Rồng đá

Rồng đá ở đền Lê Văn Thịnh





Lê Văn Thịnh, người Kinh Bắc, đỗ thủ khoa trong kỳ thi Nho học Tam
trường đầu tiên ở Việt Nam do Vua Lý Nhân Tông tổ chức vào năm
1075. Ông làm quan trong triều đến chức Thị Lang Bộ Binh, có công lớn
trong việc bàn nghị phân chia cương vực với Triều đình Nhà Tống để
giành lại 6 huyện biên giới ( nay thuộc Cao Bằng ).Theo Đại Việt sử ký (
thời Nhà Trần ) và Đại Việt sử ký toàn thư ( thời Hậu Lê ) thì ông là một
nghịch thần, có phép " hóa hổ" để mưu sát vua trên hồ Dâm Đàm ( Hồ
Tây ngày nay ). Sau này có nhiều ý kiến cho rằng đó là một vụ án oan
sai : Vua đã nghe lời xúc xiểm của bọn gian thần ghen tức với tài năng
và đức độ của Lê Văn Thịnh mà đày đọa ông - một hiền tài. Ông đã bị
Vua đầy lên miền sơn cước thượng lưu sông Hồng và chết trong quên
lãng... Đây mãi vẫn là một nghi án, nhưng dân gian đời sau đã xây đền
thờ Lê Văn Thịnh ngay trên nền ngôi nhà nơi Ông sinh ra ở núi Thiên
Thai ( Bảo Tháp, Đông Cứu, Thuận Thành, Bắc Ninh) như để giải thoát
cho nỗi oan khuất của Ông. Khoảng đầu những năm 90 TK trước, tình
cờ người trông nom đền phát hiện ra một pho tượng Rồng đá cao
khoang 0,8m, dài khoảng 1m. Đây thực sự là một tuyệt tác nghệ thuật:
người nghệ sỹ khuyết danh ( có lẽ ở thời Hậu Lê ) đã khắc họa hình ảnh
con Rồng " miệng cắn thân, chân xé mình " hết sức sinh động để người
xem phải sửng sốt cảm nhận nỗi ân hận đắng cay của bạo chúa đã gây
ra oan nghiệt. Rồng bạo chúa đã được người nghệ sỹ tài ba đặc tả với
một bên tai không có lỗ.Cũng có ý kiến cho rằng Rồng đá này là biểu
tượng của chính Lê Văn Thịnh. Chỗ hiểu khác nhau này xin dành cho
bạn đọc lựa chọn theo cảm nhận của riêng mình.














Vô minh và vô cảm

Vô minh và vô cảm





Chu Hảo


Ngày nay ít ai còn nghi ngờ rằng những thành tựu tuyệt vời của khoa học và công nghệ đã không làm cho Trái đất-ngôi nhà chung của chúng ta tươi đẹp hơn, Xã hội loài người trở nên nhân bản hơn, và Con người có cuộc sống hạnh phúc hơn... ít ra là so với kỳ vọng của nhân loại từ sau thời Phục hưng (TK 14) và nhất là sau thời kỳ Khai sáng (TK 18). Văn minh vật chất rõ ràng ngày càng cao, nhưng văn minh tinh thần có vẻ như đang xuống thấp, nhất là nhìn từ góc độ văn hóa-đạo đức xã hội. Tri thức tràn trề mà vẫn Vô minh, lòng trắc ẩn không còn đủ để ngăn ngừa sự Vô cảm. Ở phương Đông cũng thế mà phương Tây cũng thế; nước giầu và nước nghèo đều thế cả; xứ mình cũng không phải là ngoại lệ...
Hơn 2500 năm trước Đức Phật đã chứng ngộ và tuyên giảng Tứ diệu đế (Bốn sự thật cao minh) là : KHỔ (mọi nỗi khổ đau đều có nguyên nhân), TẬP (nguyên nhân gây nên khổ đau là tham, sân, si), DIỆT (có thể loại trừ được các mầm độc gây nên khổ đau ấy) bằng ĐẠO (tu hành tâm linh tích cực). Nếu mọi người trên thế gian này đều làm được đúng điều Phật dạy thì cõi Niết bàn ngay trên trần gian này đã có từ lâu. Tiếc thay số người tin vào điều Phật dạy không nhiều, những người thực sự làm theo Phật chắc chắn là ít hơn, số tu hành tâm linh đến mức chứng ngộ còn hiếm hoi hơn nữa. Chắc đó cũng là quy luật của sự phát triển. Bởi lẽ, nếu cõi Niết bàn chỉ có toàn những điều Chân Thiện Mỹ thì nó không thể tồn tại trên trần thế, vì ở chốn nhân gian có giả mới có Chân, có ác mới có Thiện, có xấu có Đẹp (Mỹ). Nhân loại chỉ mong cái tốt Đẹp nhiều hơn cái xấu xa , cái Thiện thắng cái ác, và cái Chân thực lấn át cái giả dối. Ngoài Đạo Phật, các tôn giáo khác đều có lý do tồn tại chính đáng khi tôn sùng các giá trị Chân-Thiện-Mỹ và răn đe Tham-Sân-Si để Hành tinh xanh này tươi đẹp hơn, Xã hội loài người nhân bản hơn và Con người có cuộc sống hạnh phúc hơn…
Tham (tham lam, vụ lợi, ích kỷ, …) và Sân (nóng giận, đố kỵ, ghen tỵ…) xem ra có vẻ dễ được khắc chế hơn là Si (dốt nát, mê muội, cuồng tín…). Tham và Sân làm sói mòn lòng trắc ẩn và gia tăng sự vô cảm. Chúng dễ được khắc chế hơn vì không ai không nhận ra sự Tham và sự Sân của mình, chỉ còn khó là ở chỗ có muốn và có đủ năng lực kiềm chế chúng không? Nói cho cùng thìTham và Sân cũng là do Si mà ra, càng Si thì càng dễ Tham và Sân. Nhưng Si thì nhiều khi không thể tự nhận biết, bởi nó chính là sự Vô minh; tự khai minh (để rũ bỏ Vô minh) cũng khó như là tự nâng mình lên khỏi mặt đất. Cái vô minh của một cá nhân hay một tập thể có quyền lực có thể tạo ra cái Si cộng đồng thông qua tác động tâm lý đám đông hoặc dùng quyền lực áp đặt. Niềm tin u mê vào tính siêu việt của tộc người Germain của dân tộc Đức để biện minh cho việc tàn sát dân tộc khác trong thời kỳ Hitler cầm quyền là một minh chứng điển hình cho cái Si cộng đồng đã đẫn đến tội ác diệt chủng. Trước đó lịch sử loài người cũng đã từng chứng kiến một niềm tin u mê vào tính ưu việt của một giai tầng xã hội là động lực của cuộc cách mạng bạo lực để kỳ thị và loại trừ các giai tầng khác, đặc biệt là trí thức. Cái Si cộng đồng này đã sụp đổ ở nguyên quán là Liên bang Xô viết cũ, nhưng tàn dư của nó vẫn còn đó, ở đôi nơi…
Sự cố chấp, thực lòng hay dối trá cũng vậy thôi, vào một ý thức hệ lỗi thời nào đó cũng là một biểu hiện của sự Vô minh. Không tin vào Dân, không dựa vào Dân ; không đặt quyền lơị của dân tộc lên trên mọi giáo điều chủ thuyết, mọi lợi ich nhóm ... đều là Si, là Vô minh cả. Vô minh trực tiếp dẫn đến Vô cảm. Cái Vô cảm đáng sợ nhất mà chúng ta đang hàng ngày chứng kiến là sự Vô cảm của rất nhiều bộ phận trong hệ thống quyền lực trước sự bất công thê thảm mà biết bao người dân thường đang phải gánh chịu; trước sự tàn phá thậm tệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên; trước sự xuống cấp một cách nguy hại của văn hoá - giáo dục - đạo đức xã hội ...
Những biểu hiện Vô minh và Vô cảm như thế chỉ có thể bị hạn chế, bị đẩy lui trong một thể chế dân chủ, với một nền giáo dục nhân văn . Thể chế dân chủ đảm bảo những quyền tự do cơ bản của con người, trong đó quyền tự do bầy tỏ chính kiến của mình để làm phong phú, đa dạng và đổi mới tư duy của toàn xã hội để gạt bỏ mọi giáo điều ý thức hệ, có lẽ là quan trọng nhất. Tự do có thể là khát vọng bẩm sinh của con người, nhưng Dân chủ thì phải được giác ngộ, được rèn luyện gian truân trong thực tiễn cuộc sống mới dần dần có được. Nền giáo dục đào tạo ra những con người có tri thức hữu dụng và lòng trắc ẩn để tránh xa Vô minh và Vô cảm phải được xây dựng theo một triết lý hết sức nhân bản. Chẳng hạn như đề xuất của triết gia hiện đại người Pháp - Edgar Morin về sứ mạng và mục tiêu của giáo dục:
1) Hình thành những khối óc được rèn luyện tốt; đào tạo những con người có đủ năng lực tổ chức và liên kết các trí thức để mưu cầu hạnh phúc cho bản thân mình và cho toàn xã hội chứ không phải nhồi nhét kiến thức theo kiểu chất vào kho.
2) Giáo dục về hoàn cảnh con người, làm cho mọi người có ý thức sâu sắc thế nào là một con người. Dạy cho thế hệ trẻ cách sống, chuẩn bị cho họ biết cách đối mặt với những khó khăn và những vấn đề chung của cả loài người.
3) Thực tập tư cách công dân của đất nước và của toàn thế giới; có năng lực đối thoại, khoan dung trong thế giới phức hợp và đa dạng.
Để có một thể chế dân chủ hơn, một nền giáo dục lành mạnh hơn, xã hội không chỉ trông chờ vào vào sự thực thi nghĩa vụ của các cơ quan và tổ chức lãnh đạo quyền lực, mà còn hy vọng vào sự dấn thân của tầng lớp trí thức tinh hoa của dân tộc – những người không chỉ có trình độ học vấn – chuyên môn cao, mà trước hết phải có ý thức trách nhiệm xã hội, dám công khai bày tỏ và bảo vệ chính kiến của mình.
Ngày xưa Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) là một trí thức dấn thân theo kiểu của ông : trong cuộc đời ngắn ngủi của mình ông đã gửi lên Vua Tự Đức 30 bản tấu trình đề xuất kế hoạch canh tân đất nước và khoảng 60 bản điều trần về đủ mọi thứ khác. Nhưng Vua không nghe thì đành chịu! Cùng thời với ông, Fukuzawa Yukichi (1835-1901) đã nổi lên như một ngôi sao sáng trong giới trí thức Nhật Bản thời ấy. Ông không chỉ tấu trình cho Nhật hoàng mà tìm mọi cách truyền bá tư tưởng canh tân cho đồng nghiệp, học trò và toàn xã hội. Có thể nói ông là rường cột tinh thần cho phong trào Minh trị duy tân. Sự phát triển theo các con đường khác nhau, và kết quả cũng khác nhau, của Việt Nam và Nhật Bản có lẽ đã bắt đầu từ đó. Nửa thế kỷ sau, có một lớp chí sỹ của phong trào Duy Tân và Đông kinh nghĩa thục, đứng đầu là cụ Phan Châu Trinh, đã dũng cảm đi theo con đường của Fukuzawa, chủ trương làm cách mạng văn hóa và giáo dục. Nhưng đã thất bại vì chính quyền thuộc địa đàn áp dã man.
Ngày nay chính quyền luôn luôn được khẳng định là của nhân dân, vì vậy điều kiện tấu trình, điều trần cũng như triển khai thực hiện những đóng góp cụ thể, đã thuận lợi hơn nhiều, tầng lớp trí thức tinh hoa của dân tộc chẳng lẽ chỉ có trăn trở và kiến nghị thôi sao? Đấy là nỗi băn khoăn của rất nhiều người Việt Nam tâm huyết, ở trong nước cũng như ở nước ngoài, đang dấn thân vì sự phát triển của Đất nước, vì tương lai của Dân tộc./.

..thời bao cấp



“Cái áo bông sột soạt em ạ, cái áo bông mẹ may cho anh mặc đến trường trong ngày mùa đông buốt giá, vừa đi vừa sột soạt. Anh là “cán sự” văn hồi phổ thông, chả hiểu sao gọi là thế. Anh đi thu bài của bạn bè nộp cho thày, có thế thôi, gọi là cán sự. Hôm ấy đi khắp lớp, vừa đi vừa sột soạt, cả lớp cười bò, ngượng thật. Mẹ được lão bộ đội già tặng mẹ sấp vải lính, chắc hắn định "cưa” người mẹ nguyện suốt đời ở giá nuôi anh. Mẹ may cái vỏ áo bông mà không có bông. 
Trong đó mẹ nhét đầy báo Nhân dân, Hà nội mới. Chắc ngày ấy chỉ có 2 tờ thế thôi em giai nhỉ.”

Đấy là một đoạn thư nhạc sĩ Trần Tiến gửi cho mình, sau này mình gom thành loạt bài Ngẫu hứng Trần Tiến, được rất nhiều người khen. Nguyễn Trọng Tạo đùa, nói văn Trần Tiến là văn sột soạt. Chuyện này khi khác có dịp mình sẽ kể.

 Thời Trần Tiến cũng là thời của mình, gọi là thời bao cấp. Mình cũng có cái áo bông như thế, nhưng không lót báo, mạ mình bện rơm thành tấm lót vào, áo bông của mình không sột soạt nhưng nặng trịch, lại bó cứng, đi lại rất khó khăn. Nhưng đánh nhau rất sướng, mình cứ đứng ưỡn ngực cho tụi nó đấm mỏi tay, không việc gì sất. Khổ nỗi nó là cái ổ rận, cứ khoảng một tuần mạ mình lại bện rơm mới thay vào, nếu không rận cắn không ngủ được, không học được. Có hôm ngứa quá mình cởi áo rũ một cái, cả đám rận bò lổm ngổm giữa nền nhà. Nhớ lại mà kinh.

Thế là oách chán. Nhiều đứa  khoác chăn chiên, bao bố đi học. Nhiều đứa đến chăn chiên bao bố cũng không có, chúng nó lấy thùng giấy đục lỗ làm  áo, khoác vào trông hệt như ông bù nhìn ở ruộng ngô, rất thảm. Thằng Tuân có cái áo như thế. Một lần đi học về gặp mưa, cái áo của nó ướt sũng, rã ra từng đám. Trông nó giống hệt con trâu ghẻ, rất ghê.

Lần khác đang ngồi trong lớp, chẳng biết đứa nào nghịch xòe diêm đốt. Cái áo xịt khói, thằng Tuân hãi quá chạy tứ tung trong lớp, vừa chạy vừa la hét như người cuồng. Tụi mình lấy nước tấp vào người nó, cái áo dúm lại, bệt vào người nó, dần rã ra từng lớp. Nó đứng giữa lớp khóc tu tu, nói mạ tau không có tiền mua hộp giấy nữa rồi. Cô Ngoan nghe vậy bật khóc, cứ ôm ghì lấy nó không nói được một lời nào.

Tối qua xem phim Ấn độ Cô gái đi giày bata, chợt nhớ mình mơ có đôi giày bata từ thuở lên mười, mãi đến khi vào lính, lĩnh tháng lương thiếu úy đầu tiên mới có được đôi giày trong mơ. Nào có nhiều nhặn gì đâu, giày bata nội chỉ 20 đồng (khoảng 200 ngàn bây giờ). Lương thiếu úy được 65 đồng, lãnh lương xong mình mua lít rượu Vân chạy về nhà Phùng Quán tặng anh. 

Đêm ngủ ở nhà anh Quán mình thao thức mãi, không biết có nên bỏ ra 20 đồng mua đôi giày mơ ước hay không, còn bao nhiêu thứ phải chi. Cuối cùng mình tắc lưỡi mua liều, chạy về chìa chân trước mặt  cái Quyên con gái anh Quán, nói từ khi anh mua đôi giày này em có thấy con lợn nào chạy qua đây không. Cái Quyên cười ngất, nói bố  mẹ ơi, ra mà xem ông thiếu úy đẹp trai thức trắng đêm mới quyết định mua đôi giày bata đây này.

Con nít quê mình đến trường đều đi chân đất, thời đấy đến dép cao su cũng không kiếm được.  Đứa nào được ba mạ cắt lốp ô tô làm cho đôi dép mới, đến lớp mặt cứ vênh vênh như là đang đeo đôi giày vàng, suốt ngày chạy đi rửa chân. Đứa nào nhỡ dẫm lên chân, lập tức ôm chân nhăn nhó. Nó không sợ đau chân, chỉ sợ đau dép, hi hi.

 Ở tuổi hai mươi mình cũng vậy chứ đừng nói con nít. Chẳng hiểu thế nào ngày sinh nhật có cô gái khoa hóa mình quen sơ sơ tặng mình đôi dép nhựa Tiền phong. Cô bé này nói cười nhí nhảnh nhưng không xinh lắm, mình không mấy để ý. Lâu lâu gặp cô ở nhà ăn số 4, được cô rủ ăn cùng mâm, vừa ăn vừa tán phét đôi ba câu, xong rồi về, thế thôi. Không ngờ cô bé nhớ ngày sinh nhật của mình.


Buổi chiều thứ 7 mình đi đá bóng về, anh bạn cùng phòng cười cười nhìn mình, nói hôm nay sinh nhật mày à. Mình ngạc nhiên nói mày cũng nhớ sinh nhật tao à. Nó cười khì, nói tao nhớ sinh nhật mày làm cái gì, điên à. Con gì khoa hóa tặng quà sinh nhật mày đây này. Nó cầm cái bọc báo đưa mình, mở ra thấy đôi dép nhựa Tiền phong, trời đất ơi, ngây ngất con cà cưỡng. Mình chạy ù đi tìm cô bé cảm ơn, hôm đó thấy cô bé sao mà xinh thế không biết, hi hi.

Cái thời “ một yêu anh có may ô, hai yêu anh có cá khô để dành…”, anh nào mặc áo bay Liên Xô quần bò Thái, chân đi dép nhựa Tiền Phong, đầu đội mũ cối Trung Quốc, tay đeo đồng hồ Seiko, đi xe đap Diamond hay Sputnhich, thỉnh thoảng xổ ra đôi câu tiếng Nga là lập tức thành hot boy, đảm bảo tán gái trăm trận trăm thắng.


 Xưa mình quen được một cô cực xinh học Đại học Sư phạm, háo hức quơ được cô này, đánh đu với nàng suốt cả tháng trời. Tưởng là cắn câu rồi, chẳng dè một ông phun thuốc sâu (Phó tiến sĩ) vừa về nước được năm ngay đã nẫng tay trên của  mình mất. Tiếc đứt ruột nhưng đành phải rút lui không điều kiện. Thằng cha này có đủ bộ từ chân lên đầu, mình chỉ có đôi dép Tiền Phong, đấu sao lại được nó, ba mươi sáu chước, chước chuồn là hơn.

Ba tháng sau mình như người trúng xổ số, mấy ông anh đi học Liên Xô về, đi bộ đội từ Nam ra, buôn lậu ở Lào sang cho mình đủ bộ, từ dép tông Lào mũ cối trung Quốc đến đồng hồ Seiko, xe đạp Sputnhich. Thật sướng hơn tiên. Mình ở chung phòng xép với anh Mạc, nó nằm đầu hồi, giữa lưng chừng tầng hai với tầng ba, vốn là nhà kho hay phòng bảo vệ chi đó. Anh Mạc nói thấy mình có bộ đồ nghề tán gái tân thời thì sướng lắm, nói từ ngày mày có bộ đồ nghề hoành tráng, phòng hai anh em mình sang hẳn lên. Thằng em chiếu cố cho ông anh, tao mượn thứ gì đi tán gái đừng có viện cớ chối tao nhé. Mình hơi bị nóng ruột nhưng vẫn rặn cười, nói xong ngay, chật bụng chứ chật chi đồ. Hi hi.

Cũng vừa lúc  nàng vừa cho anh chàng phun thuốc sâu rớt đài. Mình khoác toàn bộ vũ khí tán gái hoành tráng phi lên Đại học sư phạm, mắt nàng sáng lên hình viên đạn. Nàng chỉ ngúng nguẩy em chã em chã đôi ba lần rồi đổ cái rầm, he he. 
Anh Mạc về quê, mình rủ nàng đến phòng mình chơi, âm mưu đen tối rành rành nhưng nàng lờ đi cho, đồng ý ngay tắp lự, hẹn trưa đến. Mình đi tắm, trong nhà mất nước, mình xuống bể tắm dưới sân nhà, vừa tắm vừa hát hò như thằng điên. Mấy thằng tắm cùng ngạc nhiên lắm, nói mày vào cầu cái gì mà tởn thế. Tính khoe nhưng thôi, khoe với lũ đẹp trai này khác gì đưa trứng cho ác, hi hi.

Tắm táp thoải mái, mình lên phòng, và sững người, cánh cửa bị bẻ khóa mở toang hoác, toàn bộ tư trang vật dụng của mình và anh Mạc không cánh mà bay. Lần đầu bị mất cắp, lại mất sạch sành sanh, đau quá là đau. Mình đứng chết giấc giữa phòng, không thể tin nổi.

Buổi trưa nàng đến, trố mắt thấy mình ngồi như một con chó đói, trọc lóc cái quần cọc trong người. Nàng hỏi nói sao thế anh. Mình trương mắt nhìn nàng chẳng biết nói sao, chưa bao giờ mình thảm hại đến như thế. Nàng ngồi với mình chừng mười phút rồi về, từ đó không bao giờ trở lại, giá nàng trở lại mình cũng bỏ chạy, bởi vì mình đã lộ nguyên hình ông bần cố nông trên răng dưới ca tút, hi hi. Rõ là của thiên trả địa, xong om mối tình nửa nắng, hu hu.


Nguyễn Quang Lập 

CHUYỆN QUẠ


Khách sạn cho quạ


Quạ là loài động vật được xếp vào loại thông minh nhất trong số các loài động vật trên trái đất. Thậm chí các nhà khoa học còn cho rằng nếu não của quạ lớn như não của con người chúng có thể thông minh hơn con người nhiều lần. Ở Nhật Bản có rất nhiều quạ sinh sống và cũng không ít những câu chuyện phiền toái mà loài chim thông minh này mang đến cho người Nhật.
Một trong những phiền toái đó là câu chuyện của ngành điện Nhật Bản: khi các cột điện cao thế trở thành nơi lý tưởng để xây dựng tổ ấm, các đôi quạ đã mang vật liệu gồm tất cả những thứ chúng kiếm được như vỏ cây, dây điện, vải, lông .., thậm chí cả những cái móc áo bằng kim loại đến phụ vụ cho việc xây tổ. Các công ty năng lượng Nhật Bản đứng trước vấn đề nan giải là mất an toàn trên lưới điện do tổ quạ có thể gây chập điện, rò rỉ điện. Vậy phải làm gì để giải quyết vấn đề này?
Nhóm nghiên cứu giải pháp gồm hàng trăm kỹ sư của ngành điện đã được thành lập, họ tập trung nghiên cứu và nghĩ ra nhiều phương pháp đuổi quạ như: vẽ những đôi mắt giống như thật trên cột điện, dùng hình nộm người, thậm chí cả một thiết bị mới được sáng chế để liên tục phát ra âm thanh cũng được lắp đặt trên cột điện. Nhưng tất cả các thiết bị đều chỉ dọa được những chú quạ thông minh trong một thời gian ngắn. Sau đó chúng thậm chí còn làm tổ ngay trên những thiết bị được nghĩ ra để dọa chúng.
Các kỹ sư lại nghĩ ra việc đặt bẫy nhưng những chú quạ thông minh lại chẳng bao giờ mắc bẫy mà chúng vẫn làm tổ ngay bên cạnh những cái bẫy đắt đỏ của ngành điện. Bất lực trong giải quyết vấn đề, nhiều kỹ sư đã đưa ra ý kiến dùng súng săn để tiêu diệt quạ, nhưng pháp luật Nhật Bản không cho phép.
Cuối cùng lãnh đạo công ty điện đã mời một chuyên gia hàng đầu của Nhật về tư duy đột phá (breakthrought thinking) đến hiến kế. Ông này đề nghị công ty điện lực trả lời một câu hỏi: Mục tiêu của các ông là gì?
Công ty điện lực trả lời: mục tiêu của chúng tôi là đuổi quạ để chúng không làm tổ trên các cột điện.
Chuyên gia đề nghị trả lời thêm một câu hỏi nữa: Vậy tại sao không cho quạ làm tổ trên cột điện?
Công ty điện trả lời lý do vì các tổ quạ làm ảnh hưởng đến an toàn truyền tải điện.
Sau câu trả lời này, ông chuyên gia kết luận: mục tiêu thực sự của ngành điện là an toàn truyền tải điện chứ không phải là đuổi quạ. Như vậy bài toán đã có đầu bài mới là làm gì để không còn những tổ quạ ảnh hưởng đến an toàn truyền tải điện. Cuối cùng, ý tưởng về những khách sạn xinh xắn, ấm áp với chi phí còn rẻ hơn những cái bẫy phục vụ miễn phí được triển khai trên cột điện. Một loài chim thông minh như quạ dễ dàng nhận ngay ra sự tiện ích của hệ thống khách sạn này, chúng lập tức chuyển vào đó làm tổ và không làm tổ gần dây truyền tải điện nữa.
Kể chuyện trên để nói đến thực tế giao thông ở Việt Nam. Các giải pháp ngành giao thông đưa ra để giải bài toán chống ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn trong thời gian qua có những nét giống như các biện pháp mà các kỹ sư Nhật Bản nghĩ ra để đuổi quạ.


[….]      TELO

nếp...




Tất cả về... nếp

Huỳnh Ngọc Trảng



1. Sự tích bánh dày và bánh chưng đầu tiên được chép trong Lĩnh Nam chích quái (thế kỷ 15) mà nay chúng ta ai cũng biết, đã khẳng định hai sản phẩm do Tiết Liêu dâng lên cho vua Hùng là thuộc thứ chất lượng số một – không loại sơn hào hải vị nào có thể so sánh bằng! Điều đó cũng cho thấy nếp là nguyên liệu quan trọng.
Có một số nghiên cứu cho rằng nếp là lương thực chính của một số dân tộc ở châu Á, trong đó… có người Việt ta thời cổ, trước khi nếp được thay thế bằng gạo tẻ. Tập tục ăn cơm nếp/ xôi thay cho cơm nay còn thấy ở Lào, sát nách xứ ta, có quan hệ tộc người, quan hệ lịch sử văn hoá với không ít các tộc người thuộc đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Cả theo tác giả Lĩnh Nam chích quái thì “Các vật trên trời đất và mọi của quí của con người không gì quí hơn gạo/ nếp. Gạo/ nếp có thể nuôi người khoẻ mạnh và ăn không bao giờ chán”. Nói chung, trên thế giới, loại lương thực nào được dùng làm thức ăn chính cho con người đều có ý nghĩa tượng trưng và thuộc về nghi lễ. Bánh mì, lúa gạo đều có nguồn gốc thiêng liêng. Gạo là hạt ngọc trời, biểu trưng cho sự sung túc, sự sinh sản dồi dào – nhờ trời mới có và sự thanh khiết nguyên sơ. Nếp có hương thơm, hiếm hơn gạo tẻ nên được chọn làm nguyên liệu để chế biến thành lễ vật dâng cúng thần linh và tiên tổ.


2. Cứ đến khi lúa nếp vừa chín tới đến rằm tháng mười âm lịch, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long cử hành lễ Ăn Cốm dẹp (Oc ômbok). Lễ được gọi tên như vậy vì lễ vật chủ yếu là cốm dẹp và khi đã bày biện cốm và các loại củ quả cúng trăng thì chủ nhà lấy ít cốm (có thể lấy chuối sứ chín chấm vào cốm) để nhét vào miệng (ốc: nhét vào miệng, ôm-bôk = cốm dẹp) đứa trẻ, con cháu trong nhà và hỏi: Năm tới làm ăn ra sao? Dựa vào lời đáp của trẻ mà người ta đoán chuyện tốt xấu của cuộc sống trong năm đấy.

 Cốm như vậy là lễ vật dâng trong lễ cúng đầu mùa gặt. Lúa tốt nhất là nếp vừa chín tới, được gặt về, đem rang lên, bỏ vào cối giã và sàng sảy bỏ trấu đi. Tập tục này vốn phổ biến của cư dân trồng lúa nước. Ở miền Nam, cốm dẹp của người Việt cũng phổ biến vào khoảng này. Ở miền Bắc, Tết cơm mới tổ chức vào ngày 1, 10 hoặc rằm tháng 10 âm lịch – coi ra rất trùng khít với lễ Ôc ômbok của người Khmer. Như vậy mùa cốm diễn ra sớm hơn và đồng thời với mùa hồng chín. Cốm vòng (thôn Hậu, xã Dịch Vọng, Từ Liêm, Hà Nội) là danh tiếng, át hẳn cốm Mễ Trì, Mai Dịch, Phú Diễn, Mỹ Đình.
Ở đây, không thấy lễ cúng cốm, song có lẽ cổ xưa cốm gắn với một hình thức nghi lễ nông nghiệp quan trọng. Nhà dân tộc học Từ Chi (trong sách Người Mường ở Hoà Bình, H; 1996) có miêu tả tục dùng cơm Chùn (Mường: cơm chul) làm lễ vật trong lễ Ăn Cơm mới: Lúa mới gặt còn ướt sũng, không phơi khô được, phải đem rang cho kịp cử hành lễ cúng trước khi cả làng bước vào gặt rộ. Dưới sức nóng, vỏ từng hạt bung ra; giã nhẹ để tách vỏ. Gạo đã rang ấy làm thành cơm chul. Đó là tiền thân của cốm … và cả bỏng/ nổ. Cốm không theo các đoàn di dân Nam tiến mà bỏng/ nổ thì đeo bám lâu dài. Ở miền Trung bỏng được gọi là nổ và bánh nổ là thứ bánh – lễ vật không thể thiếu trong ngày Tết. Bánh nổ phổ biến ở Trung bộ nhất là từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận. Ở Huế, loại bánh nổ này, theo anh sui tôi gọi là “bánh khô”. Từ chân Đèo Ngang vào Quảng Nam thì cốm/ bánh cốm lại khác: hạt ngô/ nếp rang lên trộn với đường xênh vo tròn hay cho vào khuôn nện thành hình khối. Thứ bánh cốm này coi ra khác với thứ bánh cốm Hàng Than ở Hà Nội. Tại sao?
Ở Nam bộ, ngoài cốm dẹp nói trên, thì nổ là lễ vật thiêng, thấy trong lễ cúng Việc lề của một số tộc họ và phổ biến là lễ vật thí thực tronmg dịp lễ cúng cô hồn! Nói chung, cốm, nổ (bỏng) theo dòng chảy không-thời, tại các tọa độ địa lý – lịch sử khác nhau vẫn cứ là lễ vật thiêng làm từ hạt ngọc trời.




3. Xôi/ cơm nếp là món được chế biến từ nếp phổ biến và là lễ vật quan trọng trong phần lớn lễ cúng của nhiều dân tộc. Khái niệm “mâm xôi” luôn gợi hình ảnh vun cao, tròn dầy và sung mãn đợm hơi hám của tín lý phồn thực. Người Thái đồ xôi có dùng lá cây để nhuộm màu: xôi đỏ tượng trưng cho Mặt Trời, xôi vàng tượng trưng cho Mặt Trăng (dâng cúng trong lễ Tết Cầu mùa Xíp Xí). Người Nùng làm xôi bảy màu tượng trưng cho 7 tháng, từ tháng Giêng đến tháng Bảy, dâng cúng trong lễ Tết (mồng 1 tháng Bảy) gọi là Chin Chinh Chet… Các ví dụ này chỉ ra việc người ta dùng xôi màu mè để biểu trưng cho những biểu tượng của trời đất, tháng ngày và v.v…Người Việt cũng pha trộn các thứ đậu vào nếp để đồ ra đủ các loại xôi, lại dùng lá (dứa, lá cẩm…) để tạo màu và hương vị cho xôi. Xôi gấc màu đỏ trở nên vật phẩm của đám cưới, các lễ trọng và nó trở thành thức sang trọng. Bởi vậy mà có “Ăn mày đòi ăn xôi gấc” để chỉ kẻ không biết tự trọng thân phận. Xôi thịt là món “hảo xực” và coi ra là cao cấp nên “xôi thịt” là cụm từ chỉ “phường giá áo túi cơm” dung tục.
Từ xôi đến thứ bánh dày huyền thoại, tượng trưng cho “trời tròn” chì là một bước ngắn: đem xôi trắng/ cơm nếp giã nhuyễn ra là thành. Quan niệm “trời tròn đất vuông” vốn có nguồn gốc Trung Quốc, du nhập vào xứ ta. Các Thiên Tử (con Trời) Đại Việt đắp đàn vuông Xã tắc để tế Mẹ Đất từ năm 1048 và đắp đàn tròn “viên khâu” cả phía nam kinh thành:Nam Giao để tế cha Trời được Việt điện u linh nhắc đến vào các năm 1137, 1138… Quan niệm “trời tròn đất vuông” đó được các nho sĩ, tác giả Lĩnh Nam chích quái gắn vào ý nghĩa biểu tượng của bành dày, bánh chưng. Tuy nhiên, chúng ta còn được nghe cổ nhân bảo rằng là “Thiên cao Địa hậu” (trời cao đất dày) và điều này khiến chúng ta phải nghĩ quẩn rằng bánh dày đúng ra phải biểu trưng cho đất mới đúng theo ngữ nghĩa của tính từ dày/ hậu. Quả là chuyện chữ nghĩa… bao la quá.
Bánh dày không là đặc sản của mỗi người Việt. Người Hmông cũng có và đây thứ lễ vật không thể thiếu trên bàn thờ tổ tiên của họ vào trong dịp tết vì đó là thứ lễ vật để tưởng nhớ việc ông Tổ của người Hmông đã lấy được giống lúa nếp từ xứ sở của người tí hon dưới đất . Tập tục cấm kỵ là trong mấy ngày đầu năm phải ăn bánh dày trắng, tuyệt không được nướng bánh dày vì nếu vi phạm cấm kỵ này thì, theo người hmông, năm đó nương rẫy sẽ bị… hạn hán. Điều này cho thấy, người Hmông coi bánh dày là biểu thị nương rẫy – nói rộng là đất đai, không gian sinh tồn.
Ở Ninh Bình, theo Đỗ Thị Bảy và Mai Đức Mạnh, đồng tác giả sách Văn hoá ẩm thực của người Ninh Bình.( H; 2004) thì ở xứ này lại có lệ giã xôi trắng (cách như làm bánh dày) – gọi là giã oản, tức giã nhuyễn rồi đúc thành oản để cúng tế ở các đại lễ hay tuần tiết cho người mới mất (thất thất lai tuần hoặc 49 ngày) để cầu cho linh hồn người chết siêu thoát lên cõi Phật. Ở đây, cái “chất” bánh dày được khuôn vào hình tướng của oản, biểu tượng cho stupa/ tháp/ phù đồ của Phật giáo – một biểu trưng cho Phật trong thời vô tượng kỳ…
Từ xôi đến bánh dày là một bước ngắn xét ở kỹ thuật chế biến, nhưng từ đó đến thứ bánh phồng, đặc sản của Tết Nam bộ, lại coi ra dài cả không gian và thời gian. Bánh phồng được làm bằng cách quếch xôi trắng/ cơm nếp cho nhuyễn (có gia thêm đường hoặc muối-tuỳ ý), rồi ngắt ra vò thành từng viên nhỏ và đem cán ra (dày độ một ly) tròn bằng cái miệng tô hay lớn hơn. Cán xong đem phơi khô và nướng cho bánh “chuồi”-tức nở phồng lớn ra: bỏ vào miệng bánh thau ra, không phải nhai, mới là bánh ngon. Thuộc loại top này là bánh phồng Sơn Đốc (Bến Tre) và kế đó là Phú Mỹ (Phú Tân, An Giang). Ở đây, bánh phồng tuồng như đeo đẳng tín lý phồn thực – tất nhiên, không giới hạn trong việc cầu được mùa, vật thịnh còn là “nhứt bổn vạn lợi”, làm ăn phát đạt.
4. Cũng là sản phẩm chế biến từ nếp nhưng được xếp hàng “top của văn hoá ẩm thực” là thứ bánh về cơ bản là có một “nội dung” nhưng được tạo mẫu thành nhiều kiểu: bánh tét, bánh chưng, bánh ú – đang tồn tại trong nhiều tộc người ở xứ ta.
Bánh tét hình ống tròn dài khiến ta liên tưởng chúng được tạo mẫu từ cơm lam: đồ gạo đã vo/ gút sạch vào ống tre tươi, nhét nút, rồi đem đốt. Đây là cách nấu cơm cổ xưa nhất – khi tổ tiên chưa có nồi niêu, soong chảo. Cái khác của bánh tét, so với cơm lam, là vật liệu được gói bằng lá và bó lại bằng lạt, tức đưa cái đa thể về nhất thể, tích hợp nhiều yếu tố thành một tổng thể hàm chứa ý nghĩa biểu trưng cho sức mạnh nảy sinh do kết hợp, tiềm ẩn sự hồi sinh, nở tung ra vô vàn mầm sống. 


Mặt khác, nếp nhuốm màu xanh của lá gói (hay được nhuộm bằng nước cốt lá dứa, lá bồ ngót…): màu lục là màu của thế giới cỏ cây khẳng định lại mình, biểu hiện sự hồi sinh của mùa xuân đang về. Điều này cho thấy giả thiết “bánh tét” là “bánh Tết” không phải là vô lý. Điều đáng chú ý hơn thảy là hình tướng của đòn bánh tét tự nó được xác định là biểu trưng của sinh thực khí – cái linga, nói theo thuật ngữ …bác học.
Nói chung, bánh tét là lễ vật được tạo tác từ tín lý phồn thực của cư dân nông nghiệp trồng lúa. Rồi cũng như bánh dày, nó được gói vuông lại thành bánh chưng để biểu thị cho đất theo khuôn mẫu “trời tròn đất vuông” của nhà Nho và nó được gói theo dạng “bánh ít nóc chùa” để biểu thị cho phù đồ/ tháp Phật theo quan niệm nhà Phật. Nếp ơi, mai đây nếp còn được ngườii đời gói, bó, đóng khuôn thành nhiều hình khối đa dạng hơn nữa. Không tin thì cứ đợi đấy mà xem.

HUỲNH NGỌC TRẢNG
 12-1-12
http://www.viet-studies.info/HuynhNgocTrang_TatCaVeNep.htm

Đoàn Văn Vươn

“quả bom Đoàn Văn Vươn”







Huy Đức
Khi lực lượng cưỡng chế huyện Tiên Lãng đến khu đầm, anh Vươn cho nổ trái mìn tự tạo cài dưới một bình gas. Bình gas không nổ. Nhưng, trái mìn tự tạo vẫn gây tiếng vang như một quả bom, “quả bom Đoàn Văn Vươn”. 
Vụ nổ không chỉ gây rúng động nhân tâm mà còn giúp nhìn thấy căn nguyên các xung đột về đất đai. Quyền sở hữu nói là của “toàn dân”, trên thực tế, rất dễ rơi vào tay đám “cường hào mới”.
Sự Tùy Tiện Của Nhà Nước Huyện
Quyết định giao bổ sung 19,5 ha đất nuôi trồng thủy sản cho ông Đoàn Văn Vươn, ký ngày 9-4-1997, ghi thời hạn sử dụng là 14 năm tính từ ngày 14-10-1993. Theo báo Thanh Niên, ở thời điểm ấy, chính quyền huyện Tiên Lãng đã quy định thời hạn giao đất cho nhiều cá nhân, hộ gia đình rất tùy tiện: có người được giao 4 năm; có người 10 năm… Tuy thời điểm này chưa có các nghị định hướng dẫn chi tiết việc thi hành, nhưng Luật Đất đai năm 1993 đã nói rõ thời hạn giao đất nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình và cá nhân là 20 năm.
Theo Nghị định ngày 28-08-1999, nếu chính quyền Tiên Lãng không tùy tiện thì gia đình ông Vươn có quyền sử dụng phần đất này cho đến ngày 9-4-2017, tính từ ngày ông được huyện ký giao; tối thiểu cũng phải đến ngày 15-10-2013, nếu huyện “ăn gian” tính theo ngày Luật Đất đai có hiệu lực. Vấn đề là, cho dù đất được giao của gia đình ông Vươn hết hạn thì có phải là đương nhiên bị thu hồi để giao cho người khác như cách mà Tiên Lãng đã làm. Luật Đất đai 2003 quy định hạn điền cho loại đất nuôi trồng thủy sản là 3 hecta và với phần đất vượt hạn mức của ông Vươn có thể áp dụng Điều 35 để cho ông tiếp tục thuê như quy định đối với đất đai nông nghiệp.
Sở Hữu Toàn Dân
Tuy dịch từ Hiến pháp 1936 của Liên xô, Hiến pháp 1959 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chưa “quốc hữu hóa đất đai”. Cho dù, từ thập niên 1960s ở miền Bắc và từ cuối thập niên 1970s ở miền Nam, ruộng đất của nông dân đã bị buộc phải đưa vào tập đoàn, hợp tác xã, đất đai chỉ chính thức bị coi là thuộc “sở hữu toàn dân” kể từ Hiến pháp 1980.
Theo Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc: “Trong bản dự thảo Hiến pháp 1980 do Chủ tịch Trường Chinh trình Bộ Chính trị vẫn đề nghị duy trì đa hình thức sở hữu, trên cơ sở khuyến khích 5 thành phần kinh tế. Theo tôi biết thì Bộ Nông nghiệp và Ban Nông nghiệp Trung ương cũng không đồng ý quốc hữu hóa”. Nhưng, ngày 10-9-1980, trong một bài nói chuyện trước Ban chấp hành Trung ương có tựa đề, “Hiến pháp mới, Hiến pháp của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa”, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: “Nhân đây, tôi nhấn mạnh một điểm rất quan trọng trong Dự thảo Hiến pháp mới là chuyển toàn bộ đất đai thành sở hữu toàn dân. Đề ra như vậy hoàn toàn đúng với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Ông Nguyễn Đình Lộc, thành viên Ban thư ký của Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp 1980, thừa nhận: “Khi đó, uy tín Lê Duẩn bao trùm. Mặt khác, nhiều người cũng không hình dung được bản chất của sở hữu toàn dân là quốc hữu hóa”.
Tuy chấp nhận quốc hữu hóa đất đai nhưng theo ông Tôn Gia Huyên, lúc bấy giờ là Vụ phó vụ Quản lý Đất đai, ông Trường Chinh chủ trương giữ nguyên hiện trạng chứ không tịch thu ruộng đất như điều mà Lenin đã làm với kulax ở Nga sau năm 1917. Ông Trường Chinh yêu cầu ghi vào Điều 20 của Hiến pháp 1980: “Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật”.
Khi Hiến pháp 1992 bắt đầu được soạn thảo, theo ông Phan Văn Khải: “Thủ tướng Võ Văn Kiệt và tôi muốn sửa Hiến pháp theo hướng, trao quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân nhưng không thành công, chúng tôi đành phải tìm ra khái niệm, trao 5 quyền cho người sử dụng đất”. Trong Đại hội Đảng lần thứ VII, vòng I, nhiều nhà lãnh đạo địa phương đã lên tiếng ủng hộ “đa sở hữu hóa đất đai”. Nhưng, ở cấp cao, theo Trưởng ban Biên tập Hiến pháp 1992, ông Nguyễn Đình Lộc: “Không ai có đủ dũng cảm đứng lên đòi bỏ sở hữu toàn dân, vì đó là một vấn đề nhạy cảm, đụng đến chủ nghĩa xã hội. Khi chuẩn bị bài phát biểu về Hiến pháp cho Tổng Bí thư Đỗ Mười, tôi có trình bày, nhưng ông Đỗ Mười nghiêng về sở hữu toàn dân. Ông tin vào điều ông Lê Duẩn nói, sở hữu toàn dân là quan hệ sản xuất tiên tiến. Ông Đỗ Mười tin, trước sau gì ta cũng tới đó nên cứ để vậy”.
Các Nhà Làm Luật
Luật Đất đai 1993 đã trao cho người dân 5 quyền: sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê quyền sử dụng đất. 
Nhưng, so với Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993 có một điểm lùi. 
Hiến pháp ghi: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Trong khi Luật chỉ giao đất cho cá nhân và chỉ giao có thời hạn. 
Ông Tôn Gia Huyên giải thích: “Thời hạn giao đất thực chất chỉ là ý chí chính trị, là sợi chỉ cuối cùng để phân biệt giữa sở hữu tư nhân và sở hữu Nhà nước”. 
Là ranh giới để trấn an những người vẫn còn tin, Việt Nam tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nhưng, cái ranh giới tưởng có giá trị trấn an ấy đã lại rất mù mờ, mù mờ ngay trong đầu chính các nhà lập pháp. Tháng 7-1993, sau bốn buổi thảo luận trên Hội trường về Luật Đất đai, các đại biểu miền Nam đề nghị “giao đất lâu dài” như Hiến pháp 1992, trong khi các đại biểu miền Bắc và miền Trung lại tán thành giao đất có thời hạn; thậm chí có đại biểu còn đòi rút ngắn thời hạn giao đất xuống còn từ 10-15 năm. Trong tính toán của nhiều người, giao đất có thời hạn nghĩa là sau đó Nhà nước có thể lấy lại để giao cho người khác. Đại biểu Đặng Quốc Tiến, Bắc Thái, nói: “Đất ít, người đông, giao có thời hạn thì sẽ bảo đảm cho công tác điều chỉnh đất đai khi có biến động nhân khẩu”. Ông Nguyễn Bá Thanh, khi ấy là Chủ tịch Thành phố Đà Nẵng, đã rất hăng: “Đi nghĩa vụ quân sự 2 năm thì kêu dài, giao đất 20 năm thì bảo ngắn”.
Khi Luật Đất đai 1993 được đưa ra sửa đổi, Chính phủ đề nghị nâng thời hạn giao đất nông nghiệp từ 20 năm lên 50. Trong hai ngày 14 và 16-11-1998, nhiều đại biểu cũng đã phản ứng, thậm chí còn có phần gay gắt. Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp Đại Thắng, Đại Lộc (Quảng Nam) ông Trần Văn Mai nói: “Số nông dân chưa có đất đang trông chờ cho hết thời điểm 20 năm, bây giờ đã được 5 năm, còn 15 năm nữa họ sẽ được chia đất. Nếu bây giờ ta tăng thời hạn lên 50 năm sẽ là một sự hụt hẫng lớn của nhân dân với Đảng”. Theo cách hiểu của ông Trần Văn Mai: “Hoặc hết hạn 20 năm, hoặc người sử dụng đất chết, chúng ta sẽ thu hồi cấp lại cho những nhân khẩu phát sinh”. Nhưng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, ông Nguyễn Đức Hoan đã phát biểu: “Đừng lo cho 20 năm sau không có đất để phân phối lại. Bây giờ ở ta 80% dân số làm nông nghiệp. Không lẽ 20 năm sau cũng 80%?”. Chủ tịch Hội nông dân tỉnh Đồng Tháp ông Trương Minh Thái cho rằng: “Đừng nghĩ chúng ta chỉ có thể điều phối ruộng đất ở nông thôn bằng cách thu hồi rồi chia lại. Chúng ta đã giao cho người dân năm quyền, họ có thể để thừa kế, hoặc sang nhượng cho người chưa có đất”.
Đất Dân Quyền Quan
Năm quyền của người sử dụng đất sau đó được “pháp điển hóa” trong Bộ Luật Dân sự 1995 như các quyền dân sự. Quyền sở hữu, tuy “trá hình” này, vẫn là cơ sở pháp lý để hình thành thị trường địa ốc. Và trong giai đoạn đầu, nhờ tư vấn của World Bank, thị trường đã được điều hành bằng công cụ thuế. Cho dù do thuế suất quá cao, Luật Thuế Chuyển quyền sử dụng đất, ngay lúc ấy, đã khiến nhà đất đóng băng nhưng sử dụng công cụ thuế chính là thừa nhận giá trị các giao dịch dân sự liên quan tới đất đai. 
Tuy nhiên, chính quyền các cấp có vẻ như không mấy mặn mà với vai trò đứng ngoài. Các giao dịch, đặc biệt là mua bán đất đai đã bị hành chánh hóa: Nhà nước thu hồi đất của người bán rồi giao đất cho người mua. Thay vì thu thuế chuyển quyền, người mua phải đóng tiền sử dụng đất, đặt người có đất trong tình thế phải trả tiền hai lần.
Đỉnh cao của sai lầm về chính sách là Pháp lệnh 14-10-1994 và Nghị định 18, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh đó. Theo Nghị định 18, các tổ chức không còn được giao đất có đủ các quyền như Hiến pháp 1992. 
Những doanh nhân tiên phong như Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn, Trần Quang Vinh… đã vay hàng ngàn tỷ đồng để mua đất, sau Nghị định 18 phải chuyển những lô đất ấy thành đất thuê và chỉ được thế chấp ngân hàng theo giá trị số tiền thuê đã trả cho nhà nước. Khi bị bắt, cũng nhân danh “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, Hội đồng thẩm định do Nhà nước lập ra đã tính, có những mét vuông đất, giá không bằng que kem. 
Đất biệt thự đường Trần Phú, Vũng Tàu, mà chỉ được Tòa công nhận giá ba-trăm-đồng/m2. Khoản chênh lệch giữa giá thực mua và giá của Tòa được coi là thất thoát để buộc tội các doanh nhân này lừa đảo.
Trong tù, có lúc Minh Phụng nói với Luật sư Nguyễn Minh Tâm: “Xin luật sư hãy nhìn vào mắt em để xem em có phải là người lừa đảo?”. Ngày 12-7-1999, khi nghe Luật sư Tâm nhắc lại câu này Minh Phụng đã bật khóc trước Tòa. 
Cũng đầu tư vào đất đai cùng một phương thức tuy khác quy mô, nhưng, thái độ của Nhà nước với giá đất đã biến ông Lê Văn Kiểm, Huy Hoàng, thành anh hùng và tử hình ông Tăng Minh Phụng.

Danh Chính Ngôn Thuận
Đầu tháng 12-2011, Chính quyền Đà Nẵng nơi ông Nguyễn Bá Thanh là Bí thư kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân đã đề nghị cho tư nhân sở hữu đất đai. Sau 20 năm lãnh đạo một địa phương, có lẽ ông Nguyễn Bá Thanh nhìn thấy, quyền sở hữu trá hình đã đặt đất đai của người dân vào tay chính quyền cấp huyện với quá nhiều rủi ro. Điều 38, Luật Đất đai 2003, nói: Nhà nước chỉ thu hồi đất khi “cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế” (khoản 7). Nhưng, tại khoản 10 cũng của Điều 38, Luật lại mở ra khả năng: Nhà nước thu hồi những phần đất “không được gia hạn khi hết thời hạn”. Chính quyền cấp huyện được Luật giao quyền giao đất và thu hồi đất của cá nhân và hộ gia đình. Nếu chính quyền Tiên Lãng áp dụng điều 67, tiếp tục giao đất cho ông Vươn, thì đã không có gì xảy ra, nhưng họ đã đẩy ông vào khoản 10, Điều 38: Thu hồi đất vì “không được gia hạn” khi thời hạn giao đất của ông đã hết.
Sau “trái bom Đoàn Văn Vươn”, chúng ta biết, khu đất đầm mà anh có không phải là đất được nhà nước giao mà là đất do gia đình anh phải lấn biển, khai hoang. Suốt 5 năm “trầm mình dưới nước từ mờ sáng tới tận tối khuya”, biết bao lần bị bão biển cuốn phăng để đắp được một bờ kè dài hai cây số, tạo nên bãi bồi màu mỡ và một khu đầm nuôi tôm cá rộng gần 40 hecta. Cũng nơi đây, anh Vươn mất một đứa con gái 8 tuổi vì khi cha mẹ mải làm con gái của anh đã rơi xuống cống. Đừng nói chuyện thu hồi, lẽ ra chính quyền Tiên Lãng phải xấu hổ khi ký quyết định giao cho anh Vươn phần đất của chính anh, phần đất mà anh Vươn đã phải gắn bó suốt 20 năm, đã đổ cả mồ hôi và máu.
Nếu như, quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, thì cách khai hoang, lấn biển của gia đình anh Vươn phải được coi như một hình thức thụ đắc ruộng đất mà từ xa xưa cha ông ta đã áp dụng cho người dân để ngày nay Việt Nam liền một dải từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau. Nếu như quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, Chính quyền không thể hành chính hóa các giao dịch dân sự liên quan đến đất đai. Các đại gia không thể thậm thụt với đám cường hào thu hồi những mảnh đất của dân mà họ mua không được.
Nhưng đó là câu chuyện có thể được thảo luận trong quá trình sửa đổi Hiến pháp. Người dân đang dõi theo thái độ của Chính phủ, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước trường hợp Đoàn Văn Vươn.
Theo cách giải thích của Giám đốc Công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca thì đất ông Vươn nằm trong vùng quy hoạch xây dựng một sân bay quốc tế. Nếu thu hồi bây giờ hoặc chuyển thành thuê thì mai này nhà nước không phải bồi thường cho ông Vươn. Đỗ Hữu Ca nói: “Với công trình đặc biệt quan trọng như thế thì đền bù sẽ rất lớn. Ông Vươn cố giữ lại như thế để lấy đền bù khi dự án được triển khai”. Có thể Đỗ Hữu Ca là một công chức mẫn cán chứ không phải là “cụ Bá”. Nhưng, lo quyền lợi của nhà nước sao không tính quyền lợi của dân, không tính máu và mồ hôi 20 năm của gia đình anh Vươn. Chắc Đỗ Hữu Ca không nghĩ, anh em, bà con ông và chỉ vài năm nữa chính ông cũng là dân.

Đỗ Hữu Ca có lẽ không nhớ chuyện anh rể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sáng 17-4-2009, bị “áp giải ra khỏi hiện trường” khi chính quyền huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương tiến hành cưỡng chế thu hồi hơn 185 hecta cao su của ông để làm khu công nghiệp. Ông đã không đồng ý cho giải tỏa, mặc dù, 185 hecta cao su này ông có được nhàn hạ hơn so với công sức khai hoang, lấn sóng của anh Vươn và mức đền bù thì cao hơn gấp 20 lần giá vốn. Nhắc lại câu chuyện này để thấy, bất luận là ai, khi phải đối diện với tài sản của mình thì mới thấy của đau, con xót.
Dù sao thì hành động chống người thi hành công vụ của anh Đoàn Văn Vươn cũng phải được đưa ra xét xử. 
Nhưng, thông điệp mà các địa phương chờ đợi không phải là những năm tù cho anh mà là thái độ của nhà nước với chính quyền Tiên Lãng. Từ năm 2013, ruộng đất của nông dân bắt đầu lần lượt hết hạn giao đất. 
Nếu như quyết định của Chủ tịch Tiên Lãng Lê Văn Hiền không bị coi là sai, hơn 500 chủ tịch huyện trên cả nước có thể noi gương thu hồi đất đáo hạn của nông dân để… giao, thì không biết điều gì sẽ xảy ra. 
Đừng chậm trễ và đừng để “quả bom Đoàn Văn Vươn” lại nổ.