BBC : Dân làng tỉnh Quảng Đông đòi nợ máu [ 2011 ]

http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fjjj.oop.pb.hx/ivrganzrfr/jbeyq/2011/12/111214_puvan_cebgrfg_jbefra.fugzy





Một cuộc đối đầu không lui bước giữa dân làng và giới chức vẫn đang tiếp diễn tại một xã ở tỉnh Quảng Đông, miền nam Trung Quốc.
Cảnh sát đã chặn các con phố dẫn tới làng Ô Khảm. Dân địa phương đang tìm cách không để cảnh sát vào bên trong.
Cuộc tranh cãi quanh chuyện đất đai của làng bị giới chức địa phương thu hồi đã âm ỉ từ lâu nay.
Mấy hôm trước, một làn sóng biểu tình mới đã nổ ra sau khi một người dân làng bị chết trong lúc đang bị cảnh sát tạm giữ.
Hiện không mấy dễ dàng lấy được thông tin về những gì đang xảy ra bên trong khu vực. Một quan chức địa phương lên tiếng bác bỏ chuyện đang có vấn đề tại nơi này.
Tuy nhiên, có vẻ như người dân làng đã tiến hành một loạt các vụ biểu tình trong những ngày gần đây, với sự tham gia của hàng trăm người.
Một đoạn Bấmvideo quay cảnh biểu tình rồi được tải lên mạng internet cho thấy những người biểu tình giận dữ hô vang các câu như "Giết hết quan chức tham nhũng".
Một người đàn ông nói với BBC: "Chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc chiến tới cùng."
Theo phóng viên của báo Anh, tờ Daily Telegraph lẻn được vào làng, người dân đem biểu ngữ và hô các khẩu hiệu đòi quan chức trả nợ máu (Huyết trái, huyết hoàn).
Phóng viên Mark Moore cho hay mọi quan chức chính quyền xã và công an đã bỏ chạy khỏi khu làng.









"Canh gác khu làng"
Cuộc tranh cãi với giới chức có nguồn gốc sâu xa. Người dân làng nói giới chức địa phương từ lâu nay đã thu đất và không trả tiền bồi thường thỏa đáng.
Để bày tỏ thái độ tức giận, họ đã biểu tình hồi tháng Chín.
Trong cuộc biểu tình đó, họ đã đập tan bức tường được xây quanh khu đất bị thu hồi để phát triển dự án, và xông vào lục soát các văn phòng chính quyền.
Vụ bạo động mới nhất bùng lên từ vụ Tiết Cẩm Ba, một người dân làng và là người đại diện của làng, chết trong lúc bị bắt giữ.
Chính quyền đã tạm giam ông cùng một nhóm những người khác hồi tuần trước và nói ông là một nghi phạm hình sự bị bắt giữ do có liên quan tới các vụ biểu tình hồi tháng Chín.
Hôm thứ Hai, giới chức tuyên bố ông đã chết do "ốm bệnh đột ngột" vào ngày thứ ba kể từ khi bị bắt giam.
Chính quyền thành phố Lộc Phong đơn vị hành chính cấp trên của Ô Khảm, nói rằng ông đã được đưa tới bệnh viện nhưng các bác sỹ không cứu chữa nổi.
Trong một tuyên bố, chính quyền nói ông chết sau khi có vấn đề về bệnh tim và "các nguyên do khác tạm thời đã bị loại trừ".
Một bản phúc trình chính thức về cái chết của ông đã bác bỏ các gợi ý theo đó nói ông Tiết đã bị "cảnh sát đánh đập tới chết", Tân Hoa Xã đưa tin.
Nhóm xét nghiệm của nhà nước nói họ đã không tìm thấy "bất kỳ vết thương nghiêm trọng nào" trên cơ thể người chết, trừ một số vết bầm dập trên cổ tay và đầu gối.



Một chuyên gia tham gia viết bản phúc trình nói: "Chúng tôi chỉ thấy còng tay đã để lại dấu vết trên cổ tay của ông ấy, và đầu gối bị bầm tím nhẹ khi ông ấy quỳ xuống."
Tuy nhiên, dân làng vẫn đặt câu hỏi về nguyên nhân cái chết, và muốn được trả xác, điều mà họ nói là chính quyền địa phương khước từ.
Con rể của người quá cố, anh Cao, cũng là người làng, nói: "Chẳng có văn bản pháp luật nào nói ông ấy không được về nhà."
Anh nói những người biểu tình sẽ không lui bước.
Anh nói: "Dân làng đã canh gác khu làng và chặn không cho cảnh sát vào trong."
Trịnh Nhạn Hùng, bí thư đảng ủy huyện Sán Vĩ, đã kêu gọi chấm dứt biểu tình trong một bài báo của Tân Hoa Xã.
Ông nói: "Chính quyền sẽ nỗ lực xử lý toàn bộ các vấn đề liên quan và hy vọng rằng ngôi làng sẽ không làm dấy lên những cuộc bạo động thêm nữa."
Các cuộc xung đột liên quan tới đất đai không phải là điều hiếm hoi ở vùng nông thôn Trung Quốc.
Được biết mỗi năm thường xảy ra hàng chục ngàn vụ như vậy.
Nhưng vụ tranh cãi mới nhất này có vẻ như là vụ lớn hơn so với các vụ khác, với mức độ cũng chăng thẳng hơn. Người dân địa phương nay tỏ thái độ sẵn sàng đương đầu với giới chức.



1954

Cuộc Di Cư Lịch Sử 1954

*************************




*************************






.
TRẦN THỊ HỒNG 
Giữa trưa một ngày nóng nực nhất trong tháng bảy gia đình tôi có khách đó là ba thanh niên. Vào tới nhà, sau khi chào gia chủ, họ tự giới thiệu:
- Chúng cháu là Đông Hồng đạo diễn và Quốc Anh diễn viên ..có ý định dựng bộ phim hài, dựa theo tác phẩm "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao, để trình chiếu trong dịp tết sắp tới.
Sáng nay, anh em chúng cháu vừa về Nhân Hậu, tới nhà tưởng niệm và khu mộ, để thắp hương xin phép ông rồi! Bây giờ chúng cháu tới gia đình báo cáo lại với hai bác. Đồng thời,  rất muốn hai bác cho nghe thêm những câu chuyện liên quan đến tác phẩm Chí Phèo.
Tôi bảo: “Truyện Chí Phèo của cha tôi, thì đã được các nhà phê bình văn học và bạn bè, đồng nghiệp của người đề cập khá nhiều.  Các anh có thể tìm đọc. Nhưng vì các anh muốn dựng phim hài, tôi cũng xin mạo muội kể vài mẩu chuyện tôi từng được nghe từ người thân và dân làng có chút hài hài để các anh tham khảo”.


Rồi tôi kể: “Chú ruột tôi là Trần Hữu Đạt bảo: Cha tôi xây dựng nhân vật  Chí Phèo là dựa vào hình ảnh của ba người: Người thứ nhất tên là Chí.  Cha mẹ ông Chí đều ở làng tôi, gia cảnh rất nghèo, quanh năm làm thuê, cuốc mướn.  Khi cha mẹ mất đi, Chí còn lại một mình, không có ruộng vườn, nhà cửa. Ngày ngày Chí đến làm việc cho một người làng tên là Trương Pháo.
Ông Trương Pháo thuê Chí mổ lợn rồi đem ra chợ bán. Làm xong,  Chí không đòi tiền, chỉ xin cút rượu và một đoạn cái phèo của con lợn. Có hai thứ đó là xong bữa của Chí. Mỗi buổi tối, sau khi uống rượu xong, Chí khật khưỡng đi đến cái lều ở chợ.
Ai gặp Chí cũng hỏi để trêu đùa: “Anh Chí đi đâu đấy?”. Chí trả lời ngay: “Đi phèo đây”. Ý của Chí là đi ngủ. Cứ thế Chí sống một mình, chẳng lấy được vợ. Nhưng Chí rất hiền, không rạch mặt, ăn vạ.
Người thứ hai tên Trinh, ông này không biết cha, mẹ quê quán ở đâu. Ông chính là đứa trẻ người ta nhặt được ở cái lò gạch bỏ hoang. Ông uống rượu rất nhiều, và khi rượu vào thì lời ra. Ông chửi mọi người và chửi trời, chửi đất. Hễ hơi động vào ông là ông nằm ăn vạ.  Nhưng ông có vợ và một đàn con đông đúc.
Người thứ ba tên Đào. Ông Đào là em họ bà nội tôi. Ông khỏe mạnh, có cha, mẹ,  vợ con ở làng. Nhưng nhà cũng nghèo. Vợ ông chính là bà Trần Thị Nở. Một trong hai người cha tôi dựa vào để xây dựng nhân vật Thị Nở.  Ông Đào cũng chính là anh lực điền làm thuê cho nhà ông Chánh Bính (nhân vật Bá Kiến).
Trong ba người này, ông Trinh và ông Đào sống rồi chết ở làng. Riêng ông Chí về sau bỏ làng đi biệt xứ. Không có việc đâm chém giữa Chí Phèo và Bá Kiến. Song, mãi đến những năm gần đây, người ta phát hiện ra rằng, ông Chí không có vợ nhưng thực ra có con.
Con ông có tên là Rụ. Đó là kết quả mối tình của ông với một bà buôn trứng ở làng. Xung quanh mối quan hệ của anh canh  điền với bà vợ ba Bá Kiến, trong tác phẩm cha tôi chỉ viết: “... Hắn nhớ đến “bà Ba”, cái con quỷ hay bắt hắn bóp chân mà lại bóp lên trên,  trên nữa. Nó chỉ nghĩ đến sao cho thỏa, chứ có yêu hắn đâu. Hồi ấy hắn hai mươi tuổi. Hai mươi, người ta không là đá, nhưng cũng không hoàn toàn là xác thịt. Người ta không thích cái gì người ta khinh... Bà thấy xa xôi không được, phải làm đến nơi. Bà bảo hắn rằng: “Mày thật thà quá! Con trai gì hai mươi tuổi mà đã như ông già”. Hắn vẫn giả vờ không hiểu. Bà lẳng lơ bảo: “Chả nhẽ tao gọi mày vào chỉ để bóp chân thế này thôi ư?...”.
Nhưng anh Hoàng Cao là con bác ruột tôi, lại kể câu chuyện rất hài thế này: Một buổi trưa hè, chồng đi vắng, bà vợ ba  Nghị Bính (Bá Kiến) sai con ở đi hái nhãn. Còn lại một mình ở nhà, bà gọi Chí Phèo lên rồi đưa cho Chí một cái quạt lông rất to, cán dài...
Bà sai Chí Phèo quạt cho bà, nhưng phải quạt thật mạnh. Chí Phèo quạt. Bà Ba mặc yếm lụa vàng, không thắt giải ngang, mặc váy  lục đen, nằm trên phản, chân quay về phía Chí Phèo.
Chí Phèo quạt cái thứ nhất. Bà Ba giục: “Quạt mạnh vào”. Chí Phèo quạt cái thứ hai mạnh hơn. Yếm bà Ba hở ra và váy lục tốc lên. Chí đỏ mặt, chuyển đứng về phía đầu bà, thì bà liền xoay chân về phía “Chí Phèo” đứng và lại giục:
- Quạt nữa đi!
Chí Phèo quạt cái thứ ba, gió cũng thổi hợp với cái giãy giụa khéo léo của người nằm. Toàn bộ những cái cần che đậy trên người bà Ba đã hở hang, phô bày ra hết. Bà bảo:
- Thằng khỉ!
Lúng túng, Chí Phèo run run đáp:

- Lạy bà! Con không dám.
- Bà cho dám! - Tiếng bà Ba cất lên...
 Tưởng rằng chỉ có trời, bà Ba và Chí Phèo biết việc ấy. Nào ngờ, còn có một người nữa biết việc này, đó là ông Loan. Ông Loan là người hầu tráp  của Chánh Bính. Ông Loan đã vô tình được mục kích toàn bộ hành động của bà Ba và Chí Phèo.
Anh Hoàng Cao vốn là bạn với anh Nho, con út của ông Loan. Một lần anh đến chơi với bạn, gặp ông Loan cũng đang có mặt ở nhà anh Nho. Hai anh ngồi tán chuyện với nhau. Hết chuyện trên trời dưới biển chán thì lôi chuyện của cha tôi ra nói. Ông Loan mới tủm tỉm cười mà rằng:
- Tớ biết một chuyện còn hay gấp mấy truyện giáo Tri viết. Chúng mày biếu lão chai rượu,  lão kể cho mà nghe.
Sau đó ông kể câu chuyện trên cho các anh nghe. Ông còn chỉ vào bộ tràng kỷ trong nhà anh Nho mà nói: “Tớ có bộ tràng kỷ này là từ vụ đó”.
Ông Loan nói thêm: “Bà Ba là một người đàn bà tinh ranh, bà thừa biết tôi đã chùi mép  cho bà nên bà nhũn nhặn bảo: “Tôi rất quý cái bụng của anh. Anh ăn ở, thu vén cho nhà này từng ly, từng tí một. Tôi biết lắm anh ạ!  Anh cứ yên trí: Gái có công chồng chẳng phụ”. Rồi bà vội lật đầu giường, lấy ví của chồng, đưa cho tôi.
Kể chuyện này xong, ông Loan đã dặn rất kỹ những người ngồi nghe phải giữ mồm giữ miệng. Nhưng chẳng hiểu sao, câu chuyện “thâm cung bí sử” đó, vẫn nhanh chóng lan ra khắp làng. Từ đấy đám thanh niên, cứ mỗi lần gặp nhau, là thường cợt nhả. Chúng đấm vào lưng nhau rồi quát:
- Thằng khỉ!
Người bị đấm giả vờ khúm núm:
- Lạy bà! Con không dám!
Rồi đua nhau vừa cười váng lên, vừa hét:
- Bà cho dám, bà cho dám.
Chúng cứ vừa đấm, vừa cười ngặt nghẽo với nhau.
Cuộc đời của hai người phụ nữ, cha tôi dựa vào để xây dựng lên nhân vật Thị Nở cũng có nhiều nét hài.
Người thứ nhất là bà Trần Thị Nở. Cha bà Nở là ông Trần Hữu Kính, chuyên đi đóng thuê cối xay lúa, nên gọi là phó Kính. Bà Nở người đã xấu, tính lại dở hơi và rất hay cười. Đặc biệt, bà rất dễ buồn ngủ, mà đã buồn ngủ thì không sao cưỡng lại được. Do vậy, bà lăn ra ngủ ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào: chân đống rạ, chỗ gốc chuối, chân bụi tre... Thậm chí, có lần bà ra ao để xách nước. Vừa đến bờ ao, gặp cơn gió mát, đặt lọ xuống đất, ngồi dựa vào gốc sung, bà làm luôn một giấc dài.
Hàng xóm còn luôn nhắc đến tài bếp núc của bà, để răn dạy con gái. Bởi với bà Nở khi đã chồng, con rồi mà cơm bữa nào cũng trên sống, dưới khê, bốn bề nhão nhoét. Nhưng hễ ai vừa động kêu ca một tiếng, là ba dẩu ngay môi lên, rồi cãi lại rằng “sống đâu mà sống, chỉ hơi sượng thôi!”. Tuy vậy bà Nở vẫn chồng con đề huề. Chồng bà chính là ông Đào (cậu nhà văn Nam Cao) như trên tôi đã nói.
Người thứ hai là cô Trần Thị Thìn, con cụ phó Thảo. Cô Thìn cũng xấu: mặt ngắn, mũi to, da sần sùi và cũng dở người. Cô là em ruột bác Trần Duy Nâm, anh rể của mẹ tôi.
Nhà cụ Thảo thuộc hàng khá giả ở làng. Bác Nâm làm lý trưởng, gia cảnh bề thế. Nhưng cô Thìn vừa xấu, vừa dở tính, không lấy được chồng. Con trai làng, người nghèo thì không dám “với”, người giàu thì họ lại chê. Thật khổ cho cô Thìn, vì bản thân cô lại rất muốn lấy chồng. Hàng ngày mẹ sai đem chép ra vườn làm cỏ. Vườn nhà cô ở ngay cạnh đường đi. Các anh trai làng thường xuyên đi lại trên đường. Vì vậy cô cũng thường xuyên ngừng tay để bắt chuyện và mời mọc các anh vào vườn chơi. Do vậy cô làm cả ngày mà cỏ vẫn mọc xanh rì.
Cô bị mẹ mắng, chửi luôn luôn vì cái tội đó. Lúc ấy cô mới xếu mếu cái: “Thì u lấy chồng cho con đi”. Các anh trai làng biết vậy. Họ nghịch ngợm trêu: “Cô Thìn ơi! Hãy lấy tôi nhá!”. Lúc ấy, mũi Thìn bạnh ra, miệng cười hết cỡ. Và anh con trai cũng vừa cười vừa lảng.
Đang vui chuyện, chợt nhìn ra ngoài trời, thấy đã tắt nắng, tôi bảo:
- Thôi hẹn dịp khác, bây giờ muộn rồi! Các anh đi đường xa, sợ tối quá, không tiện.
Đạo diễn Đông Hồng và diễn viên Quốc Anh đứng dậy, nắm chặt tay chồng tôi!
- Chúng cháu cảm ơn hai bác rất nhiều ạ!

TRẦN THỊ HỒNG *
* Bà Hồng là con gái nhà văn Nam Cao

TỐ HỮU




 “SẤM NGỮ” BẰNG THƠ CỦA NHÀ TIÊN TRI TỐ HỮU


Tố Hữu là nhà thơ, nhà chính trị có vị trí đặc biệt trong đời sống văn hóa, xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ 20. Ông vừa là môn đệ cuồng tín của học thuyết cộng sản Marx – Lenin, vừa là tác giả có ảnh hưởng lớn đến trào lưu tư tưởng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa (XHCN) và nước Việt Nam thống nhất sau chiến tranh.



Tố Hữu (ngoài cùng, bên trái) cùng các nhà văn miền Nam Phan Tứ và Trần Ðình Vân trong một cuộc hội kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh - Ảnh tư liệu
 

Gạt bỏ các yếu tố liên quan đến quan điểm chính trị của ông, không ít người tôn vinh Tố Hữu như một đại thi hào của dòng thơ lãng mạn cách mạng. Các tác phẩm của ông tràn đầy tinh thần lạc quan, niềm tin lý tưởng với viễn cảnh tươi sáng của chủ nghĩa cộng sản (CNCS). 

Nhà thơ với biệt tài phóng tác 

Tuy nhiên với tâm trạng hưng phấn thái quá, đôi lúc Tố Hữu không khỏi sa vào những vần thơ phi hiện thực, không tưởng: 
Chân dép lốp 
Mà lên tàu vũ trụ,
 
Đời vui thế, khi ta làm chủ
... 
(“Một nhành xuân”) 

hay: 
Nhặt tí phân rơi, dọn từng ngọn lá, 
Mỗi hòn than, mẩu sắn, cân ngô
 
Ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ...
 
(“Bài ca xuân 61”) 

Tố Hữu là cây bút có biệt tài hình dung và phóng tác. Khả năng thiên bẩm này như một thế mạnh gắn liền với sự nghiệp thi ca của ông. Trong tác phẩm “Chân dung và đối thoại” Trần Đăng Khoa có tiết lộ chi tiết: trong một lần tâm sự, Tố Hữu đã trải lòng rằng, dù ngồi ở chiến khu Việt Bắc ông vẫn nhào nặn để cho ra những vần thơ như thật về con người và khung cảnh chiến trường ác liệt tận nơi xa xôi mà chưa bao giờ ông đặt chân đến: 
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên 
Chiến sĩ anh hùng
 
Đầu nung lửa sắt
 
Năm mươi sáu ngày đêm
 
Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
 
Máu trộn bùn non...
 
(“Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”) 

Từ khi biết đến khả năng “tớ phịa ấy mà” theo như lời Tố Hữu thừa nhận, nhiều nhà phân tích bắt đầu hoài nghi, tìm cách săm soi tính hiện thực trong mỗi vần thơ của ông. 

Không biết Tố Hữu đã có dịp đặt chân đến Ba Lan trước khi sáng tác bài thơ “Em ơi... Ba Lan” hay chưa, nhưng phải công nhận dưới ngòi bút tài hoa của ông, hình ảnh quê hương của nhà soạn nhạc thiên tài Chopin hiện lên đẹp đến ngỡ ngàng: 
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan, 
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn.
 

Thực ra mùa tuyết tan, hiếm khi đất trời được coi là đẹp. Ở Ba Lan ít thấy các con đường thuần cây bạch dương như tại nước Nga. Vào mùa đó, trải dài bên con đường lầy lội, đầy rác đọng dưới lớp tuyết đang tan là những hàng cây khẳng khiu, lá chưa ra, hoa chưa nở. Vậy mà khung cảnh ấy hiện ra trong thơ Tố Hữu đẹp như bức tranh vườn địa đàng. 

Khi Tố Hữu dùng các mảng màu “sóng ngời xanh, ngọc bích biển khơi” tô biển Baltic của Ba Lan, người ta lại như thấy ông vẽ biển Địa Trung Hải xứ Tây Ban Nha vậy. Thực tế biển Baltic chẳng thơ mộng đến thế. Vào mùa hè, khi nắng trời đổ lửa, nhiệt độ không khí lên 30-31 độ C, nước biển Baltic vẫn lạnh căm căm và dẫu căng mắt cũng khó tìm thấy nơi đâu con sóng ngời xanh màu ngọc bích. 

Không như văn tả chân, thơ muốn hay phải giàu hình tượng. Ai cũng biết vậy, thế nên chẳng cần thiết phải phê phán tính hiện thực trong thơ Tố Hữu. Trái lại có không ít ý kiến đánh giá cao trí tưởng tượng phong phú và tài xuất ứng thơ như có phép thần của ông. 

Thuở hàn vi, dù chưa một lần đặt chân ra nước ngoài, ngồi ở chốn rừng sâu, Tố Hữu vẫn làm được những bài thơ thấm đẫm hồn Nga, hồn Trung Hoa, hay Bắc Triều Tiên... thì việc ông khua bút viết nên những vần thơ mượt mà, đậm chất Ba Lan không có gì lạ. 



Nhà thơ Tố Hữu thời trẻ - Ảnh tư liệu 


Có nhiều người tôn vinh Tố Hữu không chỉ là một thi hào chiếm vị trí đỉnh cao trong dòng thơ ca cách mạng mà họ còn coi ông như một nhà tiên tri vô thức. Tuy chưa thể so được với sấm truyền của đấng tiên tri Nostradamus người Pháp hay Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng sống trong thế kỷ 16, nhưng cũng không nên xem nhẹ những lời sấm ngữ bí hiểm được giải nghĩa bằng thơ của Tố Hữu. 

“Chào 61 đỉnh cao muôn trượng” 

Ai đó đã nhận định Tố Hữu lạc quan quá đà khi viết bài thơ “Bài ca mùa xuân 61” với câu thơ “Chào 61! Ðỉnh cao muôn trượng” trong bối cảnh cả hai miền đất nước đang chuẩn bị bước vào cuộc chiến tranh đẫm máu nhất của lịch sử dân tộc. Có lẽ không có sức thuyết phục nếu cho rằng “đỉnh cao muôn trượng” mà Tố Hữu nhắc đến ở đây hàm ý nói về thành tựu của sự nghiệp cách mạng đạt được trong năm 1961. Vì khi đó cách mạng Việt Nam và thế giới đang trải qua tình thế ngặt nghèo, đầy rẫy khó khăn. 

Một số nhà nghiên cứu coi câu thơ ngạo nghễ đó của Tố Hữu chính là lời tiên đoán về đỉnh cao sự nghiệp chính trị của ông. Tố Hữu viết “Bài ca mùa xuân 61” khi ông bước vào tuổi 41. Trước đó ít tháng, tại Đại hội lần thứ 3 Đảng Lao động Việt Nam, ông được bầu làm Bí thư Trung ương Đảng, đứng đầu Ban Văn hóa - Tư tưởng Trung ương. Tưởng thưởng này là sự vinh danh công trạng cho ông với vụ dẹp loạn “Nhân văn Giai phẩm”. 

Bài thơ “Mừng xuân 61” hừng hực khí thế tiến công cách mạng ra đời khi Tố Hữu đang ngất ngây với danh vọng cá nhân. Vậy chỉ có lý khi vần thơ “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng” chính là lời tiên đoán: ở tuổi 61 Tố Hữu sẽ leo lên tột đỉnh quyền lực. 

Gần cuối bài thơ ông bỗng cất giọng tự hỏi “Tôi viết cho ai bài thơ 61?”. Còn cho ai nữa nếu không phải ông viết cho chính ông! Né tránh trả lời trực diện, ông lại tiếp tục say sưa đắm mình trong sự hưng phấn với “Miền Bắc thiên đường của các con tôi”. 

Thực tế vào năm 1981, đúng 20 năm sau lời tiên đoán “Chào 61! Ðỉnh cao muôn trượng - Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng”, tại Đại hội lần thứ 5 Đảng Cộng sản Việt Nam, khi Tố Hữu 61 tuổi, ông được bầu vào Bộ Chính trị, cơ quan quyền lực cao nhất của đảng, ngay sau đó ông lại được cử giữ trọng trách Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng. Đây là bước đệm chuẩn bị cho ông leo lên nắm giữ cương vị cao nhất là Tổng bí thư của đảng. 

Tuy nhiên Tố Hữu làm sao có thể vượt qua được mệnh trời khi ông đã đạt đến “đỉnh cao muôn trượng” vào năm 61 tuổi. Năm 1985 phép thử “Giá - Lương - Tiền” do chính ông đề xướng thất bại thảm hại, ông bị cách tuột tất cả các chức vụ lãnh đạo đảng và nhà nước. Để rồi sau đó ông tức tưởi an trí dưỡng già trong ngôi biệt thự số 76 phố Phan Đình Phùng, Hà Nội. Những năm cuối đời, ông cay đắng chứng kiến sự sụp đổ có tính hệ thống của CNXH thế giới, tại Đông Âu và ngay tại thành trì Liên Xô. 

Viễn cảnh thiên đường nhân loại một thời được Tố Hữu tô vẽ đẹp như mơ bỗng chốc tan biến thành sương khói. Năm 1991, như rút từ tâm can, ông vật vã viết những vần thơ: 
Mới bình minh đó bỗng hoàng hôn... 
Ôi kiếp trăm năm được mấy ngày...
 
Còn đau khổ nào đau khổ hơn...
 

khóc than cho sự đổ vỡ niềm tin vào lý tưởng mà suốt đời ông tôn thờ đến mê muội. 

“Ca ngàn năm: Ba Lan, Ba Lan...” 

Cuối thập niên những năm 70 của thế kỷ trước, sau khi đạt đỉnh cao trào, hệ thống XHCN thế giới bắt đầu bộc lộ bản chất yếu kém. Đầu thập niên 80, CNXH chính thức bước vào giai đoạn thoái trào. 

Ký ức không phai trong tôi về đất nước Liên Xô và Ba Lan cuối những năm 80 hiện lên như một cuốn phim tư liệu đen trắng. Trôi theo dòng thời gian là hình ảnh từng đoàn người kiên nhẫn xếp hàng trước quầy thực phẩm gần như trống rỗng, các tòa nhà xám xịt trải dài hai bên phố, những gương mặt nông dân lam lũ lắc lư trên chiếc xe ngựa lộc cộc khắp mọi nẻo đường nông thôn, vài ánh đèn leo lét hắt ra từ cửa sổ các căn nhà gỗ chìm trong đêm đông tuyết phủ. Hoàn toàn không có chút nào cái gọi là “sức sống XHCN” cho bất kỳ ai huyễn hoặc muốn tuyên truyền về tính ưu việt, về sự thắng lợi tất yếu của CNXH. 

Năm 1980, sự ra đời của Công đoàn Đoàn kết tại Ba Lan đã gióng lên hồi chuông báo hiệu thời kỳ CNXH thế giới bước vào cuộc khủng hoảng sâu sắc và toàn diện. Ba Lan, quốc gia giữ vai trò trọng yếu trong khối Hiệp ước Quân sự Warsaw, một thực thể đối đầu trực diện với khối quân sự NATO của phương Tây trong chiến tranh lạnh. Với vị trí ấy, Ba Lan chính là tử huyệt của phần châu Âu XHCN. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà bài thơ “Em ơi... Ba Lan” lại mặc định những điều tiên đoán vô thức của Tố Hữu về tương lai Ba Lan: 
Khắp quê em, mùa xuân đến rồi 
- Dù đêm qua chút tuyết còn rơi. 

Lịch sử đã chọn Ba Lan làm điểm tựa, mắt xích bị chặt đứt đầu tiên trong chuỗi sụp đổ có tính dây chuyền của khối XHCN Đông Âu và Liên Xô. 

Trong khúc khải hoàn “Ca ngàn năm: Ba Lan, Ba Lan”, nhân dân Ba Lan đã dũng cảm đứng lên tiến hành cuộc cách mạng dân chủ thay đổi thể chế. Được trải nghiệm bằng cuộc sống mới ngày càng tốt đẹp, hơn hai mươi năm là quãng thời gian đủ dài để khẳng định sự lựa chọn của nhân dân là sáng suốt. Ý nguyện của họ thể hiện qua lá phiếu trong các kỳ bầu cử tự do minh chứng cho xu thế không thể đảo ngược của tiến trình lịch sử không những ở Ba Lan, ở các nước Đông Âu mà ở tất cả các nước cộng hòa thuộc Liên Xô (cũ), nơi một thời từng được mệnh danh là thành trì vững chắc của CNXH. 

Điệp khúc “Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan - Đường bạch dương sương trắng nắng tràn” như tiếng đàn xuân một lần nữa lại ngân lên vào cuối bài thơ, gieo vào lòng người đọc viễn cảnh “tuyết tan” với “nắng tràn” mãi ấm áp trong kỷ nguyên “ngàn năm: Ba Lan


Trần Quốc Quân, từ Warsaw


HÒANG KHƯƠNG





NGUỒN : FB CÔGÁIĐỒLONG




Tuần qua, bản tin nhỏ trên Tuổi Trẻ đã làm rúng động nhiều đồng nghiệp trong cả nước; nhưng thật ra – nếu ai biết về Hoàng Khương có lẽ không cần phải giật mình. Nhiều bạn bè, lúc trà dư tửu hậu hay nửa đùa nửa thật rằng: “Ra đường bị CSGT thổi, chỉ cần nói bạn của Hoàng Khương là mấy ổng thả đi à!”. Để khách quan, xin trích dẫn lời của một nhà báo về v/v Hoàng Khương: “Chúng tôi là đồng nghiệp với nhau nên biết rất rõ chuyện này. Đúng như anh em đã cảnh báo, Hoàng Khương trước sau gì cũng sẽ bị chơi lại. Bạn đọc Tuổi Trẻ trong cả nước đều biết Hoàng Khương là một phóng viên bản lĩnh; các bài báo của anh đã thể hiện sự dũng cảm của người cầm bút, không nao núng và khoan nhượng trước bạo quyền, nhũng nhiễu. Chính nhờ những phóng viên như Hoàng Khương mà Tuổi Trẻ đã tạo được niềm tin nơi độc giả trong thời gian gần đây khi đang có manh nha chạy theo xu hướng lá cải hóa. Theo thống kê của chúng tôi, những bài viết của Hoàng Khương từ trước tới nay đã làm bay chức khoảng 50 cán bộ công an. Ngành CA luôn có động thái biểu dương, khen ngợi Hoàng Khương cho những phóng sự - điều tra của anh; nhưng bằng mặt liệu có bằng lòng? Qua vụ việc Hoàng Khương, dám chắc sẽ không còn một nhà báo nào dám đụng đến công an …”
Thực chất của việc này là gì?
Trong khi tác nghiệp điều tra vụ “Công an Bình thạnh nhận hối lộ”:
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/444972/Xu-ly-tai-nan-giao-thong---Ky-1-Co-y-lam-sai-quy-trinh.html
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/445115/Dong-tien-xoa-sach-ho-so.html
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/445946/Canh-sat-giao-thong-giai-cuu-xe-dua-trai-phep.html
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/465783/Khoi-to-nguyen-canh-sat-giao-thong-nhan-hoi-lo.html
… Hoàng Khương đã thông qua một tay cò đưa tiền hối lộ cho CSGT để lấy bằng chứng xác thực/ chụp hình ảnh, do đó anh chính là người có mặt tại hiện trường; và hình ảnh này đã được đăng tải trên trang nhất báo Tuổi Trẻ khi xuất bản bài viết. Ngày 18-11, Cơ quan cảnh sát điều tra CA TP.HCM đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án và thực hiện lệnh bắt tạm giam Huỳnh Minh Đức - nguyên cán bộ CSGT thuộc Công an Q.Bình Thạnh - về hành vi nhận hối lộ. Và, Hoàng Khương sau bản tin thông báo một cách lạnh lùng của Tuổi Trẻ sẽ là chuyện gì khi vụ này trở thành án điểm...!!!???

P/s: những điều tra ồn ào gần đây của Hoàng Khương:
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/454423/Nhuc-nhoi-nan-mai-lo-Ghe-hon-cuop-can.html
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/454663/Nhuc-nhoi-nan-mai-lo--%20Tra-gia-“chung-chi”.html
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/454679/Mai-lo-trang-tron-day-dac-tren-duong.html
http://tuoitre.vn/Ban-doc/455177/3000-y-kien-ban-docngay.html
+ Đọc thêm về những phóng sự điều tra của Hoàng Khương:
http://hoangkhuong.com/





Nông Đức Mạnh & Nông Quốc Tuấn

Cựu TBT Nông Đức Mạnh đã tuyên bố từ ông Nông Quốc Tuấn con trai của mình

Trach Văn Đuỳnh
T/g gửi cho TTHN
 
(TTHN) - Chúng tôi nhận được bài viết của tác giả Trạch Văn Đuỳnh gửi tới, do không có điều kiện để kiểm chứng, chúng tôi xin đăng nguyên văn để rộng đường dư luận. Trang TTHN không chịu trách nhiệmvề tính chính xác về những thông tin này.

Cách đây không lâu, trên mạng internet có thông tin cho biết chuyện sau khi rời ghế Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam mới gần 1 năm, Cụ Nông Đức Mạnh ở tuổi ngoài 70 cảm thấy ‘cô đơn’ và quyết định lấy vợ. Người vợ sắp cưới của cụ cựu Tổng Nông là cô gái còn trẻ, xinh đẹp với đôi mắt đào hoa dâm đãng và dễ thương. Đó là nữ Đại biểu Quốc hội Đỗ Thị Huyền Tâm sinh 17/10/1966, quê tại Ninh Xá, Bắc Ninh [à đại biểu Quốc hội khoá 12 và khoá 13] kém ông Nông Quốc Tuấn con trai cả của cụ Tổng Nông 3 tuổi và kém cụ Tổng Nông có hơn 26 mùa lá rụng.
Ngoài ra bà Tâm còn được biết là Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Minh Tâm tiền thân là Công ty TNHH Minh Tâm được thành lập từ năm 2002.

Bà Đỗ Thị Huyền Tâm
Theo nguồn tin từ nhóm bạn bè của ông Nông Quốc Tuấn, gồm những người thuộc nhóm bạn bè xuất thân là dân tộc Tày, con cái của các lãnh đạo cao cấp trong Uỷ ban Dân tộc đang sống và làm việc ở Hà nội cho biết, thì cách đây khoảng hơn 10 năm, khoảng tháng 2 năm 2000 ông Nông Quốc Tuấn mới xuất hiện trên chính trường với chức vụ Phó Chủ tịch Thường trực Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Đó là thời gian sau 12 năm ngồi chơi xơi nước ở Hội Thanh niên Việt nam kể từ sau khi kết thúc cuộc đời là “công nhân xuất khẩu lao động”, do bị cha đẻ là ông Nông Đức Mạnh, khi đó là Bí thư Tỉnh ủy Bắc Thái bắt buộc phải đi để cai nghiện ma túy tại Singwitz, thuộc CHDC Đức cũ từ năm 1981 – 1987. Thời gian này (từ năm 2000 – 2003) ông Nông Quốc Tuấn có quan hệ tình cảm trên mức bạn bè với cô Đỗ Thị Huyền Tâm kiểu già nhân ngãi, non vợ chồng. Mặc dù lúc đó cô Đỗ Thị Huyền Tâm đã từng có gia đình sau nhiều lần kết hôn và li hôn và tin còn cho biết số vốn điều lệ 5 tỷ đồng ban đầu thành lập công ty TNHH Minh Tâm từ năm 2002 tiền thân của Công ty Cổ phần Tập đoàn Minh Tâm là do ông Nông Quốc Tuấn cho bà Tâm vay trên danh nghĩa cho mượn bao giờ có thì trả.

Bạn bè của ông Nông Quốc Tuấn cho biết, cô Đỗ Thị Huyền Tâm thường xuyên qua lại với gia đình cụ Tổng Nông ở biệt thự 66B Phan Đình Phùng, phường Quán Thánh, quận Ba Đình, Hà Nội vốn dành riêng cho các cán bộ lãnh đạo cao cấp với tư cách là cô em kết nghĩa của ông Nông Quốc Tuấn.
Dần dà trở thành con gái nuôi của cụ Tổng Nông lúc nào không biết, khi mà bà Lý Thị Bang – phu nhân cụ Tổng Nông – do tuổi cao, sức yếu đã được cụ Tổng Nông cho về ở quê và qua đời ngày 25.10.2010 tại xã Lương Hạ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. Rồi cụ Tổng Nông đã được cô con gái nuôi “dìu” cụ Tổng Nông vào đời, và để đền đáp cụ Tổng Nông đã dùng quyền lực của mình ở cương vị Tổng Bí thư đảng CSVN để “dìu” cô con nuôi – vợ hờ - trở thành nữ Đại biểu Quốc hội.




Căn biệt thự mới xây của cụ Tổng Nông đã bị vợ mới mang sổ đỏ đi thế chấp NH

Việc cụ Tổng Nông lấy vợ trẻ hơn con trai cả của mình và từng là con nuôi của mình, hơn nữa trong thời gian chưa đoạn tang vợ đầu [bà Lý Thị Bang] đầy năm khiến họ hàng, con cái và những người thân cận của ông cựu Tổng bí thư hết mực can ngăn và hết sức bất bình. Một trong những người phản đối gay gắt nhất là ông Nông Quốc Tuấn, Bí thư tỉnh ủy Bắc giang, Uỷ viên trung ương Đảng khóa XI, vì nhiều nguyên nhân sâu xa mà theo ông Tuấn cho biết là khó nói vì nó là chuyện kiểu cha dùng của thừa của con trai đã nói ở trên.

Một điều đáng nói là việc vội vàng kết hôn với vợ mới khi chưa đoạn tang với vợ đầu là phạm phải những điều cấm kỵ trong tục lệ hôn nhân của người dân tộc Tày. Hơn nữa theo ông Nông Quốc Tuấn thì việc cụ Tổng Nông lấy vợ sẽ gây mất uy tín của cá nhân và làm ảnh hưởng tới con đường thăng tiến của ông trong tương lai.
Nhưng nguyên nhân lớn nhất là tình trạng sắp sửa phá sản của Công ty Cổ phần Tập đoàn Minh Tâm của cô dâu Đỗ Thị Huyền Tâm do ảnh hưởng của kinh tế suy thoái, sản phẩm hàng hóa tồn đọng và các hạng mục bất động sản không bán được, với các khoản nợ lớn hàng trăm tỷ đồng đến hạn đáo nợ nhưng không có khả năng trả nổi. Theo tin cho biết tới mức kể cả sổ đỏ căn biệt thự sang trọng của cô dâu Đỗ Thị Huyền Tâm tại Nhân Mỹ, Mỹ Đình – Hà Nội cũng đã phải mang đi thế chấp cho ngân hàng. Và không chỉ thế, điều nghiêm trọng nhất để cứu vãn tình thế bên bờ vực phá sản của doanh nghiệp mình, cô dâu Đỗ Thị Huyền Tâm đã dùng sổ đỏ của căn biệt thự mới xây ở tại Khu dân cư số 9, làng Võng thị, Phường Bưởi ven Hồ tây, đứng tên ông Nông Quốc Tuấn để thế chấp cho Ngân hàng. Mà theo đánh giá của giới buôn bán BĐS thì chỉ riêng mảnh đất mặt tiền hồ Tây 850 m2, giá 350 triệu/m2 thì có thể vay được xấp xỉ khoảng 300 tỷ. Điều này đã khiến ông Nông Quốc Tuấn hết sức tức giận và do không kiềm chế được, trong mấy ngày gần đây, tại ngôi biệt thự 66B Phan Đình Phùng hai cha con cụ Tổng Nông đã to tiếng tới mức cụ Tổng Nông chỉ mặt ông Nông Quốc Tuấn mà nói rằng:“Mày là thằng bố láo, miếng đất ven Hồ Tây có được là do ai? Từ nay tao từ mày, mày sẽ không là con của tao từ đây!”

Người ta bảo “Trẻ cậy cha – già cậy con” chắc cụ Tổng Nông hẳn biết điều đó, vậy mà sao cụ không nghĩ tới vài năm nữa cụ cũng tới tuổi bát tuần. Cụ không trông vào con trai cụ mà có bao nhiêu để con chim chịu sự lãnh đạo của cái bướm, chắc khi tỉnh ra thì còn cái cát-tút.

Chỉ khổ cho ông Nông Đức Tuấn, Bí thư tỉnh ủy Bắc Giang, Uỷ viên trung ương Đảng xấu hổ với bạn bè, chiến hữu và đàn em, vì có ông bố già hơn 70 tuổi mà vẫn còn thích thả dê.

Làng Võng thị, ngày 06 tháng 12 năm 2011

© Trạch Văn Đuỳnh