân. Anh phải tôn trọng lợi ích người khác thì lợi ích của anh mới chính đáng được.

Trẻ em 0-2 tuổi, 3-5 tuổi, 6-11 tuổi, 12-18 tuổi, quá 18 tuổi phải có những phương pháp giáo dục khác. Có thể ví trẻ em như hạt giống đem gieo. Hạt giống ấy, khi nảy mầm nó sống khác, khi thành cây, ra hoa, kết trái... nó lại theo một đời sống khác. 
Như vậy, sự phát triển của con người là tập hợp những giai đoạn phát triển khác nhau về chất.
Nếu hiểu được như vậy sẽ tổ chức được hệ thống giáo dục rất tự nhiên, phù hợp với từng lứa tuổi và sẽ thành công. Nếu giáo dục theo kiểu lý thuyết thực dụng, rất có thể sẽ có hiệu quả tức thời, nhưng về lâu dài không thể bền vững được.
Và cuối cùng, chúng ta sẽ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm chứ không phải khoa học. Không thể phủ nhận xử lý theo chủ nghĩa kinh nghiệm là hoàn toàn sai, nó cũng có cái đúng nhưng xác xuất đúng rất thấp.

PV: Vậy phương án để đưa đạo đức giáo dục quay trở lại với mục đích cuối cùng và duy nhất của nó là gì?

GS Hồ Ngọc Đại: Có nhiều phương án nhưng khi biểu quyết, đa số tất nhiên đa số sẽ thắng thiểu số. Nếu mọi phương án đều được công khai, dân chúng được quyền chọn lựa kết quả thì sẽ khác. Thế nên, ít nhất phải có hai phương án để nhân dân lựa chọn. Nếu chỉ có một sẽ tạo tư duy theo kiểu độc quyền, là điều hoàn toàn không nên trong giáo dục.
Một xã hội dân chủ, văn minh không chấp nhận kiểu tư duy đó. Tôi sang Nga, ra đường không bao giờ nhìn thấy hai người ăn mặc giống nhau. Tôi mong lắm chuyện đó sẽ xảy ra ở nước mình và giờ cũng bắt đầu rồi đấy.

Có nhiều phương án, lựa chọn, khác nhau, nhiều bộ sách giáo khoa và tùy vào nhu cầu để lựa chọn nhưng vẫn có khung chương trình chung. Khi có nhiều phương án chọn lựa anh sẽ coi trọng người dùng. Không có độc quyền nào tốt cả, có thể anh cho phương án này là tốt nhất, nhưng quan trọng là tốt nhất với những ai, dân không phải là tất cả. Ví dụ mọi người nói, ăn sữa là tốt, nhưng trẻ em nông thôn có cần ăn sữa đâu vẫn tốt đấy thôi. Họ đã lựa chọn, tất nhiên họ buộc phải chấp nhận sự lựa chọn đó.

Theo tôi, ít nhất là phải xóa bỏ cơ chế độc quyền, từ đó, cho ra đời nhiều bộ sách, nhiều giải pháp khác nhau để thầy trò lựa chọn.

PV: Nhưng thưa giáo sư, liệu có phải ai cũng có đủ trí, lực để lựa chọn cho mình một phương án tối ưu, một bộ sách hợp lý?

GS Hồ Ngọc Đại: Trình độ dân trí sẽ ngày một cao hơn. Tôi dạy trẻ con 3 điều, một là phải biết yêu đất nước, hai là phải có trách nhiệm với những việc mình làm, thứ ba là biết chia sẻ với người khác, biết chấp nhận sự khác biệt của người khác. Từ nhỏ phải có trách nhiệm với những việc mình làm để sau này ra xã hội mới có trách nhiệm với những điều lớn lao hơn.

Giáo dục muốn đổi mới phải bắt đầu từ lớp 1.
Chẳng hạn, những em học toán giỏi đáng được đề cao, trong khi những em quét nhà giỏi cũng nên được khen chứ.

Mọi người khuyên nên học tập Ngô Bảo Châu nhưng tôi can, không để làm gì cả vì có người rất giỏi điều này nhưng lại rất kém những việc khác.
Sống trong xã hội hiện đại phải biết chia sẻ, và phải biết chấp nhận. Như vậy sẽ hài hòa hơn để tránh tư duy ích kỷ.

Trong bữa ăn, có thể món này anh không thích nhưng tôi thích thì sao, anh không thể áp đặt gu ăn uống của anh vào tôi được. Chúng ta sống trong quan hệ một chiều bị ảnh hưởng nhiều bởi tư duy vua đã nói thì tôi phải nghe, nhưng xã hội hiện đại cởi mở hơn. 

Dân chủ sinh ra và lớn lên từ trong lòng cuộc sống. Ngày xưa, bố mẹ nói con phải nghe vì ruộng của bố, đất của bố, con không nghe thì chết đói nhưng bây giờ con có lương, có thể tự sống.

Trong đời người không có gì quan trọng hơn sự sống của người ta, lợi ích đó là cơ bản nhất.

Vì vậy, hiện nay khái niệm cần tuyên truyền là về lợi ích, nó khác hoàn toàn với vụ lợi chỉ biết đến lợi ích cá nhân. Con người ngày càng khôn ngoan hơn và khi đó họ sẽ ý thức rõ hơn về lợi ích. Ra chợ mặc cả giá cũng chỉ vì lợi ích, buôn bán giành giật cũng là lợi ích đấy thôi.

Mọi người nên nhớ, xã hội hiện đại lấy lợi ích làm nguyên tắc cơ bản . Xã hội hiện đại là xã hội chuyên nghiệp, nghĩa là làm việc gì cũng có lợi ích cao nhất. Bây giờ người ta khen nhau là có nghiệp vụ, làm ngân hàng có nghiệp vụ, nhà báo có nghiệp vụ, anh chữa xe cũng có nghiệp vụ.

Bây giờ anh đào tạo thế nào họ cũng phải chấp nhận nhưng nếu có nhiều phương án thì anh buộc phải đào tạo theo cách khác mới cạnh tranh được.

PV: Theo như giáo sư nói, thì có nghĩa điều quan trọng nhất hiện chúng ta phải làm là xác định rõ mục tiêu của nền giáo dục rồi sau đó từ mục tiêu sẽ có các yêu cầu?

GS Hồ Ngọc Đại: Xã hội sẽ tự điều chỉnh để thích nghi, bất cứ cá nhân nào không thể muốn mà được. Xu hướng xã hội là chuyên nghiệp hóa. Xã hội nông nghiệp, các cá nhân đều hao hao nhau nhưng trong xã hội hiện đại các cá nhân hoàn toàn khác nhau.

Hiện nay, có những trường thực sự có chất lượng, vì xã hội đòi hỏi như thế. Trong xã hội cũ, các cá nhân hao hao nhau như củ khoai tây nhưng xã hội hiện đại không bao giờ có hai người giống nhau.

Chuyện đó không phải lỗi của ai cả mà là đặc trưng mang tính thời đại.

Mọi người nên tuyên truyền trong xã hội ý thức về lợi ích.

Những kẻ sử dụng “vốn tự có” sinh sống trên lợi ích của trẻ em thì nên và cần loại bỏ.

Ngày trước đã có chuyện một thứ trưởng từng bắt các giáo viên không được bỏ một dấu phẩy trong sách giáo khoa. Quyền lực có sức mạnh, nhưng cũng chịu tác động ngược của sức mạnh đó. Sự tuân phục quyền lực với con người hiện đại lại không phải là chủ yếu. Ngoài mặt có thể như thế nhưng trong bụng lại khác, mà quan trọng lại là cái trong bụng. Hỏi ai đồng ý thì giơ tay sẽ giơ tay hết nhưng trong bụng lại không đồng ý.

Cái quan trọng của giáo dục là phải xác định được toàn bộ nền giáo dục phục vụ cho con trẻ, tất cả vì lợi ích của con trẻ. Làm được thế thì sẽ thành công.

[...]

Thái Linh - Thanh Huyền (thực hiện)


......./.

VỀ MỘT CÁI CHẾT ĐÃ ĐƯỢC BÁO TRƯỚC







  Nicolae Ceauşescu bỏ chạy khỏi Bucharest  
bằng trực thăng ngày 22 tháng 12 năm 1989


* MINH DIỆN

              Một phiên tòa kéo dài chưa dầy hai giờ đồng hồ, kết thúc bằng một bản án tử hình. Tồng bí thư Đảng cộng sản, kiêm Chủ tịch Hội đồng nhà nước Xã hội chủ nghĩa Rumani, Nicola Ceausescu và Elena Petrisc, bị đưa tới bức tường phía sau nhà xí của một trại lính. Ba khẩu súng AKM chờ sẵn, xả hết 90 viên đạn, kết thúc cuộc đời vợ chồng nhà độc tài ấy.
              Có người bảo đó là một cuộc hành quyết bất ngờ, và phi đạo lý. Thực ra cái chết đó xứng đáng với tội trạng của  N. Ceausecu, và đã được báo trước từ lâu rồi!
Nicola Ceausescu sinh ngày 26-1-1918 tại làng Scornicesti, Hạt Olt, là con trai một gia đình nông dân. Vốn là một thanh niên thông minh, nhưng Ceausescu được học hành ít, vì sớm dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng. Ngay từ năm 1932, mới 14 tuồi, Nicola đã vào đảng cộng sản, và năm 1933, bị bắt lần đầu.  Từ đó Ceausescu liên tục vào tù ra tội.  Trong các song sắt nhà tù ông đã gặp và được lãnh tụ cộng sản nổi tiếng Rumani, Gheorghe Gheorghiu Dej, giáo dục rèn luyện , đỡ đầu, để 32 năm sau,  1965,  Ceausescu trở thành Tổng thư ký Đảng cộng sản Rumani, khi Gheorghiu Dej qua đời.



Nicola Ceausescu



           Với  “khuôn cương nghị, vầng trán cao vời vợi thông minh, căp mắt mênh mông như biển cả, đôi môi luôn nở  nụ cười tươi nhân hậu bao dung...” - như  hai nhà thơ, nhà văn hóa  vô sản Adrian Pasunescu và Corneliu Vadim Tudo ca ngợi, Ceausescu được tôn vinh là lãnh tụ vĩ đại, thiên tài, bên cạnh vợ ông, Elena Petriscu,  một phụ nữ  tài sắc thuộc hàng bậc nhất Rumani.
            Hai mươi nhăm năm , “vị lãnh tụ vĩ đại thiên tài”  ấy là  nhân vật độc tài , khát máu, và  hãnh tiến mà  trong   lịch sử  Rumani, từ thời Vương quốc Dacia , 513 trước công nguyên,  chưa có người cầm quyền nào sánh bằng .
           Ba ngày sau cái chết cùa người thầy Gheerghe Gheoeghiu Dej, tháng 3 năm 1965,  Ceausescu  lên làm Tổng bí thư,  đã đổi tên Đảng nhân dân Rumani thành Đảng cộng sản Rumani,  và tuyên bố nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Rumani chứ không phải là Cộng hòa nhân dân Rumani. Ông ta  sửa lại hiến pháp công hữu hóa toàn bộ đất đai và tư liệu sản xuất,  tập trung quyền lực  vào phe cánh mình, mà ông là người đứng đầu ,  trực tiếp nắm lực lượng vũ trang, và các ngành công nghiệp then chốt,  như  ngành sản xuất và bán vũ khi đứng thứ hai thế giới.
                Nicola Ceaususcu thách thức Liên bang Xô Viết, bằng việc rút khỏi Khối hiệp ước quân sự Warsaw    mà Rumani là  thành viên chính thức, và  phản đối Liên Xô đưa quân vào Tiệp Khắc.  Ceausescu tuyên bố  Rumani theo đường lối độc lập tự chủ về  chính trị, kinh tế, quốc phòng.
                 Thực ra, cái   gọi là  đường  lối độc lập  mà Ceausescu tuyên bố ấy   mang màu sắc  Trung Quốc,   đúng hơn  là  bị Trung Quốc lôi kéo , đạo diễn   để chống Liên Xô,  bài xích  Khrouchtchev theo chủ nghĩa xét lại.  Trung quốc muốn Rumani kiên trì chủ nghĩa  Sitalin,  thực chất là  Maois, cũng như muốn  Việt Nam chống Mỹ, chống Nga  thay cho Trung Quốc vậy!
                Năm 1971, Ceausescu thực hiện  chuyến thăm ba nước Trung Quốc, Triều Tiên , Việt Nam.  Bấy giờ Việt Nam đang chiến tranh, Ceausescu  chỉ giành vài lời động viên chiếu lệ,  tập trung hết tình cảm cho Trunng Quốc  Triều Tiên.
                 Trong chuyến thăm ấy, cuộc   “Đại  cách mạng văn hóa của  Trung Quốc” và “Triết lý Juche” của Triều Tiên đã   gây ấn tượng đặc biệt  đối với Ceausescu,  làm thay đổi  tư duy của ông ta.   Ceausescu nhận ra rằng, chỉ có một cuộc   “Đại cách mạng văn hóa” mới xóa hết quá khứ,  tiêu diệt  mầm mống chống đối chế độ, và  “ Triết lý Juche”  sẽ  giúp  củng cố và duy trì quyền lực vững bền.
                 Học tập đại cách mạng văn hóa Trung Quốc, Ceausescu tiến hành phá hủy toàn bộ  đất nước để tái tạo lại.  Một nửa số làng  mạc,  đền đài cổ kính  bị san bằng,  dồn dân vào những khối căn hộ cao tầng .  Hơn một phần năm  Buchreest, gồm những khu phố cổ, những  nhà thờ hàng trăm năm đã bị phá hủy, đề xây dựng  Thủ đô quốc gia.  Các thành phố trong cả nước và hàng ngàn di tích lịch sử bị đập phá không thương xót. Thay vào đó là những công mới, theo kiến trúc hiện đại, ganh đua , thách thức thế giới,  như  Cung nghị viện Casa Poporului, lớn thứ hai thế giới , chỉ sau tòa Nhà Trắng ở Wasington của Hoa Kỳ.
                Văn học , nghệ thuật bắt buộc phải sáng tác theo hiện thực xã hội chủ nghĩa, ca ngợi đảng, lãnh tụ , chống  khuynh hướng tự do tư tưởng , tự do báo chí.  Qúa trình thực hiện cuộc cải cách đó, là cơ hội để Ceausecu thanh trừng nội bộ.  Những  cú ra đòn  bài trừ tư tưởng thân phương tây và xét lại, làm trong sạch đảng theo kiểu Stalin liên tục được tung ra  dồn  nhiều cán bộ đàng viên  vào tù tôi,  có người mất tích .
                 Song song với cuộc cách mạng văn hóa kiểu Trung Quốc, Ceausescu cho dịch in và phát hành triết lý Juche vào từng trường học, và cho tuyên truyền trên toàn bộ hệ thống thông tin đại chúng. Giáo dục thanh thiều niên sùng bái cá nhân, trở thành những chiến binh cách mạng, xả thân vì lãnh tụ. Triết lý Juche do Kim Nhật Thành khởi xướng từ năm 1955, nội hàm của nó là: "Con người là chủ thể của mọi thứ, quyết định mọi thứ!”. Triết lý ấy cũng mang đậm màu sắc Trung Quốc, nhằm chống chủ nghĩa xét lại Khrouchetchev, duy trì chủ nghĩa Stalin, bảo bệ quyền lực Kim Nhật Thành và Đảng lao động Triều Tiên.
                  Từ triết lý Juche, Ceausecu đã sáng tạo ra  “Luận cương tháng  7”,  trong đó có mười bảy nội dung.   Ông ta đã phản lại  người thầy của mình là Gheorghe Gheorghiu Dej ,  xóa bỏ  những thành quả  cải cách đổi mới mà trước đó ông đã làm được,  xóa bỏ cả  truyền thống Rumani, quay lại   con  đường mòn của Stalin và Mao Trạch Đông.




Kim Nhật Thành cùng Nicolae Ceau#escu
tại Bắc Triều Tiên năm 1971 

        Khuôn mặt Ceausescu đầy sắt máu.  Người dân Rumani nghẹt thở trong bầu không khí pha trộn giữa  tư  tưởng Juche và Maois . Tệ sùng bái cá nhân lên đỉnh cao , Ceausescu  tự coi mình là Mirceca Vĩ đại!  Đó chính lá lúc  cái chết đã được báo trước giành cho Ceausescu và chế độ cộng sản Rumani.  Pacepa, một  tướng hai sao Rumani đào tẩu sang Hoa Kỳ năm 1978 ,  khằng định như vậy trong cuốn sách tựa đề : “Red Horizons: Choroniclecs of  a  Communist Spy Chief”
                 Với Luận cương tháng Bảy,  Ceausescu  , bày tỏ sự khinh bỉ của mình với toàn bộ các mô hình kinh tế thị trường phương Tây,  xóa bỏ tất cả  các hòa ước và các mối quan hệ làm ăn trước đó với các nước tư bản.  Ông ta cũng lên án mạnh mẽ Perestroika và glasnost , ca ngợi sự kiện đàn áp sinh viên của Trung Quốc ở Quảng trường  Thiên An Môn  là hiện thân của tinh thần Bollservich, ý chí Stalin !
                  Ceausescu  mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác, tiêu biểu là tách Rumani  ra khỏi cộng đồng Châu Âu , tự cô lập mình, đẩy nền kinh tế đang thịnh vượng  xuống vực thẳm.  Ông ta  ra lệnh tập trung sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu trả những khoản nợ Rumani đã vay thời mở cửa.  Một đất nước 19 triệu dân, số nợ đã lên tới 14 tỷ 500 triệu đôla, bình quân mỗi người  763 đô la,  dẫu  vét cạn kho cũng không đủ trả.
                 Trước kia  mức sống của Rumani nhất nhì khu vực, giờ tụt xuống hạng bét. Nạn nhân thê thảm nhất là trẻ em. Nhằm phát triển dân số, trước kia Ceausescu  khuyến khích sinh đẻ, bình quân mỗi gia đình  Rumani có 5 con . Bây giờ kinh tế tụt dốc,  đất nước rơi vào cảnh nghèo đói, các gia đình không nuôi nổi con, trẻ  em tràn ra đường phố, đường làng, vô thừa nhận , làm đủ mọi nghề kiếm miếng ăn. Bệnh dịch AIDS lan tràn đến nỗi không một bệnh viện nào nhận khám và điều trị.
                    Ấy thế mà vợ chồng Ceausecu vẫn  được ru trong  trong tháp ngà quyền lực tối cao.  Vẫn được ca ngợi là lãnh tụ vĩ đại, thiên tài ! Ông  ta xuất hiện trên TV ,với hình ảnh tươi cười  trong các cửa hàng ngồn ngộn hàng hóa,  để chứng minh Rumani không thiếu thực phẩm, cuộc sống người dân vẫn cao. Bộ nông nghiệp Rumnai còn   nuôi riêng những đàn bò béo núc ních,  để đưa tới một trang trại nào đó quay phim với Ceausescu,  quảng cáo cho sản xuất phát triển.
                    Không một lá thư tố cáo tham những, một lời kêu khổ nào lọt đến tai mắt vợ chồng Ceausescu.  Mạng lưới đặc vụ,  công an chìm nổi  bủa vây mọi nơi. Hệ  thống truyền thông nhà nước vẫn tô son đánh phấn cho chế độ thối nát .  Những trí thức  tiến bộ  bị đàn áp thẳng tay. Tiếng nói  dân chủ , và  phản biện, dù mang tính chất xây dựng  cũng bị bóp chết ngay trong trứng nước.
                    Tháng 10-1989, Ceausescu tới Berlin  dự lễ kỷ niệm bốn mươi năm ngày thành lập Nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh cũng đi dự.  Trong  đoàn  Việt Nam có tiến sỹ Lê Đăng Doanh.  Ông  đã kể ,  Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh chỉ được xếp một phòng lớn hơn phòng các thành  viên trong đoàn một chút, còn  chỗ ở của Ceausescu gồm nhiều phòng rộng lớn, có 12 tay súng bảo vệ.  Khi  Tổng bí thư Nguyện Văn Linh tới thăm, phải chờ rất lâu ngoài sảnh Ceausescu mới ra tiếp. Nhưng Ceausescu tỏ ra  rất  hăng hái ủng hộ sáng kiến triệu tập “Hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế để siết lại đội ngũ” của Nguyễn Văn Linh  trong khi Gorbachev và hầu hết các lãnh tụ Đông Âu không mặn mà. Ceausescu còn đề nghị để Rumani đăng cai. Rõ ràng là Ceausescu đã linh tính mối nguy cơ đang đến với mình.
                     Tuy nhiên, từ  Berlin trở về, Ceausescu  tổ chức  Đại hội đảng cộng sản Rumani  lần thứ 14  thành công tốt đẹp, và ở tuổi 71,  ông  ta  lại được bầu làm Tổng bí thư một nhiệm kỳ 5 năm nữa.  Trong bài phát biểu bế mạc Đại hội, Ceausescu tuyên bố,  Runmani là thành trì xã hội chủ nghĩa,  bất chấp khối cộng sản Đông âu tan rã.  Ceauescu tin  tưởng phần lớn giới lãnh đạo  Rumani ,  vì quyền lợi kinh tế, vẫn gắn bó với mình, đặc biệt là lực lượng quân đội và công an vốn được ưu tiên ,  sẽ tuyệt đối trung thành với ông ta và chế độ.
                    Nhưng giờ lịch sử đã điểm.  Đảng công sản Rumani đã hết vai trò làm mưa làm gió!  Cái chức Tổng bí thư , kiêm Chủ tịch hội đồng nhà nước  của Ceausescu và,  ngay cả mạng sống cùa vợ chồng ông  đã  kết thúc chưa đầy một tháng sau  cái giờ phút ông ta tái đăng quang ấy! 
                 Nó khởi đầu bằng cuộc tuần hành ở thành phố Timisoara, nhằm đuổi linh mục László Tokes , người Hunggary , người bị chính phủ buộc tội gây chia rẽ sự đoàn kết sắc tộc.  Cuộc tuần hành rất quy mô do chính phủ tổ chức. Nhưng thật trớ trêu, gậy ông lại đập lưng ông. Khi những người tham gia biểu tình hiểu ra sự thật, là chính quyền  vu khống linh mục Lászlo Tokes  , cuộc biểu tình   đã thoát khỏi nguyên nhân ban đầu, biến thành cuộc tuần hành chống chính phủ. Gió đổi chiều nhanh chóng biến thành bão tố!              
                Lực lượng cảnh sát và Securitate đã nổ súng vào đám biểu tình,  làm chết hàng trăm người. Sự  phẫn nộ của nhân dân bùng lên dữ dội không gì cản nổi.
                Đang ở thăm Iran, Ceausescu vội vã bay về,  hy vọng  vãn hồi được trật tự,  nhưng bất lực. Lòng dân căm thù chế độ độc tài bị kìm nén từ lâu, giờ như nước vỡ bờ,  cuồn cuộn dân trào, cuốn phăng hết mọi vật cản.
                  Ceausescu lên TV,  đổ tội cho thế lực bên ngoài can thiệp vào Rumani và kêu gọi quân đội bảo vệ  chế độ, bảo vệ  mình,  nhưng vô hiệu.  Đội quân được trang bị tận răng, từng thề thốt tuyệt đối trung thành với Tổng tư lệnh tối cao Ceausescu , đã đứng về phía nhân dân. Họ  cùng lực lượng biểu tình tràn ra Quảng trường cách mạng và bao vậy tòa nhà nghị viện , nơi vợ chồng Ceausescu đang trú .                 Ngày 18-12 vợ chồng Ceausescu  quyết định dùng 2 máy bay, chuyển sang  Iran  24 tấn vàng  . Ceausescu hy vọng với khối lượng vàng ấy, và hàng tỷ đô la tham những  trong hơn hai mươi năm cầm quyền, ông ta sẽ  tiếp tục sống đế vương, và nuôi nấng lực lượng trung thành với mình,  chờ cơ hội nắm lại quyền lực.  Nhưng kế hoạch  của Ceausescu không thành,   chính viên sỹ quan tình báo thân cận nhất  chặn  lại. Ceausescu  và  Elena  lên  máy bay trực thăng,  chạy  về quê  cũ ở Târgoviste, tìm đường trốn ra nước ngoài, nhưng không thoát. Người dân quê đã bắt sống vợ chồng Ceausecu, nộp cho cảnh sát theo lệnh truy nã  loan báo trên TV.

                   Ngày 25-12-1989 , Phiên tòa quân sự xét xử  Ceausescu diễn ra chóng vánh , chưa đầy  hai giờ đồng hồ.  
                 Viên đại úy Ion Bocru trực tiếp chứng kiến , kể lại rằng : “ Ceausescu  bị buộc tội  làm giàu trái phép, tham nhũng, phản bội tổ quốc và gây ra  cái chết của 60 ngàn người nồi dậy chống lại ông ta. Điều mỉa mai, là chính  những luật sư bào vệ quyến lợi cho Ceausescu,  lại tố cáo ông ấy”.
                  Viên đại úy nói: “ Ngay sau khi bị tuyên án tử hình, vợ chồng Ceausescu bị kéo ra chân bức tường giáp khu nhà xí trại lính.  Khi biết đã đến đường cùng, ông ta   hát quốc tế ca,  hô đả đảo quân phản bội, rồi và hét lên ầm ĩ.  Nhưng  ba khẩu AKM ,  từ tay ba sỹ quan binh chùng dù Rumani, lực lượng trung thành nhất của Ceausescu , đã  đồng loạt  nã  đạn vào vợ chồng ông ấy. Mỗi khẩu súng 30 viên đạn , tất cả 90 viên  trút hết  không chừa lại viên nào.
                  Hôm sau ,  cái đài truyền hình từng ca ngợi Ceausescu lên tận mây xanh, và  để ông trực tiếp xuất hiện kêu  gọi  quân đội  bảo vệ chế độ, lại  đưa hình ảnh  ông ta bị quân đội xử bắn với lời  bình luận : “ Kẻ phản Chúa đã bị giết vào ngày Chúa giáng sinh!”
                   Hitler, Mussolini,  Saddam Hussein, Gaddafi và Ceausescu , một thời vinh quang tột đỉnh, giàu sang tột đỉnh, dưới  chân  dẫm đạp không hết  lên  kẻ tôn thờ và  hứa trung thành.  Nhưng rốt cuộc  đểu chết  thảm bởi chính những kẻ thề thốt ấy. Và,  chính những kẻ từng uốn cong ngòi bút ca ngợi họ,  lại viết những dòng vạch sự  bẩn thỉu của họ  đầu tiên!
                  Cái chết đã báo trước cho cho Ceausescu, nhưng ông ta không chịu thức tỉnh.  Cái chết đang báo trước cho những kẻ khác, nhưng hình như cũng như Ceausescu, họ vẫn không chịu thức tỉnh.


M.D


....../.

Phấn Đấu & Cơ Cấu



Phấn Đấu & Cơ Cấu




Huy Đức
12-05-2013
Thay vì bỏ phiếu chuẩn thuận ba ứng cử viên do Bộ chính trị đưa ra, Trung ương đã đề cử thêm rất nhiều người. Kết quả, sau 3 vòng bỏ phiếu, hai ứng cử viên do Bộ chính trị đưa ra thất cử.
Chiến thuật làm loãng phiếu bằng cách đưa thêm ứng cử viên từng được “áp dụng” hồi tháng 1-2009, đánh rớt cơ hội vào Ban bí thư của Tướng Lê Thế Tiệm. Nhưng không chỉ đơn giản là gạch bỏ Vương Đình Huệ hay Nguyễn Bá Thanh, lần này, dường như đang có nhiều Trung ương ủy viên muốn giành lại quyền quyết định (theo điều lệ) của Trung ương thay vì cam lòng biểu quyết như cơ quan chấp hành của Bộ chính trị. 
Trong lịch sử bầu bán của Đảng cộng sản Việt Nam, những người không được Bộ chính trị hoặc Ban chấp hành trung ương giới thiệu, khi được các đại biểu hoặc các ủy viên trung ương khác giới thiệu, đều tự giác rút lui hoặc được yêu cầu rút lui. Không cần chờ tới Đại hội hay Hội nghị trung ương, một nhân vật đã được Bộ chính trị, được tổng bí thư hoặc có thời chỉ cần được Lê Đức Thọ “chấm” là chắc chắn vào Trung ương, thậm chí vào những vị trí cao hơn trong Đảng. 
Dưới thời Tổng bí thư Đỗ Mười, có những câu chuyện làm nhân sự nghe cứ như giai thoại: Trước Đại hội VIII (1996), ông Đỗ Mười cho gọi một vị phó thủ tướng tới bảo: “Kỳ này tôi nghỉ anh thấy sao?”. Vị phó thủ tướng, vốn là một trí thức lịch lãm, chân thành hỏi lại: “Ai sẽ thay anh?”. Kết quả, ông bị loại ra khỏi danh sách tái cử. Ông Đỗ Mười lại cho mời một nhà lý luận bảo thủ tới và khi ông vừa dứt lời thì nhà lý luận này liền đập tay xuống bàn: “Trời ơi, đất nước đang như thế này anh nghỉ làm sao được”. Kết quả, nhà lý luận giữ được ghế ủy viên Bộ chính trị.
Ngày 19-6-1996, tại Hội nghị Trung ương 12 (Hội nghị trước khi Đại hội VIII bắt đầu), Tổng bí thư Đỗ Mười đã yêu cầu Trung ương đưa vào danh sách đề cử ủy viên Bộ chính trị hai nhân vật bị Hội nghị Trung ương 11 đưa ra và yêu cầu tái cử thêm hai ủy viên Bộ chính trị quá tuổi, Đoàn Khuê và Nguyễn Đức Bình. Tuy bị ba uỷ viên trung ương phản ứng, khi ông yêu cầu “giơ tay biểu quyết”, đa số Trung ương phải “chấp hành” ý kiến của ông. Sau Đỗ Mười, không có tổng bí thư nào có khả năng thô bạo với Trung ương như thế. 
Từ Đại hội VI bắt đầu có chuyện ứng cử viên được đề cử bởi Ban chấp hành Trung ương bị thất cử ở trong đại hội. Hai nhân vật “tạo tiền lệ” là Tố Hữu (từng được Lê Duẩn chọn kế vị Tổng bí thư) và Hoàng Tùng, khi ấy đang là Bí thư trung ương Đảng. Năm 2011, Trung ương cũng từng đánh rớt một nhân vật được Bộ chính trị tái cơ cấu, Hồ Đức Việt, và Đại hội cũng đã không bầu Phạm Gia Khiêm một người được đưa vào danh sách chính thức của Trung ương. 
Càng về sau, càng có nhiều ứng cử viên “giới thiệu thêm” được đưa vào danh sách bầu. Nhưng, cho dù danh sách ứng cử viên có đông hơn thì xác suất thất cử của các ứng cử viên được Bộ chính trị, Trung ương trình ra là rất thấp. 
Ông Nguyễn Phú Trọng là “người của thiểu số” ngay khi bắt đầu trở thành Tổng bí thư. Ông ủng hộ “chế độ công hữu về tư liệu sản xuất” trong khi chiều 18-1-2011, 61,70% đại biểu của Đại hội XI đã chọn định nghĩa đặc trưng của chủ nghĩa xã hội là “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp”. 
Việc Đại hội không coi “sở hữu công” như là một đặc trưng chủ yếu của chủ nghĩa xã hội lẽ ra phải có giá trị như một hành động vứt bỏ vòng kim cô cuối cùng của Marx (căn cứ theo Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản). Ông Trọng có thể đã có một vị trí lịch sử khác nếu ông “phục tùng đa số” như ông tuyên bố khi nhận chức Tổng bí thư, đẩy mạnh giải tư khu vực kinh tế quốc doanh và trao quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân. Nhưng, Nguyễn Phú Trọng đã chứng tỏ một cách hùng hồn là ông không có khả năng nhận ra thời cuộc cho chính ông, đừng nói là cho đất nước. 
Từ Hội nghị Trung ương Bốn, ông Nguyễn Phú Trọng rõ ràng đã có nỗ lực để trở nên không tẻ nhạt như người tiền nhiệm của mình. Chỉnh đốn Đảng và chống tham nhũng là một lựa chọn khá được lòng dân. Nhưng, thay vì thừa nhận nguyên nhân tham nhũng là từ “lỗi hệ thống” để cải cách chính trị theo hướng dân chủ hơn; thay vì để cho Quốc hội và tư pháp được thực thi các quyền hiến định của mình, ông lại sử dụng những công cụ hết sức giáo điều trong khi trung ương không còn một đa số chỉ biết vâng lời như trước nữa. 
Việc các cơ quan trung ương được cắt giảm chỉ còn sáu ban, kể từ năm 2006, là kết quả của gần hai thập niên cải cách chính trị theo hướng “Đảng lãnh đạo nhà nước chứ không làm thay nhà nước”. Vậy mà tại Hội nghị Trung ương Năm, ông Trọng lại cho khôi phục Ban Nội chính và Ban Kinh tế trung ương (một ban chỉ mới được giải tán từ năm 2006). 
Sau khi Hội nghị trung ương Sáu đồng ý “cơ cấu” chức ủy viên Bộ chính trị cho các trưởng ban. Thay vì bầu bổ sung Bộ chính trị trước, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có những bước đi “chắc ăn”: Bổ nhiệm Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ làm trưởng ban rồi mới đưa ra Trung ương bầu bổ sung. Kết quả cả hai đều không đắc cử. 
Đây không chỉ là vấn đề tiêu chuẩn cá nhân của ông Huệ hay ông Thanh mà là “sự nổi loạn” của các ủy viên trung ương. Có lẽ không mấy trung ương ủy viên không từng mơ tới chiếc ghế trong Bộ chính trị cao sang, và giờ đây không ít người trong số họ không muốn chỉ ngồi nhìn những kẻ có tiền qua mặt mình, hoặc không muốn chấp nhận nguyên lý “mười năm phấn đấu không bằng một lần cơ cấu”. 
Sau thất bại ở Trung ương Bảy, lẽ ra ông Trọng và Bộ chính trị phải nhận ra trong Đảng đã tự diễn biến, các phương thức chính trị cổ hũ đã không còn thích hợp với thực tiễn hiện nay. Thời kỳ các lãnh tụ áp đặt niềm tin cá nhân lên toàn đảng, toàn dân tộc đã qua, ngay trong nội bộ của hệ thống toàn trị cũng cần phải có những chính trị gia thật sự. 
Thay vì dừng lại để tìm một hướng đột phá, lấy phương thức vận động tranh cử để làm “công tác cán bộ trong tình hình mới”, Trung ương Bảy vẫn thông qua chiến lược nhân sự cho Đảng tới 2021 và vẫn dựa trên nguyên tắc “cơ cấu” và “quy hoạch”. 
Năm 2001, khi Trưởng ban Tổ chức trung ương Nguyễn Văn An được cơ cấu làm Chủ tịch Quốc hội, tôi đặt vấn đề “tranh cử trong đảng” với ông. Ông An lúc ấy cho rằng: “Tranh cử không khéo sẽ thành tranh giành, cục bộ. Hiện giờ trong Đảng mình chỉ bàn bạc dân chủ rồi phân công. Đảng phải làm sao đảm bảo có dân chủ mà trong Đảng vẫn giữ được sự thống nhất” (Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 28-6-2001). Giờ đây, ông Nguyễn Văn An cũng phải nhận ra rằng chính “sự thống nhất” nếu còn thì chỉ để cho một số cá nhân lũng đoạn. 
Nếu như tiến trình tranh cử trong đảng diễn ra công khai, thì người thực sự tài hơn trong đội ngũ hiện tại sẽ vượt lên; đội ngũ kế cận sẽ tự nó xuất hiện chứ không phải chỉ những kẻ biết làm vừa lòng cha chú được cơ cấu.
Đặc biệt, nếu tiến trình tranh cử bắt đầu nhiều tháng trước các dịp bầu bán, thì không cần “Nghị quyết trung ương Bốn”, các ứng cử viên sẽ giúp Đảng phát hiện tài sản nổi, tài sản chìm, bồ nhí, con rơi…Giúp dân chúng hiểu được kẻ nào đã ban hành những chính sách hại dân, hại nước. Chính sự “rạn nứt” do tranh cử sẽ tạo ra một tiền đề mới cho cải cách chính trị.
Bản chất của độc tài, toàn trị là đối lập với dân chủ. Tuy nhiên trong điều kiện đảng vẫn cứ một mình cầm quyền và dân chưa biết làm thế nào để thay đổi tương lai chính trị của mình thì áp dụng một số phương thức dân chủ trong đảng cũng giảm được cho nước, cho dân phần nào tai họa.
Nguồn: FB Osin HuyDuc

CÁC TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI & THÀNH PHỐ MA CỦA TRUNG QUỐC




CÁC TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI
& THÀNH PHỐ MA
CỦA 
TRUNG QUỐC









.........../.

'Việt Nam, ngôi sao sắp vụt tắt'


'Việt Nam, ngôi sao sắp vụt tắt'



http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/05/130510_vietnam_dimming_star.shtml





Dự đoán tăng trưởng của VN cho năm 2014 đã bị giảm bớt xuống 5,2%



 William Pesek, người phụ trách cột báo thường xuyên Bloomberg View của hãng tin tài chính Bloomberg, vừa có bài nhận định riêng về kinh tế Việt Nam với tựa đề "Việt Nam, Ngôi sao sắp tắt" (Vietnam’s Star Is Dimming). 

***

Giống như các nên kinh tế có thể thành cọp, Việt Nam đang phải đối diện với những mối đe dọa mới: một cuộc khủng hoảng đang làm tê liệt châu Âu, một nước Mỹ đang sa sút, và một nước Nhật đang bị vung tay quá trán. 
Thế nhưng, mối rủi ro lớn nhất cho tương lai Việt Nam có lẽ chính là sự hoài cổ. 
Đã 27 năm trôi qua kể từ khi Hà Nội bắt đầu công cuộc Đổi Mới, theo đó các công ty tư nhân được tham gia vào nền kinh tế, các lĩnh vực then chốt được mở cửa, chẳng hạn như nông nghiệp. Sự phát triển nhanh chóng sau đó đã đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có mức thu nhập trung bình, biến đổi vùng đất từng là vùng chiến sự trở thành một điển hình cho sự phát triển và giảm đói nghèo. 
Tuy nhiên, nay hướng đi hồi 1986 của Việt Nam nhằm có một "nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" đang trở nên cũ kỹ. Các số liệu gần đây cho thấy chiến lược từng đưa Việt Nam tiến xa - sự phụ thuộc nặng nề giống như mô hình Trung Quốc vào các doanh nghiệp quốc doanh và kế hoạch hóa tập trung - nay đang khiến đất nước bị trì trệ. 

Việt Nam đang hụt hơi trong bảng cạnh tranh toàn cầu, trong lúc mức tăng trưởng đã chững lại ở mức chừng 5%, thấp nhất kể từ 1999 trở lại nay. 
Để phục hồi, đất nước cần phải làm chính xác là những gì họ đã từ chối làm cho tới nay: xây dựng một lĩnh vực tư nhân thực sự mạnh mẽ và sáng tạo, có thể tạo đa dạng hóa cho sự tăng trưởng và đem lại sự thịnh vượng. 

Không được đảm bảo 

"Việc điều chỉnh toàn bộ nền kinh tế sẽ là việc cần thiết nhằm đạt được mức tăng trưởng mạnh mẽ trở lại," Vaninder Singh, một kinh tế gia thuộc tập đoàn ngân hàng Royal Bank of Scotland Group Plc, làm việc tại Singapore nói. "Điều này không được đảm bảo bởi nó sẽ đòi hỏi sự thay đổi to lớn trong cấu trúc công ty và những cải thiện về hiệu quả sản xuất."   




Tác giả William Pesek nói tham nhũng đang xói mòn tính chính danh của Đảng Cộng sản 

Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liệu có mong muốn chính trị nhằm hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam trị giá 124 tỷ đô la hay không? 

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tỏ ra nghi ngờ điều này. 

IMF gần đây đã giảm dự đoán phát triển của Việt Nam năm 2014 nhiều hơn mức giảm đưa ra đối với bất kỳ quốc gia châu Á nào khác, xuống mức 5,2%. 
Tỷ lệ đó có thể là ghê gớm trên thế giới, khi mà nhóm các nước hùng mạnh nhất về kinh tế, G7 đã hầu như không phát triển được thêm.

Nhưng với nền kinh tế 90 triệu dân đang ở giai đoạn phát triển của Việt Nam, điều đó trở thành đưa đất nước vào một cuộc khủng hoảng. 
Khi tiến hành cải tổ, các lãnh đạo Hà Nội tin rằng họ đang đi theo mô hình Trung Quốc, vốn đã rất thành công. Cách tiếp cận của Việt Nam còn từ từ, thận trọng hơn cả Đặng Tiểu Bình. 
Nhưng những khó khăn nói chung là giống nhau, và cả hai nay bắt đầu vấp phải những vấn đề giống nhau.

Mô hình Trung Quốc 

Giống Trung Quốc, Việt Nam đang phải gánh chịu một hệ thống phân phối tín dụng bị méo mó, với sự thống trị của các doanh nghiệp nhà nước. 
Các quyết định cho vay cẩu thả đã gây ra những bong bóng bất động sản và chôn vùi các ngân hàng dưới hàng núi nợ không có khả năng xử lý. Khoảng cách giàu nghèo đang gia tăng nhanh chóng. 
Căng thăng giữa người lao động muốn được trả lương cao hơn và giữa các ngành công nghiệp muốn có lao động rẻ cũng gia tăng nhanh chóng.
Các vụ thu hồi và tư hữu hóa đất khuất tất vốn làm giàu cho những ai có quan hệ chính trị đến nay đã khiến cho công chúng giận dữ. 

Nạn tham nhũng tràn lan đang làm xói mòn tính chính danh của Đảng Cộng sản cầm quyền. 

Đất nước không thể tiến lên nếu không tái cơ cấu các doanh nghiệp quốc doanh, vốn chiếm tới gần 40% tổng sản phẩm quốc nội GDP. Các kinh tế gia tại McKinsey & Co ước tính rằng Việt Nam cần phải nâng hiệu suất làm việc lên hơn 50% mới có thể duy trì được mức tăng trưởng lành mạnh. 

Người ta không cần phải xuất chúng gì cũng có thể thấy rằng chỉ có mảng tư nhân mới có thể làm được điều này. 

Nguyên nhân gây lo lắng 

Hồi tháng Hai, Thứ trưởng Tài chính Trương Chí Trung hứa hẹn chính phủ sẽ đưa ra một kế hoạch rà soát kỹ càng toàn bộ 52 tập đoàn thuộc sở hữu nhà nước, chậm nhất là đến tháng Sáu.   





Việc cho vay bừa bãi đã tạo những bong bóng bất động sản 

Nhưng dựa vào những kinh nghiệm trước đây, có lý do khiến người ta tin rằng việc cải tổ là thiếu cụ thể. 
Chính phủ đã lỡ mất mục tiêu thành lập một công ty quản lý tài sản nhằm xử lý nợ ngân hàng. Các cam kết kiềm chế các khoản đầu tư công, các hoạt động cho vay và các doanh nghiệp nhà nước thì không chỉ tương tự vậy mà chúng còn trở thành tệ hơn thế. 

Câu hỏi là liệu chính phủ của ông Dũng có thể triển khai một cách đáng tin cậy bất kỳ sự cải thiện nào hay không, chứ đừng nói là cả ba cùng lúc. 
Chớ ai coi nhẹ vai trò của tham nhũng ở đây. 

Giống như Tập Cận Bình ở Bắc Kinh, ông Dũng đang phải đối diện với một vấn đề chỉ có ở đất nước cộng sản: quá nhiều quan to trở nên giàu có trong mô hình hiện nay của Việt Nam. 

Điều đó khiến người ta không có động lực phải thay đổi. 
Nạn ăn hối lộ đã tăng tỷ lệ nghịch với tình hình kinh tế. Trong Chỉ số về tình trạng tham nhũng năm 2012 do tổ chức Minh bạch Quốc tế đưa ra, Việt Nam tụt xuống vị trí 123 trên tổng số 176 nước, so với vị trí 112 hồi năm 2011, tệ hơn cả Sierra Leone và Belarus. 

Thế còn trong Chỉ số mức cạnh tranh toàn cầu mới nhất do Diễn đàn Kinh tế Thế giới đưa ra, Việt Nam tụt 10 bậc, xuống vị trị thứ 75, sau cả Uruguay và Ukraine. 

Hướng tới tương lai 

Thách thức đối với Việt Nam dẫu sao cũng nằm trong tầm kiểm soát hơn so với Trung Quốc: các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam nhỏ hơn, đầu tư bớt dàn trải hơn. 

Nhưng nay không còn là lúc có thể làm từng bước được nữa. 

Nay là lúc đất nước phải phát triển mô hình riêng của mình, một mô hình phải xóa bỏ nạn tham nhũng, đầu tư nhiều hơn nữa vào giáo dục và các lĩnh vực phát triển then chốt như sản xuất công nghệ, và trao quyền lực cho các doanh nghiệp để bước tới bậc thang tạo giá trị gia tăng. 

Trong nhiều năm, các quốc gia nhỏ khác ở Đông Nam Á, như Miến Điện và Campuchia, đã nhìn vào Việt Nam để tìm ý tưởng cải tổ kinh tế. 

Việt Nam có thể sẽ lại trở thành điển hình mẫu. 

Chỉ cần Việt Nam hướng tới tương lai, thay vì hoài niệm quá khứ.


........./.

Cách mạng Văn hóa - tội lỗi của ai? (Trao đổi với giáo sư Mao Vu Thức)


Cách mạng Văn hóa - tội lỗi của ai? 

(Trao đổi với giáo sư Mao Vu Thức) 

  HIDEMATSU HIYOSHI [1]
***




Trong thời đại Mao Trạch Đông, dân chúng không có quyền tự do ngôn luận, tự do theo đuổi nghề nghiệp, tự do cư trú và tự do đổi nơi cư trú. Điều mà người dân có thể làm chỉ là sự phục tùng. Bởi vì “kẻ không phục tùng không có cơm ăn”, ai không phục tùng thì phải “đói mà chết dần”. Tất cả bi kịch cũng như mọi chuyện hoang đường xuất hiện trong thời Cách mạng Văn hóa không phải là trách nhiệm và lỗi lầm  của nhân dân Trung Quốc (trong đó có giáo sư  Mao Vu Thức[2]). 




Tạp chí Minh Kính số tháng 8 đăng bài “Kỉ niệm một vị nữ thánh” của Ngô Giá Tường.[3]Trong bài  có nhắc đến chuyện kinh tế gia Mao Vu Thức phát biểu trong lễ kỉ niệm tròn 90 năm ngày sinh Vương Bối Anh[4] rằng “Bi kịch Cách mạng Văn hóa dù do lãnh tụ vĩ đại Mao Trạch Đông đích thân đạo diễn, cộng thêm nhóm tứ nhân bang cùng những kẻ tay sai trợ ác cùng lắm cũng chỉ mấy trăm người. Vậy mà cả nước sáu bảy trăm triệu người điên cuồng vào cuộc. Có một nửa trách nhiệm ở người dân. Nếu Mao Trạch Đông và lũ bốn tên sang Hoa Kì làm việc đó thì khẳng định là làm không nổi”.[5]  Giáo sư Mao có dũng khí phản tỉnh như vậy thực đáng ca ngợi. Vậy mà người viết bài này quả thật không dám đồng ý với phát biểu cho rằng nhân dân phải gánh một nửa tránh nhiệm về bi kịch Cách mạng Văn hóa và nếu như là ở Mĩ thì không thể tiến hành được cuộc cách mạng đó. 

Chúng tôi cho rằng quan điểm đó có  vấn đề về logic rất đáng được trao đổi thêm. 

“Kẻ không phục tùng không có cơm ăn” 

Cách mạng Văn hóa sở dĩ có thể phát động và lôi cuốn dân chúng - việc này hoàn toàn có quan hệ với thể chế chính trị Trung Quốc. Dưới thời Mao, dân không chỉ mất quyền tự do ngôn luận. Đến quyền tự do chọn nghề nghiệp, tự do cư trú và di chuyển cũng chả có. Mỗi một người đều trở thành “chiếc đinh ốc” trong cỗ máy quốc gia. Còn nhà nước thì trở thành người chủ nhân công duy nhất, người kinh doanh của tất cả các xí nghiệp. L.Trotsky nói từ 1937: “Trong những nước mà nhà nước là người thuê nhân công duy nhất, phản kháng đồng nghĩa với việc “từ từ chết đói”. Nguyên tắc xưa cũ “kẻ không lao động không được ăn” đã bị thay thế bởi nguyên tắc mới “kẻ không phục tùng không được ăn”[6](sách “Đường đến nô dịch”). 
Trong một xã hội như thế, việc mà dân chúng có thể làm chỉ có thể là phục tùng và phục tùng. Bởi vì “kẻ không phục tùng không được ăn”, kẻ không phục tùng thì sẽ đối diện với uy hiếp của việc phải “từ từ chết đói”. 
Ta hãy xem tình cảnh xã hội Trung Quốc thời Mao. Chính quyền mới được thành lập sau 1949. Trong thập niên những năm 50 hàng loạt các cuộc vận động chính trị và trấn áp phản cách mạng do Mao phát động đã tiêu diệt triệt để giai cấp trí thức thân hào trong xã hội Trung Quốc truyền thống. Những chức năng có tính truyền thống của xã hội Trung Quốc theo đó cũng tiêu vong. Trên một cơ  sở như thế Mao đã sử dụng năm thủ đoạn kể sau để khống chế chặt chẽ xã hội dưới tay  mình. 

Thủ đoạn thứ nhất - Chế độ hộ khẩu 

Chế độ hộ khẩu kiểu Trung Quốc phân tách thành thị và nông thôn. Nông dân suốt đời bị cầm cố ở nông thôn, các hộ dân quê không có cách nào để dời lên thành phố. Không có hộ khẩu thành phố thì không có chỗ làm, không có hộ khẩu thành phố thì không có phân phối lương thực, không có hộ khẩu thành phố không những không làm được bất cứ việc gì mà chính ra là không thể sinh tồn. Dân thành phố cũng bị cầm cố tại chính nơi cư trú của mình. Việc chuyển chỗ ở giữa các thành phố cũng vì chế độ hộ khẩu mà chịu sự khống chế hoàn toàn. Chế độ hộ khẩu đó dẫn đến vấn đề bất bình đẳng về mức sống, việc làm, đi học giữa nông thôn và thành phố. Vậy nhưng chỗ giống nhau về quyền lợi chính trị mà dân nông thôn và dân thành phố được hưởng đều là “không có gì”. Chế độ hộ khẩu Trung Quốc còn có một công năng khác, đó là thông qua hộ khẩu cưỡng chế những ai không phục tùng hay có kiến giải độc lập về nông thôn tiếp thu giáo dục lao động cải tạo. Sự khác biệt giữa thành phố và nông thôn kiểu như thế hoàn toàn là do con người tạo nên. Những ai có hiểu biết về thời kì lịch sử đó đều thấy rõ như thế.    



Thủ đoạn thứ hai – Chế độ tem phiếu phân phối 

Mao Trạch Đông dùng chế độ phân phối tem phiếu để nắm chặt trong tay mình nguồn nhu yếu phẩm phục vụ đời sống nhân sinh. Bất cứ một số lượng tiêu dùng nhu yếu phẩm nào cần thiết cho sinh hoạt đều được phân phối, người dân không thể tự do có được các nhu yếu phẩm đó. Khi mua lương thực không những cần có sổ mà còn cần cả tem phiếu, có tiền cũng không mua được định mức quy định theo tháng. Điều cần phải chỉ rõ là, phiếu lương thực còn chia thành loại phiếu thông dụng toàn quốc, loại phiếu dùng ở địa phương các tỉnh và loại phiếu dùng cho các thành phố. Trừ loại phiếu lương thực thông dụng toàn quốc ra, hai loại sau chỉ có thể dùng trong phạm vi các tỉnh các thành phố. Người ta không thể xoay trở được nếu như không có phiếu lương thực. Chỉ riêng với chế độ phiếu lương thực đã có thể khống chế được quyền tự do hành động của dân chúng. Nhưng chế độ phân phối của Mao gồm một nội dung hết sức rộng rãi. Tất cả đều được phân phối theo phiếu – có phiếu dầu ăn, phiếu vải, phiếu trứng, phiếu đường, phiếu thịt, phiếu máy khâu, phiếu xe đạp,... Đến tết có phiếu hàng tết. Đủ loại tem phiếu quán xuyến toàn bộ đời sống người dân Trung Quốc. 

Thủ đoạn thứ ba – Chế độ hồ sơ lí lịch 

Chế độ hồ sơ lí lịch không xa lạ đối với mỗi người dân Trung Quốc. Cho dù anh học ở trường, công tác ở các đơn vị cơ quan hay về hưu ở nhà (về hưu hồ sơ lí lịch được chuyển về khối phố hoặc công xã nơi đương sự sinh sống). Hồ sơ lí lịch theo liền với từng người cho đến hết đời. Chức năng của chế độ hồ sơ lí lịch không thua kém gì một sự theo dõi ngầm của cơ quan công an. Trường học và cơ quan sẽ ghi vào hồ sơ nếu đương sự bị kỉ luật. Những nhận xét hay giới thiệu mà chính đương sự không được đọc thấy hay không được chính đương sự xác nhận cũng được phê viết vào hồ sơ lí lịch. Tính cách tiêu cực hay tích cực của những lời phê đó ảnh hưởng đến đến cuộc sống giữa xã hội của chủ nhân bộ hồ sơ. Những ai có dũng cảm phàn nàn, nêu ý kiến hay phát ngôn trái lạ đều bị ghi vào trong hồ sơ lí lịch. Còn như việc sẽ chịu xử lí như thế nào thì chỉ còn trông chờ vào may rủi. Chế độ hồ sơ lí lịch phi nhân tính đó trên thực tế đã tước đi quyền tự do ngôn luận.  

Thủ đoạn thứ tư – Chế độ giáo dục lao động cải tạo 

Giáo dục lao động cải tạo được nói là một loại xử phạt hành chính nhưng trên thực tế rất gống với xử phạt hình sự. Chế độ giáo dục lao động có tính tùy tiện, nó có thể do một đơn vị cơ quan quyết định. Như thế chế độ giáo dục lao động khiến cho các cơ quan đơn vị trở nên rất gần với một cấp tư pháp nhưng tùy tiện và vô pháp luật. Mặc dù nói là  xử phạt hành chính và được gọi là “trị bệnh cứu người” nhưng những người bị bắt đi lao động không những mất quyền tự do nhân thân đồng thời họ cũng trở thành “tiện dân” của xã hội và chịu sự kì thị. Nghiêm trọng hơn là khi mãn hạn lao-giáo rồi người ta vẫn có thể cưỡng chế người bị giáo dục bằng lao động đó ở làm việc tại chỗ. Trên thực tế đó là một thứ tù không kì hạn, suốt đời bị giam thân cảnh tù, mất hẳn tự do. Việc có thể tùy ý thực hiện chế độ lao-giáo đối với dân chúng là biểu hiện của sự khủng bố chính trị thời Mao. 

Thủ đoạn thứ năm - Chế độ cơ quan đơn vị 

Dưới thời Mao, “cơ quan/đơn vị” trên thực tế chính là chỗ để khống chế cá nhân. Quyền tự do theo đuổi nghề nghiệp bị tước bỏ, tất cả mọi người đều nhận công tác theo sự sắp xếp của nhà nước. Người ta không có quyền chọn công việc và cũng không có quyền từ chối công việc được phân công. Nhà nước không cho phép tùy ý từ chức hay đổi công tác. Mỗi một người suốt đời làm việc ở những vị trí công tác đã được phân công. Tiền lương do nhà nước quy định. Tình trạng đi làm cả đời không có tăng lương là rất nổi bật. Một khi anh rời khỏi đơn vị hoặc bị đơn vị khai trừ đồng nghĩa với việc hoặc là anh đã ra khỏi cái xã hội mà Mao đang khống chế hoặc là anh bị cái xã hội đó khai trừ. Anh sẽ lâm cảnh đường cùng, mất hết nền tảng sinh hoạt. Trong cái chế độ cơ quan-đơn vị đó, để sinh tồn kiếm sống nuôi gia đình anh chỉ có thể phục tùng và phục tùng. 




Nhân dân Trung Quốc không có tội và cũng không có trách nhiệm về Cách mạng Văn hóa. Thời đại Mao Trạch Đông chính là dùng những thủ đoạn như thế để khống chế toàn bộ xã hội Trung Quốc. Cộng thêm vào đó là hết cuộc vận động chính trị trị này đến cuộc vận động chính trị kia. Tất cả khiến cho nhân dân Trung Quốc thực không có lấy một cơ hội nào để thở lấy hơi nữa. 



Cách mạng Văn hóa trong suốt quá trình của nó xem ra rất là hỗn loạn nhưng cả xã hội vẫn được khống chế chặt trong tay Mao. Mà Cách mạng Văn hóa là một cuộc vận động chính trị nhằm giải quyết chuyện người thừa kế quyền lực. Nói cách khác Mao phát động Cách mạng văn hóa là nhằm mục đích biến giang sơn của một  đảng thành giang sơn của một nhà, chuẩn bị cho Giang Thanh tiếp nối quyền hành[7](Xem Lưu Thông, “Mục đích của Cách mạng Văn hóa – Xác lập người thừa kế quyền hành”). 

Trong Cách mạng Văn hóa, từ trên xuống dưới, từ trong đảng đến người ngoài đảng tất cả đều bị cuốn vào trong đó. Người bị cuốn vào không biết nguyên do sự việc nhưng kẻ phát động thì từng bước hướng cuộc vận động đi đến mục tiêu đã dự định trước. Nhiều lãnh đạo cấp cao bị cuốn vào mà không sao hiểu được nguyên do, họ lại còn đứng đó hô hào học tập. Họ cảm thấy chuyện dường như là “cách mạng gặp phải vấn đề mới”. Nhiều lãnh đạo bị lôi ra phê đấu bắt đầu công việc tự kiểm thảo đi kiểm thảo lại. 

Mao Trạch Đông bày đặt mê hồn trận, khiến cho đám đông những là “đối tượng của cách mạng” từ to đến nhỏ không biết phải như thế nào cho phải, suốt này hoảng hốt giữa rầm trời tiếng hô khẩu hiệu và tiếng hô đả đảo. Trong một không khí khủng bố chính trị như thế, quần chúng dân đen không chút quyền hành sống khác gì chết. Họ đến nói năng cũng phải giữ mồm, không cẩn thận là bị hàng xóm thậm chí chính vợ (chồng) con cái mình phản ánh, tố giác. Trong thời buổi Cách Văn hóa, ai cũng run sợ cho bản thân, ngay cả người thân cũng không được tin. Lúc bấy giờ, “tin tưởng” đã trở thành từ đồng nghĩa của từ “nguy hiểm”. Bạn bè tri âm trở thành người cáo giác, người dám nói thẳng chẳng khác gì đang đào huyệt cho mình. 
Cả nước từ trên xuống dưới chỉ mỗi Mao là người hưởng quyền “tự do ngôn luận” ghi trong hiến pháp. 
Mọi công dân của cộng hòa quốc này đều đã bị tước bỏ quyền phát ngôn. Mọi hành động đều chờ chỉ huy của Mao, vạn vật sinh trưởng cũng nhờ sự tưới tắm của “lời dạy của chủ tịch” (ngữ lục). Trong những năm tháng gọi là “cách mạng” đó, mở miệng là “muôn năm”, kiểm thảo ngày nào cũng có, tự sát trở thành ước mơ. 
Tất cả là để làm gì? 
Vận động quần chúng là để chặn đánh tâm lí phản nghịch của quần chúng. Vận động lãnh đạo cao cấp là để chống lại “lửa bất bình” nơi họ, làm cho họ cụp tai cúi đầu cam nô lệ. Mao gây bao án oan, bức đồng chí không ngừng tự kiểm thảo. Mao muốn tinh thần “tội tổ tông” thấm sâu vào thần dân. Chỉ như thế thì mới có thể khiến cho dự trù chính trị của mình thực hiện thông suốt.  


Ham sống sợ chết là thiên tính của con người. Trong một xã hội mà không khí khủng bố nhuốm mùi tanh của máu, dân chúng xô dạt theo dòng lớn là chuyện không khó hiểu cả về tình lẫn về lí. Hẵng xem một người tài năng tót vời như Quách Mạt Nhược đã phải sống một cuộc sống run rẩy kinh hãi ra sao là đủ biết quần chúng thường dân vì sao lại phải “ngây cuồng”. Hẵng xem biết bao nhà văn nổi tiếng bỗng chốc tất cả cùng im lặng tập thể, gác bút tập thể là đủ thấy Mao Trạch Đông đã khống chế thành công xã hội Trung Quốc đến mức nào. Cũng đủ để thấy dân chúng vì sao phải “ba phải a dua”. Bởi vì họ chỉ mỗi việc phải phục tùng, “ngây cuồng” hay “ba phải vào hùa” là kết quả của việc phải phục tùng. Không thế thì sẽ “dần dần chết đói”. Dám chắc giáo sư  Mao Vu Thức cũng ở trong đội ngũ đó. Đó quyết không phải là tội lỗi và trách nhiệm của nhân dân Trung Quốc (gồm cả giáo sư trong đó). 

Quả đúng như giáo sư đã nói: “Nếu Mao Trạch Đông và lũ bốn tên sang Hoa Kì làm Cách mạng Văn hóa thì khẳng định là làm không nổi”. Sở dĩ những việc tương tự Cách mạng Văn hóa không thể phát động nổi ở Mĩ là bởi vì chế độ chính trị quốc gia này không cho phép các nhà chính trị muốn làm gì thì làm. Điều còn quan trọng là, các nhân vật chính trị ở Mĩ là do dân chúng bỏ phiếu chọn ra. Tất cả những người đó (bao gồm cả tổng thống) đều phải chịu trách nhiệm trước dân chúng. Thế nên chính trị gia tại Mĩ không thể hành động khinh suất hay tùy ý trái phản ý dân. Ai cũng biết chính trị Trung Quốc thời Mao và chính trị Hoa Kì không giống nhau. Vậy đương nhiên là ngón nghề của Mao làm sao mà thi hành được ở Hoa Kì! Bản thân Mao cũng biết rõ điều đó. 
Sau lúc Liên Xô hạ bệ Stalin, chính Mao từng nói nếu như ở các nước phương Tây thì đã không có chuyện kiểu Stalin.[8] Thế nhưng Mao hoàn toàn không rút ra bài học gì cả. Sau vụ Watergate, Richard Nixon bị điều trần. Bill Clinton vì chuyện quan hệ ngoài hôn nhân mà bị quốc hội điều tra và ông đã buộc phải xin lỗi dân Mĩ. Ngược lại Mao chưa hề có một lời xin lỗi nào về những việc sai lầm của mình. 
Bành Đức Hoài[9]dũng cảm vì dân cuối cùng cũng chỉ là “Tôi không uống thuốc của Mao Trạch Đông” “Tôi không ăn cơm của Mao Trạch Đông”.[10]Một nguyên soái chiến công hiển hách cũng chỉ biết dùng cách đó để phản kháng thì còn yêu cầu được người dân phải làm thế nào? 

Một chế độ tốt đẹp có thể khiến một người xấu không dám làm việc hư, một chế độ bất lương có thể khiến người tốt làm việc xấu. Đây là lí do vì sao người ta yêu cầu phải cải cách thể chế. Giả sử, nếu xưa kia các bậc tiên hiền buổi đầu nước Mĩ kiến quốc không dựng nên chế độ dân chủ, nếu  G.Washington sau 8 năm làm tổng thống không sáng suốt và dứt khoát rút lui khỏi đời sống chính trị, nếu không có việc những người kế thừa Washington thể chế hóa hành động của ông, nếu Washington thực hiện triệt để chế độ chính trị kiểu Mao thì hoàn toàn có thể khẳng định - việc xuất hiện thảm cảnh Cách mạng Văn hóa hay việc nảy sinh bi kịch tương tự bi kịch của những Trương Chí Tân[11], Vương Bối Anh là hoàn toàn có thể. Vì vậy, tất cả những bi kịch hay những chuyện hoang đường xuất hiện trong Cách mạng Văn hóa chỉ có thể là trách nhiệm của kẻ phát minh Mao Trạch Đông. Nếu không sẽ là không công bằng đối với lịch sử và cũng là một điều sỉ nhục đối với người dân Trung Quốc – những kẻ không có chút quyền kinh tế và quyền chính trị nào trong tay.   


Lê Thời Tân 
[dịch từ nguyên bản tiếng Trung]


__________________________________


[1]Học giả Nhật gốc Hoa. Bài đăng trên 《明鏡月刊》nhan đề “文革”究竟誰之罪:與茅于軾先生商榷” (xin xemcity.mirrorbooks.com).

[2]茅于軾(Mao Yushi 1929-  ), nhà kinh tế học Trung Quốc đương đại. Năm 1958 bị quy “phái hữu” đình chỉ công tác. Trong Cách mạng Văn hóa bị khám nhà và đấu tố rồi bắt đi lao động. Nhận Giải thưởng kinh tế học Milton FriedmanLiberty Prize của Mĩ năm 2012.
[3]吳稼祥(Wu Jiaxiang 1955 -  ), nhà nghiên cứu kinh tế học, từng thỉnh giảng tại Đại học Harvard. Sau sự kiện mùa xuân Thiên An Môn bị bắt giam. Mãn hạn tù năm 1992. Ngô là một trong những học giả đề xuất sớm nhất ý hướng cải cách xí nghiệp quốc doanh và thực hiện chế độ cổ phần ở Trung Quốc.
[4]王佩英(Wang Peiying 1915-1970), nguyên là một nữ nhân viên ngành  đường sắt, do phản đối Mao Trạch Đông mà bị bắt vào viện chữa bệnh tâm thần. Trong Cách mạng Văn hóa bị gán tội phản cách mạng, nhét gạch vụn vào mồm và giong phố đấu tố. Sau đó bị phán quyết “lập tức tử hình”. Cuộc xử bắn ngày 27/1/1970 được truyền hình làm gương. Năm 1980 sửa án sai,  kết luận bị bệnh nhân tâm thần không nên kết án hình sự. Năm 2011 kết luận lại Vương vô tội và rút lại lời kết luận Vương mắc bệnh tâm thần.
[5]Xem Ngô Giá Tường, 《雖億萬人,吾往矣- 紀念一位聖女》đăng trên《明镜月刊》số tháng 8/2010 (kì 6), tr.78.
[6]Xem Vương Minh Nghị dịch, 《通向奴役之路》, Trung Quốc Xã hội Khoa học Xuất bản xã, 1997, tr.116 (The Road to Serfdom  của Friedrich August von Hayek có bản dịch tiếng ViệtĐường về nô lệcủa Phạm Nguyên Trường, Hà Nội, Nxb Tri thức –ND).

[7]Xem劉松,《文化大革命的目的-確立繼承人》introng日本大學大學院國際關係研究科《大學院論集》, kì 11, 2001, tr.61~85. Hoặc xem 關心dịch,《毛澤東最後的革命》, Thinker Publishing (HK) Limitedxuất bản, 2009, tr.328 (tức cuốn Mao's Last Revolution của Mac Farquhar và Roderick - ND)                                                                                                                                             

[8]Xem《鄧小平文選》, quyển 2, tr.333
[9]Bành Đức Hoài (1898-1974), nguyên soái, từng là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Chống lại chính sách Đại nhảy vọt của Mao từ Hội nghị Lư Sơn (1959). Bị quy tội phản đảng cách chức và kỉ luật. Trong Cách mạng Văn hóa bị đấu tố đánh đập rồi quy tội gián điệp. Bị thầm vấn hàng trăn lần. Mắc bệnh không được chạy chữa, chết ngày 29/11/1974. Trước lúc chết xin được gặp vợ đã li hôn đang lao động cải tạo ngoại ô Bắc Kinh nhưng bị vợ từ chối. Bình đựng tro cốt ghi thành họ tên khác. Được khôi phục danh dự năm 1978. Ghi chép trong tù xuất bản thành sách nhan đề “Bành Đức Hoài tự thuật” (ND).
[10]Xem 馬輅,佩璞,馬秦泉,《彭德懷廬山起禍》(Bành Đức Hoài – Tội khởi từ Hội nghị Lư Sơn), Nhã Lâm xuất bản xã, 1990, tr.36.
[11]Trương Chí Tân (1930-1975), đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc. Bị bắt tù từ 1969 cho đến 1975 vì dám phê phán sùng bái cá nhân và bệnh tả khuynh. Khác biệt giữa hai người phụ nữ Trương Chí Tân và Vương Bối Anh ở chỗ Trương trước sau không phủ nhận tư cách đảng viên của mình, trong lúc Vương sớm xin ra khỏi đảng. Trương trước lúc đem ra tử hình đã bị tra tấn đến phát điên nhưng vẫn bị cho là giả vờ trong lúc Vương khi đưa ra bắn bị xem là điên. Vương bị siết cổ khi đem ra pháp trường còn Trương bị cắt yết hầu trước khi xử tử. Năm 1978 Trương được khôi phục danh dự, năm 1979 công nhận liệt sĩ (ND).