..công lý bị treo cổ

 Gió Bấc/ RFA


Bản án vụ chuyến bay giải cứu: Phạm Trung Kiên thoát chết nhưng công lý bị treo cổ

Vụ án "chuyến bay giải cứu", cuối cùng tòa cũng tuyên án theo hướng mà dư luận đã dự đoán, nghi ngại. Phạm Trung Kiên thoát chết, so với mức đề nghị của Viện Kiểm Sát, một số bị cáo bị tuyên phạt nặng hơn, có đến bốn án chung thân.

Nhưng bản án đầy rẫy bất minh, né tránh vấn đề cốt lõi là quyền lợi của những khách hàng bị hút máu.

Công lý bị treo cổ, kẻ thủ ác chính là Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng.




Dù biết trước nhưng người dân vẫn phải theo dõi vở đại hài kịch “xử án vụ chuyến bay giải cứu" đến phiên cuối cùng, để rồi sự phẫn nộ, khinh bỉ những con thú đội lốt người nhân thảm họa đại dịch, sử dụng quyền lực, hút máu dân, sang những người quyền cao chức trọng “nhân danh nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.

Bản án thật sự bùng nổ sự căm phẫn trong dư luận.

Không thể quy kết đó là những "thế lực thù địch" lợi dụng phiên tòa để bôi xấu chế độ. Đây là tiếng nói của những công dân có trách nhiệm, có liên quan đến đại dịch và nền tư pháp.

Đồng tiền nhuộm máu dân

Bác sĩ Võ Xuân Sơn, một “hiệp sĩ áo trắng” trong thời đại dịch vừa triển khai chương trình hỗ trợ oxy miễn phí cho người dân, vừa trực tiếp đi cứu chữa bệnh ở các khu cách ly, vừa liên tục đăng ý kiến phản biện với các biện pháp chống dịch hình thức, cực đoan, giả dối hành dân như ngoáy mũi, cách ly tập trung, … đã bày tỏ sự bất bình cao độ với bản án. Bác sĩ Sơn bày tỏ bất bình trên Facebook cá nhân:

“Lẽ ra, sẽ phải có rất nhiều án tử hình. Lẽ ra, sẽ phải có thêm nhiều người đứng trước vành móng ngựa. Lẽ ra, những kẻ đề bạt, theo dõi, quản lý số cán bộ này phải lãnh trách nhiệm về những việc làm của những kẻ này… Nhưng mọi chuyện chỉ dừng lại ở những kẻ được đưa ra xử mà thôi. Những đồng tiền nhuốm máu người dân được sử dụng để 'khắc phục hậu quả', để giảm án cho bọn người vô nhân tính này.
Nói chung, thì còn nhiều cái để các bạn có thể bất bình lắm, hơn là việc đòi hỏi 'gái điếm phải còn trinh'.
Nhưng vụ án này cho thấy một vấn đề khác. Đó là, chẳng mấy kẻ sợ cái lò đang cháy rừng rực cả. Cứ có cơ hội là chúng đớp, giống như bầy cá dồ, mới lấp ló là đã nhảy lên đớp. Ngay cả khi đám cá dồ này bị truy tố, thì lại có một đám cá dồ khác ngửi thấy mùi, và 'đớp' để chạy án. Chúng chẳng sợ bị bắt, chẳng sợ bị lộ, chẳng sợ cái lò đốt cả củi tươi của bác tổng” (1).

Tâm trạng của bác sĩ Võ Xuân Sơn cũng là ưu tư chung của nhiều người về phiên tòa và bản án sơ thẩm này. Vấn đề không chỉ là án nặng, án nhẹ với người này hay người khác, mà điều đáng thất vọng là qua phiên tòa này, một lần nữa cho thấy trong thể chế Việt Nam, công lý không được thực thi, các cơ quan pháp luật không răn dạy người ta ăn ngay làm phải, mà ngược lại.

Hình phạt "nhân văn", không để có thêm một Xiêng Phênh!
Án tử hình là hình phạt nghiêm khắc, có phần man rợ mà nhiều nước đã bãi bỏ. Không ai muốn ông Phạm Trung Kiên phải bị tử hình, nhưng hành vi nhận hộ của Phạm Trung Kiên quá sức tàn nhẫn, mức hối lộ khủng khiếp, lên tới hơn 41 tỉ đồng. Chỉ là người thư ký, trung chuyển hồ sơ xin cấp chuyến bay mà mỗi mình Kiên đã cưỡng ép các doanh nghiệp chi số tiền khổng lồ như vậy.






Cấp trên của Kiên, thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên, người có thẩm quyền ký duyệt lại "trong veo", không tơ hào một xu nào, thật đáng kính phục. Những sự việc nhận tội và nộp tiền 42 tỷ đồng khắc phục hậu quả của Kiên trơn tuột, gọn ghẽ đến mức khó tin.

Dư luận chờ đợi bản án tử vì nhớ tới vụ lời khai trước pháp trường của tử tội Xiêng Phênh đã chỉ ra “ông trùm” ma túy, cựu đại úy Vũ Xuân Trường. Nhưng mong muốn như vậy thôi, vì ai cũng biết Đỗ Xuân Tuyên quê ở Hưng Yên, đồng hương với Bộ trưởng và hai Thứ trưởng Bộ Công An, nên mãi mãi sẽ là "người trong sạch".
Nhà báo Mai Bá Kiếm, cựu Thư ký Tòa soạn báo Phụ Nữ TP.HCM, đã bình luận rất dí dỏm, nhẹ nhàng mà sắc sảo: “Bị VKS cáo buộc đã nhận hối lộ 42,6 tỷ đồng và đề nghị mức án tử hình! Nhưng, gia đình Phạm Trung Kiên đã nộp 42,2 tỷ đồng khắc phục hậu quả, nên Tòa tuyên Phạm Trung Kiên mức án chung thân. Nếu Kiên không kháng cáo án sơ thẩm, coi như manh mối "trùm cuối" không còn. Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên không phải là người thường, mà thành người cõi trên, vì có thư ký Phạm Trung Kiên nhận hối lộ 42,6 tỷ đồng, mà ông vẫn giữ mình trong sạch vững mạnh, nên đạo đức sáng ngời, công đức vô lượng!” (2)

Lê Lai ngày xưa phải chết để cứu Lê Lợi. Ngày nay thì không cần. Đã có những Lê khác đứng sau dàn xếp.

Tăng án chung thân vì hát cương sai kịch bản!
Ở chiều ngược lại, cái án chung thân của cựu trung tá Hoàng Văn Hưng càng làm dư luận bức xúc, bất mãn. Không ai tin Hưng bị oan, không ai than phiền bản án nặng, nhẹ. Thái độ, bản lĩnh điềm tĩnh tự tin, sắc sảo của Hưng trước phiên tòa càng thuyết phục công luận, Hưng là tay lão làng trong lĩnh vực điều tra và không thể nào vô tội. Nhưng điều dư luận bất bình là cung cách buộc tội của cơ quan tố tụng. Chỉ dựa theo niềm tin nội tâm và suy đoán có tội mà thiếu chứng cứ vững chắc.

Nhà báo Nguyen Yen, nguyên Thư Ký Tòa Soạn mãng Nội Chính báo Lao Động đã có ý kiến nhẹ nhàng lửng lơ: “Cãi phăng phăng tại tòa hẳn cũng là một lựa chọn 'được cân nhắc' khá kỹ của một điều tra viên dày dạn kinh nghiệm như Hưng. Cũng hơi thắc mắc, sao Hưng không đề nghị thực nghiệm 4 chai rượu vang đặt trong chiếc cặp tài liệu. Giá như nói rằng, trong quá trình điều tra, bị cáo luôn tôn trọng nguyên tắc suy đoán vô tội và dẫn chứng bằng số liệu thì rất thuyết phục... rằng là vô tội. Án chung thân hẳn là Hưng không nghĩ đến”.

Ý kiến này thu hút nhiều bình luận, trong đó nick Ky Mai đã thẳng thắn bày tỏ: “Không phục nhất là cái án chung thân dành cho Hưng, thực sự không dựa trên các chứng cứ mạnh mẽ mà gần như chỉ là sự trả đũa của toà án với một bị cáo không chịu nhận tội.
Bị cáo có quyền bảo vệ mình và không nhận tội trong khi trách nhiệm chứng minh bị cáo phạm tội là của bên công tố (chứ cũng không phải của thẩm phán). Việc kết án nặng họ với lý do 'ngoan cố, không ăn năn hối cải', mang tính chủ quan nặng nề và có xu hướng đẩy nhiều người vô tội (ở đây không nói tới trường hợp của Hưng) phải nhận tội để tránh bị xử nặng hơn (và nhiều án oan cũng từ đó mà ra). Các kết quả về phía toà án sẽ 'đẹp' hơn (vì họ xử được nhiều án hơn, không có án đọng, án tồn…) nhưng cán cân công lý đã bị đặt nặng quá ở một bên từ trước, không còn là cái cân của một vị nữ thần Công lý bịt mắt” (3).

Đó có thể xem là ý kiến cảm tính, chủ quan của dư luận xã hôi. Nhưng với giới luật sư, những người am hiểu pháp luật thì mức độ bức xúc với bản án càng cao hơn và có căn cứ pháp lý, có lập luận phản bác rất vững vàng.

Luật sư Trịnh Đình Dũng có bài viết trên Facebook với tưa đề:
"Cựu Trung tá Hoàng Văn Hưng bị buộc 'nhận 450 ngàn USD', lãnh án chung thân: Nền tố tụng hình sự như bị 'đóng đinh' thêm 'Tiền lệ suy đoán có tội'."
Bài viết này có 268 like, 60 bình luận và 18 lượt chia sẻ cho thấy sự quan tâm, đồng tình của xã hội rất cao.
Điểm qua tình tiết vụ án, Luật sư Trịnh Đình Dũng cho rằng: “ ….Về niềm tin nội tâm, mọi người đều cho rằng bên trong không thể chứa 04 chai rượu vang mà phải là mấy xấp USD. Niềm tin như thế là rất xác đáng, đúng với sự việc.
Nhưng dù sao thì cơ quan công tố không đưa ra chứng cứ có tính quyết định rõ trong vali chứa 450 ngàn USD, kiểu như ảnh chụp được ông Hưng mở vali lấy xấp USD.
Phía công tố lập luận theo hướng “xâu chuỗi các sự kiện” và “tin bên trong có chứa 450 ngàn USD”.
Các sự kiện xâu chuỗi như: Thời gian nhiều lần gặp gỡ, nhờ vả, trao đổi, hướng dẫn, nhiều lần gặp tại, không ai biếu rượu vang mà mua vali samsonite đắt tiền để chứa, một trưởng phòng nghiệp vụ điều tra viên cao cấp không thể nhân ái đến mức nhiều lần gặp gỡ hướng dẫn cho bị cáo mà chính mình đang phụ trách điều tra chỉ để nhận 04 chai rượu vang, khi nhận ra đường đứng đợi nôn nóng…
Toà đã đồng ý với lập luận của phía công tố và buộc Cựu Trung tá Hoàng Văn Hưng có “nhận 450 ngàn USD”.


Suy đoán có tội
Luật sư Trịnh Đình Dũng nhấn mạnh đến nguyên tắc pháp lý quan trọng là “Pháp luật luôn 'nhắc nhỡ' bằng các quy định để người tiến hành tố tụng, đặc biệt là các thẩm phán, không được suy đoán có tội, mà phải suy đoán vô tội.
Bởi suy đoán có tội có khi xử oan người vô tội. Xin thử ví dụ trong trường hợp (nhưng khó tin trong thực tế nó xảy ra), nếu ông Tuấn lúc đầu thỏa thuận chuyển ông Hưng 450 ngàn USD nhưng do lòng tham, nên đã tráo vào đó 04 chai rượu vang thì sao? Nếu nó xảy ra thật thì có oan cho ông Hưng không? Ví dụ như vậy chỉ để nhằm nói rõ hơn tính nguy hại của 'Suy đoán có tội'…
Cựu Trung tá Hoàng Văn Hưng lãnh án chung thân, thực ra cũng không ai thương tiếc gì, nhưng những người làm công tác liên quan đến tố tụng hình sự cảm thấy như bị dội một gáo nước lạnh vào bộ mặt tố tụng hình sự nước nhà” (4).
Hơn thế nữa, trong trường hợp này cả Viện, Tòa đều bỏ lửng số phận pháp lý của khoản tiền chênh lệch 1,8 triệu USD.
Suốt phần xét hỏi, Hưng nhiều lần thắc mắc, đề nghị Viện kiểm sát làm rõ mâu thuẫn “về số tiền ông Tuấn đưa cho Hưng là hơn 2,65 triệu USD, trong khi Viện kiểm sát chỉ cáo buộc Hưng lừa đảo chiếm đoạt 800.000 USD. Vậy hơn 1,8 triệu USD còn lại đang ở đâu?”
"Tôi đề nghị Viện kiểm sát phải chứng minh số tiền 1,8 triệu USD đã đi đâu về đâu, liệu có phải ông Tuấn cũng lừa đảo không?", bị cáo Hưng nói và đặt dấu hỏi rằng, nếu ông Tuấn đã nộp lại 1,8 triệu USD thì "có phải cũng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?". (5)
Bản án đã chấp nhận cho ông Tuấn nộp khoản tiền khổng lồ này mà không xem xét việc ông Tuấn đã dùng nó vào việc gì?
Hợp pháp hóa tội ác hút máu dân trong mùa dịch
Nhưng điều đáng nói nhất là Hội Đồng Xét Xử và cả Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã dân sự hóa, hợp pháp hóa cho sai phạm pháp lý khổng lồ là việc lợi dụng dịch bệnh và danh nghĩa chuyến bay giải cứu để cưỡng đoạt tài sản người Việt ở nước ngoài bằng giá dịch vụ cao cắt cổ.
Tiền tham nhũng, hối lộ mà tòa thu hồi từ các bị cáo không phải từ trên trời rơi xuống, cũng không phải từ của ông của cha các bị cáo để lại. Tất cả đều được tính vào giá dịch vụ “giải cứu”. Thế nhưng, bản án nêu, với quyền lợi của khách hàng đã mua vé của các doanh nghiệp tổ chức chuyến bay combo, “hồ sơ vụ án không có tài liệu; cũng không có thông tin về chi phí của các khách hàng đã mua. Chẳng hạn, chi phí đưa công dân về nước bao gồm vé máy bay, chi phí cách ly y tế và các chi phí hợp lý khác của doanh nghiệp, chi phí cho các đại lý bán vé và các khâu trung gian khác. Do đó, HĐXX nói không có cơ sở xem xét, giải quyết tại vụ án này.
Tòa dành cho các công dân đã mua vé quyền yêu cầu doanh nghiệp giải quyết quyền lợi cho mình theo quy định pháp luật” (6).
Diễn nôm lại, tuyên bố trên có thể nói gọn lại là “sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túí".
Hành vi nâng giá dịch vụ người dân rên siết, ai cũng biết, nhưng công an không khởi tố, điều tra thì lấy đâu ra tài liệu hồ sơ.
Theo quy định tố tụng, dù chưa đủ chứng cứ, nhưng phát hiện dấu hiệu tội phạm, Hội Đồng Xét Xử vẫn có quyền ra quyết định khởi tố tại tòa. Thế nhưng trước tội ác tày trời, Tòa không khởi tố mà nói văn vẻ dành cho dân quyền yêu cầu giải quyết quyền lợi là cách phủi trách nhiệm, a tòng với tội ác.

Ban Chỉ Đạo là tổng đạo diễn
Đại án này do Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng theo dõi chỉ đạo, nên tất cả các động thái phủi tay của Công An, ViệnKiểm Sát, Tòa Án, đều nằm trong tầm kiểm soát của Ban.
Như vậy, sau khi năm Bộ kết nhau tống tiền doanh nghiệp thì lần này, đến lượt Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng công khai cho phép móc túi dân.
Nhiều ngày trước khi tòa tuyên án, Luật sư Đặng Bá Kỹ đã dự đoán kết quả này và có bài viết: “ĐÒI LẠI TIỀN CHÊNH LỆCH TRONG VỤ 'CHUYẾN BAY GIẢI CỨU': ĐƯỜNG XA VẠN DẶM!”

Những người dân đã bỏ tiền ra để được “giải cứu” thông qua việc xác lập hợp đồng dân sự với doanh nghiệp. Vào thời điểm các bên xác lập hợp đồng, thì giao dịch này không bị khống chế về mức trần giá cả như các mặt hàng thuộc diện bình ổn giá khác do Nhà nước kiểm soát như xăng, điện. Nên giả định rằng, nếu không xảy ra vụ án hình sự nêu trên, thì giao dịch dân sự mà các bên đã xác lập và thực hiện hoàn thành, coi như xong.
Tuy nhiên, vụ án hình sự xảy ra, với những khoản tiền chung chi, với những lời khai của các bị cáo – hoàn toàn có căn cứ để khẳng định rằng: Đã có việc đẩy giá vé lên cao một cách bất thường, nhằm để doanh nghiệp có những khoản tiền chung chi. Hay nói cách khác, là các bị cáo đã có hành vi biến tài sản hợp pháp của người dân trở thành “Công cụ phương tiện phạm tội” trong vụ án hình sự đang xét xử nêu trên.
Hiểu na ná như: A trộm xe của B, sau đó dùng xe này đi cướp giật tài sản của C, thì A phạm cùng lúc hai tội trộm cắp và cướp giật tài sản, riêng chiếc xe là công cụ phương tiện phạm tội, nhưng vì là xe của B, B là bị hại trong vụ án trộm cắp, nên phải trả lại xe cho B (Giả dụ lúc đầu xe là của A thì xe này sẽ bị tịch thu)” (7).
Còn nhiều và nhiều vấn đề trong phiên tòa này nhưng bao nhiêu đó cũng đủ cho thấy bản án đã treo cổ công lý. Nhưng Hội Đồng Xét Xử của màn kịch này cũng chỉ là một nhóm diễn viên được phân vai. Kẻ thủ ác treo cổ công lý chính là Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng, đạo diễn đứng sau sân khấu.

________
Chú thích:

LŨ KỀN KỀN

 

Chiều 28-7-2023 , hội đồng xét xử đã tuyên các mức án đối với 54 bị cáo trong vụ án chuyến bay giải cứu. 4 bị cáo bị tuyên mức án chung thân.







Thử thách nền dân chủ Israel

Thử thách nền dân chủ Israel


****

Ngô Nhân Dụng



Từ khi lập quốc, Israel đã chọn làm quốc gia không đề cao một tôn giáo nào. Nhưng trong vòng một thế hệ qua các phái bảo thủ muốn đề cao Do Thái Giáo ngày càng mạnh. Cuộc tranh chấp đang diễn ra tại Israel là biểu hiện của cuộc đương đầu giữa hai quan niệm đối nghịch này.


Ba quốc gia nhỏ được nhiều người ngưỡng mộ. 

Thụy Sĩ tập hợp mấy sắc dân, sống hòa bình, nghệ thuật làm đồng hồ và hệ thống ngân hàng dẫn đầu thế giới. 

Singapore kinh tế phồn thịnh, dân kỷ luật, sạch sẽ, trọng chữ Tín, như một Thụy Sĩ ở châu Á. 

Và Israel bé hạt tiêu, 9 triệu dân; từ khi lập quốc, gần 3 phần tư thế kỷ, đã phải đương cự với mấy trăm triệu người Á Rập và các giáo sĩ Iran; luôn luôn sống trong tình trạng chiến tranh nhưng vẫn duy trì chế độ tự do dân chủ.

....

Hiện nay, nền Dân Chủ của Israel đang bị thử thách. Từ đầu năm nay, dân đi biểu tình mỗi ngày hàng chục ngàn người, phản đối Thủ tướng Benjamin Netanyahu đang làm suy yếu nền tảng của chế độ dân chủ.

Ông Netanyahu, thủ lãnh đảng Likud, phải liên hiệp với các đảng khác trong quốc hội (Knesset) mới đủ phiếu lập chính phủ. Ông đã hứa hẹn với mấy đảng cực hữu, nhất là đảng Do Thái Giáo Chính thống Cực đoan (ultra-Orthodox), muốn giảm bớt quyền hạn của ngành tư pháp. Các nhóm này bất mãn vì Tối cao Pháp viện đã ngăn cản những chính sách quá khích, đề cao chủng tộc và tôn giáo Do Thái mà họ chủ trương.

Tòa án Tối cao đã cấm không cho sáp nhập vào lãnh thổ Israel một số vùng đất của người Á Rập Palestine, bị chiếm đóng sau khi quân Israel thắng trận năm 1967. Tòa không cho phép dân Israel được tự do chiếm đất của người Palestine để lập trại định cư; cũng như không cho dân Israel chiếm đất của dân Á Rập trong thành phố Jerusalem, thánh địa của Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo.

Chính phủ liên hiệp của ông Netanyahu đã soạn các dự thảo luật nhắm vào hai điều: Một dự luật cho quốc hội có thể xóa bỏ các quyết định của Tối cao Pháp viện, chỉ cần trên 50% số phiếu. Một dự luật khác, dành cho quốc hội quyền tối hậu khi bổ nhiệm các thẩm phán. Những dự luật này sẽ thay đổi cán cân quyền lực giữa Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp.

.........

Ai cũng biết rằng chế độ Dân Chủ dựa trên quy tắc “Tam quyền phân lập,” ba ngành độc lập, có địa vị ngang nhau, và kiểm soát lẫn nhau. 

Nếu dự án của chính phủ Netanyahu được thực hiện, Lập pháp và Hành pháp có thể lấn quyền ngành Tư pháp. Trong thể chế Đại nghị, các đảng chiếm đa số trong quốc hội lập chính phủ, họ nắm quyền Lập pháp và cũng chiếm quyền Hành pháp; hai ngành không còn phân biệt nữa. 
Chỉ còn ngành Tư pháp để đóng vai cân bằng quyền lực. Nếu quốc hội có quyền xóa bỏ các phán quyết của Tối cao Pháp viện, thì cả ba quyền căn bản được thu vào một mối.

Đó là lý do hàng trăm ngàn dân Israel đã lần lượt đi biểu tình phản đối chính phủ Netanyahu.


Cảnh sát đụng độ người biểu tình chống ông Benjamin Netanyahu tại Jerusalem, 24 tháng Bảy, 2023.

...........

Theo hiến pháp Mỹ, các quyền hành đều bị kiểm soát và giới hạn. 

Hai viện quốc hội hoạt động độc lập đối với nhau và cả hai độc lập với hành pháp. Các Thẩm phán Liên bang và Tối cao Pháp viện do Chính phủ đề cử và phải được Thượng viện chuẩn y. Thay đổi hiến pháp Mỹ rất khó, cần được 2 phần 3 đại biểu mỗi viện đồng ý, sau đó lại cần 3 phần tư các tiểu bang chấp nhận.

Từ khi ra đời, Israel không lập hiến pháp; thay thế bằng một đạo Luật Căn Bản. Chỉ cần đa số quá bán, quốc hội cũng có thể thay đổi Luật Căn Bản. 

Vì thế, quốc hội là nơi tập trung mọi quyền hành. 

Quốc hội có thể sử dụng quyền hành theo các quy tắc dân chủ, thí dụ đa số thắng thiểu số. 

Nhưng trong bất cứ chế độ tự do dân chủ nào, cũng có những giới hạn không cho phép phe đa số được vượt qua. 

Thí dụ, không ai được vi phạm nhân quyền, quyền sống xứng đáng làm người. Vì thế, sau khi có bản hiến pháp, nước Mỹ đã viết thêm Tu chính án số 1, nêu rõ các quyền tự do mà quốc hội không được xóa bỏ. 

Nước Canada, sau khi chuyển về nước bản hiến pháp do quốc hội Anh soạn, đã phải làm thêm một đạo luật bảo vệ Nhân quyền.

.....

Tối cao Pháp viện Israel đã tự cho mình đóng vai bảo vệ quyền tự do của các sắc dân thiểu số, thí dụ như người Palestine gốc Á Rập, chiếm một phần 5 dân số, các người gốc Do Thái từ các nước Châu Phi xin về tị nạn, hoặc những người không phải công dân Israel.

Khi ông Netanyahu đưa ra các dự luật hạn chế quyền hạn của ngành Tư pháp và Tối cao Pháp viện, nhiều người lo rằng sẽ không còn định chế nào đóng vai kiểm soát và hạn chế quyền hành của quốc hội và chính phủ nữa. 

Luật sư đoàn Israel phản đối. 

Các bác sĩ đình công tượng trưng trong một ngày. 

Các nghiệp đoàn dọa sẽ đình công. 

Giới kinh doanh dọa sẽ đi đầu tư chỗ khác.

 Đồng shekel, tiền Israel, đã mất giá 10% so với đô la Mỹ. 

Lực lượng chống đối đáng kể nhất là các quân nhân trừ bị.

Quân đội Israel hùng mạnh, chiến đấu giỏi nhất vùng Trung Đông, có 169,000 quân đội chính quy và 465,000 binh sĩ trừ bị. Quân trừ bị được gọi vào tập luyện mỗi năm một lần, từ một ngày đến cả tháng. Tất cả các thanh niên đều nhập ngũ, trừ những người thuộc Do Thái Giáo Chính thống Cực đoan (ultra-Orthodox) được miễn dịch hoàn toàn. Nhiều binh sĩ trừ bị đã gửi thư cho cấp chỉ huy, báo trước rằng họ sẽ không trình diện khi được gọi.


Trước ngày quốc hội biểu quyết dự luật của chính phủ Netanyahu, nhiều cựu sĩ quan và chỉ huy các cơ quan an ninh, cựu giám đốc Mossad, cơ quan tình báo, và Shin Bet, an ninh quốc nội, đã lên tiếng ủng hộ các quân nhân trừ bị phản kháng. Họ viết thư cảnh cáo ông thủ tướng rằng nền móng đoàn kết trong xã hội sẽ hao mòn, giảm bớt sức mạnh của quân đội.


Trước những cuộc biểu tình phản đối mạnh mẽ, ông Netanyahu đã bầy mưu đối phó: Ngày Thứ Hai vừa qua, ông cho quốc hội, Knesset, biểu quyết một đạo luật giản dị và nhẹ nhàng, chỉ xóa bỏ một phần quyền can thiệp của ngành tư pháp: Tối cao Pháp viện sẽ không có quyền bác bỏ một chính sách của chính phủ chỉ vì lý do chính sách đó “không phải chăng” (unreasonable trong tiếng Anh). 

Đạo luật được thông qua với tỷ số 64 phiếu thuận, không phiếu chống, vì tất cả 56 đại biểu đối lập phản kháng bỏ phòng họp ra ngoài.

Nhưng thế nào là “không phải chăng?” 

Không ai có thể quyết đoán. 

Phe chính phủ nói rằng với ba chữ đó, Tối cao Pháp viện có thể lạm dụng quyền hành, bác bỏ các quyết định của những đại biểu do dân chúng bầu lên. 

Phe đối lập vạch ra rằng xưa nay Tòa Tối Cao chỉ áp dụng tiêu chuẩn “không phải chăng” trong một số trường hợp hãn hữu, như khi chính phủ quyết định những điều quá đáng, hoặc tuyển mộ phe đảng và sa thải các công chức bất đồng ý kiến. 

Nếu xóa bỏ tiêu chuẩn đó, các đảng cầm quyền có thể dễ tham nhũng, lộng quyền. 

Hiện nay, một người đang bị ông thủ tướng nhắm cách chức là bà bộ trưởng Tư pháp, bà đã cử các thẩm phán điều tra và xét xử ông Netanyahu về các hành vi “tham nhũng” trong thời gian làm thủ tướng trước đây. Ông là người nắm giữ chức vụ này nhiều lần, thời gian tổng cộng dài hơn tất cả các vị thủ tướng trong lịch sử Israel.

Phe đối lập cũng nêu lên các hành động lạm dụng quyền hành khác của chính phủ Netanyahu. Một thí dụ là trợ cấp quá nhiều cho các trường học theo phái Do Thái Giáo Chính thống. Những trường này chỉ chú trọng việc dạy Kinh Thánh, không lo đến những môn học cơ bản như Khoa học, Toán học, ngoại ngữ. 

Một thí dụ khác là ông Itamar Ben-Gvir, chính trị gia thuộc một đảng cực hữu quá khích được trao quyền chỉ huy lực lượng cảnh sát, ông đã đàn áp nhiều người Palestine, bênh vực những người Do Thái quá khích chiếm đất xây nhà.

Những hành động lạm quyền này chỉ có thể bị ngăn chặn nếu ngành tư pháp nước Israel còn giữ được vị thế độc lập. 

Khi vai trò của tòa án bị quốc hội khuynh loát, chính phủ Netanyahu có thể thi hành nhiều chính sách khác theo các đảng cực hữu và các giáo phái thủ cựu. Họ sẽ mở rộng các khu định cư của người gốc Do Thái trên vùng đất chiếm của người Á Rập. Người Do Thái Giáo sẽ được ưu tiên, nhiều nhóm thiểu số sẽ bị bỏ rơi. Các luật lệ về hôn nhân, li dị, bình đẳng nam nữ, giới tính, sẽ thay đổi theo quan điểm tôn giáo.


Từ khi lập quốc, Israel đã chọn làm một quốc gia không đề cao một tôn giáo nào. Nhưng trong vòng một thế hệ vừa qua các phái bảo thủ muốn đề cao Do Thái Giáo ngày càng mạnh. Cuộc tranh chấp đang diễn ra tại Israel, trong quốc hội và trên đường phố, là biểu hiện của cuộc đương đầu giữa hai quan niệm đối nghịch này.


Những cuộc nghiên cứu dư luận gần đây cho thấy nếu tổ chức bầu cử bây giờ, đảng Likud sẽ thua, từ 32 xuống 28 ghế; liên minh của chính phủ trong Knesset sẽ giảm từ 64 xuống 53 hoặc 54 ghế, trong tổng số 120 đại biểu.

Trong cuộc bầu cử sắp tới, dân Israel sẽ quyết định còn giữ bản chất quốc gia như khi mới thành lập hay không.

................./.

https://d2k5by73l7lynl.cloudfront.net/a/thu-thach-nen-dan-chu-israel-/7200421.html?utm_medium=social-media&utm_campaign=mirror&utm_source=facebook&fbclid=IwAR17Qj14nNisXdkt_PUSl2AH1sWLk9FvNyJV9-qvyTNuwbzFbXfe8Zu2D7s

..đạo đức làm người trước vành móng ngựa


Tuần qua, vụ xét xử đại án 'Chuyến bay giải cứu' thu hút dư luận với những lời khai của các bị cáo, từ tố cáo nhau trước tòa, làm thơ cho đến định nghĩa thế nào là người tử tế.
Trước vành móng ngựa, một số bị cáo nói về đạo đức làm người. Các bị cáo thường lập luận bản thân không biết là tiền hối lộ, chỉ nghĩ là "quà tết", "quà cảm ơn"...

Về công cuộc đốt lò, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh, "Phải cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cây".

Nhà nghiên cứu chính trị Đông Nam Á, David Hutt hôm qua bình luận với BBC News Tiếng Việt về cách chống tham nhũng thông qua đại án 'Chuyến bay giải cứu'.
Theo ông thì "Chỉ có một thay đổi về hệ thống chính trị mới giải quyết hiệu quả được nạn tham nhũng."

/////////////









Khảo tả đặc điểm của nhóm... “người Bắc có lý luận”

 Khảo tả đặc điểm của nhóm... “người Bắc có lý luận”


Đồng Phụng Việt



Tiếng Dân News


**********


“Người Bắc có lý luận” chính thức trở thành yếu tố định tính của những cá nhân thủ giữ vai trò “trụ cột quốc gia” hồi 2015 – thời điểm đảng CSVN chuẩn bị cho Đại hội đảng CSVN lần thứ 12 (1/2016) để bầu giới lãnh đạo đảng nhiệm kỳ từ 2016 đến 2020.




Thân sinh của khái niệm “người Bắc có lý luận” dường như là ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư đảng CSVN nhiệm kỳ 11 và sau đó, ông Trọng tiếp tục đảm nhiệm vai trò Tổng Bí thư nhiệm kỳ 12 rồi nhiệm kỳ hiện nay, bất chấp Điều lệ đảng CSVN minh định - không chấp nhận bất kỳ ai đảm nhiệm vai trò Tổng Bí thư quá hai nhiệm kỳ liên tục (Khoản 1, Điều 17) [1]. Chuyện ông Trọng và đảng của ông bất chấp Khoản 1, Điều 17 là ví dụ cho
đặc điểm đầu tiên của nhóm...
“người Bắc có lý luận”: Nói một đằng, làm một nẻo. Cũng vì vậy “kỷ luật nghiêm minh” ở phần giới thiệu về “Ðảng và những vấn đề cơ bản về xây dựng đảng” trong Điều lệ đảng CSVN chỉ để cho... vui, còn thiên hạ có... vui hay không, “người Bắc có lý luận” không bận tâm!

Đặc điểm thứ hai của nhóm...
“người Bắc có lý luận” là kiểu “lý luận” bất chấp luận lý. Luận lý là một lĩnh vực khoa học (Luận lý học) được Việt hóa từ Logic học (một nhánh của triết học nhằm hỗ trợ con người tư duy và hành động hợp lý, hợp cách). Nếu đa số người Bắc bình thường tư duy và hành động theo lẽ thường dù có học luận lý hay không thì thiểu số người Bắc chịu khó... “phấn đấu” để được học “lý luận” ở mức “cao cấp” và trở thành thành viên trong nhóm “người Bắc có lý luận” lại thể hiện kiểu tư duy và hành xử theo hướng đặc biệt khác thường, mức độ khác thường vượt xa khả năng hình dung không chỉ của đồng hương, đồng bào mà ngay cả phần còn lại của đồng loại cũng không thể tưởng tượng được!
Hoạt động giải cứu người Việt ở nước ngoài khi COVID 19 trở thành đại dịch trên phạm vi toàn cầu, hay việc nghiên cứu – nghiệm thu - sản xuất – cung cấp bộ xét nghiệm COVID 19 dưới danh nghĩa Công ty Việt Á,... là một số trong vô số ví dụ cụ thể minh họa cho đặc điểm thứ hai. Chính kiểu “lý luận” bất chấp luận lý biến Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thành nơi bị thiên hạ dè bỉu là chuyên đào tạo và cung cấp phạm nhân cho đủ loại đại án “kinh thiên, động địa”. Thực tế cho thấy, nếu chưa phải là tội phạm thì các thành viên trong nhóm “người Bắc có lý luận” cũng đã là ứng cử viên của tội nào đó vì “ăn xương, uống máu” đồng bào, đồng loại theo kiểu nào đó và chưa... đắc cử là vì chưa... thất thế và chỉ vì thế mà thôi.
Có rất nhiều ví dụ cho khía cạnh vừa đề cập, chỉ xin dẫn trường hợp mới nhất: Ông Trịnh Văn Chiến – cựu Ủy viên BCH TƯ đảng CSVN, cựu Bí thư Thanh Hóa. Ông Chiến vốn đã là tâm của đủ thứ scandal khuấy động dư luận cách nay hàng chục năm, chẳng hạn scandal liên quan đến cô Trần Vũ Quỳnh Anh (2), song nhân vật thuộc nhóm “người Bắc có lý luận” này vẫn “bình an vô sự”. Mãi tới cuối tháng vừa rồi vì lẽ nào đó, nhóm “người Bắc có lý luận” mới chính thức xác định ông Chiến có “sai phạm”, cần “xử lý” (3). Nếu đem các sai phạm của những người như ông Chiến đặt bên cạnh “quá trình công tác” của họ ắt sẽ nhận ra

đặc điểm thứ ba của nhóm “người Bắc có lý luận”. Đó là nói lấy được và làm lấy được cho chính mình!

Bởi vậy, đừng ngạc nhiên khi đã đứng trước vành móng ngựa, thành viên nào trong nhóm “người Bắc có lý luận” cũng thản nhiên biện bạch kiểu như bà Nguyễn Thị Hương Lan (Cục trưởng Cục Lãnh sự của Bộ Ngoại giao, bị truy tố do đã nhận 25 tỉ khi thực hiện hoạt động “giải cứu” hàng trăm ngàn người Việt kẹt lại ở nước ngoài giữa đại dịch COVID 19) vừa... tự bào chữa: Xin Hội đồng xét xử xem xét tinh thần và thái độ trách nhiệm của bị cáo. Trong quá trình làm việc, bị cáo luôn đặt công tác bảo hộ công dân lên trên hết, đặt lợi ích của công dân lên trên tất cả. Bị cáo luôn coi công dân bị mắc kẹt hoặc gặp khó khăn ở nước ngoài như người thân của gia đình, cần phải hỗ trợ để đưa công dân về nước sớm nhất và hiệu quả nhất (4)...

Bỏi nói lấy được và làm lấy được cho chính mình là đặc điểm chung nên ngoài bà Lan còn có những viên chức khác như ông Trần Việt Thái (Đại sứ Việt Nam tại Malaysia) không những không động lòng trắc ẩn trước tình trạng thê thảm của 1.900 người Việt bị Malaysia giam giữ vì đánh bắt hải sản trong lãnh hải Malaysia hay hoạt động mại dâm tại Malaysia,... rồi được Malaysia trả tự do, tống xuất vì đang có đại dịch mà còn xem đó là cơ hội để cưỡng ép đồng bào, đồng loại phải cống nạp 44 tỉ đồng (5)...

Ba đặc điểm vừa kể của nhóm “người Bắc có lý luận” tạo ra

đặc điểm thứ tư của nhóm này:
Phi nhân, phi nghĩa, chỉ trung và hiếu với lợi ích cá nhân. Sở dĩ “người Bắc có lý luận” quần tụ thành nhóm với các đặc điểm như vừa đề cập vì đặc điểm thứ năm...
Tại Việt Nam, chỉ “người Bắc có lý luận” mới có tư cách nắm giữ công quyền và sử dụng công quyền để cưỡng đoạt, chia chác mọi thứ lợi ích chính đáng của hàng trăm triệu người Việt.
Phiên xử việc tổ chức – thực hiện hoạt động giải cứu người Việt bị kẹt tại nước ngoài chính là ví dụ mới nhất về đặc điểm thứ năm và đó cũng chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân.
Không cần tìm kiếm, chỉ nhìn quanh nơi mình sống, người Việt nào cũng có thể nhận ra thực tế: Các thành viên hoặc thân nhân, thân hữu của các thành viên trong nhóm “người Bắc có lý luận” đã cũng như đang và sẽ tiếp tục còn là chủ những bất động sản có giá trị cao nhất, những tài sản có giá trị lớn nhất, sinh hoạt xa hoa nhất và hành xử, phát ngôn trịch thượng nhất!

Bình đẳng không chỉ là tiêu chí mà còn là giá trị được tất cả các cộng đồng văn minh chung sức kiến tạo, bảo vệ bằng mọi giá, đồng thời không ngừng điều chỉnh để bình đẳng hoàn chỉnh hơn ở tất cả các khía cạnh, các đối tượng.
Ở Việt Nam, xương chất thành núi, máu chảy thành sông cũng vì khát vọng đạt được sự bình đẳng về chính trị - tiền đề để có bình đẳng trong sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt xã hội, không chỉ nhằm bảo đảm cơm no, áo ấm mà còn bảo vệ phẩm giá con người, tạo ra động lực cho phát triển.

Có nên tiếp tục chấp nhận tình trạng “người Bắc có lý luận” trở thành giai tầng duy nhất được phép nắm giữ quyền lực tại Việt Nam và sử dụng quyền lực làm công cụ tước đoạt mọi thứ cả ở hiện tại lẫn tương lai?


Tham khảo

HCM / Sắc lệnh về “trưng thu, trưng dụng và trưng tập”

Sắc lệnh về “trưng thu, trưng dụng và trưng tập”



Ngô Nhật Đăng
****

“Điều thứ 50 :
Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc” – Trích Hiến pháp nước VNDCCH năm 1946.



Sau ngày 2/9/1945 dù ông Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập” và thành lập chính phủ lâm thời nhưng không được quốc gia nào công nhận. Phương Tây gọi đó là “ Một chính phủ sinh ra trong hỗn loạn, bất hợp pháp” vì thực chất đó là một cuộc “cướp chính quyền” trong tay chính phủ Trần Trọng Kim.

Để đối phó, ông Hồ đề nghị soạn thảo một bản Hiến pháp và tổ chức tổng tuyển cử. Dù được hoàn thành rất sớm (tháng 11/1945) rồi tổ chức tổng tuyển cử nhưng bản hiến pháp bị trì hoãn đến tận đầu tháng 12/46 mới được thông qua quốc hội nhưng không công bố chính thức vì “hoàn cảnh chiến tranh”.


 Sinh viên Tân xã Hà Nội biểu tình




Ông Hồ đã đạt thắng lợi trong việc gài điều 50 Hiến pháp về quyền hạn của chủ tịch nước để rảnh tay hành động. 

Trong thời gian này Hà Nội và Bắc bộ nổ ra các cuộc biểu tình lớn với thành phần chính là sinh viên đòi chính phủ HCM phải từ chức. 

Nhất là sau khi ông Hồ ký Hiệp định sơ bộ với Pháp và bị coi là “phản quốc”, ông ta phải thanh minh với quốc dân trên đài phát thanh : “Hồ Chí Minh này không bao giờ bán nước”. Tình hình nguy ngập đến nỗi trong “Lời kêu gọi nhân dân Bắc bộ” Hồ viết :

“Vậy tôi, Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời, HẠ LỆNH cho nhân dân Bắc Bộ lập tức đình chỉ việc bất hợp tác”.

Trong thời gian ngắn ngủi cầm quyền này, chính phủ Việt Minh chủ yếu làm việc thanh trừng các đảng phái đối lập và cướp bóc tài sản, công sức của nhân dân dưới hình thức “trưng thu, trưng tập” thể hiện qua các Sắc lệnh như Sắc lệnh ngày 30/11/1945. 

Khi mà người dân đã nhìn ra bản chất của một chính quyền “vì dân” không phải vì dân nên đã không giúp đỡ chính quyền như thời kỳ đầu qua các cuộc quyên góp kiểu “Tuần lễ Vàng”. 

Sơn Tùng (một “nhà văng” được phân công chuyên viết về “Bác Hồ” ) viết : “Sau tuần lễ Vàng, số vàng thu được Bác phải cho đúc một bức tượng bằng vàng nặng 54kg kèm theo một người con gái 15 tuổi còn trinh tặng cho tướng Tiêu Văn”.

Ps : Thực ra sáng kiến “Tuần lễ Vàng” được khai sinh từ trùm phát-xít Ý Mussolini, ông ta phát động trên toàn nước Ý phong trào đổi trang sức bằng vàng lấy chiếc nhẫn bằng sắt có in biểu tượng phát- xít gọi là “Tuần lễ Vàng”.

Toàn văn Sắc lệnh về “trưng thu, trưng dụng và trưng tập” :

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 1945

SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI

SỐ 68 NGÀY 30 THÁNG 11 NĂM 1945

CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Theo lời đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ;
Sau khi Hội đồng Chính phủ đã thoả thuận;

SẮC LỆNH:

Điều I: Trong thời kỳ quốc gia còn cần phải bảo vệ và củng cố nền độc lập trên khắp địa hạt Việt Nam các nhà chức trách quân sự hoặc hành chính, định trong điều thứ 3, nếu không điều đình thoả thuận được với tư nhân thì có quyền:
1- Trưng dụng bất động sản;
2- Trưng thu hoặc trưng dụng động sản;
3- Trưng tập người, để dùng vào việc cần thiết cho quốc gia. Khi trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập, Chính phủ sẽ bồi thường cho tư nhân theo những điều kiện định trong sắc lệnh này.

Điều II: Khi nhà chức trách trưng thu vật gì, nghĩa là sung công quyền sở hữu vật đó, thì tư nhân bắt buộc phải nhường hẳn vật ấy cho Nhà nước.
Khi Nhà nước trưng dụng vật gì, nghĩa là sung công quyền sử dụng của nó thôi, thì tư nhân vẫn là chủ của cải bị trưng dụng duy phải để cho Nhà nước dùng của cải ấy trong một thời hạn định rõ trước hoặc không định rõ trước. Dùng xong, Nhà nước lại hoàn lại của cải ấy cho người chủ.
Về bất động sản Nhà nước chỉ trưng dụng thôi chứ không trưng thu.
Trưng dụng các xưởng hoặc các sở tư là bắt những xưởng và sở ấy sản xuất, chế tạo, vận tải, chuyên chở hoặc làm những việc khác cho Chính phủ.
Trưng tập người là bắt những người ấy phải làm cho Nhà nước trong một thời hạn định trước hoặc không định trước những việc thuộc về quân sự hoặc về một công vụ nào khác.

Điều III: Khi quân đội cần trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập ở một chiến khu nào thì lệnh trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập do viên chỉ huy quân đội của chiến khu ấy cấp cho, rồi thông tri cho Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ biết.
Các Bộ trưởng có quyền phát lệnh trưng tập. Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông có thêm quyền phát lệnh trưng thu, trưng dụng để dùng vào những việc có liên can đến mỗi Bộ. Bộ trưởng Bộ Nội vụ có thể uỷ quyền phát lệnh trưng thu, trưng dụng cho các Uỷ ban nhân dân mỗi kỳ hoặc các Uỷ ban nhân dân hàng tỉnh.
Bộ trưởng Bộ giao thông có thể uỷ quyền phát lệnh trưng thu, trưng dụng cho các Giám đốc công chính các kỳ.
Lệnh trưng thu hoặc trưng dụng phải báo cho người chủ tài sản biết trước khi chiếm giữ đồ vật, của cải trừ những trường hợp khẩn bách không kể.

Điều IV: Mệnh lệnh trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập phải viết trên phiếu xé ở một quyển sổ có cuống. Trong mệnh lệnh ấy phải biên rõ tên họ chức vị của người ra lệnh trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập, tên của người có của bị trưng thu, trưng dụng hoặc của người bị trưng tập, ngày và nơi thi hành sự trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập, vật hạng bị trưng thu, trưng dụng hoặc số người bị trưng tập. Nhà chức trách ra lệnh trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập ký vào phiếu ấy.

Điều V: Viên chức nào thi hành sự trưng thu hoặc trưng dụng phải giao cho người có của phiếu lệnh trưng thu hoặc trưng dụng. Khi ấy nếu thuộc vào trường hợp trưng thu và trưng dụng tài sản thì chủ có của sẽ làm hai bản kê khai rõ chi tiết những bất động sản bị trưng dụng và những động sản bị trưng thu hoặc trưng dụng, rồi đưa cho người đi, thi hành việc, trưng thu hoặc trưng dụng, xem, để người này kiểm soát lại ký nhận rồi giữ lấy một bản còn một bản thì giao cho chủ có của. Lúc giả lại cũng làm bảng mục lục kê rõ đồ vật.

Điều VI: Bất cứ lúc nào nhà chức trách cũng có thể đổi trưng dụng ra trưng thu.

Điều VII: Số tiền bồi thường cho chủ có của bị trưng thu hoặc trưng dụng sẽ tính theo sự thiệt hại mà người chủ có của đã phải chịu lúc trưng thu hay trưng dụng.
Về những của cải bị trưng dụng thì tiền bồi thường sẽ căn cứ vào sự thiệt hại do sự không được hưởng dụng của cải ấy mà tính. Tính thiệt hại thì căn cứ vào lợi tức trung bình trong năm năm cuối cùng trước ngày sung công.
ở trường hợp nhà chức trách trưng dụng nếu về sau lại đổi ra trưng thu, hoặc nếu tới lúc phải hoàn lại của cải cho người chủ, mà của đó không còn nữa vì đã bị mất, hoặc bị hoại, bị hư hỏng thì số tiền bồi thường cho chủ có của sẽ tính theo giá của tài sản ấy lúc thi hành sự trưng dụng đầu tiên. Nếu chủ có của đã nhận ít nhiều tiền bồi thường về sự trưng dụng rồi thì số tiền đó sẽ phải tính sổ trừ đi.

Điều VIII: Nếu không điều đình thoả hiệp được với tư nhân thì việc ấn định tiền bồi thường cho chủ có của sẽ để những Uỷ ban ước giá đảm nhận. Một sắc lệnh sẽ ấn định sau những người nào dự vào Uỷ ban cùng công việc, trụ sở, địa phương thẩm quyền và những quy tắc làm việc của Uỷ ban.

Điều IX: Nếu trưng thu tài sản thì số tiền bồi thường sẽ giả ngay một lúc. Nếu trưng dụng thì số tiền bồi thường sẽ giả từng kỳ một, thời hạn mỗi kỳ sẽ theo sự thoả thuận của nhà chức trách đứng trưng dụng và chủ có của bị trưng dụng, hoặc do Uỷ ban ước giá bồi thường định.

Điều X: Về trường hợp trưng dụng xưởng hoặc sở tư nếu không điều đình thoả hiệp được với tư nhân thì việc ấn định tiền bồi thường hoặc giá các nguyên liệu cũng sẽ do một Uỷ ban tổ chức như trên đảm nhiệm.

Điều XI: Những người bị trưng tập không được hưởng bồi thường gì cả, Nhà nước chỉ hoàn lại cho họ tiền phí tổn đi đường và giả lương hoặc công cho họ trong thời gian họ làm việc. Bất cứ lúc nào Nhà nước cũng có thể thôi không dùng họ nữa.

Điều thứ XII: Người nào nhận được lệnh trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập mà không tuân thì có thể bị phạt tiền từ một trăm đồng (100 đ) đến hai nghìn đồng (2.000 đ) và phạt tù từ sáu ngày đến ba tháng hay bị một trong hai thứ trừng phạt ấy. Toà án có thể cho phạm nhân hưởng án treo.
Người nào tái phạm có thể bị phạt tiền từ ba nghìn đồng (3.000đ) đến hai vạn đồng (20.000 đ) và phạt tù từ hai tháng đến hai năm.
Ngoài những trừng phạt nói trong hai đoạn trên, toà án còn có thể bắt niêm yết bản án về các việc này ở những nơi định trong bản án. Tiền phí tổn về sự niêm yết này phạm nhân sẽ phải chịu.
Nhà chức trách ra lệnh trưng tập sẽ định công giả cho người làm căn cứ vào mức giá ở trong miền.

Điều XIII: Sắc lệnh ngày mùng 6 tháng 9 năm 1945 nay bãi bỏ đi.

Điều XIV: Các ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính chịu uỷ nhiệm thi hành sắc lệnh này./.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký.


///////////

Ảnh : Sinh viên Tân xã Hà Nội biểu tình.



.........../.