giữ tiếng ông bà mình

 CHUYỆN “CON KINH” CHỨ KHÔNG CÓ "CON KÊNH"


Nguyễn Gia Việt *******



Miền Nam ngày xưa chỉ nói "con kinh" chứ không có nói "con kênh" tràn lan như bây giờ. Nhiều lúc thấy tức cười, cầu Kinh Thanh Đa cái biển ghi rõ vậy mà lên truyền thông bị biến thành cầu Kênh Thanh Đa, nghe phát mệt!
Con kinh là con sông nhỏ, lấy nước từ sông lớn vào đồng ruộng, thông với những con sông khác. Miền Nam có kinh Bảo Định, kinh Vĩnh Tế, kinh Tàu Hủ, kinh Nhiêu Lôc, kinh Thanh Đa, kinh Nước Mặn, kinh Ông Cò...
Nghe "Bên dòng sông Trẹm" có khúc:
"Tới bên bờ kinh Tân Bằng, Cán Gáo
Ngồi trên đất giồng qua thương chiều lững lơ về
Tình yêu sông nước duyên quê
Nói sao cho vừa miếng trầu gửi bạn tình chung thủy chung"
Kinh Cán Gáo ở Cà Mau là con kinh thẳng như cái cán gáo múc nước. Kinh Cán Gáo nối sông Cái Lớn với rạch Cái Tàu.
Kinh Nước Mặn ở Cần Đước là con kinh dài chỉ 1,9 km, nối sông Vàm Cỏ (sông Bao Ngược) với sông Cần Giuộc (sông Rạch Cát).
Kinh Nước Mặn rút ngắn đáng kể thì giờ trên con thủy lộ độc đạo từ Sài Gòn về miệt dưới Nam Kỳ.
Kinh Nước Mặn dài 1,9 km, cắt cái eo nhỏ của làng Long Hựu, tổng Lộc Thành Hạ, tỉnh Chợ Lớn, ngày nay là Cần Đước Long An, vô tình biến làng Long Hựu từ bán đảo thành ra một đảo nhỏ giữa sông.
Bến đò Kinh Nước Mặn ra đời từ đó và kéo dài tới những năm 2010 khi có cầu thay thế.
Để kiểm soát quân sự thủy lộ, trấn giữ phòng thủ thành Sài Gòn, năm 1903 Pháp xây một pháo đài lớn nhứt Việt Nam tên là Rạch Cát ở đầu làng Long Hựu,mặt nhìn ra 3 nhánh sông.
Kinh Nước Mặn do ông Đỗ Hữu Phương (Tổng đốc Phương) trực tiếp chỉ huy đào.
Trong "Lịch sử khẩn hoang Miền Nam" Sơn Nam viết:
"Tổng đốc Đỗ Hữu Phương.Năm 1878, điều khiển việc sửa con kinh Nước Mặn, bắt dân ở tổng Lộc Thành Hạ làm xâu, dân vùng này nổi tiếng là cứng đầu."
Người Nam Kỳ gọi là kinh Nước Mặn,bằng chứng là kế bên có ngôi chợ rất lớn tên là Chợ Kinh Nước Mặn, nhưng sau 1975 ghi trên bản đồ, trên biển cầu là Kênh Nước Mặn.
Kinh xáng Xà No là con kinh đào dài gần 34 km nối từ Cần Thơ đến Hậu Giang trổ qua tới tỉnh Rạch Giá.
"Hò ơ!
Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No
Anh có thương em thì mua một con đò
Để em qua lại
Hò ơ!để em qua lại thăm dò ý anh"
Kinh được Pháp cho xáng múc từ 1901 - 1903, mặt rộng 60 m, đáy rộng 40 m, kinh phí 3,6 triệu francs.
Xà No là từ tiếng Khmer là Sok Snor có nghĩa là xóm cây điên điển. Xáng thời này đốt bằng củi, tạo ra hơi nước.
Kinh xáng Xà No là đường thủy lớn nhứt Nam Kỳ, quan trọng ngang với đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho.
Từ kinh Xà No, Pháp đào những con kinh nhỏ chạy ngang dẫn nước vô điền, cứ vài trăm mét lại đào một con kinh, địa danh Một Ngàn, Ngàn Rưỡi, Bảy Ngàn, Tám Ngàn tới Mười Bốn Ngàn Rưởi… có từ đó.
Trong văn minh lục tỉnh thì chữ "Xáng" đã trở nên quen thuộc, có một vị trí thân thuộc.
Ở Long Định Tiền Giang có con kinh Xáng và cây cầu Kinh Xáng rất lớn. Ở Tri Tôn An Giang cũng có kinh xáng. Cà Mau có kinh xáng Đội Cường, kinh xáng Bà Kẹo...
Xáng do chữ Pháp chaland (xà lan) mà ra .Do người Pháp đặt cái máy đào có cái hàm cạp đất trên một cái xà lan trên sông nên dân Nam gọi là xáng.
Người Nam Kỳ miệt Sài Gòn, Long An, Gò Công gọi là xáng cạp, Hậu Giang gọi xáng múc, và sau này có thêm xáng thổi.
"Ăn như xáng múc làm như lục bình trôi"
Liệt kê các chợ dọc kinh xáng Xà No như sau : chợ Vàm Xáng, chợ Một Ngàn, chợ Bảy Ngàn, chợ Cái Nhum, chợ Hỏa Lựu, Cầu Xáng, Xáng Mới,Xáng Chìm, Xáng Nổ, Xáng Bộ, xáng Lái Hiếu, xáng Nàng Mau.
Ở Cần Thơ có hồ Xáng Thổi và Búng Xáng
Búng (không phải bún) là cái hồ có con rạch thông với sông.Búng Bình Thiên ở An Phú là nó, còn chợ Búng ở Lái Thiêu cũng là nó, ai nói chợ Búng Lái Thiêu xưa làm bún là sai bét.
Nhờ con kinh xáng, văn minh đã về miệt này, chợ búa, trường học, nhà máy xay lúa, chành chứa lúa gạo đã đem lại văn minh sông nước.
“Củ năn ngăn trong lòng son đỏ
Mấy lời to nhỏ: bạn bỏ sao đành
Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành
Tàu Tây kia liệt máy, anh mới đành bỏ em”
Tân Hiệp Kiên Giang có những con kinh mang số. Nhưng tại sao có chợ Kinh 8 mà lại có chợ Kênh 5? Có Bến Đò Kinh 3A lại có Bến Đò Kênh 4?
Vì bị lây con kênh ở vùng khác đem vô.


Nam Kỳ Lục Tỉnh mình miệt nào cũng là miền sông rạch chằng chịt.
Sông thuộc loại lớn có Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ sông Tiền, sông Hậu, sông Cái Lớn, những sông lớn xen kẻ vô số kinh rạch nhỏ không làm sao kể xiết.
Rạch Giá là tên Việt hoàn toàn do ông bà mình đặt. Rạch là con sông nhỏ, Giá là cây giá. Rồi Rạch Nhum, Rạch Đỉa, Rạch Gầm, Rạch Rích, Rạch Thầy Phó, Rạch Sung cũng hoàn toàn Việt.
Khém là cái lạch, cái xẻo hẹp, có cầu Vàm Khém, có khém Rạch Già, sông Khém, cầu Khém Dưới, cầu Khém Trên, kinh Khém Lớn, rạch Khém Vườn.
Vàm là từ gốc Khmer “péam”. Vàm là đầu con rạch ăn thông với sông lớn.
Vàm Láng Gò Công xưa thuộc làng Kiểng Phước, nằm mé bên sông Soài Rạp đổ ra cửa Soài Rạp.
Soài Rạp tức Lôi Lạp xuất xứ từ tiếng Khmer vì đất Gò Công xưa thuộc vương quốc Phù Nam, sau đó bị nhập vào Thuỷ Chân Lạp.
Vàm Láng là một làng mà dân sống bằng nghề đi ghe, đi biển.
“Anh đi ghe lúa Gò Công
Vô vàm Bao Ngược, bị dông đứt buồm”
Lung có gốc từ tiếng Khmer là chỗ trũng quanh năm có nước đọng ở giữa đồng hoặc giữa rừng. Có Lung Tràm, Rạch Lung, cầu Lung Âm, rạch Lung Ấu, Lung Chà Ngo, Lung Ngọc Hoàng.
Nhà văn Bình-nguyên Lộc, một người viết văn có 70% là tiếng Miền Nam, còn 30% còn lại ông bị lây tiếng Bắc.
Thí dụ trong "Đò dọc" ông bị lẫn nhiều tiếng Bắc.
“Trái sao, trái dầu bay đẹp mà rơi cũng đẹp. Nhưng trái trắc bay trông lại buồn cười"
Người Sài Gòn nào nói "trông buồn cười", đó là kiểu Bắc, Miền Nam sẽ nói "nhìn thiệt là tức (mắc) cười"
Trong "Căn bệnh bí mật cua nàng" Bình-nguyên Lộc cài chữ "nhà thương", “thích nhứt" nhưng ông lại viết thủ tiêu chữ "bịnh" mất tiêu luôn, thay bằng bệnh và ốm, còn "vâng" và "anh ạ" nữa chứ!
Cụ thể là:
"Vâng, tôi vừa ốm khỏi anh ạ! Mà cả nước Pháp đều không biết tôi mắc bệnh gì, cái mới nguy cho chớ!"
Trong bài "Thơ Ba mén" nhà văn Miền Nam “thổ ngơi thơm phức hồn ma cũ”có câu:
"Bến Ông Lãnh màn mưa bao phủ
Ghe thương hồ ủ rũ dưới kia
Ghe ơi, vài bữa ghe về
Nhắn người dưới ruộng, cô Quì còn không?"
Như đã từng nói, người Miền Nam không đặt tên con là Vượng vì đọc chữ Vượn hay Vượng đều như nhau.
Thì cũng không có người Miền Nam nào đặt tên con là "Quì" vì nó đồng nghĩa với quỳ gối, quỳ mọp. Viết i ngắn là thói quen người Miền Nam, nhưng dù viết "Quì" cũng không trúng.
Người Miền Bắc thích chữ "quỳ" lắm, vì trong Hán ngữ chữ quỳ có nghĩa là đường lớn hoặc là hoa dã quỳ.
Nhưng Nam Kỳ ngại chữ quỳ trong "quỳ gối", sợ tên con sẽ mọp xuống cả đời như mấy cái tủ chưn quỳ.
"Dù ai trăm khéo ngàn khôn
Đến cửa nhà l.. quỳ gối chống tay"





Người Miền Nam chưng Tết cũng không xài tắc và cam.
Cây tắc, chữ tắc làm dân Nam Kỳ sợ sẽ bị bế tắc, tắt thở cả năm. Thành ra tắc kiểng bán nhiều ở khu Tàu, khu Bắc vì họ kêu là cây quất.
Nam Kỳ cũng kỵ chưng cam trên bàn thờ vì nó cam phận, chỉ chưng quýt chưng bưởi, nhưng nghĩ vầy, cam là trái nuôi người bịnh, Tết nhứt thấy trái cam là nghĩ tới cái cảnh lê lết ở bịnh viện nên kiêng.
Bình-nguyên Lộc có viết "Quyển gia phổ". Khi nói người Miền Nam không lập gia phả thời một vài bạn lấy cuốn "Quyển gia phổ" này ra khẳng đinh người Miền Nam có lập "gia phổ". Lý luận sai
Người Miền Nam kêu "cuốn sách" chứ không kêu quyển sách.
Nam Kỳ không có lý trưởng, không có cảnh ông lý đập ba ton lên đầu người dân đi trên đường, Nam Kỳ không có làng xã kiểu lũy tre làng, không có cảnh mỏ làng xử án ná thở ở đình làng, không có cảnh cạo đầu thả bè chuối trôi sông gái chửa hoang.
Nam Kỳ không lập gia phả. Một xã hội mở, một xã hội không có lũy tre làng, chủ trương bán họ hàng xa mua láng giềng gần, một xã hội chỉ thờ cúng có ba bốn đời, không có tộc trưởng quyền uy, không mả tổ, không nhà thờ tổ thì lập gia phả để làm gì? nếu có nó cũng không có vai trò gì như kiểu ở ngoài Bắc.
Như đã nói, có một số dòng họ Nam Kỳ có gia phả, nhưng rất sơ sài và không có tính viết tiếp, nó cứ đứt đoạn rồi mất tích, sau này tìm không ra.
Nhiều nhà theo phong trào gia phả những năm gần đây viết lại.
Một số dòng họ làm quan, làm điền chủ cũng ghi gia phả nhưng cái đó không phải tính cách thực chất của tổ tiên Nam Kỳ xưa.
Người Miền Nam nào có "gia phổ" thường là gốc Bắc di cư và họ quản lý rõ từng đời, đời đầu tới đời hiện tại.
Trong "Quyển gia phổ" thì gia đình này gốc Bắc ăn tết bằng bánh chưng. Nhân vật Khoa kể thói quen mà người từ Đàng Ngoài vào đất mới giữ,đó là viết gia phổ.
Cái quyển gia phổ dòng họ bị cháy nên:
“Anh Tồn anh ấy khổ sở thế vì quyển gia phổ ấy giúp ảnh bằng cớ để mà tự hào về dòng họ cổ nhứt miền Nam của chúng tôi: còn mồ mả những mười hai đời và gia phổ chép những mười lăm đời. Ảnh tự hào rồi mải vướng bận vì những bảo vật ấy. Tình quyến luyến ấy theo tôi cũng không hại gì cho lắm. Ác một cái là nó kéo theo cả bầy lũ những tình ý khác, cái nào cũng cổ kính như ngôi mộ đóng rêu...”
Nói ra tới đây rồi, xin nhét vào thêm vài chữ nữa cho các bạn trẻ "nhột" mà nhìn vấn đề
Phong trào "bỉm" và "mẹ bỉm sữa" làm nhiều người Sài Gòn gốc thấy tức cười.
Các bạn Miền Nam viết "có mang" là của miền Bắc, hãy xài chữ "có bầu", “có chửa".
"Có chửa thì đẻ, có ghẻ đâu mà sợ gãi"
Đừng "bế con" mà hãy bồng con,ẵm con:
"Thôi thôi đã lỡ ra rồi
Bồng con ra ngồi coi thử giống ai
Cái mặt thì giống tuần Hai
Cái vai Tư Chõng, xương sống giống biện Tài
Chân mày giống Tám Lịch
Cái đít giống hịt bầu Khuê
Cái đề giống Tư Đũi
Cái mũi giống Ba Hầu
Cái đầu lại giống Ba Phó
Còn cái chứng ngó thì thiệt giống Mười Trương"
Hãy xài tiếng mình, nói và viết tiếng quê mình đặng giữ quê mình thì ngại gì mà không nói, chẳng ai có tội khi cố giữ tiếng ông bà mình.

*Nguyễn Gia Việt
NGUỒN: fb 8 SÀI GÒN
.................

..đốt sách sau 1975

Nguyễn Hiến Lê nói về việc đốt sách sau 1975

............



Học giả Nguyễn Hiến Lê một danh sĩ Miền Nam trong Hồi Ký của mình đã ghi lại hiện tượng đốt sách ngày ấy. Đoạn văn dưới đây được trích từ chương Văn Hóa của cuốn Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê Tập III, từ trang 74 đến trang 80-Văn Nghệ xuất bản gợi cho người đọc bao nỗi khóc cười về một thời kỳ lịch sử.


Nguyễn Hiến Lê

Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Ðôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc.
Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo.





Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục tác giả phản động hay đồi trụy và mấy trăm tác phẩm bị cấm, còn những cuốn khác được phép lưu hành.
Nhưng đó chỉ là những sách còn ở nhà xuất bản, những sách tuyệt bản còn ở nhà tư nhân thì nhiều lắm, làm sao kiểm duyệt được? Cho nên sở Thông tin văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt. Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kỳ loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó…
Lần đó sách ở Sài Gòn bị đốt kha khá. Nghe nói các loại đồi trụy và kiếm hiệp chất đầy phòng một ông chủ thông tin quận, và mấy năm sau ông ấy kêu người lại bán với giá cao.
Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba hủy”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải hủy hết, vì nếu không phải là loại phản động (một hủy), thì cũng là đồi trụy (hai hủy), không phải phản động, đồi trụy thì cũng là lạc hậu (ba hủy), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lý… Mọi người hoang mang, gặp nhau ai cũng hỏi phải làm sao. Có ngày tôi phải tiếp năm sáu bạn lại vấn kế.
Mấy bạn tôi luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng xem lại sách báo, thứ nào muốn giữ lại thì gói riêng, lập danh sách, chở lại gởi nhà một cán bộ cao cấp (sau đòi lại thì mất già nửa); còn lại đem bán kí lô cho “ve chai” một mớ, giữ lại một mớ cầu may, nhờ trời.
Một luật sư tủ sách có độ 2,000 cuốn, đem đốt ở trước cửa nhà, chủ ý cho công an phường biết. Rồi kêu ve chai lại cân sách cũng ngay dưới mắt công an.
Ông bạn Vương Hồng Sển có nhiều sách cổ, quý, lo lắng lắm mà cũng uất ức lắm, viết thư cho sở Thông tin văn hóa, giọng chua xót xin được giữ tủ sách, nếu không thì ông sẽ chết theo sách.
Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên Thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Hủy hết, hủy hết.
Bà Ðông Hồ quen ông Giám đốc thư viện thành phố, bán được một số sách cho thư viện, tặng thư viện một số khác với điều kiện được mượn đem về nhà mỗi khi cần dùng tới.
Tôi nghe lời khuyên của một cán bộ Văn hóa, làm đơn xin sở Thông tin văn hóa cho tôi giữ tủ sách để tiếp tục làm việc biên khảo, đơn đó ông bạn cán bộ đem thẳng vô ông chủ sở, ông này chỉ đáp miệng rằng tôi là nhân sĩ thành phố, cứ yên tâm. Họ có thói việc lớn, việc nhỏ gì cũng không trả lời bằng thư, sợ lưu lại bút tích mà chịu trách nhiệm.
Ít tháng sau tình hình dịu lần rồi yên, không nhà nào bị kiểm kê, Chính quyền bảo để xét lại và một năm sau, nạn “phần thư” kể như qua hẳn (1). Tủ sách của tôi không mất mát gì cả, nhưng từ đó tôi không ham giữ sách nữa, ai xin tôi cũng cho.
Ngành báo chí và ngành xuất bản, chính quyền nắm hết vì coi đó là những công cụ giáo dục quần chúng, ở Sài Gòn chỉ thấy bán vài tạp chí Nga, Ba Lan, tư nhân muốn mua dài hạn phải đăng ký trước ở sở Bưu điện. Một người cháu tôi từ Pháp gởi về cho tôi một tờ Nouvel Oservateur (của khối cộng), số đó bị chặn lại. Nghe nói tờ Humanité của đảng cộng sản Pháp cũng không được bán trong nước. Tôi chưa thấy một cuốn sách Nga hay Trung Hoa nào bán ở Sài Gòn, trừ mấy cuốn về Lénine, về khoa học đã được dịch ra tiếng Việt, ở các thư viện Hà Nội có thể có sách bằng Nga văn hay Hoa văn nhưng chỉ cán bộ mới được phép coi, mà cán bộ trong ngành nào chỉ được coi về ngành đó thôi. Cũng có người đọc lén được.

Sau ngày 30-4-75, tôi muốn tìm hiểu cách mạng Nga từ 1917 đến 1945, nhờ mấy bạn cách mạng tìm sách cho, họ bảo chính họ cũng không được đọc vì không thấy một cuốn nào cả. Sau tôi mới biết rằng loại đó ngay ở Nga cũng không ai được phép viết. Như vậy kiến thức hạng trí thức ngoài đó ra sao, ta có thể đoán được. Một nhà văn hợp tác với viện khoa học xã hội lại nhờ tôi giới thiệu cho mươi nhà văn, học giả giỏi tiếng Anh và tiếng Việt để dịch cho viện bộ Bách khoa tự điển Anh gồm 25 cuốn, mà phải dịch gấp vì đó là chỉ thị của một ông “bự”. Tôi bảo có 50 nhà dịch cũng không nổi vì phải tạo hằng ức danh từ mới (riêng ngành Informatique trong 30 năm nay đã có một vạn thuật ngữ rồi); mà ví dụ có dịch nổi thì cũng phải mất ít nhất mười năm mới xong; xong rồi lại phải dịch lại hoặc bổ túc rất nhiều vì lỗi thời mất rồi: ở Anh, mỗi năm người ta sửa chữa, bổ túc, in lại một lần; rồi lại phải bỏ cả chục năm nữa, không biết có in xong được không. Xong rồi, bán cho ai, ai đủ tiền mua? Cán bộ Văn hóa vào hàng chỉ huy mà dốt tới mức đó!

Tháng 4-1980, có một thông cáo cấm kiều bào hải ngoại gởi một số đồ nào đó về cho thân nhân trong nước, như quần áo cũ, các thực phẩm đóng hộp, các thuốc tây không có prospecties cho biết cách dùng, trị bệnh gì…mà chỉ cho người ta một thời hạn không đầy một tháng để thi hành. Kẻ nào thảo thông cáo ra quyết định đó không hề biết rằng những gia đình có thân nhân là kiều bào ở những nơi xa xôi, hẻo lánh khắp thế giới, phải viết thư cho họ thì họ mới biết mà thi hành chỉ thị được; và ở thời này, thư máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội mất có khi một tháng (trường hợp của tôi), từ Sài Gòn qua Pháp, Gia Nã Ðại mất hai tháng, có khi bốn tháng. Báo chí vạch điểm đó ra cho chính quyền thấy, họ mới gia hạn cho thêm 5 tháng nữa. Trị dân mà không biết một chút gì về tình cảnh của dân cả. Họ có vận dụng trí óc của họ không?

Còn hạng nông dân ngoài Bắc thì khờ khạo, ngớ ngẩn so với nông dân trong này không khác gì một người ở rừng núi với một người ở tỉnh. Mấy anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có bát ăn, sau 30-4-75, vô Sài Gòn, lóa mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh.

Một anh bộ đội đi xe đò từ Long Xuyên lên Sài Gòn nghe hai chị bình dân miền Nam nói với nhau lên Sài Gòn sẽ mua xe tăng, máy bay, tàu chiến… mỗi thứ vài chục cái; anh ta hoảng hồn, tới trại kiểm soát vội báo cho kiểm soát viên hay có gián điệp trên xe. Chiếc xe phải đậu lại ba bốn giờ để kiểm soát, điều tra rất kỹ, sau cùng mới hay rằng hai chị hành khách đó đi mua máy bay, xe tăng, tàu chiến bằng mủ về bán cho trẻ em chơi. Hành khách trên xe nổi đóa, chửi thậm tệ anh bộ đội; khi xe tới bến Phú Lâm, họ còn đánh anh ta tơi bời nữa. Kết quả của nền giáo dục miền Bắc như vậy. Chính một cán bộ nói với tôi: “Càng học càng ngu. Thầy ngu thì làm sao trò không ngu? Nhồi sọ quá thì làm sao không ngu? Có được đọc sách báo gì ngoài sách báo của chính quyền đâu thì còn biết chút gì về thế giới nữa?”

Một cán bộ khác cho tôi hay ở Hà Nội người nào có được 50 cuốn sách là nhiều rồi. Anh ta mới thấy ba trong số 9 tủ sách của tôi đã bảo nhà tôi nhiều sách như một thư viện. Nhà bác học Sakharov trong một bài báo tôi đã dẫn, bảo ở Nga không có đời sống tinh thần (vie intellectuelle). Chúng ta có thể tin lời đó được.

Trước 1975, thấy cuốn nào in ở Bắc cũng từ 10,000 bản trở lên, có thứ 30,000, 100,000 bản, tôi và các bạn tôi phục đồng bào ngoài đó ham đọc sách. Bây giờ tôi hiểu lý do. Hà Nội mỗi năm xuất bản không biết được 100 nhan đề không (trong này, thời trước được khoảng 1,000 nhan đề); sách được gởi đi khắp nơi không có sự cạnh tranh, mà ai cũng “đói sách”; lại thêm nhiều sách có mục đích bổ túc cho sách giáo khoa, nhất là loại dạy chính trị, như vậy in nhiều là lẽ dĩ nhiên. Sách bán rất rẻ, nên cuốn nào viết về văn học, sử học mới ra cũng bán hết liền. Mấy năm nay, giấy khan, in ít, sách vừa phát hành đã bán chợ đen ở Hà Nội, không vào được tới miền Nam; những cuốn như lịch sử tỉnh Vĩnh Phú, ngay cả bộ Hồ Chí Minh toàn tập, ở Long Xuyên không làm sao kiếm được một bản, các cơ quan giáo dục cũng không mua được. Trái lại bộ Lê Nin toàn tập giấy rất tốt, thì ở khắp miền Nam bán chạy veo veo; người ta mua về để bán kí lô.

Tóm lại, chính sách là chỉ cho dân được nói theo một chiều, trông thấy một hướng; nên chỉ một số rất ít giữ được tinh thần phê phán, nhưng chẳng thi thố được gì, sống nghèo khổ, bất mãn.

NHL
.........
Ảnh : Đốt sách tháng 5/1975 tại Sài Gòn



............./.

Bộ trưởng và sự "kiêu ngạo Cộng sản"

 

Bộ trưởng và sự "kiêu ngạo Cộng sản"

Nguyễn Ngọc Chu

***


1. SỰ NHẦM LẪN VAI TRÒ BỘ TRƯỞNG GIỮA CÁC NƯỚC
Nhiều người viện dẫn thí dụ ở các nước tư bản, bộ trưởng quốc phòng là phụ nữ, không phải sĩ quan quân đội, không có chuyên môn và kinh nghiệm quân sự. Tương tự như vậy là thí dụ về các bộ y tế, giáo dục và các lĩnh vực khác – rồi đi đến khẳng định rằng bộ trưởng là chính khách, cần điều tiết về chính sách, không cần chuyên môn. Và từ đó để nuôi hy vọng lạc quan về trường hợp quyền bộ trưởng bộ y tế vừa được bổ nhiêm, cũng như nhiều trường hợp bộ trưởng là cán bộ chính trị không phải là chuyên gia trong ngành ở nước ta.
Nhận thức này xuất phát từ phân biệt không đúng về vai trò bộ trưởng ở ta và các nước. Không chỉ trong xã hội, nhận thức này có trong tư duy của một số người lãnh đạo cao cấp - nơi quyết định ai sẽ là bộ trưởng. Nếu cứ tiếp tục nhận thức này, thì các bộ trưởng ở nước ta sẽ tiếp tục là các cán bộ chính trị phong trào. Sự trả giá sẽ vô cùng “tàn khốc”.
Dưới đây liệt kê một số khác biệt “trời vực” giữa vai trò bộ trưởng ở nước ta và các nước.
1/. Đại diện cho nhà nước, bộ trưởng ở nước ta là chủ sở hữu tài sản và vốn ở các cơ quan, tập đoàn, xí nghiệp, các trường học, bệnh viện… ở khắp nơi mọi chỗ có tài sản nhà nước thuộc bộ quản lý. Không có bộ trưởng nào ở các nước tư bản là chủ sở hữu tài sản của các đơn vị trong lĩnh vự mình quản lý. Bộ trưởng nước ta chịu trách nhiệm về sự thất thoát tài sản và vốn sở hữu mà mình quản lý. Không có bộ trưởng các nước tư bản nào phải chịu trách nhiệm lỗ vốn ở các xí nghiệp thuộc ngành mình quản lý.
2/. Nước ta là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quản lý toàn diện từ trung ương đến cơ sở, không phải chỉ chính sách, mà từ sản xuất, mua sắm cho đến giá cả... Bộ trưởng điều hành từ cơ quan bộ cho các tới các xí nghiệp, các bệnh viên, trường học, các đơn vị cấp dưới. Không có nước tư bản nào bộ trưởng có vai trò điều hành tác nghiệp như ở nước ta. Bộ trưởng nước ta không phải chỉ chính khách mà là người điều hành và chịu trách nhiệm về kết quả điều hành trong toàn ngành.
3/. Bộ trưởng ở nước ta cấp tài chính cho các đơn vị dưới quyền mình quản lý. Không có bộ trưởng các nước tư bản nào có được tài chính để cấp cho các xí nghiệp, nhà máy, trường học, bệnh viện… Cấp tiền thì đối diện với mất tiền – là vấn đề vô cùng hệ trọng, không chỉ sinh mạng chính trị, mà là ‘cơm áo, gạo tiền’ của hàng vạn, hàng chục vạn, hàng triệu con người dưới quyền điều hành.
4/. Bộ trưởng nước ta, không chỉ tài chính, tài sản, dựa trên ‘đất đai là sở hữu toàn dân’ có quyền cấp hàng ngàn héc-ta đất cho đối tượng này hay đối tượng khác. Không có một bộ trưởng các nước tư bản nào có quyền cấp đất.
5/. Ở các nước tư bản, chính phủ không được tín nhiệm thì phải giải tán; thủ tướng từ chức thì chính phủ phải giải tán; thủ tướng mới thì thành lập chính phủ mới với các bộ trưởng mới. Chính phủ vừa thành lập xong có thể bị giải tán. Trong một năm có thể có nhiều chính phủ. Không thể cứ có chính phủ mới thì phải phong cho bộ trưởng quốc phòng mới thành đại tướng 4 sao, giải tán chính phủ thì huỷ bỏ đại tướng 4 sao của bộ trưởng bộ quốc phòng. Cho nên, ở các nước tư bản có nhiều bộ trưởng quốc phòng mà không có nhiều tướng 4 sao. Ở nước ta, chính phủ không giải tán trong suốt nhiệm kỳ 5 năm.
Ngoài 5 sự khác biệt “đá tảng” nêu trên, còn các khác biệt khác nữa về vai trò bộ trưởng nước ta và bộ trưởng các nước tư bản, mà không thể viện dẫn ra ở đây. Từ 5 khác biệt “đá tảng” nêu trên có thể rút ra vài kết luận:
- Muốn bộ trưởng chỉ là chính khách như các nước tư bản, thì phải không có ‘sở hữu toàn dân’, chính phủ phải giải tán khi không được tín nhiệm.
- Chừng nào bộ trưởng còn sở hữu vốn, còn cấp vốn, còn điều hành tác nghiệp đến tận cơ sở thì chừng đó bộ trưởng không thể là “chính khách phong trào”, “chính khách chỉ tay” – mà phải là “tổng giám đốc điều hành” với hiểu biết sâu rộng nhiều chuyên ngành, tầm nhìn sáng láng, trí tuệ mẫn tiệp. Bộ trưởng nước ta là “tướng chiến trường” chứ không phải là “chính khách”.
- Bản chất nền kinh tế và nền chính trị của ta hoàn toàn khác với các nước tư bản. Bộ trưởng là chính khách, không cần biết chuyên môn, chỉ cần biết nói những nội dung chung chung không ai không biết, cho nên mới đưa đến tình trạng thua lỗ hàng trăm ngàn tỷ đồng, hàng chục xí nghiệp với hàng chục ngàn tỷ đồng đắp chiếu, giá thành thiết bị (trong đó có thiết bị y tế) bị nâng giá gấp từ năm đến hàng chục lần như hiện nay.
2. VƯỢT QUA SỰ ‘KIÊU NGẠO CỘNG SẢN’?
Cựu uỷ viên bộ chính trị-thường trực ban bí thư Phan Diễn đã từng thừa nhận rằng sau năm 1975 tâm lý kiêu ngạo của người chiến thắng là nguyên nhân gây ra nhiều khủng khoảng khiến Việt Nam phải “đau đớn trả giá”
Người cộng sản nghĩ rằng, lãnh đạo thắng lợi trong chiến tranh là có thể lãnh đạo thắng lợi trên mặt trận kinh tế và mọi mặt trận khác. Cho nên họ đặt mục tiêu ảo tưởng sẽ đuổi kịp Nhật và các nước tư bản tiến tiến trong vòng 10-20 năm.
Năm 1986, thừa nhận sai lầm, “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” TBT Trường Chinh đã tiến hành bước ngoặt đổi mới tại đại hội VI mà ông Phan Diễn đánh giá là ‘vượt qua sự kiêu ngạo cộng sản’.
Nhưng, có thực sự là người cộng sản đã ‘vượt qua sự kiêu ngạo cộng sản’ trong mội lĩnh vực hay không?
Tương tự như nhận thức ‘lãnh đạo thắng lợi trong chiến tranh là có thể lãnh đạo thắng lợi trên mặt trận kinh tế và mọi mặt trận khác’, đã thành mặc định cứ ‘Uỷ viên Trung ương’ là có thể lãnh đạo toàn năng trong mọi lĩnh vực. Họ thuyên chuyển bộ trưởng và bí thư tỉnh uỷ từ lĩnh vực naỳ sang lãnh đạo lĩnh vực khác chỉ dựa trên chức danh ‘Uỷ viên Trung ương’ và bằng ‘lý luận chính trị cao cấp’. Vị trí ‘Uỷ viên Trung ương’ được sử dụng như “bảo bối” cho mọi hoàn cảnh.

Đó cũng là trường hợp Bà Đào Hồng Lan vừa được bổ nhiệm chức vụ quyền Bộ trưởng Bộ Y tế. Đọc sơ yếu lý lịch của bà Đào Hồng Lan thì nhìn thấy ngay viễn cảnh sắp tới của Bộ Y tế:

“12/1993 - 7/1995:
Cán bộ tư vấn, Trung tâm Xúc tiến việc làm thanh niên Hà Nội, Thành Đoàn Hà Nội;
8/1995 - 3/2006: Chuyên viên Vụ Bảo hiểm xã hội, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội;

4/2006 - 10/2006:
Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm xã hội, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội;

11/2006 - 3/2009:
Phó Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng phụ trách Văn phòng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

4/2009 - 12/2014: Chánh Văn phòng, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

2/2014 - 2/2018:
Ủy viên Ban Cán sự Đảng, Bí thư Đảng ủy Bộ,
Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội;
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Ủy viên Ban Chấp hành đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương.

2/2018 - 12/2019:
Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa XII,
Phó Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh khóa XIX, nhiệm kỳ 2015-2020;

12/2019 - 9/2020:
Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa XII, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bắc Ninh khóa XIX, nhiệm kỳ 2015-2020;

9/2020 - 1/2021:
Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa XII, Bí thư Tỉnh ủy khóa XX, nhiệm kỳ 2020-2025;
Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh Bắc Ninh;

1/2021 - 6/2021:
Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Tỉnh ủy khóa XX, nhiệm kỳ 2020-2025; Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh Bắc Ninh.

Tháng 7/2021 đến nay:
Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Tỉnh ủy khóa XX, Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh Bắc Ninh. Đại biểu Quốc hội khóa XV và Trưởng Đoàn Đại biểu quốc hội tỉnh Bắc Ninh, Tổ trưởng Tổ Đảng”.

Từ ngày 15/7/2022 là Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban Cán sự Đảng Bộ Y tế, quyền Bộ trưởng Bộ Y tế”.

Bà Đào Hồng Lan nhận chức vụ quyền Bộ trưởng Y tế không phải là sự 'dũng cảm'. Tục ngữ Việt Nam có nhiều câu phù hợp hơn cho hoàn cảnh này.

Bổ nhiệm bà Đào Hồng Lan làm quyền Bộ trưởng Y tế không làm cho Chính phủ của Thủ tướng Phạm Minh Chính mạnh hơn. Bổ nhiệm bà Đào Hồng Lan làm quyền Bộ trưởng Y tế cũng không thể làm cho Bộ Y tế khá hơn.

Bộ trưởng phải dựa vào thứ trưởng, trợ lý nhưng phải giỏi hơn thứ trưởng, trợ lý… mới biết được trong số các ý kiến của thứ trưởng, trợ lý… thì ý kiến nào đúng, sai, hay hoàn toàn sai. Bộ trưởng phụ thuộc vào chính kiến của cấp dưới thì chỉ có thảm hoạ.

Bộ Y tế cai quản sức khoẻ, chữa trị bệnh tật cho 100 triệu dân. Đối tượng của Bộ Y tế không phải là hoạt động chính trị. Cai quản Bộ Y tế ở Việt Nam phải là bậc kỳ tài. Buồn cho Bộ Y tế và buồn cho chính mình.

Học tập theo cụ Hồ. Nhưng cụ Hồ không chọn bộ trưởng như hiện nay.

Bao giờ thì vượt qua được sự ‘kiêu ngạo cộng sản’?

........../.

Vị Xuyên - Tháng Bảy không quên

 Vị Xuyên - Tháng Bảy không quên


Lê Đức Dục

******

Hôm nay 12-7-2022, đúng những giờ khắc này 38 năm trước, trên những điểm cao núi đá Vị Xuyên, chỉ trong một buổi sáng 12-7-1984 gần một ngàn người lính trẻ đã ngã xuống trong cuộc chiến đánh trả quân xâm lược Trung Quốc.
Cuộc chiến Vị Xuyên gần như không được ai biết tới trừ những người lính đã tham chiến, cho đến năm 2014, một cuộc hành hương của cựu binh sư đoàn 356 (sau đó bị xóa phiên hiệu) lên chiến trường xưa được PV Tuổi Trẻ kể lại và đi vedette ra trang 1.
Có lẽ câu chuyện của Vị Xuyên sẽ tiếp tục nức nở lặng im như thế nếu như ngay sau đó câu chuyện được tiếp tục có hậu hơn:
Chiều ngày 14-7-2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang mời các cựu binh đến Phủ Chủ tịch, ông lắng nghe những tâm tư nguyện vọng anh em và chỉ đạo cho các Ban Bộ ngành thực thi những việc cần thiết để câu chuyện Vị Xuyên được nhắc nhớ nhiều hơn.
Cũng từ ông, việc chỉ đạo tìm kiếm quy tập hài cốt anh em ở Vị Xuyên được triển khai rốt ráo.
Cũng từ ông, những chương trình hỗ trợ các cựu chiến binh từng tham chiến trên mặt trận biên giới và đồng bào vùng cao được kêu gọi và vận động đã cho những con số đáng nể.
Riêng ở Hà Giang, từ kêu gọi và vận động của ông, đã có 5815 ngôi nhà tình nghĩa cho cựu binh và hộ nghèo được xây dựng trị giá hơn 350 tỷ đồng, chưa kể số trâu bò hàng vạn con được tặng cho bà con làm sinh kế.
Mà không chỉ Hà Giang, hầu như các tỉnh biên ải đều có những chương trình như thế từ tấm lòng ông Tư Sang.
Từ 2015 đến nay, khi đương chức cũng như đã về hưu năm nào dịp này (12-7) ông Tư Sang cũng lên Vị Xuyên dự “giỗ trận” với anh em cựu binh kết hợp trao tặng nhà tình nghĩa cho bà con biên giới!






Mùa giỗ trận năm nay cũng vậy, ông Tư Sang lại lên với Vị Xuyên, lại tiễn đưa những hài cốt anh em liệt sĩ Vị Xuyên vừa được tìm thấy.
Với những cựu binh trận mạc Vị Xuyên, sự có mặt của ông Tư Sang trên biên, trong mỗi mùa giỗ trận như một điểm tựa tinh thần của họ.
Điều này còn quan trọng hơn khi mà cuộc chiến khốc liệt này, trận chiến bi thương này từng không được mấy ai biết đến và suýt bị lãng quên vì nhiều lý do !
Sáng nay, từ Vị Xuyên về nhà thấy có nhiều nhà thắp nhang sớm, tự nhiên thấy lịch báo hôm nay là 12-7 dương lịch nhưng cũng là 14- 6 âm lịch (mười bốn rằm), mình loáng thoáng nhớ ra hôm 12-7-1984 cũng là ngày rằm, để chắc chắn, mình bèn tra cứu phần mềm lịch âm dương thì đúng y như vậy.
12-7-1984 là 14- 6 âm lịch.
12-7-2022 cũng là 14-6 âm lịch.
Vậy là sau bao nhiêu năm, âm dương lại trùng đúng dịp này!

Các anh, người đã về, người không về, người tìm thấy xác, người mãi thiên thu bụi đất, người mộ có tên, người mộ không tên,... nhưng chắc chắn các anh sẽ ấm lòng hơn khi Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên nay đã thành một nơi an nghỉ và thờ phụng trang trọng tương xứng với máu xương các anh đã ngã xuống.


........./.