....trí thức cấp tiến thúc đẩy quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam




https://www.facebook.com/pham.nguyentruong/posts/848997971800817




Phía Trước: Trong những năm gần đây, tiếng nói của các trí thức trong tiến trình đổi mới đất nước trở nên rất mạnh mẽ. Bản thân ông cũng là một trí thức cấp tiến trong công cuộc ấy, mong ông có thể giúp cho các độc giả của Phía Trước biết được những gì các trí thức cấp tiến đã làm trong thời gian vừa qua để thúc đẩy quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam?

T.S Nguyễn Quang A:
Giới trí thức Việt Nam đã có một số đóng góp tích cực vào việc phản biện chính sách và các dự án lớn mà điển hình là dự án Bauxite Tây Nguyên (BTN) và dự án đường sắt cao tốc (ĐSCT).

BTN là một dự án lớn (thực ra là để cho Trung Quốc vào đầu tư). Một tổ chức NGO đã dàn xếp cho nhà văn Nguyên Ngọc và cựu đại sứ Nguyễn Trung đi thực địa tìm hiểu (2 lần, mỗi lần vài tuần lễ) trên cơ sở những nghiên cứu của các nhà khoa học độc lập, đã thúc đẩy nhiều cuộc tiếp xúc với các chính quyền địa phương, vạch rõ cho họ những nguy hại của dự án, đã cùng các nhà khoa học tổ chức nhiều hội thảo phản biện và có một báo cáo dài gửi cho các cơ quan hữu trách.
Tuy nhiên, có vẻ như dự án vẫn tiếp tục, cho nên các trí thức đã vận động báo chí vào cuộc và tiếng nói phản đối ngày càng lên cao. Nhiều kiến nghị của tri thức đã được công bố và gửi cho các cơ quan hữu trách. Từ đó trang Bauxite Việt Nam ra đời và đến nay vẫn hoạt động tích cực

Dưới sức ép của tri thức, của dư luận, Nhà nước đã phải hạn chế dự án (lẽ ra là cả chục nhà máy với sự đầu tư của Trung Quốc trên quy mô rất lớn) ở mức thí điểm ở 2 nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ (và nhà đầu tư là TKV).
Có thể thấy sự phản đối này đã có kết quả không nhỏ, tuy không dừng được toàn bộ. Tất cả các ý kiến phản biện đến nay đều tỏ ra đúng và là một khích lệ lớn cho việc lên tiếng của giới trí thức.

ĐSCT là một dự án khổng lồ với tổng vốn đầu tư dự tính khoảng 60 tỷ USD. Giới trí thức cũng đã lên tiếng mạnh mẽ phản bác bằng ý kiến, hội thảo, kiến nghị và huy động báo giới vào cuộc. Tuy người ta nói đến công nghệ TGV của Pháp và Shinkansen Nhật Bản nhưng họ đã đưa nhiều đại biểu quốc hội và lãnh đạo địa phương đi thăm tàu cao tốc Trung Quốc. Và rất có thể nếu dự án được thông qua thì sẽ là tàu và bằng tiền vay Trung Quốc.

Sự lên tiếng đã mạnh mẽ đến mức Quốc hội đã quyết định không thông qua dự án.
Còn có thể nhắc đến nhiều dự án mà tiếng nói của giới trí thức đã mang lại kết quả (như dừng dự án thủy điện xâm hại đến rừng quốc gia Cát Tiên, vân vân).

Giới trí thức cũng có vai trò tích cực đến quá trình dân chủ hóa mà điển hình là Kiến nghị 72 về sửa đổi hiến pháp đã dấy lên một phong trào tìm hiểu, học tập về hiến pháp chưa từng có trong lịch sử Việt Nam (và đấy mới là mục đích chính của KN72 chứ không phải là để thay câu đổi chữ trong hiến pháp; tất nhiên nếu có sự thay đổi thì càng tốt, nhưng đó không phải là 3 hay 4 mục tiêu đầu tiên của KN72).
Trước KN72 giới trí thức đã đưa ra nhiều kiến nghị khác về nhân quyền nhưng nổi bật hơn trong số đó là kiến nghị thực thi quyền dân sự và chính trị vào tháng 9-2013 đi kèm với sự ra đời của Diễn đàn Xã hội Dân sự (CSF).

Mục tiêu của CSF là thúc đẩy sự phát triển của XHDS ở Việt Nam; góp phần vào sự chuyển đổi ôn hòa từ chế độ độc tài toàn trị hiện nay sang chế độ dân chủ (với hệ thống đa đảng, bầu cử tự do và nền pháp trị thực sự), bằng phương pháp bất bạo động; hoạt động theo phương châm của 4 khẩu hiệu :
1) Thực thi dân quyền
2) Nâng cao dân trí
3) Chấn hưng dân khí
4) Cải thiện dân sinh

Đây là những khẩu hiệu dựa hoàn toàn (3 khẩu hiệu sau) vào tư tưởng của cụ Phan Châu Trinh cách đây 1 thế kỷ (có cải biến cho phù hợp với hiện nay).
CSF tôn xưng cụ Phan Châu Trinh là cha đẻ tư tưởng của mình và bổ sung thêm ý tưởng hiện đại về nhân quyền. Người dân có các quyền tự nhiên, bẩm sinh của mình mà đã được Tuyên Ngôn Nhân quyền long trọng ghi nhận, thậm chí cũng được Hiến pháp hiện hành ghi nhận. Biết được quyền của mình người dân cứ thế thực hiện, cứ như chúng ta ở trong một nước thực sự tự do dân chủ, và không cầu xin bất cứ ai (kể cả Nhà nước) ban cho, không cần bất cứ sự cho phép của bất cứ ai.
Việc hạn chế một quyền nào đó chỉ để nhằm bảo vệ quyền của những người khác, và phải được quy định tường minh trong luật (chứ không phải quy định pháp luật).
Nhà nước phải có NGHĨA VỤ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân thực thi quyền của mình. Hiểu như vậy dẫu chưa có luật người dân vẫn cứ thực thi các quyền của mình (từ quyền tự do ngôn luận, hội họp, lập hội, lập đảng, biểu tình, vân vân...) mà không đợi sự cho phép của bất kể ai (nhà nước có thể yêu cầu đăng ký nhưng nếu thủ tục đăng ký ngăn cản việc thực thi các quyền đó thì LÀ LỖI CỦA NHÀ NƯỚC, chứ không phải lỗi của người dân.

Thực hiện 4 khẩu hiệu trên, nhất là khẩu hiệu thứ nhất vận động mọi người dân tìm hiểu để biết quyền của mình và thực thi các quyền đó ngay lập tức, cũng góp phần nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, là công việc lâu dài, bền bỉ. Và theo tôi số phận của chúng ta do chính chúng ta quyết định, việc thực hiện 4 khẩu hiệu trên là hết sức thiết thực cho cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta cũng như vận mệnh của cả dân tộc.

Phía Trước: Nhiều người cho rằng trí thức không nên dính dáng đến chính trị, ông nghĩ sao về quan điểm này? 
T.S Nguyễn Quang A: Nếu hiểu chính trị theo nghĩa rộng là mọi hoạt động liên quan đến các quyết định tập thể, thì không ai không thể dính đến chính trị, và dính đến chính trị là rất tốt, là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người dân. Và tôi rất tích cực tham gia chính trị theo nghĩa rộng đó.

Còn hiểu theo nghĩa hẹp về chính trị: tham gia đảng phái chính trị với mục đích nắm quyền lực thì lại khác. Tôi cũng không muốn dính đến cái chính trị theo nghĩa hẹp này. Quyền lựa chọn là của mỗi người và chúng ta nên tôn trọng lựa chọn của họ. Và việc tham gia vào chính trị theo nghĩa hẹp này cũng rất cần thiết cho xã hội, thiếu nó xã hội không thể phát triển.
Vấn đề ở đây là hiểu thế nào là chính trị mà thôi. Tôi ủng hộ và tôn trọng sự tham gia, sự dính líu đến chính trị của tất cả mọi người dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp.

Phía Trước: Tôi thấy rằng trí thức luôn ở vị thế rất khó có được sự ủng hộ của số đông, sở dĩ bởi bản tính ôn hòa và thích những hành động ôn hòa. Điều này khiến cho nhiều bên đánh giá là kém dấn thân. Xin ông cho biết ý kiến của ông?

T.S Nguyễn Quang A: Hoàn toàn ngược lại. Nếu trung thực, thẳng thắn, chân thành và biết cách, trí thức hoàn toàn có thể có sự ủng hộ của số đông. Chính bản tính ôn hòa và thích hành động ôn hòa là thế mạnh vô song của trí thức. Sự dấn thân đích thực hoàn toàn chẳng liên quan gì đến đặc tính đó cả.

Phía Trước: Trong rất nhiều bài viết và nhiều lần nói chuyện, ông đều nhắc đến những thay đổi rất nhỏ, nhưng lại mang ý nghĩa lớn lao. Đó có phải là hiệu ứng Domino? Và liệu đó có phải là những hoạt động mà ông và đồng sự đang thực hiện?

T.S Nguyễn Quang A: Không phải tất cả những thay đổi rất nhỏ đều có ý nghĩa lớn, nhưng tôi ủng hộ tất cả những thay đổi nhỏ nhất theo hướng cải thiện cuộc sống của người dân, nếu theo hướng cải thiện thì những thay đổi nhỏ dễ thực hiện hơn, khả thi hơn, sát sườn hơn, thực tế hơn và người dân cảm thấy luôn và như thế nó khuyến khích những việc như vậy. Nhiều thay đổi nhỏ sẽ tạo ra thay đổi lớn.

Tất nhiên phải tận dụng mọi cơ hội để có những thay đổi lớn theo hướng cải thiện và ngăn những thay đổi lớn theo hướng ngược lại.
Xã hội là một hệ thống rất phức tạp và những thay đổi (nhất là thay đổi chính trị) luôn rất khó lường. Chúng ta có thể dự đoán xu hướng dài hạn khá dễ, song trong ngắn hạn, hầu hết những dự đoán đều rất khó. Và những biến đổi có ý nghĩa to lớn không thể xảy ra nếu không có vô vàn những thay đổi nhỏ xảy ra trước đó, rồi đột ngột nó “lật” trạng thái (mà người ta hay gọi là “cách mạng” nhưng tôi ghét từ này). Người ta đã nghiên cứu rất nhiều và khá kỹ hiện tượng “lật” trạng thái như vậy trong các hệ thống phức tạp dưới các thuật ngữ như tipping phenomenon (hiện tượng lật).
Hiểu là hiệu ứng domino như bạn nói cũng có phần đúng, song tôi không thích dùng từ đó, tôi ưa tipping hơn, giống như cái cân nhạy ở trạng thái cân bằng chỉ cần cho thêm một chút vào một bên là nó lật nghiêng sang bên đó.
Hiện tượng tipping rất quan trọng trong bất kỳ hệ thống phức tạp nào và vô cùng quan trọng trong những thay đổi xã hội và chính trị. Cho nên tôi khuyên các bạn hãy tìm hiểu kỹ nó. Hãy kiên trì làm những việc nho nhỏ và nó có thể mang lại những ý nghĩa hết sức lớn (vì không có chúng thì không thể có sự thay đổi lớn có ý nghĩa và thiếu chúng thì sự thay đổi lớn chưa chắc đã bền vững).
Phía Trước: Những cản trở từ chính quyền Việt Nam hiện nay cho thấy rằng họ không những không chấp nhận những cuộc chuyển đổi lớn, mà ngay cả những chuyển dịch từ từ như các hoạt động xã hội dân sự cũng bị đặt vào nguy cơ cần phải đối phó. Theo ông nguyên nhân do đâu? Có phải chỉ vì họ không muốn thay đổi? Hay còn vì một mâu thuẫn bấy lâu nay giữa chính quyền và giới trí thức?

T.S Nguyễn Quang A: Thực ra ở Việt Nam trong một phần tư thế kỷ qua đã có những thay đổi rất lớn. Chính quyền nào cũng muốn giữ quyền cai trị của mình, họ chỉ buộc phải từ bỏ khi bị sức ép (do luật định trong các nước dân chủ khi thua trong bầu cử, do cạnh tranh, do sức ép của nhân dân và quốc tế). Tôi không thấy vấn đề và giải pháp ở phía chính quyền, hoàn toàn ngược lại nó ở phía chúng ta: nhân dân.
Chúng ta chịu để cho chính quyền làm vậy thì chính quyền tất nhiên sẽ làm vậy vì lợi ích của họ xui khiến họ làm vậy. Nếu chúng ta sợ hãi, thụ động và để mặc chính quyền làm trái pháp luật vi hiến thì chúng ta đành phải cam chịu với số phận nô lệ thôi. Hãy đừng đợi có một ông vưa hiền hay một ông đảng chân chính nào đó ban cho chúng ta tự do.
Tự do, dân chủ phải giành lấy, nó không phải là của bố thí!
Hãy lên tiếng, hãy gây sức ép lên chính quyền 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần, chính quyền nào cũng sẽ thay đổi, không sớm thì muộn. Chính vì thế hãy tích cực thực hiện khẩu hiệu số 1 của chúng tôi: đừng sợ và hãy thực thi quyền của mình (dù đó là quyền kinh tế, sức khỏe, văn hóa hay chính trị). Tương lai của chúng ta là hoàn toàn do chúng ta chứ không phải ở chính quyền.

Phía Trước: Vị thế của giới trí thức bấy lâu nay luôn bị đánh giá thấp, đặc biệt là sau sự kiện Nhân văn giai phẩm. Theo ông, liệu giới trí thức có thể lấy lại vị thế quan trọng của mình hay không? Các điều kiện nào cần thiết để người trí thức của thể phát huy được hết khả năng cho vai trò của mình?

T.S Nguyễn Quang A: Tôi không tin vậy. Trí thức luôn là tầng lớp đi đầu. Chỉ có những kẻ điên mới đánh giá thấp trí thức.
Điều kiện nào ư?
Hãy tạo ra các điều kiện ấy, còn nếu chờ nếu có điều kiện thế này thế nó thì chúng tôi mới phát huy được vai trò là hoàn toàn sai. Người luôn nghĩ như thế vẫn là một nô lệ, dẫu là trí thức cũng là trí thức nô lệ (mà không ít đâu vì cái chế độ này nó có động cơ tạo ra các văn nô, nhà khoa học nô như vậy). Trí thức phải đi đầu trong dẫn dắt nhân dân hiểu và thực thi quyền vốn có của mình, khi đó họ có vai trò lãnh đạo, còn vẫn chờ ai đó tạo điều kiện thì đó chưa phải là trí thức thật.

Phía Trước:
Rất mong ông chia sẻ những kỳ vọng của ông về lớp trí thức trẻ của Việt Nam trong 10, 20 năm nữa?
T.S Nguyễn Quang A: Tôi rất tin vào họ và mong họ chăm chỉ làm ăn, học tập, cải thiện cuộc sống của bản thân mình và gia đình mình, sống vui, sống khỏe (đừng tưởng những việc bình thường và có vẻ “chẳng dấn thân” chút nào đó là không quan trọng, chúng vô cùng quan trọng.) Không phải đặt mục tiêu quá to tát làm gì. Hãy thực tế, đặt ra cho mình những mục tiêu vừa sức vì mục tiêu viển vông sẽ chắc chắn thất bại và làm bạn nản lòng. Và tất nhiên tôi cũng chúc họ tham gia chính trị (theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp) một cách tích cực, nhất là trong việc vượt qua nỗi sợ, nỗi ám ảnh và cứ thế thực thi các quyền của mình và một điều cuối đừng sợ cả thất bại nữa.


Xin chân thành cảm ơn ông!


......../.

Cải cách ruộng đất: Lệ thuộc Nga – Tàu?





Cải cách ruộng đất: Lệ thuộc Nga – Tàu?


https://www.facebook.com/drtuannguyen/posts/10203066131001279

*************



Có lẽ chẳng phải là một “phát hiện” vì hai lá thư dưới đây đã xuất hiện khá lâu trên mạng. Đó là hai lá thư cụ Hồ Chí Minh gửi cho Stalin vào ngày 30/10/1952 và 31/10/1952. 

Nội dung thư vừa báo cáo vừa xin ý kiến chỉ đạo của Stalin về cuộc “Cải cách ruộng đất” (CCRĐ). 

Hai lá thư là chứng từ cho thấy thời đó miền Bắc VN quá lệ thuộc vào Tàu và Nga (Liên Xô).

Lá thư thứ nhất đề ngày 30/10/1952 báo cáo cho Stalin biết rằng ông (Hồ Chí Minh) đang soạn đề án CCRĐ. Ngoài việc xin viện trợ về thuốc men và vũ khí, ông xin được “chỉ thị” của Stalin về vấn đề CCRĐ.

Lá thư thứ hai thì ngắn hơn thư thứ nhất. Đáng chú ý trong thư này là chương trình hành động CCRĐ có sự trợ giúp của Lưu Thiếu Kỳ (?) và một người Tàu khác tên là Văn Sha San. Thư ghi rõ ràng là xin được “chỉ dẫn”.

[...]

Hai lá thư của cụ Hồ thêm những chứng từ về sự lệ thuộc vào Tàu và Liên Xô của chính quyền ngoài Bắc. Không ai ngạc nhiên về sự lệ thuộc ngoại bang thời đó. Nhưng vấn đề là chính quyền ngoài Bắc tuyên truyền rằng chính quyền miền Nam lệ thuộc vào Mĩ. Nói theo cách nói của Tây là vườn nhà mình không sạch mà chõ miệng sang chê vườn nhà người ta dơ.


/////////////////



Thư ngày 30-10-1952
Đồng chí Stalin kính mến
Tôi đã bắt đầu soạn thảo đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam, và sẽ giới thiệu với đồng chí trong thời gian tới.
- Tôi gửi tới đồng chí một số yêu cầu, và hi vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.
1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để làm quen và tìm hiểu thực trạng ở đó. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp đủ để có thể giao tiếp với nhiều người. Từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi đi đường mất khoảng 10 ngày.
2. Chúng tôi muốn gửi tới Liên Xô 50-100 du học sinh, với trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, trong số họ có người là Đảng viên và cũng có ngừơi chưa phải là Đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí nhất trí về vấn đề này chứ.
3. Chúng tôi muốn nhận từ phía các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh ( thuốc sốt rét) cho quân đội và dân thường, có nghĩa rằng 5 tấn trong nửa năm
4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau
(a) Pháo cao xạ 37 li cho 4 trung đoàn, tất cả là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.(b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tất cả là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu(c) 200 khẩu súng phòng không 12,7 li và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định vào ngày mùng 8 hoặc là mùng 9 tháng 11 sẽ rời khỏi Moscow.
Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và lời chúc tốt đẹp nhất
Hồ Chí Minh
30-10-1952 (đã ký)
(Trong bức thư thứ 1, Hồ Chí Minh ký tên Tàu.)



//////////////////






Thư ngày 31/10/1952
Đồng chí Stalin thân mến:
Xin gửi ngài chương trình cải cách ruộng đất của Đảng lao động Việt Nam.
Chương trình hành động được lập bởi chính tôi dưới sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Shao Shi, Văn Sha San.
Đề nghị ngài xem xét và cho chỉ dẫn.
Gửi lời chào cộng sản.
Hồ Chí Minh, 31/10/1952



............./.

5 Góc Nhìn Khác Về Sinh Hoạt Của Người Nhật

5 Góc Nhìn Khác Về Sinh Hoạt Của Người Nhật
http://www.gocnhinalan.com/cac-hoat-dong-khac/5-goc-nhin-khac-ve-sinh-hoat-cua-nguoi-nhat.html
field-japan
Theo Doanh Nhan Saigon – 25/8/2014
Dường như người Nhật rất thấm nhuần và áp dụng giáo lý đạo Phật trong cuộc sống hằng ngày, họ xem mọi người đều bình đẳng vì cùng có Phật tánh như nhau. Những chuyện dưới đây có thể xem là “chuyện lạ” so với thực tế ở nhiều quốc gia khác.
Chuyện thứ nhất: Trung thực
Ở Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một cuốc đường dài. Vì sao? Các bác tài sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm, kèm lời hướng dẫn “Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”.
Sự trung thực của người Nhật in đậm nét ở những “mini shop không người bán” tại Osaka. Nhiều vùng ở Nhật không có nông dân. Ban ngày họ vẫn đến công sở, ngoài giờ làm họ trồng trọt thêm. Sau khi thu hoạch, họ đóng gói sản phẩm, dán giá và để thùng tiền bên cạnh. Người mua cứ theo giá niêm yết mà tự bỏ tiền vào thùng. Cuối ngày, trên đường đi làm về, họ ghé đem thùng tiền về nhà. Nhẹ nhàng và đơn giản. Các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở Hokkaido, Sapporo hay Osaka… cũng không nơi nào bạn phải gửi giỏ, túi xách.
Quầy thanh toán cũng không đặt ngay cổng ra vào. Người Nhật tự hào khẳng định động từ “ăn cắp vặt” gần như đã biến mất trong từ điển. Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 – 10% khi biết bạn là khách nước ngoài.
Chuyện thứ hai: Không ồn nơi công cộng
Nguyên tắc không gây tiếng ồn được áp dụng triệt để tại Nhật. Tất cả đường cao tốc đều phải xây dựng hàng rào cách âm, để nhà dân không bị ảnh hưởng bởi xe lưu thông trên đường. Osaka bỏ ra 18 tỷ USD xây hẳn 1 hòn đảo nhân tạo để làm sân bay rộng hơn 500ha ngay trên biển. Lý do đơn giản chỉ vì “người dân không chịu nổi tiếng ồn khi máy bay lên xuống”.
Tại các cửa hàng mua sắm, dù đang vào mùa khuyến mãi, cũng không một cửa hàng nào được đặt máy phát ra tiếng. Tuyệt đối không được bật nhạc làm ồn sang cửa hàng bên cạnh. Muốn quảng cáo và thu hút thì cách duy nhất là thuê một nhân viên dùng loa tay, quảng cáo với từng khách.
Chuyện thứ ba: Nhân bản
Vì sao trên những cánh đồng ở Nhật luôn còn một góc nguyên, không thu hoạch? Không ai bảo ai, những nông dân Nhật không bao giờ gặt hái toàn bộ nông sản mà họ luôn để phần 5 – 10% sản lượng cho các loài chim, thú trong tự nhiên.
Chuyện thứ tư: Bình đẳng
Mọi đứa trẻ đều được dạy về sự bình đẳng. Để không có tình trạng phân biệt giàu nghèo ngay từ nhỏ, mọi trẻ em đều được khuyến khích đi bộ đến trường. Nếu nhà xa thì xe đưa đón của trường là chọn lựa duy nhất. Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi.
Việc mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến tất cả nhân viên, quan chức, cho thấy một nước Nhật không khoảng cách. Những ngày tuyết phủ trắng nước Nhật, từ trên cao nhìn xuống, những công dân Nhật như những chấm đen nhỏ di chuyển nhanh trên đường. Tất cả họ là một nước Nhật chung ý chí, chung tinh thần lao động.
Văn hóa xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật. Không có bất cứ sự ưu tiên. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày ở Nhật, bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ tướng.
Chuyện thứ năm: Nội trợ là một nghề
Ở Nhật Bản, hàng tháng chính phủ tự trích lương của chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ nhưng vẫn được hưởng các tiêu chuẩn y như một người đi làm. Về già, vẫn hưởng đầy đủ lương hưu.
Độc đáo hơn nữa là nhiều công ty áp dụng chính sách, lương của chồng sẽ vào thẳng tài khoản của vợ. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình vì thế luôn được đề cao, tôn trọng.

_____ Người Amish ở Mỹ



Người Amish ở Mỹ
Phạm Cao Hoàng



http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19462




Họ theo đuổi một lối sống đơn giản, khiêm tốn, hiếu hòa, kiên nhẫn, nhường nhịn, quên đi bản thân, hết lòng vì cộng đồng. Kiêu ngạo và chủ nghĩa cá nhân là những thứ tối kỵ đối với người Amish. Họ không dùng điện, không làm chủ xe hơi, điện thoại,…Cuộc sống của họ bây giờ và 300 năm trước không khác nhau bao  nhiêu.


NGƯỜI AMISH LÀ AI?
VÌ SAO HỌ DI CƯ SANG CHÂU MỸ?

Vào thế kỷ 16, nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo ở Châu Âu tham gia phong trào Anabaptist Movement vốn chủ trương không rửa tội cho trẻ em, mà chỉ rửa tội cho người lớn- khi mà họ đã có thể chủ động chọn lựa đức tin của họ. Họ ngược đãi, bị phân biệt đối xử, một số người bị giết. Nhiều người trốn vào vùng rừng núi của Thụy Sĩ và miền nam nước Đức, và cộng đồng Amish được hình thành ở đó.

Amish chính là giáo phái Tin Lành tách ra từ một giáo phái Tin Lành đã hình thành trước đó, Mennonites. Đầu thế kỷ 18 để có tự do tôn giáo, cộng đồng Mennonites và Amish di cư sang Châu Mỹ.

HỌ THEO ĐUỔI NHỮNG GIÁ TRỊ NÀO?

Họ theo đuổi một lối sống đơn giản, khiêm tốn, hiếu hòa, kiên nhẫn, nhường nhịn lẫn nhau, quên đi bản thân, hết lòng vì cộng đồng. Kiêu ngạo và chủ nghĩa cá nhân là những thứ tối kỵ đối với người Amish.


Cảnh xây dựng một nhà kho chứa nông sản của người Amish..

Những hình ảnh như thế này là biểu tượng về sự tương trợ lẫn nhau của người Amish. Ngày làmnhà kho giống như ngày hội. Mọi thứ được chuẩn bị sẵn sàng, đến ngày dựng lên thì cả cộng đồng cùng làm, và nguyên tắc là trong một ngày nhà kho phải được hoàn tất. Trong ngày này, đàn ông thì lo công việc, phụ nữ thì nấu các món ăn ngon để chiêu đãi, còn trẻ em thì vui chơi thỏa thích.

ĐIỀU LẠ LÙNG NHẤT VỀ NGƯỜI AMISH LÀ GÌ?

Điều lạ lùng nhất là họ từ chối các tiện nghi do khoa học kỹ thuật mang lại. Họ không dùng điện, không làm chủ xe hơi, điện thoại,…Cuộc sống của họ bây giờ và 300 năm trước không khác nhau bao  nhiêu.

ƯU TIÊN HÀNG ĐẦU CỦA NGƯỜI AMISH LÀ GÌ?

Ưu tiên số một là thờ phượng Chúa. Sống là khoảng thời gian chờ đợi để trở về với Chúa. Kế đến là gia đình, nông trại, và cộng đồng. Phần lớn người Amish sống bằng cách làm nông. Các buổi  lễ và cầu nguyện của họ được luân phiên tổ chức trong các gia đình, không tổ chức trong nhà thờ.

CÓ BAO NHIÊU NGƯỜI AMISH ĐANG SỐNG Ở MỸ?

Khoảng ba trăm ngàn người, nhiều nhất là ở tiểu bang Ohio, kế đến là tiểu bang Pennsylvania. (Một số ít sống ở Canada). Họ có lối ăn mặc riêng, với loại vải trơn, không có sọc hoặc hoa hòe, hình ảnh…

NGƯỜI AMISH NÓI THỨ TIẾNG GÌ?

Ở nhà thờ và trong gia đình, họ nói tiếng Đức. Khi đi học, họ dùng tiếng Anh. Tiếng Đức cũng được dạy trong nhà trường.

TRẺ EM AMISH ĐI HỌC Ở ĐÂU?

Họ tự hình thành và quản lý một loại trường riêng, được gọi là one-room schoolhouse, loại trường chỉ có 1 phòng học duy nhất nằm ở nhiều địa bàn khác nhau trong cộng đồng.  Thường các em chỉ học tới lớp 8 thì dừng lại.


Một trường học loại one-room schoolhousetrong động cồng người Amish


Nữ sinh Amishtrên đường đến trường


Nam sinh Amishtrên đường đến trường


TẠI SAO NGƯỜI AMISH KHÔNG DÙNG ĐIỆN?

Người Amish không dùng điện vì cho rằng điện đưa đến những tiện nghi của đời sống hiện đại, và sự cám dỗ của những tiện nghi này có thể làm hủy hoại các giá trị tôn giáo và đời sống gia đình.  Giá trị mà họ theo đuổi chính là sự đơn giản, khiêm tốn trong cuộc sống. Càng sống đơn giản, con đường giải thoát sau này càng rộng hơn.


HỌ CÓ SỞ HỮU CÁC LOẠI XE HƠI KHÔNG?

Không. Họ chỉ có xe ngựa (buggy). Họ muốn tạo dựng và duy trì một cộng đồng trong đó mọi người sống hòa hợp, chia sẻ với nhau, có mức sống gần như nhau, không có sự chênh lệch giàu nghèo. Việc sở hữu các tiện nghi đắt tiền sẽ phá vỡ trật tự của cộng đồng, dẫn đến sự chênh lệch giàu nghèo, tạo điều kiện cho tính kiêu căng, hợm hĩnh phát triển. Tuy nhiên, do nhu cầu cuộc sống, họ có thể đi xe buýt, xe lửa, taxi, hoặc thuê xe, nhưng làm chủ một chiếc xe thì không.


Xe ngựa ( buggy ) của người Amish


Xe ngựa (buggy) của người Amish


Xe scooter


HỌ CÓ SỞ HỮU ĐIỆN THOẠI KHÔNG?

Phần lớn các gia đình không có điện thoại. Họ sử dụng điện thoại công cộng và ngày nay một số ít bắt đầu dùng cell phone.

HỌ CÓ DÙNG GAS  KHÔNG?

Có. Thứ gì có thể thay thế cho nguồn điện thì họ vẫn dùng, vì nó tiện lợi hơn, nhưng không ảnh hưởng đến lối sống đơn giản của họ. Ví dụ, hệ thống sưởi, bếp gas, tủ lạnh chạy bằng gas, đèn thắp sáng… vẫn được chấp nhận.


Đèn thắp bằng gas trong người của nhà Amish

CÁC WEBSITES CỦA HỌ ĐƯỢC HÌNH THÀNH NHƯ THẾ NÀO?

Chính những người Amish không làm ra những websites này  vì họ không dùng điện và không sở hữu computers. Các websites này được làm ra bởi những cá nhân hoặc tổ chức có mối quan hệ với cộng đồng người Amish nhằm chuyển đến thế giới bên ngoài những thông tin chính xác về người Amish và lối sống của họ.

NGƯỜI AMISH CÓ CHỤP HÌNH KHÔNG?

Không được chụp hình cá nhân, vì Thánh Kinh của họ xem chụp hình là điều cấm kỵ. Họ quan niệm, “người ta chết để tiếng”, chứ không phải cái diện mạo bên ngoài: mỗi người đến rồi cũng phải đi, cái còn lại là cái tâm, cái đức như thế nào để mọi người nhớ đến. Người Amish không cho phép du khách chụp hình cá nhân của họ.


TẠI SAO ĐÀN ÔNG AMISH ĐỂ RÂU CẰM (BEARD)
VÀ KHÔNG ĐỂ RÂU MÉP (MOUSTACHE)?

Một bộ râu cằm dài là dấu hiệu của sự trưởng thành. Họ bắt đầu để râu cằm sau khi lập gia đình. Người Amish không chấp nhận chiến tranh, mà râu mép lại được giới quân sự ưa chuộng nên họ không phù hợp và không để râu mép.



Những người đàn ông Amish.
Họ luôn luôn đội chiếc mũ rộng vành khi ra khỏi nhà.
Họ bắt đầu để râu cằm sau khi lập gia đình

TẠI SAO PHỤ NỮ AMISH LUÔN ĐỘI KHĂN TRÊN ĐẦU?

Phụ nữ không được phép cắt tóc. Có như thế nào cứ để như thế đó. Họ đội khăn giữ búi tóc cho gọn nhằm thuận tiện trong khi làm việc.


Phụ nữ và trẻ em Amish


Một bà mẹ Amish dẫn con đi dạo chơi

NGƯỜI AMISH CÓ ĐÓNG THUẾ KHÔNG?

Những sản phẩm họ làm ra mang tinh chất tự cung, tự cấp thì được miễn thuế. Tuy nhiên, họ vẫn có nghĩa vụ đóng thuế bất động sản, thuế thu nhập, và các loại thuế khác.

HỌ CÓ NHẬN CÁC PHÚC LỢI TỪ CHÍNH PHỦ KHÔNG?

Không. Họ chủ trương gia đình của họ lo liệu mọi chuyện, nếu quá khó khăn cộng đồng của họ sẽ giúp đỡ. Họ không nhận các phúc lợi từ Social Security Benefits, Unemployment Benefits, Welfare Funds…

NGƯỜI AMISH TRỒNG NHỮNG THỨ GÌ Ở CÁC NÔNG TRẠI CỦA HỌ?

Bắp, lúa mì, thuốc lá, đậu nành, khoai tây, lúa mạch, rau, hoa quả… Họ dùng ngựa để làm sức kéo.  


Trong nông nghiệp, người Amish dùng ngựa làm sức kéo

HỌ CÓ ĐI KHÁM BỆNH KHÔNG?

Họ chủ trương “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Vạn bất đắc dĩ họ mới tìm đến bác sĩ hay bệnh viện. Tuy không có bảo hiểm y tế nhưng họ thanh toán các chi phí chữa trị một cách sòng phẳng, vì cộng đồng của họ sẵn sàng giúp đỡ nếu như cá nhân không tự lo liệu nổi.

GIỚI TRẺ AMISH CÓ CHẤP NHẬN LỐI SỐNG  NHƯ VẬY KHÔNG?

Đại đa số chấp nhận, vì họ đã quen như vậy. Một số rất ít bỏ đi, tìm đến những nơi khác. Thực tế, dân số trong các cộng đồng Amish không giảm đi, mà càng ngày càng tăng, cho thấy niềm tin tôn giáo và những giá trị mà họ theo đuổi vẫn có sức hấp dẫn mạnh mẽ .



Các bạn đoán xem cậu thanh niên Amish trong hình đã có vợ hay còn độc thân.
Cậu ta đang băng qua đường bằng một loại ván trượt gắn phía dưới đôi giày.


CÒN BẠN THÌ SAO? NGƯỜI AMISH VÀ CHÚNG TA, AI KHỔ HƠN AI?

Câu trả lời xin dành cho các bạn đọc bài viết này.



............/.

HỒ CHÍ MINH VỚI TRUNG QUỐC

......



[...] Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tổng Cục Lưu trữ Nhà nước Trung Quốc phối hợp với các cơ quan: Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Lưu trữ Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lưu trữ Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Cục Lưu trữ thành phố Bắc Kinh, Cục Lưu trữ thành phố Thượng Hải, Cục Lưu trữ tỉnh Quảng Đông, Cục Lưu trữ Khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây, Cục Lưu trữ tỉnh Vân Nam tổ chức Triển lãm tài liệu lưu trữ với chủ đề
“CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI TRUNG QUỐC” tại Hà Nội và Bắc Kinh

XEM TẠI ĐÂY :




HOẶC BẤM CÁC LINK DƯỚI ĐÂY :




......../.



Chủ nghĩa Xã hội vs Chủ nghĩa Tư bản


Chủ nghĩa Xã hội vs Chủ nghĩa Tư bản


http://hieuminh.org/2014/08/19/cnxh-va-cntb/






Trồng giấc mơ bằng...tiền. Ảnh: Internet
Trồng giấc mơ bằng…tiền. Ảnh: Internet
Robin Hood là người rừng chuyên đi lấy của người giầu chia cho người nghèo. Đó cũng là cách mà CNXH tìm cách chia đều lợi nhuận xã hội cho mọi người nhằm tiến tới công bằng: cơ hội và thành quả.
Đó cũng là ý nghĩ của những người làm nên cuộc cách mạng tháng 8-1945.

Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam đều có “Robin Hood”. Liên Xô cải tạo và xử lý gulag, Trung Quốc cải cách ruộng đất. Việt Nam copy cả hai. Hòa bình vừa xong trên nửa nước đã tiến hành xử địa chủ bóc lột, bắt tù, giết cường hào gian ác. Hợp tác hóa toàn miền Bắc, tưởng rằng, bằng sức mạnh tập thể, rời non lấp biển, CNXH thành công sau 5 năm kế hoạch đầu tiên.
Đáng tiếc thay, tư duy cha chung không ai khóc đã ngự trị cả ngàn năm ở nền văn minh lúa nước sông Hồng, giấc mơ của cụ Lê Nin tại xứ Việt vẫn chỉ là giấc mơ. Robin Hood chưa chắc đã là người hùng như trong truyện cổ tích của người Việt.
Sống dưới chế độ XHCN tại Việt Nam 15 năm liền (1954-1970) từ thuở thiếu niên, sau đó 7 năm tại Ba Lan ở lứa tuổi thanh niên với XHCN nửa cộng sản, nửa quí tộc, nửa tin Liên Xô, nửa kia tin Mỹ, có 6 tháng bên tư bản Anh già cỗi, và 10 năm gần đây khi ở tuổi tri thiên mệnh tại sào huyệt đế quốc và tư bản Mỹ, thế mà tôi không tự tin để nói thế nào là tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, chế độ nào tốt đẹp hơn. Mỗi chủ nghĩa có cái hay riêng.
Gọi điện hỏi tay chuyên gia kinh tế thế giới, hắn giải thích nôm na như sau.
Quốc gia nào có sở hữu Nhà nước nhiều hơn gọi là cộng sản, nơi nào sở hữu tư nhân nhiều hơn được gọi là tư bản. Hai mô hình này mà cãi nhau “ai hơn ai” đến thế kỷ sau chưa chắc đã ngã ngũ.
Nếu nhà máy do công nhân đóng góp tiền, làm chủ tập thể, tự bầu lãnh đạo. Sản xuất hàng hóa, có lợi nhuận cùng hưởng và chia đều, khi thua thiệt tất cả nhà máy cắn răng chia chung nỗi đau thất bát. Họ có một người là Nhà nước theo kiểu “sở hữu toàn dân mà đại diện là nhà nước”. Đây là CNXH.
Cũng nhà máy ấy lại do một số cổ đông lắm tiền, nhiều của, do bán bia hơi, buôn đất, phe phẩy, trúng mánh, rồi đóng góp và thuê công nhân. Có ban quản trị được thuê để giúp chiến lược, sản xuất và bán hàng. Khi có lời, mấy tay cổ đông chia nhau, lời nhiều, chia nhiều. Thua thiệt ngồi ôm nhau khóc hoặc tự tử vì phá sản. Vì đã nhận lương, công nhân “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi” đã cao chạy xa bay. Đó là CNTB.
Có một sự thật là đầu thế kỷ 20, tư bản làm chủ thế giới, nhưng bóc lột thậm tệ, hành xử hoang dã, cá lớn nuốt cá bé, dân chúng nổi dậy đòi sự công bằng. Lúc đó, cụ Mác Lê vẽ ra một chế độ không còn cảnh người bóc lột người, sở hữu toàn dân, công bằng, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, nên cách mạng vô sản thế giới nổ ra khắp nơi. Tư bản bị thất thế, nổi lên là cộng sản với hàng tỷ tín đồ đi theo.
Hỏi về sự khác biệt trong kinh tế của hai chế độ, anh bạn cho đường link google ra cái bảng sau

Economic System – Hệ thống kinh tê

Capitalism – Tư bản CN

Socialism – CNXH

Equity – Công bằngCapitalism is unconcerned about equity. It is argued that inequality is essential to encourage innovation and economic development.
CNTB không quan tâm đến sự công bằng, vì sự không công bằng giúp cho sáng tạo và phát triển.
Socialism is concerned with redistributing resources from the rich to the poor. This is to ensure everyone has both equal opportunities and equal outcomes.
CNXH lại quan tâm đến chia đều tài nguyên, lấy của người giầu chia cho người nghèo. Mọi người cùng có cơ hội và thành quả ngang nhau
Ownership – Sở hữuPrivate businesses will be owned by private individuals
Sở hữu thuộc về tư nhân
The State will own and control the main means of production. In some models of socialism, ownership would not be by the government but worker cooperatives.
Nhà nước sở hữu và quản lý toàn bộ tiến trình sản xuất. Một vài nơi dựa vào công hữu kiểu hợp tác xã.
Efficiency – Tiện ích, hiệu quảIt is argued that the profit incentive encourages firms to be more efficient, cut costs and innovate new products that people want -
Do lợi nhuận nên các công ty trở nên hiệu quả, giảm giá thành và sáng tạo những thứ người tiêu dùng cần.
It is argued that state ownership often leads to inefficiency because workers and managers lack any incentive to cut costs.
Nhà nước sở hữu dễ dẫn đến kém hiệu quả vì công nhân, cán bộ và quản lý không có nhu cầu về sáng tạo và giảm giá thành
Unemployment – Thất nghiệpIn capitalist economic systems, the state doesn’t directly provide jobs. Therefore in times of recession, unemployment in capitalist economic systems can rise to very high levels.
Nhà nước không liên quan trực tiếp đến tìm công ăn việc làm. Khi kinh tế suy thoái, luợng người thất nghiệp rất cao.
Employment is often directed by the state. therefore, the state can provide full employment even if workers are not doing anything particularly essential.
Tuyển nhân viên, cán bộ do nhà nước quản lý vì thế nhà nước vẫn cung cấp đủ việc làm, dù việc làm đó chẳng đóng vai trò gì trong phát triển.
Price Controls – Kiểm soát giá cảPrices are determined by market forces. Firms with monopoly power may be able to exploit their position and charge much higher prices.
Giá cả được điều tiết bởi thị trường. Nhưng đôi khi, những công ty độc quyền có thế dùng sức mạnh của mình “cá lớn nuốt cá bé”, và đưa giá cao hơn nhiều vì lợi nhuận là trên hết.
In a state managed economy prices are usually set by the government this can lead to shortages and surpluses.
Trong cơ chế nhà nước quản lý, giá cả do trung ương quyết định vì thế khi thừa thì rất thừa, khi thiếu thì rất thiếu.

Lợi nhuận thế nào đây? Ảnh: Internet
Lợi nhuận thế nào đây? Ảnh: Internet
Anh bạn nói thêm, nếu CNTB không xấu xa đã không sinh ra CNXH. Nhờ có CNXH mà cánh tư bản sống tốt hơn. Nếu không trái đất vẫn trong đêm dài tăm tối của CNTB.
Qua 70-80 năm, CNXH vẫn chưa mạnh như người ta tưởng là vì chưa biết điều chỉnh như các đồng chí bên tư bản. Các chế độ XHCN tha hóa dần sụp đổ, tư bản lại thắng, không như kịch bản mà các bậc tiền bối CM tháng 8 đã nổi lên giành chính quyền.
Nhưng ai mà biết được, sau thế kỷ nữa, nếu tư bản tiếp tục bóc lột người, cộng sản lại nổi lên. Chẳng có gì đảm bảo sự vĩnh cửu của một chế độ. Vì Robin Hood thời nào cũng có, cách mạng mùa Thu lại nổ ra vì chênh lệch giầu nghèo vượt qua ngưỡng chịu đựng.
Trước khi chào tạm biệt, anh dẫn một câu của Winston Churchill “The inherent vice of capitalism is the unequal sharing of blessings; the inherent virtue of socialism is the equal sharing of miseries. – Thói xấu cố hữu của CNTB là sự phân chia may mắn không công bằng; CNXH có nền tảng đạo đức tốt đẹp là công bằng trong chia sẻ sự khốn cùng”
HM. 19-8-2014.

Để hiểu thêm TỐ HỮU




Để hiểu thêm TỐ HỮU

VƯƠNG TRÍ NHÀN

[trích]


Trước mắt tôi là sưu tập Văn Nghệ số 40 ra 3-1953. Lúc này cơ quan Hội văn nghệ đang đóng ở rừng Việt Bắc. Nhân cái chết của Stalin, tạp chí của Hội ra một số đặc biệt, không chỉ Tố Hữu mà nhiều tác giả khác có bài liên quan tới sự kiện này.


Về thơ
Chế Lan Viên có Stalin không chết, mở đầu bằng mấy câu
Stalin mất rồi
Đồng chí Stalin đã mất!
Thế giới không cha nặng tiếng thở dài

Ở đoạn dưới
Mẹ hiền ta ơi
Em bé ta ơi
Đồng chí Stalin không bao giờ chết

…Triệu triệu mẹ già em dại
Đều là súng Stalin để lại ( VTN gạch dưới)*
Giữ lấy hòa bình thế giới
Tiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời

Các bài tiếp theo:
Trước bài Đời đời nhớ Ông của Tố Hữu là bài Nhớ đồng chí Sta lin của Huy Cận
Tiếp đó các bài của Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn.
Xuân Diệu có bài Thương tiếc Đại nguyên soái Stalin:
Nghe tin mất mới thấy lòng quyến luyến
Từ bao lâu yêu Người tận tủy xương
Tiếng khóc đây là tất cả can trường
Thấy Người thật là bát cơm miếng bánh
Người gắn với chúng con trong vận mệnh

Về phần văn xuôi.
Phan Khôi có bài Một vị học giả mác-xít thiên tài. Trước khi viết kỹ về cuốn Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngôn ngữ, Phan Khôi có đoạn dạo đầu ngắn:

Đối với cái chết của Đại nguyên soái Stalin, vấn đề đề ra trước mắt những người đang sống là: Chúng ta phải học tập Stalin, học tập đạo đức cách mạng và trí tuệ của ông, được cả càng hay, không thì được phần nào cũng hay phần ấy, đó là một đảm bảo vững chắc cho cuộc thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của Chủ nghĩa tân dân chủ.
Lê Đạt thì xuất hiện như một phóng viên, ghi lại không khí một nhà máy trong rừng khi nghe tin Stalin mất. Bài viết khoảng 3.000 chữ này kể chuyện cái chết của Stalin đã gợi lên niềm xúc động to lớn, từ đó đánh thức tinh thần lao động sáng tạo của cả một tập thể công nhân gang thép.

Xin phép mở một dấu ngoặc.
Ngoài các bài Liễu, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Tế Hanh còn có bài thơ ngắn sau đây, viết trong đợt thăm Trung quốc 1962. Tôi vẫn thường nhẩm lại mỗi khi nhớ tới đời sống tinh thần của chúng tôi những năm 1965 về trước.
Hồ Nam xe chạy không dừng bước
Dãy núi cao liền dãy núi cao
Quê hương lãnh tụ mây thêu nắng
Thấy mặt trời lên nhớ bác Mao
Tôi muốn thầm nói với Tế Hanh: Anh không việc gì phải xấu hổ cả. Hồi ấy, bao nhiêu người nghĩ thế, chứ đâu phải riêng anh!

Trở lại chuyện Tố Hữu.
Nếu có ai hỏi tôi thích bài nào của Tố Hữu nhất, tôi sẽ nói rằng đó là cụm mấy bài ông làm hồi đi tù, in trong phần Xiềng xích của tập Từ ấy.
Bài Nhớ đồng
Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò

Bài Tiếng hát đi đầy
Hỡi những anh đầu đi trước đó
Biết chăng còn lắm bạn đi đầy

Những bài thơ này có cái giọng mà sau này không bao giờ Tố Hữu có nữa. Nhà thơ bơ vơ trong cảnh đơn độc ở núi rừng. Phải làm thơ, phải lấy thơ để tự khẳng định, thơ cất lên không để cho ai mà trước tiên để cho mình .
Những bài thơ viết khi người ta không biết mình sẽ sống hay chết như thế này,
tôi còn gặp một lần nữa trong thơ VN về sau, đó là tập Ánh sáng và phù sa.
Khi soạn tập thơ (1960), Chế Lan Viên chưa chuyển sang giai đoạn lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa , như Xuân Sách sẽ viết .

Sinh thời, Tố Hữu hay nói, đại ý hãy coi ông là nhà cách mạng, sau đó mới là nhà thơ.
Như thế tức là ông cũng đã biết chỗ đứng của mình trong lịch sử.
Có điều không phải luôn luôn người ta làm được đúng như những điều người ta tự xác định.
Là một người hết sức nhạy cảm và sẵn có cả chất mệ của quê hương, ông thừa biết nhiều khi dân văn nghệ ca ngợi thơ ông vì ông là quan chức phụ trách người ta, nắm sinh mệnh của người ta.
Song nếu đủ sáng suốt để từ chối những lời nịnh bợ thường trực thì ông đã không còn là ông nữa.
Lẽ đời là vậy, lúc được được quá cái đáng được, thì lúc mất cũng mất quá cái đáng mất.
Nhưng về phần chúng ta, mỗi lần đả động đến ông, tôi nghĩ nên phân biệt đang nói về ông như một quan chức cao cấp hay nói về ông như một nhà thơ.

Khoảng năm 1973, Hà Nội có một triển lãm điêu khắc với ngôn ngữ khá hiện đại của Nguyễn Hải và Lê Công Thành. Chính Tố Hữu cũng rất thích -- sang Hội nhà văn nghe ngóng về, Nguyễn Khải báo cho tôi biết tin vui đó. Nhưng rồi hóa ra chúng tôi mừng hụt. Mấy vị to hơn tới xem cho là không được. Và người ta lại thấy Tố Hữu cho truyền đi nhận định không thể tìm tòi kiểu ấy, mà hãy trở lại với thứ điêu khắc mô phỏng đời thường, kiểu Trần Văn Lắm!
Tức là cũng như chúng ta, Tố Hữu cũng có lúc phải làm ngược điều mình nghĩ.
Trước đó năm 1965, Nguyễn Thành Long bị nạn với bút ký Cái gốc. Bài ký cũng chẳng có chuyện gì đen tối lắm, chỉ tả phụ nữ trong chiến tranh quá nhếch nhác, nên bị Đảng đoàn Hội phụ nữ kêu.Theo chỗ tôi nhớ, lúc đầu Nguyễn Thành Long rất tự tin, vì Tố Hữu đã nhắn xuống tỏ ý bênh, “họ có Đảng đoàn thì mình cũng có Đảng đoàn chứ “( ý nói Đảng đoàn phụ nữ và Đảng đoàn văn nghệ-- hai cấp tương đương nhau ). Thế nhưng bên phụ nữ kiện lên trên và cuối cùng văn nghệ thua, Cái gốc chung số phận với Tình rừng.

Nguyễn Khải kể khoảng năm 1963, có lần được dự một cuộc họp cùng bí thư tỉnh ủy các tỉnh đồng bằng do Tố Hữu chủ trì, chắc là bàn về công tác tuyên huấn. Trong lúc nghe mọi người thảo luận, bỗng Nguyễn Khải thấy Tố Hữu đang đi quanh thì dừng lại, ghé vào tai mình nói nhỏ:
-- Chăc nhà văn nhìn cảnh này như một trò hề?!
Rồi ông lảng ngay, lên bàn chủ tịch, tiếp tục lo nốt các việc đang làm dở.

Cái lạ của các nhà văn sau 1945 là khi tính viết con người thời nay, chỉ hay viết về nhân vật quần chúng công nông. Còn những người kéo quần chúng đi, vẽ ra cái mẫu điển hình để quần chúng sống theo và nói chung chỉ có vai trò đơn giản là…lèo lái toàn bộ đời sống – những nhân vật quan chức nhân vật cán bộ kiểu ấy lại chả ai viết bao giờ.

Tôi đã phác qua một vài nét về Tố Hữu hồi ở Việt Bắc trong ghi chép về Nguyễn Đình Nghi.
Nhị Ca kể với tôi cái tình tiết sau đây: trong rừng, cạnh cơ quan, thường có những quán cà phê, anh em hay ra đấy đấu láo. Đang vui thì Tố Hữu đến. Thế là mọi người không ai bảo ai rút lui hết. Chỉ còn một người bao giờ cũng ngồi với Tố Hữu đến cùng. Là Hoài Thanh.
Cái công của Tố Hữu hồi ấy là giữ cho được anh em đi theo kháng chiến đến cùng không để họ trở về thành.

Những năm chiến tranh, thỉnh thoảng một số anh em viết trẻ chúng tôi cũng được gọi đi nghe Tố Hữu nói chuyện. Có một câu ông nói khiến tôi nhớ nhất và phải nói thực sợ nhất, đó là cái ý ông bảo sang nước ngoài thấy đời sống họ lạnh lùng lắm, về nước thấy đồng bào mình sống với nhau, ấm cúng hơn hẳn.
Ông cũng thường nói là nổi tiếng ở nước ngoài thì dễ, nổi tiếng ở trong nước mới khó .
Lại có lần khuyến khích lớp trẻ, ông bảo phải biết đấu tranh cho chân lý, khi cần phải cắn xé(!). May mà bọn tôi đã nghe nhiều về tính đồng bóng của ông, nên chẳng mấy cảm động, nhớ đâu hình như chính Xuân Quỳnh bảo rằng có mà ông cho ghè gẫy răng.

Tố Hữu quản cán bộ cấp dưới thế nào? Nguyễn Khải nhận xét có vẻ như càng những người bất tài và có khuyết điểm ông lại càng thích dùng. Những ông A ông B từng bị Tố Hữu mắng như tát nước vào mặt lại rất vững vàng trong vị trí của mình. Vì ông thừa biết loại đó bảo thế nào họ cũng phải nghe.
Bảo Định Giang, người phụ trách Hội liên hiệp những năm ấy thường kể với mọi người ông Lành dọa sẽ lấy đầu nếu BĐG để một vài văn nghệ sĩ tiêu biểu lơ mơ ở Hà Nội rồi dính bom đạn.

Một lần, khoảng những năm trước 1980, tôi ngồi với Nguyễn Khải, Xuân Sách, cùng giở một số báo Tết. Khi ấy Tố Hữu đã đi phụ trách kinh tế, nhưng các số báo tết vẫn có bài của ông. Nguyễn Khải sát hạch tôi:
-- Thằng Nhàn hãy thử bình một câu xem nào.
Tôi lúc đầu cũng chỉ biết nói như mọi người:
-- Thế là được một nhà kinh tế mà mất một nhà thơ.
Nguyễn Khải gạt phắt đi:
-- Không được.
Trong cơn bí, tôi phụt ra một ý mà trước đó tôi không hề nghĩ:
-- Người làm ra những bài thơ như thế này thì chắc làm kinh tế cũng không ra gì!
Bấy giờ Nguyễn Khải mới cười, bảo ra tôi cũng bắt đầu biết rồi đấy.



[....]