XÁ LỢI PHẬT VÀ UY TÍN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

 

XÁ LỢI PHẬT VÀ UY TÍN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
-------///-------
May 9, 2025 : 11:34 AM
Copyright: Nguoi Viet News, Inc.




Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN), tổ chức chính thức quản lý các hoạt động Phật giáo tại Việt Nam, được thành lập năm 1981 dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong bối cảnh chế độ độc tài kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tôn giáo, GHPGVN ngày càng chứng tỏ là công cụ chính trị hơn là một tổ chức tâm linh thuần túy. Những hành động mới đây của Giáo hội, từ việc phủ nhận tư cách tu sĩ của Thích Minh Tuệ, đến các thuyết pháp sai lệch của những nhân vật như Thích Nhật Từ, Thích Trúc Thái Minh, Thích Chân Quang, và mới đây là vụ việc lộ video họp nội bộ bàn cách “làm tiền” từ công chúng, đã đẩy niềm tin của Phật tử vào vực thẳm.

Để gỡ gạc uy tín, nhân dịp đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc 2025 tổ chức tại Việt Nam, GHPGVN tổ chức đưa xá lợi Phật từ Ấn Độ về và trưng bày xá lợi được cho là quả tim của Hòa thượng Thích Quảng Đức.

Tuy nhiên, sự nương nhờ vào những biểu tượng tâm linh như xá lợi, dù thiêng liêng đến mấy, cũng không thể giúp tạo dựng uy tín cho giáo hội. Những người đứng đầu giáo hội quên rằng chỉ có những giá trị như sự thật trong tu hành, minh bạch và độc lập mới có thể tạo dựng uy tín và niềm tin của công chúng vào họ. Nhưng xem ra, những giá trị ấy đang quá xa lạ với giáo hội.

GHPGVN, sự khủng hoảng niềm tin từ những hành xử sai trái

Kể từ khi ra đời, GHPGVN hoạt động dưới sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc và Ban Tôn giáo Chính phủ, với phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. Nhiều tăng ni trong Giáo hội tham gia Đảng Cộng sản, đảm nhận vai trò tuyên truyền chính sách nhà nước, và thậm chí tiếp tay cho chính quyền trong việc đàn áp các tổ chức tôn giáo độc lập.

Điển hình và mới đây nhất, vào tháng 5/2024, GHPGVN ban hành công văn số 151/HĐTS-VP1, tuyên bố hành giả Minh Tuệ – người thực hành khổ hạnh, đi bộ khắp Việt Nam để truyền cảm hứng tu hành – không phải tu sĩ Phật giáo. Hành động này bị xem là nỗ lực bảo vệ quyền kiểm soát của giáo hội trước một hiện tượng hoạt động tín ngưỡng tự phát, thu hút hàng vạn Phật tử, đang đối lập với hình ảnh mà giáo hội đang có.



Niềm tin vào GHPGVN càng bị xói mòn bởi những buổi thuyết pháp gây tranh cãi của các chức sắc Phật giáo nổi tiếng, như Thượng tọa Thích Nhật Từ, Thượng tọa Thích Trúc Thái Minh, Thượng Tọa Thích Chân Quang…

Thượng tọa Thích Nhật Từ, một gương mặt quen thuộc với hàng loạt thị phi trên mạng xã hội, từng bị chỉ trích vì những bài giảng thiếu cơ sở giáo lý, như khuyến khích Phật tử cúng dường lớn để “tích phước”, giảng giải về công dụng của thịt chó, kể cả giảng giải về tình dục cho Phật Tử.
Nhưng đáng nói hơn hết, hầu như gây kinh ngạc cho mọi người khi người tu hành như Thượng tọa Thích Nhật Từ lại mạ lỵ, đặt điều và tố cáo cơ sở tu tại gia Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ, đưa hàng loạt thành viên của cơ sở tu hành này vào chốn lao tù.

Hoặc, Thích Trúc Thái Minh (chùa Ba Vàng) gây phẫn nộ với các hoạt động kinh doanh tâm linh, như tổ chức lễ “trả nợ oan gia” với mức phí hàng triệu đồng.


Hay, Thích Chân Quang, người bị chỉ trích vì những phát ngôn sai lệch, như liên kết Phật giáo với các quan điểm chính trị hoặc khuyến khích cúng dường để đạt “phước báu vật chất”. Những thuyết pháp này không chỉ đi ngược tinh thần từ bi và vô ngã của Phật giáo mà còn biến đạo Phật thành công cụ trục lợi.


Cú sốc lớn nhất đối với công chúng là một video lan truyền gần đây, ghi lại cảnh họp nội bộ của GHPGVN với sự hiện diện của Thích Nhật Từ, trong đó các chức sắc đang thảo luận, phổ biến cho nhau cách “làm tiền” từ Phật tử thông qua cúng dường và các hoạt động tâm linh. Video này, dù chưa được xác minh chính thức, đã gây phẫn nộ trên mạng xã hội, với nhiều người gọi GHPGVN là “doanh nghiệp tôn giáo” thay vì tổ chức tâm linh. Hình ảnh các vị tăng ni bàn bạc về lợi nhuận đã làm tổn thương sâu sắc niềm tin của Phật tử, biến Giáo hội thành đối tượng bị khinh bỉ và chế giễu.


Xá lợi, biểu tượng thiêng liêng hay chiêu bài chính trị?
Trước làn sóng chỉ trích, quay lưng của công chúng với GHPGVN, tổ chức tôn giáo này tìm cách lấy lại uy tín bằng cách tổ chức đưa xá lợi Phật từ Ấn Độ về Việt Nam và trưng bày xá lợi được cho là quả tim của Hòa thượng Thích Quảng Đức – biểu tượng hy sinh vì tự do tôn giáo năm 1963.
Các sự kiện này được tổ chức rầm rộ, thu hút đông đảo Phật tử, với mục tiêu khôi phục hình ảnh, tạo dựng lại uy tín giáo hội. Tuy nhiên, việc sử dụng xá lợi như công cụ “đánh bóng” uy tín là một sai lầm nghiêm trọng, không chỉ thiếu nền tảng tâm linh mà còn làm tổn thương giá trị thiêng liêng của các biểu tượng này.

Vì lẽ, xá lợi trong Phật giáo là di vật thiêng liêng, biểu trưng cho sự chứng ngộ và công hạnh của Đức Phật hoặc các bậc cao tăng. Xá lợi của Hòa thượng Thích Quảng Đức, người tự thiêu với niềm tin hy sinh vì đạo pháp, là biểu tượng của lòng từ bi.

Tuy nhiên, khi GHPGVN sử dụng các xá lợi này trong bối cảnh hiện nay, ý nghĩa tâm linh của chúng bị lu mờ bởi mục đích chính trị. Việc trưng bày xá lợi không đi kèm với nỗ lực cải cách thực chất, như chấm dứt sự phụ thuộc vào chính quyền hay minh bạch tài chính, chỉ là một chiêu bài bề mặt nhằm xoa dịu dư luận.
Hơn nữa, việc khai thác xá lợi của Hòa thượng Thích Quảng Đức là một sự mâu thuẫn đạo lý. Hòa thượng Thích Quảng Đức hy sinh nhục thân và sự sống vì niềm tin vào tự do tôn giáo và đạo pháp. Trong khi đó, GHPGVN lại hợp tác với chính quyền cộng sản để hạn chế các hoạt động tự do tôn giáo, như trường hợp đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hoặc hành giả Minh Tuệ.

Sử dụng xá lợi của ngài trong bối cảnh này không chỉ thiếu tôn kính mà còn bị xem là báng bổ di sản của một người được tin cậy như Bồ-tát. Nhiều ý kiến trên mạng xã hội đặt câu hỏi về tính xác thực của xá lợi được trưng bày, khi GHPGVN không cung cấp bằng chứng thuyết phục về nguồn gốc.





Sự thật tu hành, lối thoát duy nhất cho GHPGVN
Phật giáo dạy rằng uy tín không đến từ biểu tượng vật chất hay sự phô trương, mà từ sự thực hành chân chính, sống đúng với giáo pháp và giới luật. Hành giả Minh Tuệ, dù bị GHPGVN phủ nhận, đã trở thành hiện tượng xã hội nhờ lối tu khổ hạnh, giản dị, không màng danh lợi. Sự ủng hộ của hàng vạn Phật tử dành cho ông là minh chứng rằng cộng đồng khao khát những tấm gương tu hành chân thật, không bị chi phối bởi chính trị hay lợi ích cá nhân.

Để tạo dựng uy tín, GHPGVN cần thực hiện các cải cách sâu rộng.

– Thứ nhất, Giáo hội phải độc lập khỏi sự kiểm soát của Đảng Cộng sản, từ chối vai trò “cánh tay nối dài” của chính quyền. Điều này đòi hỏi chấm dứt việc tăng ni tham gia Đảng hoặc tuyên truyền chính sách nhà nước.

– Thứ hai, GHPGVN cần minh bạch trong quản lý tài chính, công khai nguồn thu từ cúng dường và đảm bảo các chùa không bị biến thành “doanh nghiệp tâm linh”.

– Thứ ba, Giáo hội nên khuyến khích các hình thức tu hành đa dạng, tôn trọng các cá nhân như hành giả Minh Tuệ, thay vì xem họ là mối đe dọa. Điều này cũng phù hợp với giá trị tự do tôn giáo, tín ngưỡng mà thế giới văn minh đang theo đuổi.

– Cuối cùng, GHPGVN cần đào tạo tăng ni với trọng tâm là giáo lý và đạo đức, loại bỏ những thuyết pháp sai lệch và cúng dường trục lợi.

Nhưng xem ra, những điều cần làm trên đều quá tầm tay của giáo hội hiện nay. Vì các chức sắc trong giáo hội tưởng như có thẩm quyền đặt ra vấn đề cải cách, thực chất, họ đều chỉ là những “thừa sai” của chế độ. Không chỉ thế, mọi hoạt động của giáo hội đều chỉ xoay quanh chủ đề “làm tiền” công chúng dưới chiêu bài cúng dường mà thôi.


Xá lợi không cứu được niềm tin và tạo dựng uy tín
Như đã trình bày trên, GHPGVN sử dụng xá lợi Phật và xá lợi Hòa thượng Thích Quảng Đức để khôi phục uy tín là một nỗ lực sai lầm, không chỉ vì thiếu nền tảng tâm linh mà còn vì mâu thuẫn với tinh thần tự do tôn giáo mà các biểu tượng này đại diện.
Trong bối cảnh niềm tin của công chúng bị xói mòn bởi những hành xử sai trái, từ việc phủ nhận hành giả Minh Tuệ gần đây, đến các vụ lùm xùm, thị phi từ Thích Nhật Từ, Thích Trúc Thái Minh, Thích Chân Quang… và video “làm tiền” gây sốc, giáo hội không thể dựa vào các nghi lễ bề ngoài để che đậy vấn đề.

Chỉ có sự thật trong tu hành, tức sự chân tu, sự độc lập khỏi chính trị và cam kết sống đúng với giáo pháp mới có thể giúp GHPGVN tạo dựng uy tín và khôi phục niềm tin từ công chúng.

Như Đức Phật từng dạy: “Chánh pháp là ngọn đèn soi sáng, không ai có thể che giấu được ánh sáng của sự thật”. GHPGVN cần chọn con đường này, thay vì dựa vào ánh hào quang tạm bợ của xá lợi.

....
Hoa Thịnh Đốn, ngày 5 Tháng Năm 2025
Đặng Đình Mạnh


................/.

Đỗ Mười, Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam

  ÔNG ĐỖ MƯỜI "ĐẺ RA" LÝ MỸ


( MINH DIỆN) ......


Chiều 21-3-1978, Hội trường của trường đảng Nguyễn Ái Quốc II, Thủ Đức, như nghẹt thở. Mấy trăm cán bộ cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố phía Nam được triệu tập về đây từ hai, ba ngày trước. Ăn, ngủ ngay tại đây, nội bất xuất, ngoại bất nhập, công an giám sát chặt chẽ. Tôi là phóng viên báo Tiền Phong, Trung ương Đoàn trưng dụng làm “nhiệm vụ đặc biệt” cũng nằm trong số đó.
Nhiệm vụ đặc biệt gì không ai được biết. Qua vài thông tin rò rỉ, các “quân sư quạt mo” nhận định chuẩn bị đánh tư sản thương nghiệp, mật danh X-3, dưới sự chỉ huy của “Bàn tay sắt” Đỗ Mười và giờ G đã điểm! Khi đó, ông Đỗ Mười là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miềnNam.
Hôm đó, ông Đỗ Mười mặc chiếc quần Kaki màu cà phê đậm, chiếc áo Sơ mi ngắn tay cùng màu, chân đi dép. Ông có khổ người khệnh khạng, mặt chữ “nãi”, trán ngắn đầy nếp nhăn, miệng cá trê, bờm tóc dựng trông rất dữ. Tôi đã được nghe nói nhiều về tính bốc đồng, nóng nảy của ông Đỗ Mười, hôm đó được giáp mặt, quả đúng vậy.




Đúng như mọi người dự đoán, chiến dịch X-3 đã bắt đầu.
Ông Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng, đọc Chỉ thị 100 - CP, và triển khai kế hoạch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
Ông nói: “Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ…
“Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta.
Vừa qua kẻ nào vơ vét mì chính (bột ngọt), vải vóc, đường, sữa đầu cơ trục lợi, rồi lại đổ tội cho nhà nước ta chuyển ra Bắc nên thị trường khan hiếm? Chính là bọn tư sản thương nghiệp! Kẻ nào tích trữ thóc gạo để dân ta đói? Chính là bọn đầu nậu lúa gạo. Tôi hỏi các đồng chí, kẻ nào cung cấp lương thực, thực phẩm cho tổ chức phản động trên Lâm Đồng chống phá cách mạng? Kẻ nào? Chính là bọn tư sản đấy! Bọn gian thương đầu cơ, phá hoại, bọn ngồi mát ăn bát vàng, rút rỉa máu xương đồng bào ta, ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng ta ...”.



Ông Đỗ Mười nói say sưa, hùng hồn, quyết liệt. Mép ông sủi bọt.Tay ông vung vẩy. Mồ hôi trán đầm đìa.
Lúc đầu ông mặc quần áo nghiêm chỉnh, sau một hồi diễn thuyết khoa chân múa tay, ông bật nút áo sơ mi phanh ngực ra. Cuối cùng cởi phăng cái áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi, trên người ông chỉ còn mỗi chiếc áo may ô ba lỗ.

Ông vẫn hăng nói: “Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn ...”.
Bầu không khí ngột ngạt và kích động muốn nổ tung hội trường. Sức nóng từ Đỗ Mười truyền đến từng người. Tiếng vỗ tay rào rào, tiếng cười tiếng nói hả hê. Những gương mặt hừng hực khí thế "xung trận".

Xin đừng ở vị trí hôm nay phán xét những người trong cuộc ba mươi lăm năm trước, thời điểm đó tư duy của mọi người khác bây giờ, nhất là tư duy của những cán bộ đảng viên vốn tin tưởng tuyệt đối vào đường lối chính sách của đảng.
Những người mà Đảng bảo sao cứ làm đúng phắc như vậy. Hãy bình tĩnh nhìn lại một cách trung thực, khách quan, để thấy một phần nỗi đau của mình, bạn bè mình, dân tộc mình, nỗi đau từ sự ấu trĩ, nóng vội, làm ào ào, đặt trái tim không đúng chỗ ngay từ khởi đầu!

Ông Đỗ Mười kết thúc buổi triển khai chiến dịch X-3, bằng một mấy cái chém tay như có ''thượng phương bảo kiếm'':
“Anh nào, chị nào nhụt ý chí thì lui ra một bên. Kẻ nào tỏ ra nhân nhượng với bọn tư sản là phản bội giai cấp, không phải Bôn - sê- vích, có tội với đảng với dân, sẽ bị trừng trị!”.

Chúng tôi ra về với một tâm trạng nặng nề, mang theo lời cảnh tỉnh “Tuyệt đối bí mật”.

Nhưng hình như linh tính đã báo điềm chẳng lành cho thành phố Sài Gòn. Đó là cảm giác của tôi khi chạy xe máy từ cầu Công Lý lên cảng Bạch Đằng vòng qua Chợ Lớn. Người dân đổ ra đường nhiều hơn, vội vã, tất tưởi, gương mặt thất thần, nhiều tốp người tụm nhau bàn tán. Người ta nháo nhào đi mua từng cân muối ký gạo, như sắp chạy càn. Người dân thành phố vốn nhạy cảm và đó lại là cảm giác đúng: Thủ tướng nào thì chưa biết, nhưng trước hết phải lo thủ lấy miếng ăn!

....
Bảy giờ sáng hôm sau, ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau đó, xác nhận “Chiến dịch X-3”, bắt đầu ở thành phố mang tên Bác.

Tất cả các cơ sở kinh doanh, buôn bán, nhà hàng, cửa hàng, kho tàng, trung tâm dịch vụ bị niêm phong.

Danh sách đã được lên từ trước. Họ làm bí mật lâu rồi. Như một trận đánh giặc đã được trinh sát, điều nghiên tỉ mỉ, chính xác.

Các tổ công tác ập vào từng điểm bất ngờ, nhanh chóng niêm phong tài sản, khống chế mọi người trong gia đình nội bất xuất, ngoại bất nhập. Mỗi điểm niêm phong có tối thiểu một tổ ba người, không cùng cơ quan, không quen biết nhau. Họ là thanh niên xung phong, thanh niên công nhân các nhà máy, sinh viên các trường đại học, cả những thanh niên các phường được huy động vào chiến dịch.

Ngay buổi chiều hôm ấy một cuộc mít tinh tuần hành từ Nhà văn hóa thanh niên do Thành đoàn tổ chức. Hàng ngàn học sinh, sinh viên rầm rộ xuống đường, diễu hành khắp các phố chính Sài gòn, Chợ Lớn, hoan nghênh chính sách cải tạo công thương nghiệp của đảng, đả đảo bọn gian thương. Suốt đêm Câu lạc bộ thanh niên vang lên bài ca “Tình nguyện”, “Dậy mà đi”. Khi chống Mỹ sinh viên học sinh hát những bài hát ấy, giờ cũng hát những bài hát ấy để tăng bầu nhiệt huyết đánh tư sản!

Ngày 26-3-1978, cô công nhân Nguyễn Thị Bé B. ở nhà máy dệt Phong Phú được kết nạp đoàn vì từ chối nhận một món quà của một cơ sở kinh doanh mà cô canh giữ. Tiếp theo một trường hợp tương tự, anh thanh niên Vũ Ngọc Ch. ở nhà máy dệt Thắng Lợi.

Mấy ngày sau tiếng trống ở trường Trần Khai Nguyên quận 5, vang lên, như trống trận. Đó là nơi tập trung của 1.200 thanh niên học sinh người Hoa xuống đường ủng hộ chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, người dẫn đầu là cô học sinh lớp 11, có gương mặt búp bê, mái tóc cắt ngắn: Lý Mỹ.

Lý Mỹ là con gái một gia đình gốc Hoa kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạngTháng Tám, quận 10.
Khi X-3 nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi, được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân ông Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp, cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình.

Lý Mỹ vận động thuyết phục cha mẹ kê khai tài sản, cha mẹ chần chừ, cô trực tiếp đứng ra kê khai. Cô theo dõi bố mẹ cất giấu vàng bạc, của cải, báo cho tổ kê khai moi móc ra bằng hết. Lý Mỹ phát biểu trên báo: “Tinh thần Pavel Corsaghin sáng chói trong trái tim tôi! Tôi không cần vàng bạc, của cải, cha mẹ tôi bóc lột của nhân dân. Từ hôm nay tôi từ bỏ giai cấp bóc lột, bước sang cuộc sống mới, hòa vào dòng người lao động vinh quang xây dựng xã hội chủ nghĩa” (Báo Tiền Phong số 40 ,1978).
Khi cha mẹ vật vã than khóc, và dọa ra nước ngoài, Lý Mỹ tuyên bố nếu cha mẹ xuất cảnh, cô sẽ ở lại một mình, chấp nhận cuộc sống cô đơn để cống hiến cho lý tưởng cộng sản !

Không phải chỉ có một Lý Mỹ, mà hàng trăm “Lý Mỹ” như vậy. Những “Lý Mỹ” được sinh ra nóng hổi dưới lá cờ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.


Khi cải cách ruộng đất ở miền Bắc tôi là đứa trẻ sáu tuổi đi xem đấu tố như xem hội hè, khi cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, tôi ba mươi tuổi, là người trong cuộc. Trước con mắt tôi, cuộc cách mạng sau chỉ khác cuộc cách mạnh trước là không bắn giết, còn giống hệt nhau.
Cũng con tố cha mẹ, vợ tố chồng, bạn bè tố nhau. Những cán bộ từng hoạt động bí mật trong chiến tranh, được những gia đình buôn bán, giàu có bao bọc, giờ quay ngoắt lại tịch thu tài sản ân nhân của mình.
Những tính từ bọn, đồng bọn, “tên tư sản”, “con buôn” thay danh từ ông, bà, anh, chị. Gần ba chục năm trước, người bị quy là địa chủ, phú nông xấu xa thế nào, thì 1978, người bị gọi là tư sản, con buôn xấu xa như vậy. Người ta đã phủ nhận một tầng lớp tiên tiến của xã hội, nhục mạ tầng lớp đó, đào hố ngăn cách giữa các tầng lớp nhân dân, và kéo lùi sự phát triển của đất nước, đó là một sự thật lịch sử cần ghi nhận.

Chiến dịch X-3 thành phố Hồ Chí Minh, đã đánh gục 28.787 nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ buôn bán.

Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Khi tôi làm Trưởng ban cải tạo trung ương, tìm hiểu và dự kiến Sài Gòn, Chợ Lớn có khoảng 6.000 hộ kinh doanh buôn bán lớn. Khi anh Đỗ Mười thay tôi, anh ấy áp dụng theo quy chuẩn cuộc cải tạo tư sản Hà Nội từ năm 1955, nên con số mới phồng to lên như vậy” (Nguyễn Văn Linh, Những trăn trở trước đổi mới).

Ông Đỗ Mười đưa hàng ngàn hộ tiểu thương, trung lưu vào diện cải tạo, gộp luôn những hộ sản xuất vào đối tượng đó.
Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Anh Mười không trao đổi với chúng tôi. Anh ấy có ''thượng phương bảo kiếm'' trong tay, toàn quyền quyết định”.
(Nguyễn Văn Linh trăn trở cuộc đổi mới).

Ông Đỗ Mười thay ông Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban cải tạo ngày 16-2-1978. Trong chiến dịch X-3, Đỗ Mười không sử dụng người của Nguyễn Văn Linh, mà đưa hầu hết cán bộ từ miền Bắc vào nắm giữ những vị trí quan trọng. Đồng thời ông bố trí cán bộ các ngành thương nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp nhẹ, kho hàng vào tiếp quản.

Ông đóng đại bản doanh ở Thủ Đức, trực tiếp chỉ đạo, không tham khảo bất cứ ý kiến ai trong cơ quan lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh.




Kết quả X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thành phế thải.

X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận đã rã rời trên biển sâu.

Năm 2005, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhìn nhận: “Trong các chiến dịch cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế".

Có lần chúng tôi hỏi nhà báo Trần Bạch Đằng: “Hình như trong 63 năm tham gia cách mạng và làm lãnh đạo, ông Đỗ Mười không để lại một tác phẩm nào?”. Ông Trần Bạch Đằng chớp mắt nhếch cái miệng méo xẹo: “Cha ấy để lại cho đời tác phẩm cải tạo công thương nghiệp !” .

Ông Đỗ Mười sinh ngày 2-2-1917 tại Thanh Trì, Hà Nội. Ông làm rất nhiều chức vụ quan trọng, từng làm Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam 1991-1997.
Tôi không muốn viết chân dung ông bởi chẳng có gì đáng viết, chỉ ghi lại vài dòng những người đồng chí của ông, nhận xét về ông.

Ông Đoàn Duy Thành, nguyên Phó Thủ tướng chính phủ kể: “Một lần anh Mười xuống Hải Phòng, tôi và anh Nguyễn Dần dẫn anh ấy đi thăm nhà máy đóng tàu. Đi ngang Quán Toan thấy cái nhà hai tầng, anh Mười hỏi: “Nhà ai đây?” tôi trả lời: “Dạ nhà anh Bút lái xe”, anh Mười nói: “Nếu tôi mà là bí thư, chủ tịch thành phố tôi sẽ tịch thu ngay cái nhà này làm nhà mẫu giáo!”.

Ông Đỗ Mười là người đố kỵ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không biết vì ghen ghét tài năng hay nguyên nhân gì.
Ông Đoàn Duy Thành kể: “Chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, anh Mười gọi tôi tới, nêu vấn đề anh Văn năm 16 tuổi được thực dân Pháp cho sang Pháp học 6 tháng. Rồi anh Mười bảo, về nói cho đoàn đại biểu Hải Phòng biết, và những ai quen biết ở các đoàn khác cũng nói cho các đồng chí ấy biết. Tôi hỏi anh Trường Chinh, anh Trường Chinh bảo: “Võ Nguyên Giáp năm 1941-1942, kể cả việc làm con nuôi Martin trùm mật thám Đông Dương là chuyện bịa hết!... Anh Mười, anh ấy rất võ biền. Các cuộc họp tôi nói, anh ta thường chặn lời tôi..." (Làm người là khó).

Ông Nguyễn Văn Linh trong một lần hội nghị ở T78 đã nói thẳng với ông Đỗ Mười: “Anh Mười tưởng rằng làm Uỷ viên Bộ chính trị là to lắm, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn phê bình ai cũng được... Anh Mười đứng dậy nói: “Tôi nói đó là tinh thần Bôn-sê-vich” (Làm người là khó).

Ông Đoàn Duy Thành kể tiếp: “Có lần tôi hỏi anh Tô (Phạm Văn Đồng): “Còn Đỗ Mười thì sao?”. Anh Tô suy nghĩ hai ba phút rồi nói: “Chỉ có phá !”.

Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói rất đúng với trường hợp cải tạo công thương nghiệp.

Năm nay ông Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói ông vẫn phải nuôi con mọn. Tôi không biết có đúng không, và nếu đúng, tương lai nó sẽ ra sao? Cầu trời, nó đừng như những “đứa con” sinh ra từ cuộc cải tạo công thương nghiệp 1978 như Lý Mỹ!

MD ............/.

Bí ẩn vũ khí mới của Trump khiến Trung Quốc lo sợ

 

Bí ẩn vũ khí mới của Trump khiến Trung Quốc lo sợ



TRẦN DẦN PHÊ BÌNH THƠ TỐ HỮU

TRẦN DẦN PHÊ BÌNH THƠ TỐ HỮU :


Tôi muốn nói tới cách nhìn của nhà thơ Tố Hữu (trong tập Việt Bắc) đối với cuộc đời, đối sự thực.

Điểm thứ nhất là cách nhìn của Tố Hữu không có gì là đặc sắc cả.
Người ta hay nói tới cá tính của một nhà thơ. Đó là một điều rất hệ trọng. Vì rằng cá tính của nhà thơ rõ rệt hay mờ nhạt, đặc sắc hay tầm thường là nó chứng tỏ nhà thơ đó sống và viết có ý thức sâu sắc hay nông cạn về vị trí của mình, của nghề nghiệp mình trong mối liên quan chung xã hội. Nói cách khác, cá tính biểu hiện trình độ thức nhận của thi sĩ đối cuộc sống.

Người ta có thể nhận ra câu thơ này câu thơ khác là của Huy Cận, là giọng Hoàng Cầm hoặc giọng Xuân Diệu... Vẫn biết rằng còn phải xem cá tính ấy thế nào, nhưng ít nhất nhà thơ phải tới mức có cá tính.

Đằng này, người ta khó có thể nhận ra câu thơ nào gọi được là giọng Tố Hữu. Cá tính nhà thơ mờ nhạt quá.

Tố Hữu có một số câu người đọc nhớ, những câu thơ hay ấy có thể ký Nguyễn Du, Tản Đà, hay một loại ca dao nào đó. Đây không phải là chuyện "dựa vào vốn cổ" - mà là một lối dựa kém phát triển, chưa tới mức dựa mà thoát ly khỏi nó, sáng tạo thành một cái mới hẳn hoi (như bài Voi ơi voi ơi thật là một kiểu bắt chước nhạt nhẽo).

Những câu hay nhất của Tố Hữu mang cái không khí thơ xa. Tố Hữu nhìn cuộc sống mới, con mắt chưa xuyên qua được cái màng cổ cũ.
Lê Đạt nhận xét cô đúc rằng Tố Hữu nói tới những chuyện mới mà không hiện tại là như vậy. Tôi đồng ý với Lê Đạt: Tố Hữu hay đẩy lùi hình ảnh mới vào quá khứ. "Trung ương, chính phủ luận bàn việc công ...", cái khí phách hội họp của trung ương, chính phủ không giống thế. Điều này làm ta suy nghĩ nhiều về phát triển vốn cũ. Nếu không tả được đúng dân tộc ta hôm nay, - nó vừa rất mới lại vừa rất kế thừa cái cũ -, thì không thể nói dân tộc tính được.

Còn nói chung, thơ Tố Hữu rất nhiều cái lười biếng.

Ý, lời tầm thường.

Tầm thường chứ không phải giản dị phong phú.
Như là lời thì rất nhiều cái kiểu: "lòng ta xao xuyến, rung rinh", - "chúng bay chỉ một đường ra, một là tiêu diệt, hai là tù binh", - hoặc "đời vẫn ca vang núi đèo", hoặc "cụ Hồ sáng soi".
Không phải là thiên lệch trích ra một số câu như vậy, hãy thử đọc lại tập Việt Bắc, ta thấy nhan nhản những lối lười, nhạt, cả lảm nhảm nữa.

Cũng như lời, ý thơ Tố Hữu không đặc sắc.

Tố Hữu nhìn vấn đề gì, chỉ thấy những công thức bề mặt của vấn đề ấy. Phá đường: Nhà neo việc bận vẫn đi - làm thì thi đua -, thi đua kết quả thì rồi mai địch chết. Ta đi tới: đủ cả Bắc Nam, Việt, Miên, Lào, Itsala, Itsarắc... xem ra thì có vẻ đúng chính trị. Nhưng xét sâu xem? Tinh thần phá đường nó yếu quá (mặc dầu giai đoạn phòng ngự...). Ta đi tới nó tản mát quá.

Thơ Tố Hữu hay nói dàn ra cho đủ vị.

Người chính trị giỏi không phải là người chạy quanh cho đủ mọi vấn đề, mà là người biết xoáy mạnh vào điểm chính để giải quyết. Thơ hiện thực cũng đòi hỏi nhà thơ - như nhà chính trị - giải quyết cái chủ chốt của vấn đề cho tâm hồn người đọc. Chứ không đòi hỏi làm như một anh cán bộ tuyên truyền xoàng xĩnh, nói dàn mỏng vấn đề ra, la liệt đủ các mặt như bày hàng xén.

Tố Hữu chú trọng quá nhiều cho đúng cái chính trị bề mặt, cố nói cho đủ, mà thường thường cái chính trị bề sâu không đúng: - hơi thơ Tố Hữu yếu quá, khí thơ Tố Hữu thiếu cái tấn công mạnh mẽ của nhà chính trị biết dồn tâm sức, dốc khả năng vào điểm chính...

Không phải như một số bạn bảo vì đây là loại "thơ trữ tình" nên nó mềm, nó nhẹ như vậy. Không! Con người mới rất khoẻ trong mọi vấn đề lớn, nhỏ, - chung, riêng. Cả trong những chuyện đời tư thầm kín, chuyện vui, chuyện buồn. Cả khi "trữ tình", con người mới vẫn có cái khí phách mạnh mẽ của nó (xem ca dao hay Mai-kốp-xki tả ái tình chẳng hạn...) Điểm này làm ta suy nghĩ rất nhiều về thế nào là đúng chính trị.

Nếu khí phách thơ thiếu cái tấn công, cái tích cực mãnh liệt thì không thể nói đúng cái chính trị được. Về điểm này, tôi đồng ý với Hoàng Cầm: kiểu chính trị như của Tố Hữu không phải là chính trị thực. (phải nắm cái tinh thần phê bình của Hoàng Cầm, không nên như bạn Đông Hoài căn cứ vào cái chữ mà bẻ quẹo đi).
Tố Hữu nhìn sự vật nó chính trị công thức quá, lười tìm tòi quá. Chỗ nào hay thì lại là lặp lại Nguyễn Du, Tản Đà, ca dao...

Tố Hữu chưa đem tới một cách nhìn mới mẻ gì.

Cách nhìn còn tầm thường.

Đó là cái đau khổ của những người làm thơ: hát lên bằng một giọng hát tầm thường. Thơ hiện thực đòi hỏi người thi sĩ phải khổ công nghiên cứu tìm tòi trong cuộc sống. Gạt bỏ những công thức bề mặt, đi vào thực chất sự việc. Cũng như nhà chính trị, nhà thơ của công nông phải theo dõi từng hơi thở, từng cái giở mình của quần chúng, của thời đại, của dân tộc. Càng phải chú ý tới những cái đang sinh thành, hôm nay là gió nhẹ, ngày mai là bão táp. Phải tìm ra được những quy luật mới của khách quan. Không phải đòi hỏi thế là vì thích mới, ham chuộng lạ. Mà chính là vì cuộc sống luôn luôn đổi mới.

Người thi sĩ - cũng như người chính trị - đứng dừng lại thỏa thuê với những cách nhìn đã tầm thường, đã công thức - là người sẽ bị cuộc sống vượt qua đầu, vứt bỏ lại. Pê-tô-fi bảo "hãy im đi" - và gọi tên là bọn "ca sĩ lạc hậu" những thi sĩ nào không đem tới một cách nhìn mới, - nói đúng hơn không khám phá được những cái mới sẵn có trong thực tế.

Phải nói ngay rằng thơ ca quần chúng tuy nói chung còn lõm bõm bản năng tự nhiên, nhưng có những viên ngọc thật sáng tạo. Sự làm việc sáng tạo của họ làm cho cách nhìn và thơ ca của họ nhiều sáng tạo.
Họ không biết lý luận hiện thực, nhưng chính chủ nghĩa hiện thực ở quần chúng , - cũng như xã hội tương lai. Đừng nên lo là họ sẽ rụt rè không dám làm thơ nữa. Bão to cũng không thể làm đổ trời, cuộc nghiên cứu này chỉ có khuyến khích chứ không ngăn nổi triệu triệu người tiếp tục làm thơ đâu.

Có thể chỉ một số nhỏ đã hay sắp vào chuyên môn có thể rụt rè, sợ lý tưởng thơ cao quá. Tôi thường thấy con người ta kém cỏi, rụt rè chính là vì lý tưởng nó thấp. Hay không có lý tưởng. Chứ không phải vì lý tưởng nó cao.

Thơ hiện thực là của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng. Nó cao thực, người thi sĩ phải mất máu trên một vần thơ như một chiến sĩ mất máu trên một lô cốt địch. Nhưng nó cũng dễ thôi, quần chúng vẫn làm, đã đạt được một số câu. Ai muốn dễ thì phải cố chịu khó làm như quần chúng: sống chết nhọc nhằn, mồ hôi máu đỏ. Những vần thơ hay nhất mới nhất là những vần thơ lăn lộn trong cái thực tế mưa bão ấy. Cá tính thơ Tố Hữu còn mờ. Sự thiếu sót thực tế làm cho Tố Hữu chưa thoát khỏi cái nhìn tầm thường và ảnh hưởng thơ xưa.

Điểm thứ hai là cách nhìn của Tố Hữu thật nhỏ bé quá. Nhìn vấn đề gì, vấn đề ấy thu hẹp lại. Yêu ai người ấy nhỏ đi.

Nhìn chiến sĩ: nhìn vào bề sâu lớn lao khí phách của chiến sĩ thì ít. Mà lại nặng nề về những tiếng kêu trừu tượng (anh Vệ quốc quân ơi, sao mà yêu anh thế?),- những hình dung từ rồn rập (người bạn đường anh dũng, - anh chiến sĩ hiền lành),- những cái nét hình thức (bóng anh nắng chiều v.v…)... Hình ảnh chiến sĩ thu nhỏ lại.
Nhìn Hà Nội: yếu đuối, đợi chờ.
Nhìn bà mẹ bộ đội: thương xót, chán nản.
Nhìn Việt Bắc: xa vắng heo hút. Người ở lại, người về xuôi đều nhỏ lại trong một khung cảnh hắt hiu.
Nhìn Triều Tiên: yếu ớt, ỷ lại. Không phải cái chính là vì Tố Hữu dùng hình ảnh em bé. Cái chính do cách nhìn em bé đó thế nào?.
Nhìn lãnh tụ: chỗ thì hình thức gượng gạo "chòm râu mát rượi hòa bình". Chỗ thì tả thành một đạo sĩ tầm thường nhàn tản "ung dung yên ngựa bên đường suối reo" (có thể tả lãnh tụ đi chơi, nhưng phải tả khác...). Nói chung thì "công thức Cha già" nặng. Không thấy lãnh tụ vừa là cha, vừa là con đẻ của quần chúng. Chỗ thì tả lãnh tụ mênh mông, - thi sĩ và quần chúng bé nhỏ đi dưới cây chì đỏ của lãnh tụ. Lãnh tụ như núi, quần chúng li ti như kiến con. Hình ảnh không cân xứng ,- định làm to - vô tình hóa ra làm nhỏ bé lãnh tụ đi, làm sai lệch sự liên quan giữa lãnh tụ và quần chúng. Không phải là phủ nhận một vài nét khá sáng tạo của Tố Hữu, như tả lãnh tụ "trẻ mãi không già", nêu lên được nét Hồ Chủ tịch là người thanh niên số một. Nhưng nói chung bản chất người lãnh tụ kiểu mới : - vừa phi thường vừa tầm thường, - vừa độ lượng vừa nguyên tắc, vừa hành động vừa trí tuệ, vừa giản dị vừa phong phú, vừa đạo đức vừa không công thức gò bó,... bản chất ấy bị thu nhỏ lại trong kính thơ Tố Hữu. Chính vì lòng yêu lãnh tụ, gắn liền với lòng yêu giai cấp, yêu dân tộc thúc giục ta nên mạnh dạn làm thơ về lãnh tụ, - nhưng không thể khuyến khích ta thỏa thuê ở mức ấy.

Nói thêm Tố Hữu nhìn sự hy sinh của quần chúng thế nào? Như trong bài "Phá đường", cứ tạm cho chị nữ dân công đó là một quần chúng tốt, Tố Hữu tả chị ấy nhà neo, con bế con bồng, ngô sắn bề bộn. Vậy mà: "em cũng theo chồng đi phá đường quan". Sự hy sinh như thế mà buông nhẹ tênh trong một câu như vậy !

Người ta hay nói tới lòng yêu nước của thơ Tố Hữu. Người ta bảo đối với Tố Hữu, Tổ quốc cụ thể ra là những bà mẹ, những người chiến sĩ, những công việc kháng chiến (phá đường, về Hà Nội, xa Việt Bắc, v.v...) Tôi cũng đồng ý vậy.

Nhưng mà đối với những điểm cụ thể ấy, con mắt Tố Hữu đã thu bé nó cả lại.

Không phải là đem cộng máy móc lại, nhưng vì những yếu tố tạo nên nó đã nhỏ yếu cả, hóa ra tình yêu nước của nó cũng bé bỏng đi.

Lê Đạt cũng đã nhận xét cái căm thù rất yếu trong thơ Tố Hữu làm cho tình yêu nó mỏng mảnh. Yêu nước, căm thù, chúng ta đều muốn những vần thơ không nên "tí ti yêu nước, tí ti căm thù". Chúng ta muốn như Maia-kốp-xki nói:
Đồ sộ yêu thương
Đồ sộ căm thù...
Muốn thế, - vì đó là thực tế của dân ta, thời đại ta, thực tế cuộc chiến đấu võ trang hôm qua là hòa bình hôm nay. Mỗi nhà thơ một cách nhìn, một cách nói khác nhau, nhưng đều có cái căm thù, thương yêu đồ sộ ấy.

Có người bảo không thể đòi hỏi trong một tập thơ nhỏ mà tả chiến sĩ, người mẹ, phá đường, Việt Bắc, Hà Nội v.v... đều là hay cả. Không, không!... Người thi sĩ có một cách nhìn lớn thì không cần một tập thơ đâu. Mà bất cứ một bài, một câu, một ý, nói cái gì nó cũng thành lớn, vạch một nét nào cũng là nét lớn cả.
Chuyện lớn bé không phải chuyện dài ngắn, - cũng không phải là chuyện đề tài. Mà là chuyện cách nhìn, cỡ trình độ nhận thức sự vật.

Điểm thứ ba là cách nhìn Tố Hữu hay bao phủ lên vấn đề một cái buồn yếu đuối.

Điểm này Hoàng Yến, Hoàng Cầm và nhiều bạn đã phân tích nhiều. Những người bênh vực thơ Việt Bắc nhất trước kia không nhận, bây giờ cũng đã nhận rằng cái buồn trong thơ Tố Hữu là một sự thực khách quan, - không phải do bịa đặt người phê bình. Mà đây không phải cái buồn xốc người ta lên hành động, không phải cái buồn tới căm thù của những hy sinh mất mát, đổ vỡ trong chiến tranh. Mà lại là một thứ buồn nó "ru", yếu đuối và nhẹ. Điều đó bây giờ đã được công nhận nhiều rồi. Cuộc nghiên cứu thơ Tố Hữu hôm nay đã tiến được một bước ấy. Nhưng mà vấn đề căn bản vẫn chưa chuyển nhích: chất tiểu tư sản là chính của thơ Việt Bắc hay chỉ là cái rơi rớt phụ?

Tôi đồng ý với Hoàng Cầm, Lê Đạt và nhiều bạn khác rằng: căn bản thơ Tố Hữu là kiểu thơ tiểu tư sản đi theo cách mạng. Cách nhìn tầm thường, nhỏ bé, buồn yếu đuối, lại còn rơi rớt cách nhìn thơ xưa.
Một cái kính thơ như vậy, thu hẹp cuộc sống lại như một hòn non bộ xinh xắn, chưa phải là cái kính thơ vĩ đại của công nông. Tôi nói tiểu tư sản cách mạng, tức là nói cái ưu cũng ở đấy, cái khuyết cũng ở đấy.
Tiểu tư sản rất nhiều, mỗi người còn ít nhiều phút tiểu tư sản, nên thơ Tố Hữu cũng có thể ngâm ngợi được. Nó có ích trong phạm vi ấy. Nhưng nếu nói nó đã là công nông, là dân tộc, là thời đại, là hiện thực thì quả là sai sự thực. Dân ta, công nông ta, thời đại ta không phải là tầm thường nhỏ bé, yếu đuối như thế. Nếu không nhận rõ điều đó, thì thật là tai hại cho tác giả, cho quần chúng, cho thơ hiện thực.

Rất rõ rệt là Tố Hữu có những thiện ý, có cố gắng. Cố phục vụ chính trị. Cố theo sát đề tài trước mắt. Cố quần chúng. Cố dân tộc. Cố điêu luyện thơ nữa. Nhưng chưa đủ mức thoát khỏi cách nhìn tầm thường, nhỏ bé, buồn, yếu ớt, - cho nên cái đạt được của Tố Hữu đi vào đường thơ hiện thực mới chỉ là hình thức.

Không lấy làm làm lạ rằng thơ Tố Hữu có nhiều mâu thuẫn chưa thống nhất. Có vẻ chính trị mà chính chỉ là chính trị công thức. Có vẻ dân tộc, quần chúng mà thực chưa phải. Có vẻ phục vụ trước mắt mà thực lại không hiện tại. Có vẻ điêu luyện thơ mà thực còn rất nhiều cái dễ dàng, lười biếng.

Phê bình thế có phải là do tính khe khắt không? Có phải vì vị trí của Tố Hữu, vì Tố Hữu là một cây bút khá lâu năm nên ta cứ khắt khe không ? - Một nghìn lần không phải.
Người ta hay nói tới quần chúng, thời đại. Tôi rất đồng ý quần chúng, thời đại là người giám sát tối cao quyết định nghệ thuật. Thơ hiện thực là của quần chúng. Chính cuộc nghiên cứu thơ này tức là thời đại đang xét thơ Việt Bắc, mới là một lần đầu. Thời đại ta chưa có kết luận gì. Nhưng phải thấy rằng thời đại chúng ta vô cùng vô tư, khách quan, trọng sự thực. Và cũng rất vô cùng nâng đỡ nghệ sĩ. Không phải chỉ nâng đỡ ngòi bút mới - mà càng phải nâng đỡ ngòi bút cũ (tuy nhiên cách nâng đỡ khác nhau, vì khó khăn, điều kiện hai đằng khác nhau).
Chúng ta nâng cao lá cờ thơ hiện thực, nên phải nhìn cho đúng thơ Tố Hữu đã cố gắng đi được tới mức nào, - con đường tiếp tục còn gian nan gấp mấy?

Vậy ra chưa có thi sĩ nào hiện thực, chân chính của công nông ư? Tôi thấy quả như vậy. Không có gì mà sốt ruột, chuyện nghệ thuật phải tính hàng chục, hàng trăm năm. Chúng ta mới là lúc bình minh, ánh sáng còn non nhạt. Nhưng mà ta đã có hàng vạn vạn câu thơ còn tản mát do bàn tay quần chúng tạo nên, rất xứng gọi là công nông. Chỉ có cái những người chuyên môn có chịu vất vả sống chết đấu tranh như quần chúng không? Nếu như vậy, ta sẽ đẩy được mặt trời lên đỉnh sáng.

Đối với Tố Hữu cũng như mọi nhà thơ, chúng ta chân thành đề nghị: lăn xả vào thực tế, mở rộng cách nhìn, sáng tác mạnh bạo tự do. Tổ quốc khó khăn hôm nay đang gọi tên chúng ta với những vần thơ vất vả, tìm tòi, mới mẻ hơn.

5/1955
Trần Dần .............../.