Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc

 Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc

___________________
Vương Trí Nhàn
***

Hình thành trong những năm chiến tranh và để phục vụ chiến tranh, nền giáo dục miền Bắc – trong khi tự nhận là một nền giáo dục cách mạng – lại mang đặc điểm rõ nhất là sự phi chuẩn. Nền giáo dục này được làm một cách duy ý chí, bỏ qua khá nhiều những yêu cầu của mọi nền giáo dục từ xưa tới nay phải theo. Tính phi chuẩn này bộc lộ rõ nhất trong quan niệm về mục đích ý nghĩa của giáo dục và cách tổ chức bộ máy giáo dục.
Về tất cả các phương diện cơ bản nói trên, giáo dục miền Nam được làm ngược với giáo dục miền Bắc. Điều này càng thấy rõ khi phân tích ba nguyên tắc căn bản dân tộc, nhân bản và khai phóng mà giáo dục miền Nam đề ra cho mình. Giáo dục miền Bắc có cách giải thích hoàn toàn khác về ba nguyên tắc ấy, thực chất là hoàn toàn xa lạ với những tiêu chuẩn của giáo dục hiện đại.
Tôi vốn là người làm nghề nghiên cứu văn học.Trong cái nghề thuộc loại công tác tư tưởng này, những năm trước 1975, tôi chỉ được phép đọc các sách báo miền Bắc, còn sách vở miền Nam bị coi như thứ quốc cấm.
Có điều, không phải chỉ là sự tò mò, mà chính lương tâm nghề nghiệp buộc tôi không thể bằng lòng với cách làm như vậy.
Tôi cho rằng, muốn hiểu cặn kẽ văn học hiện đại, phải hiểu văn học cổ điển; muốn hiểu văn họcVN phải hiểu văn học thế giới. Thế thì để hiểu văn học miền Bắc làm sao lại lãng tránh việc nghiên cứu văn học miền Nam được.
Đối với giáo dục cũng vậy. Từ sau 30-4-75, tôi vẫn sống ở Hà Nội. Sự tiếp xúc với giáo dục miền Nam (dưới đây viết là GDMN), chỉ dừng ở mức sơ sài bề ngoài.
Tuy nhiên, do việc tìm hiểu chính nền giáo dục miền Bắc (GDMB) ở tôi lâu nay kéo dài trong bế tắc, trong khoảng mươi năm gần đây tôi tìm thấy ở GDMN một điểm đối chiếu.
Lúc cảm nhận được phần nào sự khác biệt giữa hai nền giáo dục Bắc-Nam 1954-1975 cũng là lúc tôi hiểu thêm về nền giáo dục mà từ đó tôi lớn lên và nay tìm cách xét đoán. Tôi không chỉ muốn nêu một số đặc điểm mà còn muốn xếp loại nền giáo dục tôi đã hấp thụ.

Bài viết này có thể được đọc theo chủ đề khác đi một chút: Nhận diện giáo dục Hà Nội từ 1975 về trước qua sự đối chiếu bước đầu với giáo dục Sài Gòn.




KHÁC BIỆT NGAY TỪ HOÀN CẢNH HÌNH THÀNH
Chỗ khác nhau giữa GDMN và GDMB xuất phát trước tiên từ hoàn cảnh xã hội mỗi nền giáo dục đó được đặt vào, từ đó mà nó lớn lên là cái điểm đích mà nó hướng tới phục vụ.
Ngay từ những năm 1948 – 50, nền giáo dục tự phát trước tiên đã hình thành ở các vùng hồi trước gọi là vùng tự do; không chỉ Việt Bắc, những vùng tự do này tồn tại ở cả Nam bộ, rồi nam và trung Trung bộ, rồi tập trung và có ý nghĩa nhất với tương lai giáo dục là những quan niệm, những cách hình thành, các trường sở… về sau.
Cái mà ta gọi là giáo dục miền Bắc chỉ là sự kéo dài của lối phát triển giáo dục trong chiến tranh. Nhờ có tinh thần yêu nước và những bài bản đã học được trong các nhà trường Pháp thuộc, nên ban đầu, nền giáo dục này có tạo được một số hiệu quả nào đó.
Việc kéo nhau lên Việt Bắc lúc đầu ai cũng nghĩ là chỉ một hai năm. Sống tạm bợ ít ngày cần gì. Nhưng rồi đường lối trường kỳ kháng chiến tiếp thu được từ Trung quốc được quán triệt khiến mọi mặt hoạt động được đặt lại trong đó có công tác giáo dục. Làm theo ý chí hơn khả năng thực tế. Quan niệm giáo dục chưa hình thành cũng phải làm.
Giáo dục chiến tranh, do dó, luôn luôn là một nền giáo dục dở dang chắp vá, mà lại vẫn phải khoác cho mình cái chức danh lớn lao của một nền giáo dục mới mẻ, cách mạng
Trong khi ở khu vực kháng chiến hình thành nền giáo dục như trên thì, ngay từ trước 1954, một nền giáo dục do người Pháp mở từ trước cũng đã tồn tại ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, và rõ nhất là ở Sài Gòn, và sau này chuyển giao, phát triển trở thành giáo dục miền Nam.
Đối tượng của những so sánh đối chiếu dưới đây là hai thực thể quá khác nhau, còn phải nghiên cứu công phu, ý kiến của chúng tôi chỉ mới là những phác thảo sơ bộ.

CHUẨN VÀ PHI CHUẨN
Đáng lẽ khi hòa bình lập lại những người kháng chiến đã trở về Hà Nội cái tinh thần giáo dục phi tiêu chuẩn hôm qua cần phải vượt qua, thì — như một thói quen và kết quả của một hiểu biết thiển cận — nó lại ăn sâu vào mọi mặt, chi phối cách hình thành và những định hướng lớn của GDMB
Nói quá lên thì có thể bảo, như một cơ thể, GDMB thuộc loại tiên thiên bất túc, tức sinh ra đã không đủ các bộ phận cần thiết, sinh ra đã bất thành nhân dạng.
Phương châm ở đây là làm lấy được, tức là chưa đủ điều kiện, nhưng thấy cần, vẫn cứ làm — rồi để yên lòng nhau, sẽ viện ra đủ lý lẽ để chống chế, để lấp liếm và xa hơn nữa, sẵn sàng tự ca tụng.
Ví dụ một trường đại học trước tiên phải có đủ bộ phận giảng viên đảm nhiệm việc giảng dạy theo những quy định quốc tế. Ở các nước gọi là đang phát triển, một trường đại học chỉ được thành lập khi có một bộ phận nòng cốt là những giáo sư đã học tập ở những Sorbone, Oxford hoặc những trường tương tự… trở về.
Đâu người ta cũng hướng tới những yêu cầu này để noi theo, nay chưa làm được thì mai làm. GDMN cũng theo, GDMB thì không.
Trên danh nghĩa đại học VN cũng có những người gọi là giáo sư hay tiến sĩ đấy, nhưng đó là ta phong với nhau để làm việc, chứ thực tế thấp hơn hẳn chuẩn mực quốc tế “một cái đầu”.
Rộng hơn câu chuyện giáo viên là chuyện cơ sở vật chất và không khí học thuật của một trường đại học.
Rồi rộng hơn câu chuyện của riêng ngành đại học là chuyện của mọi cấp học.
Tính phi chuẩn bao trùm trong mọi lĩnh vực, từ trường sở, sách giáo khoa, cách cho điểm, cách tổ chức thi cử…, cho tới chất lượng dạy và học.
Sau mấy chục năm chiến tranh, cái sự làm lấy được làm theo ý chí đã thành chuẩn mực duy nhất, nó chi phối tất cả, khiến giáo dục VN có cách tồn tại, cách vận hành riêng chẳng giống ai. Các trường mới lập ra phải theo trường cũ, sau giải phóng (30.4.1975)thì miền Bắc buộc miền Nam phải theo.
Tạm ví một cách thô thiển: như trong khi người ta đi thì mình phải bò phải lết, vậy mà vẫn tự hào rằng mình cũng đang đi, chứ đâu có đứng yên.





KHÁC BIỆT TRONG QUAN NIỆM
Về bộ máy giáo dục
Có dịp tìm hiểu lại nền giáo dục trước 1945 và nền giáo dục ở Sài Gòn trước 1975, tôi nhận ra một sự thật — hồi đó, bản thân giáo dục là một hệ thống quyền lực. Nó có nguyên tắc tổ chức riêng và những con người riêng của nó.
Nhà thơ Chế Lan Viên có lần nói với Nguyễn Khải và Nguyễn Khải về kể lại cho tôi một nhận xét. Ông Chế bảo, ở xã hội cũ, một viên tri huyện tuy vậy vẫn phải nể nhà sư trụ trì mấy ngôi chùa lớn, hay các vị đỗ đạt cao nay không làm gì chỉ về mở trường trong vùng.
Còn các chức danh đốc học, giáo thụ, huấn đạo – các học quan tương ứng với tỉnh, phủ, huyện — là người do triều đình cử, chứ không phải do chính quyền địa phương cử, hoặc nếu địa phương cử thì triều đình cũng phải duyệt.
Tôi cảm thấy điều này được GDMN tiếp tục. Nền giáo dục ở đây do những người thành thạo chuyên môn quyết định. Còn ở miền Bắc thì hoàn toàn ngược lại.
Nhiều vị sư do địa phương phân công vào chùa hoạt động, hoặc sau khi vào chùa, lấy việc cộng tác với chính quyền làm niềm vinh dự, nghĩa là trong hệ thống sai bảo của chính quyền theo nghĩa đen.
Còn người phụ trách giáo dục các cấp hoàn toàn do Ủy ban cử sang.
Cả những hiệu trưởng cũng vậy, phải do Ủy ban thông qua.
Bộ máy tổ chức cán bộ địa phương thường hoạt động theo nguyên tắc là ai tài giỏi cho đi phụ trách các ngành chính trị kinh tế. Còn văn hóa giáo dục sẽ phân công cho những người kém thế lực và kém năng lực.
Đánh đấm ở chiến trường hay vật lộn với sản xuất với thị trường mới khó, chứ việc quản mấy ông thầy với đám học trò ranh, ai làm chẳng được – người ta hiểu vậy.
Một người bạn già có hiểu nhiều về giáo dục ở thời Việt Nam dân chủ cộng hòa kể với tôi là Bộ trưởng Bộ giáo dục trong chính phủ Liên hiệp thành lập 2-1946 là Đặng Thai Mai.
Nhưng về sau, do sinh viên trường đại học Đông dương đề xuất thắc mắc, Đặng Thai Mai chỉ tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, nên phải thay bẳng Nguyễn Văn Huyên có bằng tiến sĩ Sorbone Đại học số một của Pháp.
Việc chọn người tham gia chính phủ thời kỳ 1945-46 có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng tôi tin chắc rằng thời ấy việc cử Bộ trưởng Bộ giáo dục buộc phải tuân theo nhiều chuẩn mực nghiêm khắc, chứ không phải à uôm hoặc phe cánh chạy chọt, như hiện nay.
Vả chăng vấn đề không phải chỉ riêng ông bộ trưởng, mà là mọi cấp quan chức của giáo dục.
Một trong những chuyện vui vui xảy ra với nền giáo dục hôm nay là chỉ thị của Bộ gíáo dục khoảng cuối 2013 cho các tỉnh, khuyên cơ quan chính quyền tỉnh nên cẩn thận và ráo riết trong việc kiểm soát các tin tức tiêu cực từ các cuộc thi. Nó là bằng chứng cho thấy giáo dục đã nát như thế nào và người ta cố tình che giấu như thế nào. Nhưng nó cũng tố cáo sự phụ thuộc hoàn toàn của nhà trường vào nhà cầm quyền. Giáo dục trở thành việc nhà của địa phương rồi, người ta cho biết cái gì thì dân được biết cái đó.
Một kỷ niệm nữa có liên quan tới việc giáo dục phụ thuộc chính trị một cách thô thiển. Những năm 55 – 58, tôi học cấp II Chu Văn An. Trường ở ngay cạnh Chủ tịch phủ. Hễ có các vị quan khách nước ngoài tới thăm, xe đưa từ sân bay Gia Lâm về Ba Đình, là bọn tôi được lệnh bỏ học, ra đứng đường để hoan nghênh các vị khách quý.
Ở các địa phương việc huy động thầy trò vào các công việc gọi là công ích, là công tác chính trị của địa phương, càng phổ biến.
Người ta tự coi mình đương nhiên có quyền can thiệp vào mọi việc của nhà trường. Còn những việc như thế, làm hại đến chất lượng giáo dục ra sao, thì không ai cần biết.

Những nguyên tắc căn bản của giáo dục
Mấy năm gần đây hoạt động của GDMN được nhắc nhở nhiều trên báo chí, nhất là trên mạng. Nhờ thế, bọn tôi có thêm dịp để nghĩ lại về nền giáo dục mà đến nay ít được biết tới.
Trong một bài mang tên Nền giáo dục ở miền Nam 1954-75, một nhà giáo dục đồng thời trước đây là một quan chức trong nghề (như trên đã nói, quan chức giáo dục ở miền Nam khác hẳn quan chức miền Bắc), ông Nguyễn Thanh Liêm, đã nhắc lại những nguyên tắc căn bản của nền giáo mới là dân tộc, nhân bản, khai phóng, những nguyên tắc này đã ghi trong Hiến pháp VNCH 1967.

Đối chiếu với giáo dục miền Bắc, sơ bộ tôi thấy đại khái hai nguyên tắc đầu cũng thường được Hà Nội nhắc tới, nhưng được giải thích khác đi, và nguyên tắc thứ ba thì hoàn toàn người làm GDMB không có một ý niệm gì hết.



Về tính dân tộc
Ta hãy đọc lại cách giải thích của các nhà giáo miền Nam. Ở đây, bảo đảm tính dân tộc, phát triển tinh thần quốc gia của học sinh có nghĩa giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.
Các nhà giáo miền Bắc, trên đại thể, cũng nói thế. Nhưng điểm nhấn thì khác. Trong cách giải thích của người làm giáo dục Hà Nội, tính dân tộc trước tiên là việc dân mình tự làm chủ lấy giáo dục của mình. Chúng tôi thường tự hào đây là một nền giáo dục riêng của người Việt, một nền giáo dục không có dây dưa gì nhiều với nền giáo dục mà thế kỷ trước, người Pháp đã mang lại. Chúng tôi làm lấy và đôi khi cố ý làm ngược với những bài bản thời thuộc địa.
Đây là cách hiểu về tính dân tộc mà giới văn hóa tư tưởng đề xuất và được coi là tư tưởng chỉ đạo. Thì cũng là cách hiểu trong giáo dục.
Một khía cạnh khác trong cách hiểu về tính dân tộc của miền Bắc. Không phải là những người làm giáo dục không biết chỗ yếu kém vốn có. Để tự trấn an, người ta biện hộ rằng trong cái vẻ luộm thuộm nhếch nhác, hình như GDMB đang trở lại với nền giáo dục của ông cha ta ngày xưa thời trung đại, chỉ cốt phát huy tinh thần hiếu học của con người.
Dân tộc trong trường hợp này, dân tộc đồng nghĩa với “ta về ta tắm ao ta”, từ chối những đổi mới hiện đại.
Cũng chính là những lý do được viện dẫn khi, trong đời sống văn hóa, người ta kéo nhau trở lại với các phong tục cổ hủ và khuếch trương mê tín đến một mức độ người xưa không thể tưởng tượng.
Trong khi đó, như vừa dẫn ở trên, tính dân tộc được các nhà GDMN hiểu là phải hướng về một thứ dân tộc hiện đại.

Về tính nhân bản
Trên giấy tờ văn bản, chẳng bao giờ giới văn hóa giáo dục miền Bắc phủ nhận tính nhân bản, tuy là trong thực tế người ta rất ngại nói tới.
Phần thì xã hội ở đây đã xem đấu tranh giai cấp là động lực phát triển; phần nữa thì đang trong thời chiến tranh, không thể nói nhiều đến tình người, nó xâm hại ý chí chiến đấu.
Khi cần phải nói chuyện với thế giới, các nhà tư tưởng miền Bắc cũng công nhận nhân đạo chủ nghĩa là lý tưởng tốt đẹp và giáo dục phải có nhiệm vụ hướng tới.
Nhưng trong thực tế, cách lý giải nghĩa về chủ nghĩa nhân đạo thường giản đơn và cổ lỗ. Lại thường giải nghĩa rất mới: “chủ nghĩa nhân đạo cao nhất là chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu chống lại mọi áp bức bất công”.
Trong bài Đế quốc Mỹ phải là kẻ thù riêng của mỗi trái tim ta của Chế Lan Viên, người ta còn thấy những câu thơ mà có lẽ con người ở các xã hội khác không sao hiểu nổi:
Miền Nam ta ơi
Cái hầm chông là điều nhân đạo nhất
Ngọn súng trường ta ơi ngọn súng rất nhân tình

Giới giáo dục miền Bắc cũng dạy theo sự chỉ đạo đó.

Cách giải thích về nhân bản của các nhà giáo miền Nam ngược hẳn. Theo tôi hiểu , nó gần với cách hiểu của phạm trù này ở các xã hội hiện đại.
Hãy thử đọc một số sách thuộc tủ sách giáo dục của nhà xuất bản cũng tên là Trẻ, in ra ở Sài Gòn khoảng mấy năm sau 1970.
Lúc này, một nhóm các nhà giáo dục, có lẽ mới đi học Anh Mỹ về, lập nhóm và đã công bố nhiều tài liệu mới viết có, vừa được dịch có.
Khi bàn về mục đích giáo dục, Nguyễn Hòa Lạc viết:
Mục đích tối thượng của giáo dục là làm thế nào giúp con người đạt được nhân cách, các bản ngã đích thực của mình, hầu có thể sống trọn kiếp nhân sinh […] nghĩa là giúp họ thể hiện được con người của mình trong ý nghĩa “con người là một hiện hữu tại thế, một hữu thể có lý trí và tự do, vừa suy tư vừa hành động”.
(Lê Thanh Hoàng Dân- Trần Hữu Đức..Các vấn đề giáo dục nxb Trẻ,1970 tr 209)
Cách hiểu như thế này cố nhiên không bao giờ được đề lên như mục đích của GDMB. Với các nhà giáo Hà Nội, nhất là vào thời kỳ sau khi Hà Nội được tiếp quản từ tay người Pháp (10-1954), không làm gì có những con người chung chung. Mỗi con người đều thuộc về một giai cấp do đó họ phải sự chỉ đạo của các đảng phái đại diện giai cấp của họ.

Cách hiểu của GDMN: chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
Trước sau, với nền GDMB, chấp nhận nhân bản theo nghĩa hiện đại, và đặt vấn đề tôn trọng cá tính của mỗi cá nhân, bao giờ cũng là một chuyện quá phiền phức, giá có công nhận là đúng nữa thì hoàn cảnh hiện thời không cho phép người ta tuân thủ và dù có được coi là đúng đi nữa, cũng không bao giờ được ứng dụng. Mà trong thực tế, lại làm ngược.
Vào khoảng những năm 1960, có cả một cuộc vận động chống chủ nghĩa cá nhân.
Thế thì làm sao có thể tính chuyện nghiên cứu về con người cá nhân, và giúp lớp trẻ thực hiện bản thể cá nhân vốn có trong họ được!

Cái luận điểm từng được thống nhất nêu ra trong các văn bản miền Nam : Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác phải được coi là xa lạ và nếu có ai nghĩ vậy thì cần phê phán.

Chúng tôi không dẫn lại đây các văn kiện có tính chỉ đạo đối với GDMB trong đó việc đào tạo con người thành những công cụ đắc lực cho cuộc chiến đấu trước mắt được nhấn mạnh. Chỉ xin lưu ý một điểm, đó không phải là phát minh của các nhà chỉ đạo GDMB nói chung mà còn là nguyên lý chỉ đạo giáo dục ở một nước mà miền Bắc lấy làm mẫu như giáo dục Nga xô viết.
Trong cuốn Các vấn đề giáo dục thuộc tủ sách giáo dục nxb Trẻ đã nói, có một phần lớn điểm sơ lược về giáo dục nước ngoài, cả phương Đông lẫn phương Tây, chắc là do kê cứu các sách nghiên cứu của Anh Mỹ và Pháp mà viết lại. Phần viết về giáo dục Nga kết lại như sau:

Xét chung thì nền giáo dục ở Nga rất thực tiễn và khoa học, nhưng nó chỉ là thứ giáo dục một chiều, nhăm biến con người thành một công cụ sản xuất [và ở VN là chiến đấu – VTN] tới mức tối đa. Một khi con người đã trở thành công cụ của guồng máy cộng sản thì mất hết nhân tính. Do đó chúng ta có thể kết luận rằng giáo dục xô viết tuy thực tiễn và hữu hiệu nhưng lại phi nhân tính. (Sđd tr. 228)Có thể mượn để nói về GDMB.





Về tính khai phóng
Trong mấy chữ gọi là nguyên tắc căn bản trong các tài liệu GDMN, đối với bọn Hà Nội chúng tôi, chữ khai phóng là hơi lạ.
Mở Hán Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng ( Khai trí S.1975), thấy ghi khai phóng tức mở mang và buông thả, ý nói làm cho tốt đẹp hơn; không kìm giữ, mà trái lại, muốn giúp đỡ cho tiến xa hơn.
Thoạt đầu tôi thấy là trong một mức độ nào đó, khai phóng có vẻ gần với khái niệm hiện đại tiên tiến của miền Bắc, mấy chữ này thường dùng cả trong kinh tế lẫn giáo dục.

Về sau đặt khai phóng vào cái nền chung của các nguyên tắc căn bản của GDMN, tôi mới hiểu khai phóng gần với khái niệm cơ bản của nhân học hiện đại là tự do – và do đó quá mới mẻ với chúng tôi.

Trong cuốn Chân dung những nhà cải cách giáo dục tiêu biểu trên thế giới, do tổ chức Unesco bảo trợ biên soạn và chi phí xuất bản (bản dịch tiếng Việt của nxb Thế giới, H. 2004), phần viết về Thái Nguyên Bồi (1868-1940), có đoạn dẫn lại mấy ý của vị Hiệu trưởng sáng lập Đại học Bắc Kinh có liên quan tới phương hướng phát triển giáo dục của nước Trung Hoa thế kỷ XX.
Chúng ta phải được tự do tư tưởng và tự do ngôn luận và không để cho một trường phái triết học hay bất kỳ một loại hình tôn giáo nào giam hãm tư tưởng chúng ta. Trái lại chúng ta phải hướng tới những tư tưởng cao cả mang tính nhân loại, những tư tưởng sẽ tồn tại mãi, bất kể không gian và thời gian. Đó là nền giáo dục xứng đáng với tên gọi nền giáo dục toàn cầu.(sđ d tr138 )

Giáo dục giúp cho thế hệ trẻ có cơ hội phát triển trí lực và hoàn thiện tính cách cá nhân, đóng góp cho nền văn minh nhân loại. Bởi vậy giáo dục không hể trở thành công cụ đặc biệt giúp cho những kẻ muốn thao túng xã hội theo đuổi những mục đích xấu xa. Việc dạy dỗ tại nhà trường phải hoàn tòan trao cho các nhà giáo độc lập không bị ảnh hưởng bởi bất cứ đảng phái chính trị hay tôn giáo nào (sđd tr 143).

Tinh thần khai phóng như vậy đã trở thành một khía cạnh chủ yếu của quan niệm nhân bản như trên đã nói.

Tinh thần khai phóng này cũng chi phối cách các nhà GDMN hiểu khác đi về tính dân tộc, so với nội dung được GDMB chấp nhận.

Các nhà GDMN từng hào hứng nói về xu thế hội nhập đến rất sớm của mình. Cách nói của Nguyễn Thanh Liêm:
Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới. Đó là theo tinh thần khai phóng vừa nói.
Với GDMB, nói dân tộc là để từ chối khai phóng. Còn với GDMN, chính là cần khai phóng thì mới giải quyết vấn đề dân tộc một cách triệt để.

Nhìn theo cách nào thì khai phóng mà các nhà giáo dục ở Sài Gòn đã nói cũng bao hàm một ý nghĩa mà GDMB không thể chấp nhận được. Thậm chí phải nói là GDMB đã làm ngược lại.

Hẳn là không xa sự thật lắm nếu kết luận trong khi giáo dục thế giới và GDMN là khai phóng thì GDMB là khép kín.

Trong khi GDMB chỉ hướng tới các mục đích trước mắt – một tinh thần thiển cận sát mặt đất–, thì tinh thần khai phóng mà GDMN muốn xây dựng bao giờ cũng giúp cho người ta hướng tới tương lai.

Trong cuốn Các vấn đề giáo dục đã nói, ở tr 204 tập I, tôi còn thấy các tác giả dẫn lại một câu của Kant: Mục đích của giáo dục là huấn luyện trẻ không phải chỉ nhằm vào sự thành công của chúng trong tình trạng xã hội hiện tại mà nhằm một tình trạng có thể tốt đẹp hơn, hợp với một quan niệm lý tưởng của nhân loại (sđ d tr 204).
GDMN nhằm vào những mục đích như thế mà GDMB thì không.

ĐOẠN KẾT
Giống như xã hội nơi đây, sự phát triển giáo dục ở miền Bắc đi theo một cái mạch phải nói là không bình thường.
Nếu GDMN tiếp nối cái mạch giáo dục của nhiều nước trên thế giới và trực tiếp là nền giáo dục VN trước 1945 thì GDMB, xét theo cả chặng đường dài năm sáu chục năm, trong khi cố tìm cốt cách riêng của mình, hóa ra lại chẳng tuân theo quy luật nào cả.
Nếu GDMN được triển khai theo một đường hướng khoa học của thế giới hiện đại thì GDMB lại có những khía cạnh như trở lại thời tiền hiện đại.

Cần nói thêm là trong khi phải làm giáo dục một cách mò mẫm, những người làm giáo dục ở miền Bắc trước 1975 đã luôn luôn tự nhủ rằng chúng ta đang làm một cuộc cách mạng trong giáo dục và giáo dục ta đang là một nền giáo dục tiên tiến.
Đó là một ý nguyện chính đáng.
Trong chiến tranh, Hà Nội hoàn toàn khép kín. Muốn thì cũng muốn lắm, nhưng trong hoàn cảnh đóng cửa cách ly với thế giới, làm gì có chuyện hội nhập theo đúng nghĩa của nó.

Cuộc sống trì trệ kéo dài.
Đối chiếu với những điều bọn tôi được dạy bảo từ nhà trường phổ thông và sau này từng coi là phương hướng suy nghĩ, với các tài liệu mới đọc được, càng thấy trong khi khác biệt với GDMN, thì GDMB cũng khác nhiều so với thế giới. Đủ hiểu tại sao sau khi đào tạo trong nước, ra tiếp xúc với xã hội hiện đại, cánh học sinh sinh viên miền Bắc bọn tôi thường ú ớ, lạc lõng, trong khi những người được GDMN đào tạo thì hội nhập rất tự nhiên và hiệu quả.

Mươi năm gần đây, tình hình có chút đổi khác, nhưng là chỉ đổi khác trên bề mặt. Cựa quậy mấy thì nền giáo dục này cũng không khác được so với chính mình. Nó đã cạn kiệt năng lực tự cải hóa.

Ngay cả những người trong bộ máy quyền lực cũng đều tính chuyện cho con em mình qua nhiểu nước phương Tây, nhất là sang Mỹ để học. Nhưng họ chỉ lo được cho gia đình riêng của họ thôi.

Ở trong nước, những bài bản của miền Bắc cũ được tân trang lại chút ít vẫn ngự trị trong toàn bộ nền giáo dục, và trong thâm tâm, nhiều người đã bắt đầu nghĩ rằng hình như có một bãi lầy đã được tạo ra và chúng ta không bao giờ ra thoát.


................./.
Bài đã đăng trên tạp chí NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN số 7-8 (114-115).2014,
số chuyên đề GIÁO DỤC MIỀN NAM VIỆT NAM (1954- 1975)
.

..công lý bị treo cổ

 Gió Bấc/ RFA


Bản án vụ chuyến bay giải cứu: Phạm Trung Kiên thoát chết nhưng công lý bị treo cổ

Vụ án "chuyến bay giải cứu", cuối cùng tòa cũng tuyên án theo hướng mà dư luận đã dự đoán, nghi ngại. Phạm Trung Kiên thoát chết, so với mức đề nghị của Viện Kiểm Sát, một số bị cáo bị tuyên phạt nặng hơn, có đến bốn án chung thân.

Nhưng bản án đầy rẫy bất minh, né tránh vấn đề cốt lõi là quyền lợi của những khách hàng bị hút máu.

Công lý bị treo cổ, kẻ thủ ác chính là Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng.




Dù biết trước nhưng người dân vẫn phải theo dõi vở đại hài kịch “xử án vụ chuyến bay giải cứu" đến phiên cuối cùng, để rồi sự phẫn nộ, khinh bỉ những con thú đội lốt người nhân thảm họa đại dịch, sử dụng quyền lực, hút máu dân, sang những người quyền cao chức trọng “nhân danh nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.

Bản án thật sự bùng nổ sự căm phẫn trong dư luận.

Không thể quy kết đó là những "thế lực thù địch" lợi dụng phiên tòa để bôi xấu chế độ. Đây là tiếng nói của những công dân có trách nhiệm, có liên quan đến đại dịch và nền tư pháp.

Đồng tiền nhuộm máu dân

Bác sĩ Võ Xuân Sơn, một “hiệp sĩ áo trắng” trong thời đại dịch vừa triển khai chương trình hỗ trợ oxy miễn phí cho người dân, vừa trực tiếp đi cứu chữa bệnh ở các khu cách ly, vừa liên tục đăng ý kiến phản biện với các biện pháp chống dịch hình thức, cực đoan, giả dối hành dân như ngoáy mũi, cách ly tập trung, … đã bày tỏ sự bất bình cao độ với bản án. Bác sĩ Sơn bày tỏ bất bình trên Facebook cá nhân:

“Lẽ ra, sẽ phải có rất nhiều án tử hình. Lẽ ra, sẽ phải có thêm nhiều người đứng trước vành móng ngựa. Lẽ ra, những kẻ đề bạt, theo dõi, quản lý số cán bộ này phải lãnh trách nhiệm về những việc làm của những kẻ này… Nhưng mọi chuyện chỉ dừng lại ở những kẻ được đưa ra xử mà thôi. Những đồng tiền nhuốm máu người dân được sử dụng để 'khắc phục hậu quả', để giảm án cho bọn người vô nhân tính này.
Nói chung, thì còn nhiều cái để các bạn có thể bất bình lắm, hơn là việc đòi hỏi 'gái điếm phải còn trinh'.
Nhưng vụ án này cho thấy một vấn đề khác. Đó là, chẳng mấy kẻ sợ cái lò đang cháy rừng rực cả. Cứ có cơ hội là chúng đớp, giống như bầy cá dồ, mới lấp ló là đã nhảy lên đớp. Ngay cả khi đám cá dồ này bị truy tố, thì lại có một đám cá dồ khác ngửi thấy mùi, và 'đớp' để chạy án. Chúng chẳng sợ bị bắt, chẳng sợ bị lộ, chẳng sợ cái lò đốt cả củi tươi của bác tổng” (1).

Tâm trạng của bác sĩ Võ Xuân Sơn cũng là ưu tư chung của nhiều người về phiên tòa và bản án sơ thẩm này. Vấn đề không chỉ là án nặng, án nhẹ với người này hay người khác, mà điều đáng thất vọng là qua phiên tòa này, một lần nữa cho thấy trong thể chế Việt Nam, công lý không được thực thi, các cơ quan pháp luật không răn dạy người ta ăn ngay làm phải, mà ngược lại.

Hình phạt "nhân văn", không để có thêm một Xiêng Phênh!
Án tử hình là hình phạt nghiêm khắc, có phần man rợ mà nhiều nước đã bãi bỏ. Không ai muốn ông Phạm Trung Kiên phải bị tử hình, nhưng hành vi nhận hộ của Phạm Trung Kiên quá sức tàn nhẫn, mức hối lộ khủng khiếp, lên tới hơn 41 tỉ đồng. Chỉ là người thư ký, trung chuyển hồ sơ xin cấp chuyến bay mà mỗi mình Kiên đã cưỡng ép các doanh nghiệp chi số tiền khổng lồ như vậy.






Cấp trên của Kiên, thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên, người có thẩm quyền ký duyệt lại "trong veo", không tơ hào một xu nào, thật đáng kính phục. Những sự việc nhận tội và nộp tiền 42 tỷ đồng khắc phục hậu quả của Kiên trơn tuột, gọn ghẽ đến mức khó tin.

Dư luận chờ đợi bản án tử vì nhớ tới vụ lời khai trước pháp trường của tử tội Xiêng Phênh đã chỉ ra “ông trùm” ma túy, cựu đại úy Vũ Xuân Trường. Nhưng mong muốn như vậy thôi, vì ai cũng biết Đỗ Xuân Tuyên quê ở Hưng Yên, đồng hương với Bộ trưởng và hai Thứ trưởng Bộ Công An, nên mãi mãi sẽ là "người trong sạch".
Nhà báo Mai Bá Kiếm, cựu Thư ký Tòa soạn báo Phụ Nữ TP.HCM, đã bình luận rất dí dỏm, nhẹ nhàng mà sắc sảo: “Bị VKS cáo buộc đã nhận hối lộ 42,6 tỷ đồng và đề nghị mức án tử hình! Nhưng, gia đình Phạm Trung Kiên đã nộp 42,2 tỷ đồng khắc phục hậu quả, nên Tòa tuyên Phạm Trung Kiên mức án chung thân. Nếu Kiên không kháng cáo án sơ thẩm, coi như manh mối "trùm cuối" không còn. Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên không phải là người thường, mà thành người cõi trên, vì có thư ký Phạm Trung Kiên nhận hối lộ 42,6 tỷ đồng, mà ông vẫn giữ mình trong sạch vững mạnh, nên đạo đức sáng ngời, công đức vô lượng!” (2)

Lê Lai ngày xưa phải chết để cứu Lê Lợi. Ngày nay thì không cần. Đã có những Lê khác đứng sau dàn xếp.

Tăng án chung thân vì hát cương sai kịch bản!
Ở chiều ngược lại, cái án chung thân của cựu trung tá Hoàng Văn Hưng càng làm dư luận bức xúc, bất mãn. Không ai tin Hưng bị oan, không ai than phiền bản án nặng, nhẹ. Thái độ, bản lĩnh điềm tĩnh tự tin, sắc sảo của Hưng trước phiên tòa càng thuyết phục công luận, Hưng là tay lão làng trong lĩnh vực điều tra và không thể nào vô tội. Nhưng điều dư luận bất bình là cung cách buộc tội của cơ quan tố tụng. Chỉ dựa theo niềm tin nội tâm và suy đoán có tội mà thiếu chứng cứ vững chắc.

Nhà báo Nguyen Yen, nguyên Thư Ký Tòa Soạn mãng Nội Chính báo Lao Động đã có ý kiến nhẹ nhàng lửng lơ: “Cãi phăng phăng tại tòa hẳn cũng là một lựa chọn 'được cân nhắc' khá kỹ của một điều tra viên dày dạn kinh nghiệm như Hưng. Cũng hơi thắc mắc, sao Hưng không đề nghị thực nghiệm 4 chai rượu vang đặt trong chiếc cặp tài liệu. Giá như nói rằng, trong quá trình điều tra, bị cáo luôn tôn trọng nguyên tắc suy đoán vô tội và dẫn chứng bằng số liệu thì rất thuyết phục... rằng là vô tội. Án chung thân hẳn là Hưng không nghĩ đến”.

Ý kiến này thu hút nhiều bình luận, trong đó nick Ky Mai đã thẳng thắn bày tỏ: “Không phục nhất là cái án chung thân dành cho Hưng, thực sự không dựa trên các chứng cứ mạnh mẽ mà gần như chỉ là sự trả đũa của toà án với một bị cáo không chịu nhận tội.
Bị cáo có quyền bảo vệ mình và không nhận tội trong khi trách nhiệm chứng minh bị cáo phạm tội là của bên công tố (chứ cũng không phải của thẩm phán). Việc kết án nặng họ với lý do 'ngoan cố, không ăn năn hối cải', mang tính chủ quan nặng nề và có xu hướng đẩy nhiều người vô tội (ở đây không nói tới trường hợp của Hưng) phải nhận tội để tránh bị xử nặng hơn (và nhiều án oan cũng từ đó mà ra). Các kết quả về phía toà án sẽ 'đẹp' hơn (vì họ xử được nhiều án hơn, không có án đọng, án tồn…) nhưng cán cân công lý đã bị đặt nặng quá ở một bên từ trước, không còn là cái cân của một vị nữ thần Công lý bịt mắt” (3).

Đó có thể xem là ý kiến cảm tính, chủ quan của dư luận xã hôi. Nhưng với giới luật sư, những người am hiểu pháp luật thì mức độ bức xúc với bản án càng cao hơn và có căn cứ pháp lý, có lập luận phản bác rất vững vàng.

Luật sư Trịnh Đình Dũng có bài viết trên Facebook với tưa đề:
"Cựu Trung tá Hoàng Văn Hưng bị buộc 'nhận 450 ngàn USD', lãnh án chung thân: Nền tố tụng hình sự như bị 'đóng đinh' thêm 'Tiền lệ suy đoán có tội'."
Bài viết này có 268 like, 60 bình luận và 18 lượt chia sẻ cho thấy sự quan tâm, đồng tình của xã hội rất cao.
Điểm qua tình tiết vụ án, Luật sư Trịnh Đình Dũng cho rằng: “ ….Về niềm tin nội tâm, mọi người đều cho rằng bên trong không thể chứa 04 chai rượu vang mà phải là mấy xấp USD. Niềm tin như thế là rất xác đáng, đúng với sự việc.
Nhưng dù sao thì cơ quan công tố không đưa ra chứng cứ có tính quyết định rõ trong vali chứa 450 ngàn USD, kiểu như ảnh chụp được ông Hưng mở vali lấy xấp USD.
Phía công tố lập luận theo hướng “xâu chuỗi các sự kiện” và “tin bên trong có chứa 450 ngàn USD”.
Các sự kiện xâu chuỗi như: Thời gian nhiều lần gặp gỡ, nhờ vả, trao đổi, hướng dẫn, nhiều lần gặp tại, không ai biếu rượu vang mà mua vali samsonite đắt tiền để chứa, một trưởng phòng nghiệp vụ điều tra viên cao cấp không thể nhân ái đến mức nhiều lần gặp gỡ hướng dẫn cho bị cáo mà chính mình đang phụ trách điều tra chỉ để nhận 04 chai rượu vang, khi nhận ra đường đứng đợi nôn nóng…
Toà đã đồng ý với lập luận của phía công tố và buộc Cựu Trung tá Hoàng Văn Hưng có “nhận 450 ngàn USD”.


Suy đoán có tội
Luật sư Trịnh Đình Dũng nhấn mạnh đến nguyên tắc pháp lý quan trọng là “Pháp luật luôn 'nhắc nhỡ' bằng các quy định để người tiến hành tố tụng, đặc biệt là các thẩm phán, không được suy đoán có tội, mà phải suy đoán vô tội.
Bởi suy đoán có tội có khi xử oan người vô tội. Xin thử ví dụ trong trường hợp (nhưng khó tin trong thực tế nó xảy ra), nếu ông Tuấn lúc đầu thỏa thuận chuyển ông Hưng 450 ngàn USD nhưng do lòng tham, nên đã tráo vào đó 04 chai rượu vang thì sao? Nếu nó xảy ra thật thì có oan cho ông Hưng không? Ví dụ như vậy chỉ để nhằm nói rõ hơn tính nguy hại của 'Suy đoán có tội'…
Cựu Trung tá Hoàng Văn Hưng lãnh án chung thân, thực ra cũng không ai thương tiếc gì, nhưng những người làm công tác liên quan đến tố tụng hình sự cảm thấy như bị dội một gáo nước lạnh vào bộ mặt tố tụng hình sự nước nhà” (4).
Hơn thế nữa, trong trường hợp này cả Viện, Tòa đều bỏ lửng số phận pháp lý của khoản tiền chênh lệch 1,8 triệu USD.
Suốt phần xét hỏi, Hưng nhiều lần thắc mắc, đề nghị Viện kiểm sát làm rõ mâu thuẫn “về số tiền ông Tuấn đưa cho Hưng là hơn 2,65 triệu USD, trong khi Viện kiểm sát chỉ cáo buộc Hưng lừa đảo chiếm đoạt 800.000 USD. Vậy hơn 1,8 triệu USD còn lại đang ở đâu?”
"Tôi đề nghị Viện kiểm sát phải chứng minh số tiền 1,8 triệu USD đã đi đâu về đâu, liệu có phải ông Tuấn cũng lừa đảo không?", bị cáo Hưng nói và đặt dấu hỏi rằng, nếu ông Tuấn đã nộp lại 1,8 triệu USD thì "có phải cũng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?". (5)
Bản án đã chấp nhận cho ông Tuấn nộp khoản tiền khổng lồ này mà không xem xét việc ông Tuấn đã dùng nó vào việc gì?
Hợp pháp hóa tội ác hút máu dân trong mùa dịch
Nhưng điều đáng nói nhất là Hội Đồng Xét Xử và cả Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã dân sự hóa, hợp pháp hóa cho sai phạm pháp lý khổng lồ là việc lợi dụng dịch bệnh và danh nghĩa chuyến bay giải cứu để cưỡng đoạt tài sản người Việt ở nước ngoài bằng giá dịch vụ cao cắt cổ.
Tiền tham nhũng, hối lộ mà tòa thu hồi từ các bị cáo không phải từ trên trời rơi xuống, cũng không phải từ của ông của cha các bị cáo để lại. Tất cả đều được tính vào giá dịch vụ “giải cứu”. Thế nhưng, bản án nêu, với quyền lợi của khách hàng đã mua vé của các doanh nghiệp tổ chức chuyến bay combo, “hồ sơ vụ án không có tài liệu; cũng không có thông tin về chi phí của các khách hàng đã mua. Chẳng hạn, chi phí đưa công dân về nước bao gồm vé máy bay, chi phí cách ly y tế và các chi phí hợp lý khác của doanh nghiệp, chi phí cho các đại lý bán vé và các khâu trung gian khác. Do đó, HĐXX nói không có cơ sở xem xét, giải quyết tại vụ án này.
Tòa dành cho các công dân đã mua vé quyền yêu cầu doanh nghiệp giải quyết quyền lợi cho mình theo quy định pháp luật” (6).
Diễn nôm lại, tuyên bố trên có thể nói gọn lại là “sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túí".
Hành vi nâng giá dịch vụ người dân rên siết, ai cũng biết, nhưng công an không khởi tố, điều tra thì lấy đâu ra tài liệu hồ sơ.
Theo quy định tố tụng, dù chưa đủ chứng cứ, nhưng phát hiện dấu hiệu tội phạm, Hội Đồng Xét Xử vẫn có quyền ra quyết định khởi tố tại tòa. Thế nhưng trước tội ác tày trời, Tòa không khởi tố mà nói văn vẻ dành cho dân quyền yêu cầu giải quyết quyền lợi là cách phủi trách nhiệm, a tòng với tội ác.

Ban Chỉ Đạo là tổng đạo diễn
Đại án này do Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng theo dõi chỉ đạo, nên tất cả các động thái phủi tay của Công An, ViệnKiểm Sát, Tòa Án, đều nằm trong tầm kiểm soát của Ban.
Như vậy, sau khi năm Bộ kết nhau tống tiền doanh nghiệp thì lần này, đến lượt Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng công khai cho phép móc túi dân.
Nhiều ngày trước khi tòa tuyên án, Luật sư Đặng Bá Kỹ đã dự đoán kết quả này và có bài viết: “ĐÒI LẠI TIỀN CHÊNH LỆCH TRONG VỤ 'CHUYẾN BAY GIẢI CỨU': ĐƯỜNG XA VẠN DẶM!”

Những người dân đã bỏ tiền ra để được “giải cứu” thông qua việc xác lập hợp đồng dân sự với doanh nghiệp. Vào thời điểm các bên xác lập hợp đồng, thì giao dịch này không bị khống chế về mức trần giá cả như các mặt hàng thuộc diện bình ổn giá khác do Nhà nước kiểm soát như xăng, điện. Nên giả định rằng, nếu không xảy ra vụ án hình sự nêu trên, thì giao dịch dân sự mà các bên đã xác lập và thực hiện hoàn thành, coi như xong.
Tuy nhiên, vụ án hình sự xảy ra, với những khoản tiền chung chi, với những lời khai của các bị cáo – hoàn toàn có căn cứ để khẳng định rằng: Đã có việc đẩy giá vé lên cao một cách bất thường, nhằm để doanh nghiệp có những khoản tiền chung chi. Hay nói cách khác, là các bị cáo đã có hành vi biến tài sản hợp pháp của người dân trở thành “Công cụ phương tiện phạm tội” trong vụ án hình sự đang xét xử nêu trên.
Hiểu na ná như: A trộm xe của B, sau đó dùng xe này đi cướp giật tài sản của C, thì A phạm cùng lúc hai tội trộm cắp và cướp giật tài sản, riêng chiếc xe là công cụ phương tiện phạm tội, nhưng vì là xe của B, B là bị hại trong vụ án trộm cắp, nên phải trả lại xe cho B (Giả dụ lúc đầu xe là của A thì xe này sẽ bị tịch thu)” (7).
Còn nhiều và nhiều vấn đề trong phiên tòa này nhưng bao nhiêu đó cũng đủ cho thấy bản án đã treo cổ công lý. Nhưng Hội Đồng Xét Xử của màn kịch này cũng chỉ là một nhóm diễn viên được phân vai. Kẻ thủ ác treo cổ công lý chính là Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng, đạo diễn đứng sau sân khấu.

________
Chú thích: