NẠN “KIÊU BINH” DƯỚI TRIỀU ĐẠI NGUYỄN PHÚ TRỌNG

   

NẠN “KIÊU BINH” DƯỚI TRIỀU ĐẠI NGUYỄN PHÚ TRỌNG


Thu Hà

https://www.facebook.com/tiengdanbao/posts/pfbid029zjcMVGRQUjYBiBe64ioRtunHB5NDXe6gnWV3FwadspCcbs778U5WEci91Fxu98jl


****


Sử Việt chép rằng, thời Lê Trung Hưng, vua Lê chỉ là bù nhìn, quyền lực thật sự nằm trong tay chúa Trịnh. Tuy nhiên còn có một lực lượng khác từng thao túng cả vua Lê lẫn chúa Trịnh, thậm chí thế lực này còn quyết định chọn người lên ngôi, hoàn toàn thao túng Triều đình, đó chính là lực lượng kiêu binh.

Bởi họ đã đóng góp nhiều công lớn, nên được vua, chúa tin dùng làm quân túc vệ, lại được vua chúa nuông chiều, nên quân “Tam phủ” sinh ra thói kiêu căng, xem thường luật vua, phép nước, dẫn đến lũng đoạn triều chính, dân tình lầm than, khổ sở.

Nhiều lần kiêu binh xông vào triều, bắt sống, truy sát và bức tử đại thần, đến vua chúa cũng khiếp sợ. 

[....]  Có thể thấy, kiêu binh chính là sản phẩm được sản sinh ra từ thể chế chính trị phong kiến chuyên chế thối nát Lê Trịnh và hậu quả là chúng làm cho triều đại suy tàn.

Bàn về nạn kiêu binh, sách “Việt sử tân biên” (quyển 3), của sử gia Phạm Văn Sơn, có đoạn như sau: “Gia chính cũng như quốc chính, một khi có lũ con cưng đó, tất nhiên phải đưa thiên hạ đến chỗ đại loạn. Lịch sử không chỉ trách kiêu binh, mà còn phải quy trách nhiệm cho những người cầm đầu dân tộc đã vụng suy dại nghĩ”.

................


ĐẾN NGUỒN CƠN NGUYỄN PHÚ TRỌNG


Hiện nay, dưới triều Nguyễn Phú Trọng, nạn “kiêu binh” từ Bộ Công an cũng tiếm quyền, thao túng quyền lực, bắt cả Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương làm con tin. Khởi nguồn của nạn kiêu binh này là do ông Nguyễn Phú Trọng. Ba vụ việc sau đây, có thể thấy ông Trọng đã dung túng Bộ Công an ra sao:

- Để thoả mãn danh dự cá nhân, ông Trọng sẵn sàng bất chấp các quy tắc ngoại giao, thông lệ quốc tế, bật đèn xanh cho Tô Lâm đưa mật vụ sang Đức, bắt cóc Trịnh Xuân Thanh đem về nước. Chưa hết, vì tiêu diệt phe nhóm chính trị, củng cố quyền lực, ông Trọng cho bắt Uỷ viên Bộ Chính trị Đinh La Thăng, quản thúc (giam lỏng) Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh mà không cần có ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương hoặc Quốc hội.

- Ông Trọng biết rất rõ, “án tại hồ sơ” việc bộ trưởng Tô Lâm dính rất sâu trong vụ Mobifone mua AVG bằng các văn bản “Tối mật”, nhưng ông ta vẫn làm ngơ, bỏ qua. Phạm Nhật Vũ, kẻ hưởng lợi 5800 tỉ trong phi vụ này, đã đưa hối lộ cho các quan chức hơn 6 triệu Mỹ kim, lại được Bộ Công an của Tô Lâm đề nghị cho hưởng “chế độ hình sự đặc biệt” để Vũ chỉ phải nhận mức án 3 năm tù.

- Ông Trọng ủng hộ chủ trương của Tô Lâm và Bộ Công an, nửa đêm mang hàng ngàn quân đi tấn công thôn Hoành, Đồng Tâm, “tiêu diệt” đảng viên 58 tuổi đảng Lê Đình Kình, bắt hết con cháu ông Kình mà không cần bất kỳ một cuộc hòa giải, vận động, hay bản án xét xử của bất kỳ phiên tòa nào.


Từ tiền lệ đó, Bộ Công an núp dưới cờ “chống tham nhũng không có vùng cấm”, trở nên lộng quyền và bước qua mọi rào cản pháp lý.

Nếu như từ năm 2016 về trước, Bộ Công an luôn chờ hồ sơ chuyển từ Ủy Ban Kiểm tra Trung ương, Thanh tra Chính phủ để khởi tố điều tra, thì nay, Bộ Công an không cần kết luận của Ủy Ban Kiểm tra Trung ương hay đề nghị của Thanh tra Chính phủ.

Bộ Công an xem như không có hai cơ quan này, họ ngang nhiên xông vào trụ sở làm việc bắt Ủy viên Trung ương là bộ trưởng, bí thư các tỉnh thành, bắt chủ tịch Hội Đồng Nhân dân, chủ tịch UBND… mà không cần thông báo cho các tổ chức đảng ủy ở những nơi đó.

Ông Trọng đã xem Bộ Công an là thần bảo hộ của đảng, là công cụ bảo đảm sự tồn tại của đảng, nên o bế, dung túng lực lượng công an, biến họ trở thành kiêu binh hung hãn, côn đồ, coi thường nhân phẩm, mạng sống của dân.


Kiêu binh “thời đại Hồ Chí Minh” tham nhũng, hối lộ, mua sao vạch, bán phẩm hàm, mà không ai dám điều tra, tố cáo, chỉ trích. 

Công an đánh người, bắn người, bắt bớ, tra tấn khi giam cầm, dẫn đến những cái chết tức tưởi của dân, hoặc thương tích đầy người, thân tàn ma dại… nhưng luôn được bao che, không hề bị truy tố.

Những đại biểu nào chất vấn gay gắt bộ trưởng Bộ Công an, phê phán công an giữa nghị trường, không sớm thì muộn, cũng bị gài bẫy, bắt giam.

Ai dám đưa công an vào vòng tố tụng, khi 

*đứng đầu cơ quan khởi tố điều tra là Bộ Công an (đại tướng CA Tô Lâm), 

*cơ quan truy tố Viện Kiểm sát (thượng tá CA Lê Minh Trí) và 

*cơ quan xét xử Toà án Tối cao (thiếu tướng CA Nguyễn Hoà Bình)?

..........

Thời của kiêu binh

Kiêu binh thời nay đã không còn đứng canh cửa ngoài phủ, bảo vệ cấm cung, cảnh vệ mục tiêu… mà kiêu binh đang ngồi trong triều đình, luận bàn chuyện quốc gia, chính sự.

Sai lầm của ông Trọng đã giúp Bộ Công an cài cắm người của mình vào tất cả cơ quan đầu não. Xin điểm danh sơ sơ, để biết thế lực của Tô Lâm “bày binh bố trận” như thế nào:

1. Lương Tam Quang, sinh 1965, quê Kim Động, Hưng Yên; Ủy viên Trung ương khóa 13, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an, Thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra BCA. Sắp tới, Quang sẽ nắm ghế bộ trưởng Bộ Công an.

2. Nguyễn Duy Ngọc, sinh năm 1964, quê Kim Động, Hưng Yên. Ngọc là Ủy viên Trung ương khoá 13, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an, Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an. Ngày 3-6-2024, Ngọc sẽ nhậm chức Chánh Văn phòng Trung ương đảng.

3. Tô Ân Xô, sinh năm 1963, quê Bắc Ninh. Xô là thiếu tướng, Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương và là Người phát ngôn của Bộ Công an.

Trước đó, Tô Ân Xô là Chánh Văn phòng Bộ Công an, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm. Ngày 3-6-2024, Xô sẽ được bổ nhiệm chức Trợ lý Chủ tịch nước Tô Lâm.

4. Vũ Hồng Văn, sinh năm 1976, quê Yên Mỹ, Hưng Yên. Văn là Ủy viên Ủy Ban Kiểm tra Trung ương. Trước đó, Vũ Hồng Văn là thiếu tướng, cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ.

5. Phạm Thế Tùng, sinh năm 1972, quê Tiên Lữ, Hưng Yên. Tùng là thiếu tướng, Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ (A03).

6. Mai Hoàng, sinh năm 1979, quê Yên Mỹ, Hưng Yên. Hoàng là thiếu tướng, thành uỷ viên, Phó Giám đốc, Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM.

7. Nguyễn Thanh Tùng, sinh năm 1968, quê Long Hưng, Hưng Yên. Tùng là thiếu tướng, Ủy viên BTV Đảng ủy, Phó Giám đốc, Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra CATP Hà Nội.

8. Tô Anh Dũng, sinh năm 1978, quê Văn Giang, Hưng Yên. Dũng là đại tá, Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh uỷ, Giám đốc Công an tỉnh Hà Nam.

9. Cao Minh Huyền, sinh năm 1974, quê thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Huyền là đại tá, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh Lào Cai.

10. Lê Việt Thắng sinh năm 1972, quê quán Văn Giang, Hưng Yên. Thắng là đại tá, Ủy viên Ban thường vụ tỉnh uỷ, Giám đốc Công an tỉnh Yên Bái.

11. Nguyễn Ngọc Quang, sinh năm 1967 quê Hưng Yên. Quang là đại tá, Phó cục trưởng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý (C04)

12. Nguyễn Văn Mừng, sinh năm 1967, quê Ân Thi, Hưng Yên. Mừng là thiếu tướng, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (C02).


Chỉ vì “còn đảng còn mình”, nên ông Trọng đã tạo điều kiện cho lực lượng Bộ Công an ngày càng đông đúc, hung hãn. Ông Trọng trao cho đám kiêu binh cái quyền “tiền trảm hậu tấu”, để nay họ quay sang tiếm quyền, khuynh loát, nắm thóp cả Ban Chấp hành Trung ương và hệ thống chính trị từ trung ương đến 63 tỉnh thành, hòng đưa ra yêu sách, sắp xếp nhân sự cấp cao.


Không cần kể dông dài, nhưng mọi người đều thấy Bộ Công an đang kiểm soát gần như tất cả các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp, mở đường cho việc Tô Lâm ngồi vào ghế tổng bí thư.


Lần lượt các nguyên thủ quốc gia, “ngũ trụ” triều đình như Nguyễn Xuân Phúc, Võ Văn Thưởng, Vương Đình Huệ, Trương Thị Mai đều bị đám kiêu binh “cưa ghế”, phế bỏ quyền lực, theo đúng một kiểu quy trình. Đến thời điểm này, có thể nói, “vua” Nguyễn Phú Trọng đã thật sự mất hết quyền lực.


Chiều ngày 1-6-2025, nhà báo Huy Đức, cây bút chính luận số 1 Việt Nam và là một KOLs hay nhất trên mạng xã hội, người nổi tiếng trên truyền thông cả trong và ngoài nước đã bị khởi tố, bắt giam với tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước” theo điều 331, Bộ luật hình sự.


Sắp tới, sẽ có những cuộc thanh trừng, đàn áp khốc liệt. Các nhà hoạt động nhân quyền, những tiếng nói phản biện, những phản ứng trong dân chúng và ngay cả trong đảng cũng sẽ cùng chung số phận.


Kiêu binh đang lên ngôi. Vết nhơ thời vua Lê, chúa Trịnh đã, đang và sẽ lặp lại một lần nữa trong lịch sử hiện đại Việt Nam. 


Buồn thay!


//////////////////////////


NHỮNG SUY NGHĨ KHÔNG RỜI RẠC

 


I. TINH THẦN PHÁP QUYỀN ĐÃ CHẾT
Sáng qua, một vị tướng lão thành từng giữ một vị trí đầy quyền lực trong ngành công an điện thoại nói chuyện rất lâu sau khi đọc bài của tôi. Ông cho rằng, nếu như tinh thần xây dựng một nhà nước pháp quyền từng thắng thế trong thập niên 2000s thì nay, tinh thần đó đã bị bóp chết.
Trước Hiến pháp 1992, nhà nước của chúng ta là nhà nước chuyên chính vô sản. “Pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị hay lực lượng cầm quyền”. Cho dù không tuyên bố thì sau Hiến pháp 1992, từ hình luật, dân luật cho đến các luật chuyên ngành khác đều được Việt Nam xây dựng trên tinh thần hướng tới nhà nước pháp quyền. Đặc biệt, Quốc hội đã phải sửa hàng trăm điều luật cho tương thích dần với các quốc gia mà ta làm ăn với họ [BTA với Mỹ, WTO…].
Những nỗ lực này kết thúc từ 2006 và những gì ta đang chứng kiến cho thấy, hồn ma “pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền” đang dần hiện về.
II. ĐỨC TRỊ HAY PHÁP TRỊ
Ngày 14-4-2016, tôi viết:
Hiến pháp 1992, tuy còn dùng dằng giữa "hai con đường" đã vẽ cho Việt Nam một nền cộng hòa trên giấy. Ngay cả những tổng bí thư bị coi là bảo thủ nhất như Đỗ Mười hay Lê Khả Phiêu, sau Hiến pháp 1992, cũng đã phải chuyển dần từ một chế độ đảng trực trị sang một chế độ đảng cầm quyền thông qua nhà nước.
Việc tái lập các ban Đảng thời ông Nguyễn Phú Trọng là một bước lùi về chính trị. Sinh thời, Nguyễn Bá Thanh là một người rất được công chúng tung hô nhưng nếu những người am hiểu nhà nước pháp quyền biết cách ông Trưởng ban Nội chính Nguyễn Bá Thanh ngồi sau cánh gà các phiên tòa "lãnh đạo án" như thế nào chắc chắn họ sẽ vô cùng thất vọng.
Chống tham nhũng bằng Ban Nội chính [và các ban đảng] thay vì gỡ bỏ "vòng kim cô nội chính" cho các cơ quan tư pháp, để họ tiến hành tố tụng theo các nguyên tắc dân chủ, pháp quyền, thì không chóng thì chày sẽ có Ba X tân thời thay cho Ba X cũ.
…..
Những người biết chuyện cung đình đánh giá cao sự giữ gìn của ông Nguyễn Phú Trọng và vợ con ông [ít nhất là cho đến nay]. Nhưng, quản trị quốc gia [trong đó có chống tham nhũng] phải bằng thể chế chứ không thể trông chờ vào "tấm gương đạo đức" của một vài cá nhân hay việc bắt bớ, loại bỏ một vài con sâu chúa.
Tuy cảm phục mức độ liêm chính, về mặt vật chất, của ông Nguyễn Phú Trọng, dân chúng vẫn chưa thấy các dấu hiệu chứng tỏ sẽ có "đổi mới II" trong nhiệm kỳ cuối của ông. Nếu cho đến ngày nghỉ hưu, ông không đưa ra được một lộ trình chính trị để đất nước dân chủ hơn, sự sạch sẽ của ông sẽ là vô nghĩa.

III. ĐƯỜNG XA PHẢI NGHĨ NỖI SAU NÀY
Trong bài CÔNG LÝ post ngày 28-5-2015, tôi đã viết:
Đừng sợ mất vai trò của Đảng. Một đảng tốt là một đảng đảm bảo có một hệ thống tư pháp có thể cung cấp công lý chứ không phải là một đảng khi muốn thì thọc tay vào vụ án. Các tướng lĩnh cũng không nên cố công bảo vệ đặc quyền cho công an. Quan nhất thời. Hãy nhìn gương tướng Quắc, tướng Trần Văn Thanh. Rất có thể có ngày quý vị trở thành nạn nhân của hệ thống tư pháp mà quý vị đang thiết kế.


Tất nhiên, cũng như nhiều trường hợp khác, ý kiến của thường dân như chúng ta, thường rơi vào hư không.


IV. HIỆN TƯỢNG THẦY THÍCH MINH TUỆ
Tuy nhiên, vị tướng sáng qua gọi điện cho tôi nói rằng, ông không quá bi quan vì những ngày gần đây, ông dành khá nhiều thời gian theo dõi hiện tượng thầy Thích Minh Tuệ. Theo ông, cái tốt luôn được nuôi dưỡng và khi đạo đức xã hội tưởng như đã mục ruỗng những nhân tố như thầy Thích Minh Tuệ sẽ xuất hiện [không chỉ trong tôn giáo].
V. TỪ HIỆN TƯỢNG THÍCH MINH TUỆ NHỚ LÊ QUANG THUNG & BẮC HÀ
Những người nắm quyền lực quốc gia thì phải nghĩ đến muôn dân chứ không phải thu vén cho mình hay cánh hẩu.
Phải tích đức thì mới có thể hưởng phúc. Phúc có 6, 7 thì cũng chỉ nên hưởng 5; hưởng hết thì con cháu không còn mà hưởng quá thì đời mình phải trả. Khi nhiều quyền lực nhất hay nhiều tiền bạc nhất mà chỉ cậy quyền, cậy tiền thì cũng coi như đang làm những việc thất đức, tổn phúc là điều không tránh khỏi.
LÊ QUANG THUNG
Mấy hôm nay, tôi cứ phải suy nghĩ tới trường hợp của ông Lê Quang Thung. Ông lại bị bắt khi vừa mới ra tù ít lâu và nay đã 78 tuổi [Năm 2019, ông Lê Quang Thung đã nhận án tù 4 năm].
Ông Ba Thung với ông Mười Rua là hai “đại ca” của ông Ba Dũng. Họ thân nhau ở trường Đảng khi đó Nguyễn Tấn Dũng đang là một sĩ quan được đưa đi đào tạo nguồn, còn Ba Thung và Mười Rua đã tiếng tăm lừng lẩy. Sẽ không có Trương Mỹ Lan và SCB nếu không có những cuộc gặp ở nhà Mười Rua. Ba Thung cũng sẽ có những ngày cuối đời giàu có thanh bình nếu không phải là đại ca của người từng quyền lực nhất.
Khi lên Thủ tướng, Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định, cán bộ cứ đúng 60 tuổi là hưu trí. Và người bị ông ta cho hưu trí đầu tiên là tướng Quắc, khi ấy, tướng Quắc đang là Trưởng ban chuyên án PMU18. Nhưng, ngay sau khi cho tướng Quắc nghỉ hưu, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký tái bổ nhiệm ông Thung làm Tổng Giám đốc tập đoàn Cao Su dù năm ấy ông Thung đã 60 tuổi.
Ông Thung sau đó đã loại bỏ một người phó trưởng thành kỳ cựu ở đây, hạ bệ đương kim Chủ tịch là một người trẻ hơn mình. Và, khi một thứ trưởng được cử vào kiêm chủ tịch, Ba Thung cũng đã khiến ông phải xách cặp về.
Tất cả những việc làm sai trái, không chỉ tự kết thúc cuộc đời mình trong lao lý mà còn đưa rất nhiều thuộc cấp vào tù, đều được Ba Thung thực hiện trong thời gian nhận ân sủng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, kéo dài tuổi hưu thêm 6 năm.
BẮC HÀ
Tôi viết ngày 9-8-2017
Trong bức ảnh này (Bogaya, Ấn Độ), khi xếp bằng dưới gốc bồ đề nơi được cho là phật tổ từng ngồi, Bắc Hà (phải cùng) là người duy nhất có dáng điệu rúm ró khác thường. Đây là giai đoạn mà ở quốc gia này, Bắc Hà chỉ "dưới Ba Dũng" và hách dịch với phần còn lại, vậy nhưng khi đối diện với thần linh nhìn ông ta vô cùng sợ hãi.
Không chỉ có Bắc Hà, rất nhiều quan chức tối cao cứ sắp bước chân ra khỏi nhà là thỉnh ý các thầy tâm linh, đổ không biết cơ man nào tiền để xây chùa, xây đền... Họ nên đọc lại "Chuyện Thủ Huồng" để thấy rằng, khi sợ trời phật thì cách tốt nhất là ngưng làm điều ác để bắt đầu các việc thiện. Đừng vì tâm quá hoảng loạn mà vội vàng truyền bá cái văn hóa hối lộ trần tục đến cõi thiêng liêng: vẫn thỏa sức vơ vét của dân rồi mong gỡ tội bằng cách cuống cuồng mua trời, bán phật.

MỘT QUỐC GIA KHÔNG THỂ PHÁT TRIỂN DỰA TRÊN SỰ SỢ HÃI

MỘT QUỐC GIA KHÔNG THỂ PHÁT TRIỂN DỰA TRÊN SỰ SỢ HÃI


https://www.facebook.com/Osinhuyduc/posts/pfbid02UmQBn9U52FqUk1MPMhSN7BTwfBSW37ypvQyEdjSZQUMKDJjVAmkM4F7oRfp8W2el
***

“khai báo vũ khí thô sơ và dao có tính sát thương cao trong sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu”

***


“Xem phim chưởng, thì một đôi đũa, một lá bài, trong tay cao thủ cũng có thể trở thành vũ khí. Nếu tư duy 'quy đồng' [mọi người là tội phạm] thì có lẽ, có ngày chúng ta phải ăn bốc, vì đũa là vũ khí nguy hiểm” - Một giáo sư luật nói khi theo dõi những sửa đổi trong “Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.”
Theo Giáo sư: Cách quản lý hiệu quả và văn minh là quản lý hành vi sử dụng, gắn liền bối cảnh không gian, ví dụ như [mang những công cụ ấy đến] bến xe, ga tàu...; chứ bà bán phở, anh tỉ lô... phải đeo cái giấy phép lủng lẳng ở cổ khi mưu sinh thì thật là nực cười; quản lý từ sản xuất thì sẽ đẩy chi phí kinh doanh lên, mà chả có tác dụng gì khi làm bếp người ta choảng nhau.
Rất đồng tình với Giáo sư nhưng tôi không chỉ tiếp cận vấn đề ở góc độ pháp lý, tôi suy nghĩ rất nhiều ở khía cạnh an ninh của người dân. Nếu định nghĩa như dự thảo thì gia đình nào của Việt Nam, đặc biệt là nông dân, mà không có ít nhất một công cụ “thuộc danh mục vũ khí thô sơ do Bộ trưởng Bộ Công an quy định”[Xem dưới chân bài, phần PS].
Vài tuần trước, một vị lãnh đạo lão thành của ngành công an cũng đã rất ngạc nhiên khi thấy báo đài đưa tin “Thanh tra Bộ Công an thanh tra tại Ngân hàng Nhà nước”. Và ông được một vị tướng về hưu giải thích, đây là “thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và an ninh mạng”.
Khi Luật An Ninh Mạng đang được thảo luận, một số đại biểu và chuyên gia pháp lý đã nhìn thấy tình huống này [công an có thể “vào” trong nhiều ngành]; dù, bằng tư duy quản trị quốc gia thông thường, và hiểu biết của một người từng lãnh đạo ngành, không ai hình dung, công an có thêm chức năng ấy.
Chúng tôi hiểu những khó khăn của các đại biểu Quốc hội khi phản biện những chính sách, những luật do Bộ Công an trình. Ngay cả chúng tôi, khi lên tiếng góp ý cho những chính sách của ngành công an, cũng thường nhận được khá nhiều khuyến cáo. Nhưng, “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”.
Việt Nam đang duy trì một thể chế tương đồng với Trung Quốc. Việt Nam nên học Trung Quốc ở những điều họ đúng: Bộ trưởng công an không phải là ủy viên bộ chính trị. Có lẽ Đảng Cộng sản Trung Quốc coi công an là công cụ của bộ chính trị chứ không để bộ chính trị trở thành con tin của công an.
Bộ Công an cũng không nên cấu trúc như hiện nay mà nên tách chức năng điều tra khỏi lực lượng cảnh sát.
Cảnh sát nên có cảnh sát quốc gia và cảnh sát địa phương. Cảnh sát quốc gia, chủ yếu là lực lượng cảnh sát cơ động [chống bạo động và duy trì tính thống nhất]. Còn, đã là cảnh sát địa phương [nhằm đảm bảo an ninh và bảo vệ dân] thì phải do chính quyền địa phương quyền tuyển chọn, bổ nhiệm và điều động, phù hợp với ngân sách và đặc thù địa phương. Những địa phương an ninh tốt [do kinh tế phát triển, dân tin tưởng chính quyền] có thể biên chế một lực lược cảnh sát cực kỳ tinh gọn.
Ngược lại, cơ quan điều tra thì không bố trí theo cấp hành chính mà có thể phân vùng, địa hạt. Cơ quan điều tra quốc gia chủ yếu điều tra tội phạm tham nhũng, tội phạm về chức vụ và tội phạm có tổ chức [cảnh sát địa phương có thể điều tra hình sự thường như trộm cắp, cố ý gây thương tích…].
Quốc hội nên giám sát, đánh giá chủ trương đưa công an chính quy về xã. Nhiều lãnh đạo cơ sở hiện nay đang nuối tiếc cái thời những công an viên của xã dù không ăn lương chính quy, hễ nghe ở đâu có việc [trộm cắp, gây rối…] là “vừa mặc áo vừa chạy tới”; họ là những công an viên gần dân, nắm chắc địa bàn và luôn sát cánh cùng chính quyền xã.
Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, không phải lực lượng công an đông mà đất nước an toàn hơn. Chưa bao giờ tội phạm phát triển phức tạp như vừa qua và nếu như lừa đảo trên mạng có yếu tố [mặt trái] của thời đại công nghệ thì “cướp ngân hàng” là hiện tượng mà trước đây rất hiếm [và, bà Trương Mỹ Lan chuyển hàng nghìn tỷ tiền mặt ra khỏi ngân hàng; bạo loạn có hàng trăm người tham gia... mà không phát hiện được từ trong trứng nước].
Tôi tin, nếu cắt giảm 2/3 và tăng lương lên gấp 3, không những an ninh sẽ được cải thiện mà hình ảnh người công an trong mắt người dân cũng sẽ đẹp hơn.
Cơ chế quản lý, đặc biệt là quản lý đất đai, dự án của ta hiện nay rất khó làm đúng. Rất ít ai ở trong hệ thống này đã từng ký tá mà dám tin rằng mình chưa làm gì sai. Hiện thực ấy, đã khiến cho chỉ có rất ít người đang vận hành hệ thống này không phải sống trong sợ hãi. Không chỉ quan chức. Nên tránh những điều luật khiến cho gần như mọi gia đình và phần lớn người dân đều có thể vi phạm. Đừng để thường dân cũng phải luôn nơm nớp, bất an.
Không có quốc gia nào có thể phát triển bền vững dựa trên sự sợ hãi.
Tôi tin là giờ đây, Đại tướng Tô Lâm sẽ tư duy như một nguyên thủ chứ không phải tư duy như một người nắm chắc bộ công an, đặt quyền lợi quốc gia lên trên lợi ích của ngành.
Sau những năm tháng ngao ngán chứng kiến quan tham “ăn không từ một cái gì”, háo hức chờ những vụ bắt bớ; giờ đây, cái đất nước cần là một giai đoạn thật sự thái bình. Cần những sửa đổi về thể chế để sao cho quan có thể tử tế khi còn tại chức, dân có thể ngủ ngon khi nói và làm những điều ngay thẳng.
PS: Theo dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (sửa đổi), dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn và dao sắc nhọn, có chiều dài lưỡi dao từ 20cm trở lên hoặc có chiều dài lưỡi dao dưới 20cm nhưng được hoán cải, lắp ráp để có công năng, tác dụng tương tự dao có tính sát thương cao thuộc danh mục vũ khí thô sơ do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành. Dự thảo luật này cũng yêu cầu “khai báo vũ khí thô sơ và dao có tính sát thương cao trong sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu”.

............./.

45 năm chính sách “triệt người”



Trong hồi ký Viết trên gác bút, nhà văn Nguyễn Thụy Long (cháu ruột nhà văn Nguyễn Bá Học, người nổi tiếng với câu “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”), kể lại thảm cảnh một vụ tịch thu sách năm 1975 sau khi chính quyền mới tiếp quản Sài Gòn: “Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên cạnh nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng đỏ xâm nhập tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu... Cả chủ tiệm cũng mạng vong”…
Câu chuyện ông chủ hiệu sách uất ức thà chết còn hơn nhìn “băng đỏ” gom và ném sách đi đốt chỉ là một trong những bi kịch của miền Nam sau 1975. Không chỉ đốt sách, con người cũng bị triệt, đến tận cùng. Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, bác sĩ, kỹ sư… đều bị tống đi học tập cải tạo. Miền Nam không chỉ đột nhiên rơi vào tình trạng thống khổ cùng cực mà còn chứng kiến những cảnh không thể tưởng tượng: phu nhân đại tá đi bán rong, vợ giáo sư buôn vỉa hè, thầy giáo mưu sinh bằng xích lô, ký giả chạy xe lam, con sĩ quan xếp hàng mua từng ký gạo… Những hình ảnh đã đột ngột làm biến dạng miền Nam sau 1975.
Trong số “đối tượng” hứng chịu sự trả thù vô lý và nghiệt ngã có những trí thức đỉnh cao mà trí tuệ họ xứng đáng đại diện cho dân tộc Việt. Điều đáng tiếc nhất là một số trí thức này đã phải “trả giá” cho lòng yêu nước, khi họ chọn ở lại mà không đi nước ngoài sau 1975, với niềm tin ngây thơ vào chế độ mới và với nhiệt tâm đóng góp tái thiết sau chiến tranh. Quê hương, với họ, là nước nhà; là đất nước và mái nhà.
Sinh năm 1929 tại Cần Thơ, giáo sư Phạm Hoàng Hộ có bằng Cử nhân khoa học, thủ khoa Thực Vật học, Paris; bằng Cao học Vạn Vật học, Paris; bằng Thạc sĩ/Agrégé Vạn vật học; bằng Tiến sĩ Khoa học/Vạn vật học, Paris. Giáo sư Hộ từng là giám đốc Hải học viện Nha Trang; Khoa trưởng Đại học Sư phạm Sài Gòn; Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục; Viện trưởng sáng lập Viện Đại học Cần Thơ… Ông cũng là Hội viên Hội Thực vật học Pháp; Hội viện Hội Tảo học Quốc tế; Hội viện Hội Viện trưởng Đại học Quốc tế; Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Quốc Tế Sông Mekong… Giáo sư Hộ là người vận động cho bằng được việc thành lập ngôi trường đại học đầu tiên ở miền Tây vào giữa thập niên 1960. Đó là Viện Đại học Cần Thơ, nơi canh nông trở thành môn khoa học chính quy được đào tạo như một chuyên ngành đại học.
Sau 9 năm sống dưới chế độ mới, giáo sư Hộ, từ khát vọng, trở nên thất vọng. Môi trường giáo dục bị thay đổi hoàn toàn. Nó bị cào xé rách nát để thay bằng chiếc áo thô đính băng đỏ. Cuối cùng, năm 1984, khi được Chính phủ Pháp mời sang thỉnh giảng, giáo sư Hộ quyết định ở lại Paris. Tại Pháp, ông vùi mình vào Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris (thuộc hệ thống Đại học Sorbonne), miệt mài làm việc suốt sáu năm, bổ túc cho công trình Cây Cỏ Việt Nam của ông – một công trình đồ sộ có giá trị đến mức giới thực vật học thế giới phải nghiêng mình ngưỡng mộ.




Không như giáo sư Hộ, giáo sư Nguyễn Duy Xuân có số phận cay nghiệt gấp nhiều lần. Từng được giáo sư Hộ mời về Viện Đại học Cần Thơ thay mình ở ghế viện trưởng, giáo sư Xuân tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Đại học Vanderbilt, Mỹ. Giáo sư Xuân cũng là vị Tổng trưởng Bộ Văn hóa Giáo dục cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Một bài báo trên Thanh Niên (28-4-2015) nhắc lại: “Theo giáo sư Võ Tòng Xuân, trước ngày 30-4-1975, những người nào có chức sắc ở Viện Đại học Cần Thơ đều được cấp một tấm giấy coi như giấy thông hành để ra nước ngoài khi có biến cố. Với chức vụ tương đương bộ trưởng, giáo sư Nguyễn Duy Xuân có thể ra nước ngoài bất cứ lúc nào nếu muốn nhưng ông vẫn ở lại Việt Nam”.
Không chỉ không được trọng vọng, giáo sư Xuân còn bị tống đi tù, bị giam tại trại Hà-Nam-Ninh. Cuối cùng, năm 1986, giáo sư Xuân bỏ mạng chốn thâm sơn cùng cốc. Nhắc lại điều này, bác sĩ Ngô Thế Vinh không giấu được chua xót: “Tôi không thể không tự hỏi nếu không có 11 năm giam hãm đầy đọa độc ác và vô ích của những người cộng sản thắng cuộc, nếu giáo sư Nguyễn Duy Xuân, một tiến sĩ kinh tế tài ba và giàu lòng yêu nước, vẫn tiếp tục ở lại xây dựng Viện Đại học Cần Thơ với nhịp độ 1966-1975 thì không biết Viện Đại học Cần Thơ và ĐBSCL sẽ phát triển và tiến xa tới đâu”…
Sẽ phát triển và tiến xa tới đâu, nếu Việt Nam sau 1975 trân trọng trí tuệ và tài năng của các trí thức như giáo sư Phạm Hoàng Hộ, giáo sư Nguyễn Duy Xuân, giáo sư Lê Xuân Khoa, cụ Bùi Diễm, bác sĩ Ngô Thế Vinh, giáo sư Nguyễn Tiến Hưng, giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, ông Đỗ Văn Thảo (cựu Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia; bị đi “cải tạo”), giáo sư Vũ Quốc Thông (Khoa trưởng Đại học Luật khoa Sài Gòn, cũng bị đi tù)?… Sẽ phát triển và tiến xa tới đâu, nếu chế độ cai trị - luôn dễ bị “kích động” một cách thái quá cái gọi là “tự hào dân tộc” - biết dùng hiền tài, để sự tự hào có phần đóng góp của những trí thức đỉnh cao và trí thức đúng nghĩa? Trí thức chân chính là những người không chỉ “thể hiện” lòng yêu nước bằng ngôn từ. Họ là những người không bao giờ ngưng bồn chồn lo lắng cho sự tụt hậu nước nhà cùng sự lấn át ngoại bang.
Trong bài viết trên tờ Một Thế Giới ngày 2-2-2017, tác giả Lê Học Lãnh Vân thuật lại tâm sự của giáo sư Phạm Hoàng Hộ trong một lần gặp ông tại Pháp giữa thập niên 1980: “Nhiều người Trung Quốc từ đại lục và cả từ Đài Loan, Singapore đã đến tìm học các bộ sưu tập thực vật Đông Dương của Pháp. Tôi không biết họ có chủ trương gì đó không. Tài nguyên nước mình, mình phải biết. Mình không biết mà người ta biết thì người ta xài hết của dân mình. Lãnh vực nào cũng vậy riết rồi người ta áp chế mình, ăn trên ngồi trước còn mình cắm đầu dưới đất, tiếng là có độc lập mà còn thua hồi thuộc Pháp!”…
Chưa ai thống kê cho thấy có bao nhiêu trí thức kiều bào vang danh nước ngoài nhưng không được mời về hoặc họ không buồn về. Thậm chí có những người bị cấm về, dù hệ thống tuyên truyền chế độ luôn ra rả về sự “trân trọng đón chào” trí thức hải ngoại. Một số trí thức đã quyết định không về. Họ không tin và họ có đủ bằng chứng để không tin nhà cầm quyền. Khi những Nguyễn Quang A, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Chu Hảo… còn là “thành phần phản động” thì không ai còn ngây thơ để ngộ nhận sự “thành thật” của nhà cầm quyền đối với trí thức. 45 năm sau 1975, chế độ cai trị vẫn tiếp tục chính sách “triệt người”, “triệt” cả chính người của họ. Trí thức muốn đóng góp và xây dựng nhằm thay đổi chính sách đã và sẽ không có cơ hội.
Một trong những trí thức mà khi tiếp xúc, tôi luôn nhìn thấy sự nhiệt tình dữ dội của ông dành cho nước nhà. Nói chuyện với ông có cảm giác như đang ngồi trước một sinh viên tràn đầy nhiệt huyết, dù ông đã gần 80 tuổi. Đó là bác sĩ Ngô Thế Vinh. Ông là một trong những người Việt Nam luôn nặng tình với miền Tây, với đồng bằng sông Cửu Long, một cách bền bỉ, dù quê quán ông ở Hà Nội. Ông là tác giả quyển khảo cứu Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng. Ông cũng là tác giả quyển Mekong, dòng sông nghẽn mạch… Việt Nam không chỉ có dòng Mekong nghẽn mạch. Việt Nam đang bị nghẽn cả dòng trí tuệ của các bậc trí thức minh tuệ-hùng tâm.

................../.