VĂN CAO



BA BIẾN KHÚC VĂN CAO
NGUYỄN TRỌNG TẠO

http://nguyentrongtao.info/2016/01/10/ba-bien-khuc-van-cao/











1.


Người gọi ông là “ba đỉnh núi sương mù”. Người gọi ông là “Dòng sông ba nhánh”. Người gọi ông là “Nghệ sĩ đa tài”. Người gọi ông là “Bậc tài danh thế kỷ”… Khi tôi gặp ông thì ông đã 57 tuổi, chòm râu dài phất phơ ngả bạc như tiên lão bảy mươi. Ông ngồi một mình trên đi-văng đệm vải cũ càng, mắt nhìn vào chén rượu gạo bình dân như chẳng chờ đợi một điều gì. Có lẽ ông đã ngồi như vậy mấy chục năm liền. Những chai rượu đầy vơi vơi đầy không nhớ đã bao lần.


Cũng không nhớ đã bao lần trên đất nước này và cả những nước khác, người ta đã hát vang bài ca của ông, bài Quốc ca Việt Nam mang hồn thiêng sông núi: Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc. Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa.


Khi nghe Phan Lạc Hoa giới thiệu tôi, mắt và miệng ông ánh lên nụ cười gần gũi, bình dị: “À, cái anh Nghệ nhận Quan Họ làm quê đây!”. Ông với tay kệ tủ lấy thêm ly, và Nguyễn Thụy Kha rót rượu. Ông đối với bọn trẻ chúng tôi như với bạn. Khi thân mật rồi, hầu như chẳng còn khoảng cách tuổi tác. Có lẽ vì thế mà ông luôn luôn mới. Chúng tôi rủ ông đến quán lòng lợn tiết canh đầu chợ Đuổi, ông đồng ý ngay, nhưng nhắc là nên mua rượu ở quán cạnh bến xe Kim Liên, loại rượu gạo ông thường uống. Quán đông quá, chúng tôi mượn một cái chiếu trải vào túp lều tranh bỏ trống bên cạnh. Cứ ngồi xếp bằng mà uống rượu và hút thuốc lào như ở làng ở xã. Người ra vào chợ đông đúc, ồn ào, hình như cũng không ai biết ông già ngồi quán bình dân này là tác giả Quốc ca. Còn chúng tôi, lần đầu tiên được biết những bài thơ ông làm để rồi cất lại trong lòng, không đưa in đâu cả, mà dù có đưa in in người ta cũng chẳng in cho. Mấy chục năm nay, ông chỉ làm bìa sách, vẽ hình minh họa cho báo và làm nhạc… không lời.

Những bài thơ của ông khiến chúng tôi nổi cả da gà, kinh ngạc vì thán phục. Thơ ông đẹp một cách quyết liệt. Thơ của ông thật đến siêu thực. Thơ của ông mới bất ngờ như mầm cây vừa đội đất trồi lên.


Buổi sáng nay cả phố phường như mở hội.


Mọi con người đeo mạt nạ đi chơi.


Vui lên cành non


Lá bàng trên phố xanh màu ngọc


…


Những mặt nạ gặp nhau chào hỏi


…


Ô kìa


Nước mắt mồ hôi


Sao chảy ra trên từng mặt nạ


Đến giờ, tôi vẫn nhớ giọng vang trong của ông đọc thơ trong quán rượu. Bài thơ Năm Buổi sáng không có trong sự thật ông làm năm 1960 mà tôi tưởng ông vừa làm trong quán rượu năm 1980 này. Chúng tôi nghe như nuốt từng lời thơ của ông vào tâm khảm. Khi ngấm rượu, ông nói hay đến nỗi tôi tưởng là đang nghe ông trong giáo đường chứ không phải giữa chợ. Vì thế mà chúng tôi đều thuộc bài thơ ngắn Không đề ông làm năm 1967. Bài thơ như một cuốn phim cực ngắn chứa đầy âm nhạc và treo lơ lửng một câu hỏi trước cuộc đời:


Con thuyền đi qua


Để lại sóng


Đoàn tàu đi qua


Để lại tiếng


Đoàn người đi qua


Để lại bóng


Tôi không đi qua tôi


Để lại gì?






Hơn 20 mươi năm “im lặng” về thơ lại chính là thời gian ông làm thơ nhiều nhất. Những bài thơ chi chít trong cuốn sổ tay nhỏ xíu úa màu thời gian vàng vọt. Những bài thơ viết trên vỏ bao thuốc lá nhặt được trong quán rượu. Có bài thơ được ghi lại không phải chữ của ông mà là chữ của vợ ông, bà sợ ông quên đi mất nên bắt ông đọc lại để bà chép lại.

Năm 1987, Nguyễn Thụy Kha đã lần mò chép lại những bài thơ trong tập bản thảo nhòe mờ ấy của ông rồi đưa cho tôi đọc. Giữa quá nhiều bất trắc cuộc đời, tiếng thơ Văn Cao chẳng bao giờ đổi giọng. Chữ nghĩa của ông như được viết ra từ ngòi bút kim cương chứ không phải bút lông bút sắt. Và khi tiến hành chọn bản thảo tập thơ Lá, Văn Cao rất vui lòng ủy thác cho Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo và tôi tuyển chọn. Hầu như ông hoàn toàn yên tâm về việc đó. Ông nói: “Ba thằng mày bảo được là được!”.
Dù là trong thời kì “đổi mới” rất mạnh mẽ, chúng tôi vẫn thấy ông có một bài thơ mà nhà xuất bản khó lòng chấp nhận, đấy là bài Đồng chí của tôi viết năm cải cách ruộng đất (1956). Bài thơ tràn đầy lòng tin vào chủ nghĩa xã hội mà cảnh tỉnh những sai lầm của hiện tại, nó là tiếng lòng thống thiết của người cộng sản bị xử bắn oan gửi tới các đồng chí của mình. Không trung thực với Đảng, không có lòng can đảm của một đảng viên, không chan chứa một trái tim nhân đạo… không thể viết được một bài thơ rớm máu như thế.
Nhưng 30 năm và hơn thế nữa, nó vẫn chỉ là bài thơ của riêng ông. Chúng tôi biết điều đó, và đề nghị ông “để lại”, ông đồng ý ngay. Đầu năm 1995 này, tôi nhắc lại với ông bài thơ ấy, và thấy đã đến “thời” bài thơ có thể in được rồi, nhưng ông nói sau khi nhấp một ngụm rượu: “Thôi, cứ để sau khi mình chết rồi in cũng chưa muộn”. Ngày ông qua đời, tôi bỗng mở sổ tay xem lại bài thơ ấy, và tôi đã khóc.


Người ta các đồng chí của tôi


Treo tôi lên một cái cây


Đợi một loạt đạn nổ


Tôi sẽ dẫy như một con nai con


Ở đầu sợi dây


Giống như một nữ đồng chí


Một anh hùng của Hà Tĩnh


Tôi sẽ phải kêu lên


Như mọi chiến sĩ bị địch bắn


Đảng Lao động Việt Nam muôn năm


Cho mọi người hiểu khi tôi chết


Vẫn còn là một đảng viên


Cho mọi người hiểu khi tôi chết


Máu của tôi vẫn còn là máu của Việt Nam


Ở dưới gốc cây có các cụ già các bà mẹ


đã nuôi cách mạng


Các em nhỏ từ ba tuổi đứng nhìn tôi


dẫy chết


Có mẹ tôi


Ba lần mang cơm đến nhà tù


Hãy quay mặt đi


Cho các đồng chí bắn tôi


Tôi sợ các cụ già không sống được


Bao năm nữa


Để nhìn thấy xã hội chủ nghĩa


Của chúng ta.


Chết đi mang theo hình đứa con


Bị bắn


Tôi sợ các em còn nhỏ quá


Sẽ nhớ đến bao giờ


Đến bao giờ các em hết nhớ


Hình ảnh tôi bị treo trên cây


Bị bắn


Hãy quay mặt đi


Cho các đồng chí bắn tôi…


Nước mắt lúc này vì Đảng nhỏ xuống


Dòng máu lúc này vì Đảng nhỏ xuống


Đảng Lao động Việt Nam muôn năm


Đảng Lao động…


(1956)


Tập thơ Lá của ông được in ra không đúng như chúng tôi đã chọn dưới sự ủy thác của ông, 5 bài thơ ông tâm đắc bị bỏ ra, và thay vào mấy bài thơ ông in báo hồi kháng chiến chín năm. Tuy không được hài lòng lắm, nhưng ông cũng mỉm cười sau 30 năm trở lại thi đàn. Ông lại tiếp tục viết những bài thơ mới. Vẫn là Văn Cao tươi ròng, không tuổi.


Tôi đẻ ra trần truồng


được những lót tã


là của cải…





2.


Sao tôi lại nhớ sinh nhật 60 tuổi của ông? 15 -11 -1983. Chiều, trong căn phòng gác hai số nhà 51 Trần Hưng Đạo, nơi Bảo Đại từng ở sau cách mạng tháng Tám, nơi mà một phần tư thế kỷ trước Văn Cao thường xuất hiện cùng bạn bè đồng nghiệp văn nghệ sĩ. Lâu quá rồi ông mới xuất hiện chính thức thức trở lại nơi này, và là nhân vật chính của buổi lễ sinh nhật 60 tuổi do Hội Nhạc sĩ tổ chức. Hoa và rượu. Những lời chúc tụng, những bài hát của ông vang lên mừng tuổi ông.

Có cả Thiên Thai, Trương Chi hơn 30 năm vắng bóng trở về, khiến cả hội trường lặng phắc, ân hận và khâm phục. Chiếc dương cầm Đặng Thái Sơn tặng Hội Nhạc sĩ sau lần đăng quang, vang lên những bản nhạc không lời Văn Cao. Những bản nhạc ông viết sau cuộc đấu tranh chống nhóm Nhân văn – Giai phẩm kết thúc, sau cái đêm trắng đi cùng với Hữu Loan quanh hồ Ha-le ngột ngạt, u ám, không biết nói gì trước khi chia tay nhau để tác giả Màu tím hoa sim trở về Thanh Hóa làm một “Lão nông tri điền”. Những bản nhạc chứa đầy nỗi đau chia cắt cùng với khát vọng thống nhất cháy bỏng. Đấy là các bản Hàng dừa xa, Sông tuyến và Biển đêm.

Rồi đến lượt Văn Cao xuất hiện trước cây dương cầm.
Im lặng.
Chờ đợi.
Ông cứ ngồi im trước cây đàn đến mấy phút liền. Một bàn tay của ông đã bị chấn thương trước đó 10 năm, khi ông đang đi bách bộ trên hè đường và bị một chiếc xe com-măng-ca không số từ dưới đường tạt lên chèn ngã. Ông sẽ chơi đàn thế nào đây? Bỗng bàn tay ông nắm lại thành một nắm đấm. Ông bất ngờ đấm vào những phím đàn, vang lên hợp âm chói gắt như bom nổ. Thêm một nắm đấm nữa. Hai nắm đấm của ông cùng với cả cùi tay trút bão táp vào cây đàn, hết đợt này đến đợt khác. Chuỗi âm thanh ghê gớm ấy bỗng lặng đi đột ngột. Mọi người như nín thở. Ông dùng ngón tay trỏ chầm chậm mổ nhẹ vào một phím đàn, từng tiếng, từng tiếng một vang lên rành rọt, chậm dần, nhỏ dần cho đến khi ông thu bàn tay lại, trong tiếng vỗ tay ào lên không dứt của mọi người.


Trước Văn Cao, chưa thấy ai chơi đàn như thế. Chính vì thế mà ông luôn là ông, không giống ai, và nếu ai muốn giống ông thì cũng khó mà giống được.


Tối hôm đó, ông hẹn mấy người về nhà ông uống rượu. Tôi và Kha tới thì đã thấy Văn Cao đang ngồi cùng Trịnh Công Sơn và Cao Xuân Hạo. Ông nhờ tôi sang gọi Trần Dần bên kia đường Vũ Lợi. Ông bảo: “Có thêm Trần Dần nữa mới vui”. Tôi đến nhà Trần Dần thì ông đang bên nhà hàng xóm. Trong lúc đợi vợ ông đi gọi ông về, tôi nhìn vào bức tường và thấy hiện rõ một hình nhân. Đấy là nơi Trần Dần tựa lưng suốt mấy chục năm qua. Tôi rùng mình hình dung ra cái bóng đang động cựa như một con người thật. Vừa lúc Trần Dần về trong bộ quần áo pirama ngả màu cháo lòng, ông gầy yếu quá, gầy yếu hơn cả cái bóng của chính mình trên tường nhà.


– Anh Văn mời anh sang nhà uống rượu – Tôi nói – Hôm nay sinh nhật anh ấy. Sáu mươi rồi.


– Thế à? Những ai?


Tôi kể tên mấy người. Trần Dần mỉm cười:


– Thế thì sang.


Vợ ông nhắc ông thay quần áo. Nhưng bộ quần áo mới cũng đã cũ lắm rồi. Ông kém Văn Cao ba tuổi, nhưng trông già nua và chậm chạp như một ông lão khổ hạnh. Chỉ có đôi mắt là lúc nào cũng có lửa. Cái ngọn lửa đó đã rực cháy trong nhiều tác phẩm văn thơ của ông dọc các nẻo đường kháng chiến: Cách mạng tháng Tám, Trường ca Việt Bắc, Nhất định thắng, Người người lớp lớp… và hàng loạt tác phẩm còn nằm trong bản thảo như tiểu thuyết Cổng Tỉnh, Mùa sạch, Ngã tư những cột đèn, v. v…


Văn Cao với tay lên kệ tủ lấy thêm một cái ly thủy tinh đặt trước mắt Trần Dần. Trong khi tôi rót rượu, ông dặn tôi: “Dần sức yếu, dễ say đấy”. Nhưng sau khi cụng ly, chỉ riêng Trần Dần là uống cạn.


Chuyện trò, đọc thơ, và hát. Cao Xuân Hạo nhớ nhiều những kỷ niệm thời kháng chiến chống Pháp, về những bài hát thời bấy giờ của Văn Cao mà anh đã hát. Văn Cao cũng nhắc lại vài bài hát của Cao Xuân Hạo mà ông đặt nhiều hy vọng. Cao Xuân Hạo có một giọng hát thật vang trong, bay bổng, đã ở tuổi 53. Chúng tôi ngạc nhiên khi nghe bài hát thuở xưa của anh. Văn Cao nói rằng, ngày ấy nếu Hạo đi hẳn vào nhạc, chắc chắn sẽ thành đạt, dù sau này là một dịch giả nổi tiếng về Lép Tônstôi, Đôxtôiepski, Aitmatốp… Trần Dần chỉ lặng im uống và nghe, dù là nghe chính những câu thơ lấp lánh, táo bạo của ông do Nguyễn Thụy Kha hay Văn Cao đọc lên. Chỉ đến khi nghe Trịnh Công Sơn hát, ông mới nheo mắt cười cười, buột ra mấy tiếng: “Tiểu quỷ! Mày là tiểu quỷ!”, rồi cũng chẳng giải thích gì thêm. Cứ thế mà cuộc rượu kéo dài tới nửa đêm, mặc cho bà Băng nhắc nhở về thời gian, và ép người này người khác ăn các món do chính tay bà nấu.
Khi chúng tôi chia tay vợ chồng Văn Cao bước xuống cầu thang, chuông đồng hồ nhà bên điểm 12 tiếng. Thế là trọn ngày sinh nhật của ông. Tất cả chúng tôi đều nghĩ rằng, cuộc đời đã bắt đầu bước vào một ngày mới.


3


Hai mươi năm cuối đời, Văn Cao chỉ viết vài ba bài hát, đấy là bài Mùa xuân đầu tiên (1976) và bài Tình ca Trung du (1984). Bài mùa xuân đầu tiên ông viết sau ngày nước nhà thống nhất, khi cảm xúc trào lên ào ạt ở những người khác, thì cảm xúc của ông lắng lại, bình thản sau quá nhiều xáo trộn cuộc đời. Ông nhìn thấy “mùa xuân dặt dìu theo én về”, ông lắng nghe tiếng “gà đang gáy trưa bên sông”, và ông khẳng định rằng cái “mùa bình thường” đã về: “Từ đây người biết quê người – Từ đây người biết thương người – Từ đây người biết yêu người”.
Âm nhạc của ông vẫn đẹp, ấm và sang trọng, thoát hẳn ra ngoài những bài hát reo vui đại thắng lúc bấy giờ.
Đó là bí mật tài hoa của riêng ông.
Bài hát liền sau đó được dịch và in ở Liên Xô. Chỉ tiếc rằng, hầu như nó chẳng được phổ biến trong đất nước của mình. Có lẽ ông ít viết bài hát ở giai đoạn sau là vì thế. Rồi mùa thu 1984, tôi đi cùng ông trong tốp nhạc sĩ lên Vĩnh Phú theo lời mời của bộ tư lệnh Thông tin. Có lẽ lâu lắm rồi, ông mới có dịp “đi sáng tác tập thể” như lần này. Chúng tôi về một nhà máy thông tin dưới chân núi Thắm, tiếp xúc với những người lính thợ, nghe thành tích của họ, xem họ làm việc và nói chuyện, đọc thơ, hát cho họ nghe. Văn Cao kể lại những kỷ niệm xưa bên dòng sông Lô đã giúp ông viết nên bản Trường ca Sông Lô bất hủ. Trên đường về, gặp nhà thơ Bút Tre, hai ông hôn nhau xúc động chảy nước mắt. Nguyễn Thụy Kha gọi Văn Cao và Bút Tre là tiêu biểu cho hai “trường phái thơ hiện đại Việt Nam”. Các ông được xếp “đồng hạng” với nhau, lấy làm thích thú lắm. Sau chuyến đi ấy, chúng tôi đều viết về bộ đội thông tin, chỉ riêng Văn Cao là viết tình ca. Bài Tình ca Trung du giai điệu sáng láng, lời ca đẹp như thơ. Một cánh tay sông Hồng. Một cánh tay sông Lô. Hai cánh tay như ôm trung du. Và ở đoạn kết là lời hẹn hò trở lại thật bâng khuâng: “Hẹn trở về bên núi Thắm, vào một ngày mùa thu sáng láng… nắng trên đồi như trôi trên sông”.


Càng ngày, sức khỏe Văn Cao càng giảm. Huyết áp thường bị tụt. Phổi bị khô. Cột sống bị thoái hóa, có giai đoạn phải mặc “áo giáp” để đỡ cột sống. Nhưng ngồi với ông, lúc nào cũng vui.

Tháng tư 1985, Thanh Thảo ra Hà Nội tổ chức cho Văn Cao, Nguyễn Thụy Kha và tôi vào thăm Nghĩa Bình theo lời mời của Tỉnh. Ông mừng lắm, thậm chí còn nói rằng, có thể đây là chuyến đi cuối cùng về phía nam. Đang chuẩn bị thì ông bị đau, may mà qua nhanh được. Thanh Thảo lấy thêm vé máy bay cho vợ ông, vì nếu thiếu bà thì chuyến đi sẽ dễ gặp bất trắc, bà còn là “bác sĩ riêng” của ông. Cả tỉnh Nghĩa Bình mừng vui đón ông, chỉ thiếu dựng cổng chào. Tôi nói vui như thế, vì ở đâu ông cũng được quần chúng hâm mộ và kính trọng như đối với một nhân vật đặc biệt của đất nước. Còn ông thì đối với ai cũng bình dị, gần gũi. Đêm ghé vào khách sạn Sa Huỳnh, cả khách sạn mời ông ở lại trọn đêm. Ông gọi những người ở đây bằng em và bảo họ cứ gọi ông là anh. Và ông tự giới thiệu: “Anh chỉ hai mươi thôi – rồi ông chỉ vào vợ – còn đây là bồ của anh”. Chính tâm hồn trẻ đẹp của ông đã xóa đi sự ngăn cách về tuổi tác, về sự mặc cảm giữa con người.


Trong chuyến đi này, ông “phát hiện” ra rượu Bàu Đá, một loại rượu trắng được nấu từ các lò rượu làng Bàu Đá, cách thành Bình Định tám chín cây số. Văn Cao cho rằng trong đất nước này, chỉ có rượu Bàu Đá mới có thể sánh được với rượu Làng Vân nổi tiếng, ông nhấp rượu Bàu Đá và nhận xét: “Rượu Vân mỏng, rượu Bàu Đá dày”. Xe đi tới đâu cũng chở theo rượu Bàu Đá, vì ông không hợp với bia. Đến huyện Mộ Đức, trong bữa tiệc chiêu đãi, thấy ông mang rượu trắng ra uống, người ta liền mang ra mấy chai Napoléon thật đặc biệt: vỏ chai sần sùi bởi những con sò biển đã bám chặt từ bao giờ. Đấy là rượu huyện vừa vớt được từ dưới đáy biển Ngang. Chả là hồi 1976, một con tàu chở rượu từ Sài Gòn ra Hà Nội phục vụ đại hội Đảng đã bị đắm ở đây. Ôi, rượu Napoléon dưới đáy biển cả chục năm trời, thế gian này đã mấy ai được uống? Thế mà Văn Cao và chúng tôi đã gặp may mắn bất ngờ.


Mấy ngày sau, Văn Cao viết được hai bài thơ Qui Nhơn 2 và Quy Nhơn 3 khép lại chùm thơ Qui Nhơn độc đáo mà bài Qui Nhơn 1 ông đã viết ở Hà Nội. Khuya lắm rồi, ông gõ cửa phòng tôi, gọi tôi sang phòng ông uống rượu, và nghe thơ mới làm. Tôi giật mình khâm phục bài thơ và sức sáng tạo của ông.

Chúng tôi, ai mà chẳng nhìn thấy những tháp Chàm đơn côi dọc miền Trung, nhưng cái nhìn của ông thật lạ lùng:


Từ trời xanh


rơi


vài giọt tháp Chàm


Tôi đọc kỹ hai bài thơ mới của ông, và xin ông sửa một chữ trong đoạn kết bài Qui Nhơn 2: “bỗng một ngày bà mẹ Qui Nhơn – nói với tôi một lời – một tiếng – chào con!”. Theo tôi không nên dùng chữ chào, bà mẹ mà chào con thì khách sáo thế nào ấy, nên dùng chữ à con, nó vừa tự nhiên, vừa tình cảm. Văn Cao khoái lắm, ông khen tôi: “Mày đúng là thằng Nghệ”. Và ông nhờ tôi lấy bút sửa vào bản thảo giùm ông. Trong nghệ thuật, Văn Cao là một người biết lắng nghe. Chính vì thế mà ông trở thành tầm cỡ.


Mỗi lần ra Hà Nội, tôi thường cùng Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo hoặc Hoàng Phủ Ngọc Tường ghé thăm ông ở căn nhà 108 Yết Kiêu. Lần nào cũng được ông dành cho chai rượu ngon. Những chai rượu người ta tặng ông. Lần cuối cùng gặp ông ở Đại hội Nhạc sĩ, ông lại bảo: “Tao dành chai rượu, trước khi về, mày đến mà mở”. Nhưng tôi đã lỡ hẹn với ông. Ngày Hà Nội đưa tang ông, tôi ở Huế buồn quá, đến nhà Mai Khắc Ứng uống rượu, cùng nhau tưởng nhớ ông. Tôi uống gần hết bình rượu mà Mai Khắc Ứng không dám ngăn, vì sợ tôi buồn. Mãi ngày sau tôi mới biết, đấy là bình rượu nhung hươu bạc triệu của ông bạn họ Mai. Trong cõi Thiên Thu, giá mà biết chuyện này, chắc Văn Cao sẽ cả cười…


Huế, tháng Bảy, 1995

 ...../.

“Quỹ đen” khó tin thời ông Trịnh Xuân Thanh




“Quỹ đen” khó tin thời ông Trịnh Xuân Thanh


http://dantri.com.vn/xa-hoi/quy-den-kho-tin-thoi-ong-trinh-xuan-thanh-20160803140113447.htm


THẾ KHA


Theo tài liệu PV Dân trí có được, từ cuối năm 2012, các cơ quan chức năng và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã phát hiện Tổng công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) dưới thời ông Trịnh Xuân Thanh làm Chủ tịch HĐQT để cho một số đơn vị thành viên, trong đó có PVC-ME, buông lỏng quản lý, thua lỗ và tham nhũng, lập "quỹ đen" lên tới trên 80,7 tỷ đồng.



Từ câu chuyện sử dụng xe tư gắn biển số xanh trái quy định, hàng loạt bê bối liên quan đến ông Trịnh Xuân Thanh đã bị cơ quan chức năng phát giác.








Thua lỗ trên 576 tỷ đồng


Tài liệu của PV Dân trí có được cho thấy, Công ty cổ phần Thi công cơ giới và Lắp máy dầu khí (PVC-ME) được ông Trịnh Xuân Thanh và các thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) PVC chủ trương thành lập năm 2009 với số vốn điều lệ 500 tỷ đồng, trong đó PVC giữ vị trí cổ đông sáng lập với tỷ lệ góp vốn 40%. Ông Trịnh Văn Thảo được giao nhiệm vụ làm Giám đốc PVC-ME.


PVC-ME có ngành nghề chính là thi công xây dựng hạ tầng, nền móng, gia công cơ khí, lắp máy và đường ống. Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012, PVC-ME đã ký kết được được 34 hợp đồng kinh tế với giá trị 2.780 tỷ đồng, trong đó có những dự án rất lớn như: Tổ hợp khách sạn Dầu khí Việt Nam (201 tỷ đồng); Thi công cảng nhập than, đá vôi và băng tải than Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng (364 tỷ đồng); san lấp mặt bằng Nhà máy nhiệt điện Thái Bình II (154 tỷ đồng); san lấp mặt bằng tại liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn (358 tỷ đồng); gia công chế tạo, lắp dựng kết cấu thép, đường ống tại Nhà máy sơ sợi tổng hợp Polyester Đình Vũ (383 tỷ đồng)...


Hầu hết các hợp đồng quy mô rất lớn này đều liên quan đến ngành dầu khí và do PVC nhận về rồi chỉ định cho PVC-ME thi công. Do năng lực yếu kém nên PVC-ME chỉ nhận công trình, sau đó chỉ định các nhà thầu phụ thi công, còn mình đứng giữa "ăn" phần trăm nên đã xảy ra hàng loạt bê bối trong hoạt động kinh doanh; rất nhiều dự án phải tạm dừng thi công vì chậm tiến độ, thất thoát, thậm chí là thua lỗ lớn.


Báo cáo của cơ quan chức năng cho thấy, hồ sơ của PVC-ME phần lớn đều có nhiều sai sót do đội ngũ cán bộ kỹ thuật yếu, nhất là mảng đầu tư không đánh giá chính xác được hiệu quả của dự án; yếu kém trong khâu xây dựng dự toán cho công trình dẫn đến việc công ty luôn trong tình trạng phát sinh chi phí.


Đến giữa năm 2012, tình hình tài chính PVC-ME mất cân đối vốn nghiêm trọng, có nguy cơ phá sản vì hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, nhiều công trình thi công thua lỗ dẫn đến mất cân đối vốn. Tổng số lỗ theo báo cáo tài chính đến tháng 6/2012 là trên 438 tỷ đồng. Ngoài ra một số khoản lỗ còn tiềm ẩn chưa xác định vào báo cáo tài chính gần 138 tỷ đồng. Chính vì thế, nếu tính cả các khoản lỗ tiềm ẩn thì tổng số lỗ của PVC-ME trên 576 tỷ đồng.




550 triệu đồng chi “sinh nhật bố sếp Thanh ở Tổng công ty”.


Đáng chú ý, khi kiểm tra hoạt động kinh doanh giai đoạn 2009-2012, cơ quan chức năng đã phát hiện PVC-ME có những khoản chi tiêu vung vãi đến khó tin dù lương bình quân của người lao động chỉ từ 4-8 triệu đồng và nhiều lần xảy ra tình trạng chậm, nợ lương. Điều này làm nảy sinh đơn thư tố cáo suốt một thời gian dài, buộc PVN phải vào cuộc xác minh.


Kết quả xác minh sau đó cho thấy PVC-ME đã lập một “quỹ đen” trái phép và đã chi hết trên 80,7 tỷ đồng. Kế toán trưởng, nhân viên PVC-ME đã rút từ “quỹ đen” hàng chục lần, có lần vài trăm triệu đồng, có lần cả tỷ đồng để đưa cho Giám đốc PVC-ME Trịnh Văn Thảo đi đối ngoại, tiếp khách hoặc đưa hàng trăm triệu đồng khác cho các lãnh đạo khác của PVC-ME tiếp khách hoặc đi nước ngoài.


Ví dụ ngày 7/7/2011, ông Nguyễn Tuấn Sơn - Trợ lý Giám đốc - nhận hơn 205 triệu để “phục vụ sếp dùng ngày 11/7/2011”; ngày 11/7/2011 rút 206 triệu đồng “phục vụ sếp”; ngày 26/7/2011 rút tiếp 206 triệu đồng “đưa sếp Thảo đi ct Thái Bình”; ngày 8/9/2011 rút 100 triệu đồng để “sếp Thảo tiếp khách”.


Nhiều lần khác, các sếp PVC-ME đi nước ngoài, Kế toán trưởng PVC-ME là Đinh Bá Lượng cũng rút hàng trăm triệu đồng để “bắn” vào tài khoản cho sếp chi tiêu: Ngày 8/6/2011 rút trên 205 triệu đồng “nhận cho sếp Thảo tiếp khách”; ngày 5/8/2011 rút 206 triệu đồng để “sếp Thành đi công tác”. Ngoài ra còn nhiều khoản tiền được rút lên tới hàng chục triệu đồng làm “phong bì” cho lãnh đạo tiếp khách hoặc “làm việc” với cơ quan chức năng...


Việc chi tiền không có sự kiểm soát của bộ phận quản lý đã dẫn đến chi bộ máy năm 2011 quá lớn, trên 47,8 tỷ đồng, trong đó có tiếp khách gần 10 tỷ đồng. Đáng chú ý, trong năm 2011, ông Hoàng Vĩnh Thắng - lái xe cho Giám đốc Trịnh Văn Thảo - đã thanh toán tiếp khách số tiền trên 1,12 tỷ đồng. Trước đó, năm 2010 ông Thắng cũng đã sử dụng gần 730 triệu đồng để chi tiếp khách cho sếp.


Thậm chí, tài liệu của PV Dân trí có được còn cho thấy nhiều khoản chi tiêu đến khó tin đã xảy ra ở PVC-ME. Đơn cử như ngày 2/7/2010 Kế toán trưởng công ty khi đó là Bùi Trọng Chinh đã rút 105 triệu đồng để “họp lớp sếp+sinh nhật”. Ngày 7/7/2011, bộ phận văn phòng đã rút 350 triệu đồng để mua bộ đồ đánh golf cho sếp.


Đặc biệt, chỉ trong ngày 15/8/2011, ông Nguyễn Tuấn Sơn - Trợ lý giám đốc Trịnh Văn Thảo đã 4 lần rút tiền từ quỹ với tổng cộng hơn 750 triệu đồng, trong đó sử dụng gần 550 triệu đồng để chi cho việc “sinh nhật bố sếp Thanh ở TCty” và 100 triệu đồng để “sếp Thảo tiếp khách”.



Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang Huỳnh Minh Chắc (nhiệm kỳ 2011 - 2016) tặng hoa chúc mừng Phó Chủ tịch tỉnh Trịnh Xuân Thanh khi ông này được thuyên chuyển về địa phương năm 2015 (ảnh: Cổng TTĐT tỉnh Hậu Giang).



Tổng giám đốc "cao chạy xa bay", ông Trịnh Xuân Thanh lên chức


Tài liệu chúng tôi có được cho thấy, chỉ trong thời gian khoảng 2 tuần sau khi Tập đoàn Dầu khí Việt Nam vào kiểm tra, ngày 31/7/2012, ông Trịnh Văn Thảo (Giám đốc PVC-ME) đã bất ngờ xuất cảnh đi Mỹ mà không báo cáo cho tập đoàn cũng như PVC-ME.


Sau khi nhận được tài liệu từ PVN về những khoản thua lỗ, dấu hiệu tham nhũng rất lớn tại PVC-ME, ngày 12/9/2012, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đã khởi tố vụ án đối với 15 bị can liên quan, trong đó có 13 người là lãnh đạo, nguyên lãnh đạo và cán bộ của PVC-ME về các tội danh cố ý làm trái quy định Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.


Tháng 12/2012, ông Đỗ Văn Hậu - Tổng giám đốc PVN đã có văn bản số 10317 yêu cầu làm rõ trách nhiệm của tập thể, từng cá nhân có liên quan trong việc để lãnh đạo PVC-ME buông lỏng quản lý, tham nhũng, thua lỗ và không thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của PVN về công tác cán bộ tại PVC-ME. Người đại diện phần vốn của PVN tại PVC phải chỉ đạo đơn vị thực hiện và kiểm điểm trách nhiệm cá nhân trong sự việc tại PVC-ME.


Những khoản thua lỗ không nhỏ tại PVC-ME đã “đóng góp tích cực” vào việc dẫn tới khoản thua lỗ gần 3.300 tỷ đồng tại PVC. Tuy nhiên khi việc xem xét, xử lý trách nhiệm của những cá nhân liên quan đang được tiến hành thì ông Trịnh Xuân Thanh với tư cách là Chủ tịch HĐQT PVC vẫn ung dung leo lên những vị trí cao hơn ở Bộ Công Thương, rồi về Hậu Giang làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh, gây bức xúc dư luận.


Đầu năm nay, vụ án xảy ra tại PVC-ME được TAND Tối cao đưa ra xử phúc thẩm. Cơ quan tố tụng xác định PVC-ME đã lập quỹ trái phép với khoản tiền 85 tỷ đồng để sử dụng cho hoạt động đối ngoại, tiếp khách. Hành vi của các bị cáo đã gây thiệt hại cho PVC-ME gần 47 tỷ đồng, gây thiệt hại ngân sách hơn 1,1 tỷ đồng và gây thiệt hại tới một doanh nghiệp khác 4 tỷ đồng...


Hội đồng xét xử đã tuyên phạt Bùi Trọng Chinh 15 năm tù giam, các bị cáo còn lại bị tuyên phạt từ 1-3 năm tù giam và án treo. Riêng cựu giám đốc PVC-ME Trịnh Văn Thảo “bặt vô âm tín” từ tháng 7/2012, đang bị truy nã quốc tế.


Thế Kha
............................../.


NẠN ĂN THỊT NGƯỜI VÀ TỘI ÁC CỦA NHÀ NƯỚC Ở QUẢNG TÂY




TRUNG QUỐC: NẠN ĂN THỊT NGƯỜI VÀ TỘI ÁC CỦA NHÀ NƯỚC Ở QUẢNG TÂY

http://vi.rfi.fr/chau-a/20160801-nan-an-thit-dong-loai-va-toi-ac-cua-nha-nuoc-o-quang-tay?ref=fb_i



 
Hồng vệ binh tấn công những "phần tử phản cách mạng" trong Cách Mạng Văn Hóa Trung Quốc.DR




Theo kết quả một cuộc điều tra tuyệt mật, chưa từng được công bố của một số lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng Cộng Sản Trung Quốc tiến hành từ năm 1983 đến năm 1988 về các vụ tàn sát và nạn ăn thịt người, chỉ tính riêng ở tỉnh Quảng Tây vào năm 1968, đã có 302 vụ và khoảng 150.000 cái chết bất thường.
Trong bài viết có tiêu đề « Cách Mạng Văn Hóa : nạn ăn thịt người và tội ác của Nhà nước Trung Quốc ở tỉnh Quảng Tây », Le Monde nhận định đặc trưng của Cách Mạng Văn Hóa Trung Quốc là « bạo lực trên diện rộng ».
Le Monde cho biết nhà sử học người Trung Quốc Tống Ủng Di (Song Yongyi), của Đại học California ở Los Angeles đang giám sát công tác xuất bản 36 tập các tài liệu lưu trữ nhà nước tuyệt mật chưa từng được công bố tại Trung Quốc về Cách mạng Văn Hóa ở tỉnh tự trị Quảng Tây. 13.000 trang tài liệu bằng tiếng Trung là kết quả cuộc điều tra mật của các lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng Cộng Sản Trung Quốc giai đoạn 1983-1988. Trong vòng 5 năm, 100.000 quan chức nhà nước các cấp đã được huy động để làm sáng tỏ các vụ tàn sát, đặc biệt là nạn ăn thịt đồng loại xảy ra tại tỉnh tự trị Quảng Tây năm 1968.
Trước đó, năm 1981, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã thông qua một nghị quyết, lên án Cách Mạng Văn Hóa, gọi đó là một một thảm họa, quy trách nhiệm cho Mao Trạch Đông và « bè lũ bốn tên ». Sau khi Mao Trạch Đông qua đời, nhiều lãnh đạo bị cáo buộc là thành phần xét lại, bị cách chức và bị bắt.
Cuộc điều tra được Đảng Cộng Sản Trung Quốc tiến hành ở 40% khu vực nông thôn và 2/3 số các thành phố lớn nhất của tỉnh Quảng Tây. Theo kết luận cuộc điều tra này, có tổng cộng 302 vụ ăn thịt đồng loại và khoảng 150.000 cái chết bất thường tại Quảng Tây vào năm 1968.
Còn bản thân nhà nghiên cứu Tống Ủng Di, dựa trên cả kết quả của một nhà nghiên cứu khác, thì cho rằng có tới 415 vụ ăn thịt đồng loại. Ông cho biết : « Các vụ ăn thịt đồng loại trong nạn đói nghiêm trọng 1958-1961 xuất phát từ các hành vi cá nhân, do người dân bị đói quá. Còn trong Cách Mạng Văn Hóa, nạn ăn thịt đồng loại là hệ quả trực tiếp của các phong trào diện rộng do nhà chức trách khơi dậy. Nhiều người bị giết hại một cách có chủ ý, tim, gan họ bị moi ra cho đám đông ăn. Một số người ăn vì tin là kẻ thù đáng bị vậy, còn một số người khác thì ăn vì tin là có thể kéo dài tuổi thọ.»
Cuộc điều tra còn cho thấy, ở một số quận, huyện, có những ngày, vài ngàn người dân được mời gọi tới tham gia vào các sự kiện chết chóc, rùng rợn quen thuộc kiểu này. Một người nào đó tên là Bàng, bị coi là « kẻ thù của giai cấp » đã bị chặt ra thành từng miếng nhỏ và vài trăm người đã ăn thịt ông này.
Ông Tống Ủng Di đánh giá là đây là tội ác của cả bộ máy nhà nước Trung Quốc vì nó được các ủy ban Cách Mạng, tức là bộ máy quyền lực mới được triển khai ở tất cả các cấp vào năm 1968 cổ vũ, khích lệ. Đây là năm đẫm máu nhất của cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Các Ủy ban này phát động, tổ chức nhưng sau đó lại giấu nhẹm thông tin về các vụ ăn thịt đồng loại. Những kẻ xúi giục trực tiếp là những người đứng đầu các đơn vị dân quân tự vệ và thành viên của các đơn vị này.
Cuộc điều tra đã khiến 10 kẻ xúi giục trực tiếp các vụ ăn thịt đồng loại bị kết án tử hình nhưng nhà sử học Tống Ủng Di khẳng định các lãnh đạo Đảng và các sĩ quan quân đội thời đó vẫn được tự do, thậm chí còn được thăng chức. Ông gọi đó là chính sách « chuyển sang các việc khác, và không trừng phạt quá nhiều người ».
Ông Tống Ủng Di cho biết chính các quan chức cao cấp của Đảng Cộng Sản Trung Quốc hoặc gia đình họ khi đi sang phương Tây đã phổ biến các tài liệu liên quan đến cuộc điều tra vì họ không muốn quá khứ bị xóa nhòa, và giải pháp là gửi các tài liệu đó cho các thư viện phương Tây.
Le Monde nhận định là câu chuyện về Cách Mạng Văn Hóa là « câu chuyện lưu vong » mà tác giả là các nhà sử học Trung Quốc và nước ngoài viết nên ngoài lãnh thổ Trung Quốc, dựa trên các tư liệu được phát tán một cách bấp bênh qua các kẽ hở tạm thời của cơ quan lưu trữ Trung Quốc, và dựa trên các nghiên cứu thực địa với nhiều nhân chứng lịch sử của một số nhà nghiên cứu, phóng viên và các nhà dựng phim tài liệu Trung Quốc. Những người này thường bị cấm xuất bản tại Trung Quốc và ở cả nước ngoài.
Mặc dù cha của Tập Cận Bình đã từng là thành viên bộ Chính Trị, một trong những nhà lãnh đạo theo đường lối cải cách và chủ trương tiến hành điều tra ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình lại không cởi mở về chủ đề Cách Mạng Văn Hóa. Le Monde nhận định rằng dưới một chế độ mà lịch sử bị xuyên tạc một cách vô liêm sỉ thì sự thật lịch sử là một thứ vũ khí mà Trung Quốc muốn kiểm soát. Tin rằng Đảng Cộng sản đang gặp nguy hiểm nên khi lên nhậm chức vào năm 2013, Tập Cận Bình đã xếp « sai lầm của Đảng » về Cách Mạng Văn Hóa vào danh sách « bảy chủ đề không được nhắc tới » và tuyên chiến với những cáo buộc về lịch sử, hay còn gọi « thuyết hư vô lịch sử ».
Và 50 năm sau khi nổ ra Cách Mạng Văn Hóa, dưới nhiều sức ép mạnh mẽ, báo chí Trung Quốc hầu như vẫn không nhắc nhở gì đến cuộc Cách Mạng này.
......./.