GIẢI HUYỀN THOẠI CỘI NGUỒN NGƯỜI VIỆT




GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG: GIẢI HUYỀN THOẠI CỘI NGUỒN NGƯỜI VIỆT 




***



Công việc giải huyền thoại đã từng được làm một cách khoa học trên tinh thần giải cấu trúc (de-construction) bởi nhà kí hiệu học Pháp Roland Barthes. Phương pháp giải huyền thoại bắt đầu từ việc tháo dỡ các kí hiệu – biểu trưng đã được cố kết tưởng chừng bền vững trong hình thức của huyền thoại, từ đó truy tìm dấu vết của sự thực ẩn đằng sau hình thức ngụy tín của nó. 

Sự thực đó chính là những ý đồ của một loại hình diễn ngôn mà lâu nay người ta tin là của dân gian; trong khi chính F. Engels là người đầu tiên phát hiện đó chỉ là phát ngôn của kẻ chiến thắng, kẻ thống trị [3] và được M. Bakhtin hưởng ứng [1], Foucault gọi đó là diễn ngôn quyền lực [4]. Huyền thoại xác lập tín ngưỡng đồng thời cũng hình thành trật tự xã hội đầu tiên của loài người, nó tồn tại bền vững hơn mọi thứ trật tự của các loại hình chuyên chính, cho nên nó mang tính hai mặt: đẹp đẽ, cao cả và cũng đầy mưu toan.

1. Giỗ Tổ: lễ cúng hay hội hè?

Trong bản tin của VTV về ngày giỗ tổ Hùng Vương năm trước, tôi quan tâm đến 2 sự kiện, cũng là điểm nhấn có chủ đích của VTV: 1) sự kiện Cụ Tổng dâng hương xong bước ra vạch rào chắn chìa tay cho dân bắt, và 2) sự kiện các hotgirl mặc áo dây hở nách và quần đùi sát bẹn đi dự hội. Cả hai đều có ý nghĩa biểu đạt như những kí hiệu – biểu trưng. Sự kiện 1 được VTV ca ngợi như một vẻ đẹp thiêng liêng và cao cả, trong khi sự kiện 2 lại phê phán như một nét xấu, phi truyền thống của thanh niên hiện đại.
Dù muốn hay không, VTV cũng chỉ là cơ quan tuyên truyền của quyền lực, một điều tất nhiên của mọi bộ máy tuyên truyền, mặc dù lâu nay nó vẫn cố thoát danh vai trò công cụ của mình và tự đồng nhất với văn hóa đại chúng. Hai từ “thoát danh” và “tự đồng nhất” mượn của Roland Barthes khi giải huyền thoại tư sản [1].
Vì là công cụ của quyền lực, cho nên hiển nhiên VTV phải tuyên truyền có định hướng, đúng tôn chỉ để mang lại hiệu lực trong diễn ngôn của nó. Nó phải ngợi ca cái này và phê phán cái kia trong mục tiêu cần định hướng và cũng là trách nhiệm vinh quang của nó.
Tuy nhiên, một khi trách nhiệm vinh quang vượt qua rào chắn của mục tiêu định hướng đã làm nảy sinh nghịch lí nằm ngoài định hướng. Trong lúc nhắm vào sự ngợi ca hình ảnh cao cả của Cụ Tổng, VTV đã quên mất sự thiêng liêng của Cụ Tổ. Dâng hương Cụ Tổ là nội dung chính của lễ hội, nhưng không có hình ảnh nào ghi lại việc đám đông cả triệu người đến dự lễ để làm cái việc thiêng liêng cần làm. Hóa ra, hàng triệu người trào lên ào ào không phải để tranh nhau dâng hương cho người đã khuất mà để được nắm tay vị lãnh đạo khả kính đang sống với sự chi phối đến miếng cơm manh áo của mình. Đây không phải là suy diễn vô căn cứ, tùy tiện. Bởi vì, nếu là để dâng hương, người ta phải tôn trọng nghi thức tế lễ trong trật tự. Sự vô trật tự chỉ có thể là sản phẩm nằm ngoài mọi nghi thức truyền thống, sản phẩm của “văn hóa fan” hiện đại mà ta vẫn thường thấy.


Thế giới hiện đại vẫn có huyền thoại và vẫn có thần tượng, nhưng nó không cần những nghi thức tôn nghiêm. Và như vậy, huyền thoại về Cụ Tổ đã biến thành huyền thoại về Cụ Tổng. Người ta sẽ hết lời ngợi ca về sự gần gũi, giản dị, thân ái nhưng hết sức sang trọng và cao cả của một vị lãnh đạo tối cao như là vị Cha già tôn kính của mình. Trong toàn bộ bản tin của VTV, người ta chỉ nhìn thấy hình ảnh cao cả của Cụ Tổng mà quên mất sự thiêng liêng của các Cụ Tổ. Nói cách khác, hình ảnh lồng lộng của Cụ Tổng đã làm lu mờ cả 18 đời Cụ Tổ.
Giây phút “đứng hình” của ống kính về hình ảnh của Cụ Tổng đã đưa Cụ Tổng vào bất tử!


Đến đây, chúng ta không thể không móc nối sang sự kiện thứ 2. Nhìn clip, không thể phủ nhận đội quân của VTV, ngoài việc đi theo ghi hình Cụ Tổng còn có một đội quân phái sinh đi lùng ghi hình hotgirls. Tính chất đối lập nhị nguyên trong định hướng tuyên truyền thể hiện khá rõ: trong lúc ngợi ca cái này thì phải phê phán cái kia. Thay bằng ghi lại chi tiết sự mất trật tự của đám đông khi ào lên tranh nhau nắm tay Cụ Tổng thì họ phải đưa ống kính vào các cô gái ăn mặc hở hang không thuộc đám đông này. Trong clip, rõ ràng là những cô gái này thuộc Cái Khác, cái thiểu số và rất bên lề, bởi vì không thấy em nào tranh nhau chen vào nắm tay Cụ Tổng. Khi gạt nhóm thiểu số này ra ngoại biên, VTV lại đặc biệt quan tâm ngược lại đến chuyện dâng hương. Họ chặn đường, họ phỏng vấn cưỡng bức, rằng các em đến dâng hương Cụ Tổ mà tại sao ăn mặc hở hang thế này, các em không sợ tổ tiên trách phạt sao? Và thật chưng hửng khi các em nói hồn nhiên, rằng chúng em đi hội chứ không đi dâng hương!!!


Không dâng hương, tức chỉ đi hội thì không phải tuân theo nghi thức! Tính chất hiện đại sống động đã che mờ nghi thức truyền thống cổ kính.


Bất cứ sự hồn nhiên nào tự nó cũng biểu hiện đầy đủ sự chân thật nhất. Sự thật không có giỗ ai cả, vì tổ tiên chỉ cần ba đời trở lên đã không còn ai nhớ huống nữa là ông tổ trong mờ mịt. Ngày 10 tháng 3 chỉ là ngày hội do ai đó đặt ra (nhà Nguyễn chính thức công nhận vào năm 1917?) và thành tập tục để ngợi ca quyền lực. Và đáp lại là cả triệu người, lớn có bé có, kín đáo có, sexy có kéo nhau đến để vui chơi, còn sùng bái quyền lực hay không tùy thuộc vào động cơ vui chơi. Không khí hội hè là không khí bình đẳng không phân biệt. Việc nắm tay Cụ Tổng không theo nghi thức cũng tương đương như việc hotgirls ăn mặc mát mẻ không theo chuẩn mực nào. Tất cả đều là niềm vui. Khác chăng là bên này vui để mong có ân huệ hay may mắn, còn bên kia thì hoàn toàn vô tư!


2. Ai là Cụ Tổ?

Khẳng định nhanh và dứt khoát ngay từ đầu: Tổ là một ước lệ, một kiến tạo. Ước lệ này thường chỉ thấy ở một số dân tộc thích sùng bái quá khứ, lấy quá khứ đắp đổi cho hiện tại. Một khi ước lệ được hình thành lâu đời, người ta mặc nhiên đó là sự thật và không ai tra vấn, truy nguyên hoặc chứng minh, diễn giải thêm.

Nói cách khác, Tổ là một huyền thoại được tạo ra trong một thời điểm nào đó và bởi một nhu cầu nào đó, cụ thể là nhu cầu sùng bái quá khứ, sùng bái nòi giống, sùng bái cá nhân.


Do huyền thoại chỉ được xác tín mà không cần chứng minh, cho nên người Việt lâu nay vẫn mặc nhiên các vua Hùng là Cụ Tổ của mình. Vậy là ta có 18 đời Cụ Tổ theo phép dùng số 9 của nhà Phật nhân 2. Lạ lùng là 18 đời theo trật tự tuyến tính thì lẽ ra chỉ có một Cụ đầu tiên là Tổ, còn lại phải là con cháu mới phải. Người kể huyền thoại còn cố tình kéo dài cuộc đời và sự nghiệp các Cụ, mỗi Cụ trị vì từ 200 năm đến 700 năm để biến thành thời gian vĩnh cửu, ngôn ngữ truyền thống gọi là vạn tuế, ngôn ngữ hiện đại là muôn năm.


Tất nhiên, có kéo dài kiểu gì thì vẫn không thể lấp hết cái vô hạn của thời gian. Cho nên đến lúc trẻ con khi nghe chuyện cũng phải hỏi: Ai đã sinh ra các vua Hùng? Tôi tin là từng có câu hỏi loại này, cho nên, và cũng tất nhiên, người kể chuyện sẽ không khó trả lời khi nối dài thêm thời gian bằng cách đẩy lùi vào quá khứ xa hơn: đó là Lạc Long Quân và Âu Cơ. 


Vậy là các vua Hùng chỉ là Sơ Tổ? Cao Tổ được ấn định cho Lạc Long Quân và Âu Cơ. Vậy là cứ thế thêm vào một ngày giỗ nữa. Ngoài giỗ tổ Hùng Vương, dân Việt còn có ngày giỗ Tổ Mẫu Âu Cơ và Tổ Phụ Lạc Long Quân. Hết chuyện. Trẻ em thì không đủ sức hỏi thêm khi bị bắt nạt: Im đi, đừng có hỗn!

Nhưng mà này, Rồng, Tiên cũng chết hay sao mà có giỗ? 

Đây là chỗ huyền thoại tự nó bị mắc kẹt trong trò chơi của nó chứ không cần tra vấn thêm.

Mà có hỏi thêm thì người ta sẽ tỏ ra kiên nhẫn diễn giải, nào có Đế Lai, Lộc Tục, xa hơn nữa sẽ có Đế Minh, Đế Nghi, Viêm Đế Thần Nông… Như vậy, cao Tổ của người Việt là Viêm Đế Thần Nông. Còn tối Tổ là ai, tức trước đó nữa ai đã sinh ra ông thần này thì không thể biết. Mà mấy ông này thì quá xa lạ, ở đâu bên kia giới tuyến, tận lưu vực sông Hoàng Hà, cho nên khỏi giỗ, mặc dù Tổ này còn nguyên thủy hơn Tổ Phụ và Tổ Mẫu được giỗ. Không chấp nhận chơi trò truy vấn đến cùng, huyền thoại phủ lên câu chuyện của mình một lớp sương mù dày đặc, thế là xong.


Như vậy, đúng nghĩa Tổ Tiên với tư cách là người đầu tiên sinh ra chúng ta phải là… không ai cả!


Chẳng qua người này liên tục thay thế cho người kia trong chuỗi vô hạn của thời gian. Cho nên Cụ Hồ rất thông minh khi đặt vấn đề bình đẳng quan hệ xưa nay: các Vua Hùng có công dựng nước, con cháu chúng ta có công giữ nước. Chẳng phải khi Tố Hữu viết: “Bác Hồ là vị Cha chung…” các nhà thơ và mọi người đã mặc định Bác cũng là Tổ đó sao? Rõ ràng, đến một lúc nào đó, chính chúng ta bị đẩy lùi vào quá khứ và thế hệ chúng ta ắt thành Tổ của con cháu sau này. Tất nhiên, không phải ai cũng thành Tổ mà phải là người được lựa chọn, nói theo dân gian là “so bó đũa chọn cột cờ”. Người đó thường là người đứng đầu được sùng bái. Biết đâu sau này Cụ Tổng thành Cụ Tổ, điều này không có gì trái với logic huyền thoại.


Huyền thoại kiến tạo lịch sử nhưng cũng chơi trò phá hủy lịch sử. Về mặt thời gian là chuỗi nối tiếp, nhưng về mặt không gian là sự đè lấp lên nhau. Bề ngoài tưởng cái sau kế thừa cái trước nhưng thực chất là xóa mờ, tiêu hủy cái trước. Trong lúc nhấn mạnh vào các Vua Hùng, nó phải hủy vết tích trước đó là ai sinh ra các Vua Hùng. Lạc Long Quân, Âu Cơ chỉ còn là vết mờ để bào chữa cho một khiếm khuyết, và cứ thế, trước Lạc Long Quân, Âu Cơ là ai nữa thì bắt đầu ngộ nhận và rơi vào tận cùng mờ mịt!


Giải huyền thoại, theo R. Barthes, không đồng nghĩa với phá bỏ lịch sử, mà khôi phục lịch sử, làm hiện ra các vết mờ ẩn giấu bên trong trò chơi kiến tạo của nó.


Nhưng lịch sử là cái gì vậy? Nó là sự thật, nhưng chẳng là gì cả. Bởi vì sự thật lịch sử luôn là miếng mồi của huyền thoại, nó bị lợi dụng và bị nuốt chửng trong cõi huyền ảo mông lung. Sự thật thường dễ bị tiêu hóa, bay hơi, trong khi huyền thoại thì tồn tại lâu bền trước khi bị huyền thoại sau đó đè lấp.


Việc VTV nhấn mạnh hình ảnh nổi bật của Cụ Tổng trong lễ hội Đền Hùng dự báo mấy ngàn năm sau các Vua Hùng sẽ bị mờ nhạt hay lãng quên hẳn là một tất yếu. Không chỉ là trò chơi huyền thoại mà xét đến cùng, cuộc sống cũng vận động theo cách ấy. Tôi dám chắc số đông đi dự hội quan tâm về Cụ Tổng hơn là dâng hương cho Cụ Tổ. Họ cần Cụ Tổng hơn, vì đó là miếng cơm manh áo, và cũng là lí tưởng của thời đại.


3. Vì sao trăm đứa con của Tổ Mẫu Âu Cơ đều là trai?

Ở phần 2 tôi nhấn mạnh: Huyền thoại kiến tạo lịch sử nhưng cũng chơi trò phá hủy lịch sử. Cái ra đời sau đè lấp lên cái trước, xóa mờ, tiêu hủy tất cả để cưỡng lại sự truy nguyên. Hệ quả, nó xác tín một sự thật không thể bàn cãi, rằng đó là sự thật và người nghe không cần, thậm chí không được phép điều tra sự thật.
Phải cả nghìn năm qua, người ta tin tưởng và tự hào về nòi giống Rồng Tiên của mình thì huyền thoại về cái bọc trứng mới tồn tại lâu bền đến cỡ… không ai dám giải thiêng.


Bây giờ thử đặt câu hỏi: Vì sao một trăm đứa con của Tổ Mẫu Âu Cơ đều toàn là con trai?


Cứ cho cái thời hồng hoang ấy, Rồng Tiên thì phải đẻ trứng như khủng long là hợp lí đi, nhưng một trăm đứa con trai được nở ra từ một bọc đó được cho là những người Việt đầu tiên thì thật vô lí, trừ phi những người này lưỡng tính. Chẳng lẽ họ tự lấy nhau rồi sinh con đẻ cái về sau?
Phân tâm học sẽ giải thích phức cảm Oedipus trong cái chi tiết 100 cái trứng vừa đẻ ra đã bị cha mẹ ruồng bỏ và vứt ra ngoài đồng. Và khi một trăm đứa con trai nở ra giữa đồng ruộng kia được quay về với cha mẹ, giống như Oedipus về lại thành Thebes, thì cái bầy đàn được gọi là gia đình đầu tiên ấy buộc phải tan rã và chia ly: Âu Cơ mang 50 người con lên núi, Lạc Long Quân mang 50 người con xuống biển. 50 người con trai theo Âu Cơ thành vua Hùng và các Lạc tướng, gọi là Tổ của người Việt. Trong khi 50 người con theo Lạc Long Quân về biển thì hoàn toàn vô tăm tích. 


Nếu không có một sự thật nào khác thì chỉ có thể giải thích bằng nguyên lí quần hôn tạp hôn nguyên thủy: những đứa con trai theo mẹ đã lấy lại mẹ mình để duy trì nòi giống. Trong thời kì quần hôn tạp hôn, người mẹ đồng thời là người vợ, sự thay thế vai trò người cha trần tục bởi những đứa con khi đã trưởng thành là một tất yếu. Lạc Long Quân và những đứa con theo cha mất tích hẳn trong huyền thoại là cả một vùng mờ ảo nhằm che giấu sự thật về cuộc tranh chấp tương tàn trong bối cảnh quần hôn tạp hôn. 
Kết quả, Lạc Long Quân chỉ còn tồn tại như một người cha nguyên thủy: vừa bị phế truất vừa được tôn kính; người cha trần tục chuyển thành người cha thần thánh thiêng liêng mà mỗi khi gặp nạn mẹ con Âu Cơ phải hú hồn cha phù trợ.

Nếu không chấp nhận giải thích bằng Phân tâm học đầy vẻ khắc nghiệt theo bi kịch Oedipus như thế thì vẫn còn lối thoát cho một cách giải thích khác. Huyền thoại che giấu sự thật nhưng vẫn lộ ra các vết mờ của sự thật. 

Rành rành là trong huyền thoại này nói, trước khi Lạc Long Quân và Âu Cơ đến đây lấy nhau, mảnh đất này đã từng có con người sinh sống chứ không hề là đất hoang. Huyền thoại khoe chuyện Lạc Long Quân đánh quái vật cứu dân chài, dạy dân làm nhà sàn chống thú dữ, Âu Cơ dạy dân trồng trọt, hái lượm. Vậy những người dân ấy là ai? 

Rõ là cả Lạc Long Quân lẫn Âu Cơ không phải là người sở tại. Lạc Long Quân gốc ở Động Đình, Hồ Nam, Âu Cơ con của Đế Lai theo đoàn quân từ tận phương Bắc tràn xuống. Đó có phải là sự thật lịch sử mà dư ảnh là những cuộc xâm lăng đã hắt bóng lên huyền thoại?

Điều này càng khẳng định chắc chắn Tổ tiên của người Việt, trên chính đất Việt này, không phải là 2 vị Tổ Mẫu Tổ Phụ kia!


Và cũng khẳng định chắc chắn luôn, huyền thoại cái bọc trứng sâu xa không phải là huyền thoại của chính người Việt sở tại.

Không ai hỏi tại sao thời Hùng chưa có chữ viết mà tên các ông toàn mang chữ nghĩa Tàu: Hùng Hiền Vương, Hùng Lân Vương, Hùng Vũ Vương… Tôi chắc chắn huyền thoại này đã được sáng chế xa lắm là từ trong lần Bắc thuộc đầu tiên, tức sau Sĩ Nhiếp.

Huyền thoại là sản phẩm của kẻ mạnh áp đặt lên kẻ yếu. Nó chỉ mang lại niềm tin ngây thơ chứ không là sản phẩm của tư duy ngây thơ. Cái gọi là dân gian chỉ là cái loa tuyên truyền khi lòng tin ngây thơ bị đánh cắp.

Điều này có thể có một cách cắt nghĩa khác về một sự kiến tạo vô lí của cái bọc trứng nở ra toàn con trai. Nếu không phải lấy lại mẹ mình theo lẽ quần hôn tạp hôn thì chắc chắn là họ lấy vợ, sinh con với người dân sở tại để đẻ ra những đứa con mà huyền thoại đã trộn chung thành một dòng máu với cái họ được gọi là họ Hùng. 


Cuộc phối hôn này cho thấy bản sắc là cái gì rất khó nhận ra.

Đó là chưa nói ngọc phả còn ghi mỗi ông Hùng có đến gần trăm bà vợ, không phải là dấu tích của thời bọn đàn ông bắt đàn bà sở tại làm nô lệ tình dục mà F. Engels đã nói khi phân tích thời đại anh hùng ca? [3]. Dấu ấn phụ quyền hay chủ nghĩa duy dương vật (phallocentrism) cùng với chiến tranh xâm lăng in đậm lên huyền thoại đã đè lấp, tiêu hủy vai trò lịch sử của người phụ nữ và người dân sở tại, những Tổ tiên thật sự của người Việt. 
Cái bọc trứng của Rồng Tiên kia phải được bịa ra là nở toàn con trai, mang họ phương Bắc để đảm bảo một khả năng toàn trị cha truyền con nối. Những đứa con được phong Lạc hầu, Lạc tướng trấn giữ khắp nơi để “nuôi dạy” và “thuần phục” con dân Việt là cái mà huyền thoại tự để lộ ra, dù là một vết mờ sau vẻ đẹp tổng thể của một hình thức hoàn hảo: vẻ đẹp hòa hợp của hai chữ đồng bào, không phân biệt Nam/ Bắc.

Mưu toan tạo ra sự hòa hợp Nam Bắc, đúng hơn là tuân phục Thiên triều, huyền thoại đã chấp nhận để lộ ra cái lẽ ra cần giấu kín như một nguyên tắc cấm kị: hôn nhân cùng huyết thống. Ngay từ đầu, Lạc Long Quân lấy Âu Cơ đã là vi phạm cấm kị (taboo) – lấy người cháu ruột của mình. Mặc cảm loạn luân mới là lí do thật của cuộc chia ly, còn “Ta nòi Rồng dưới nước, nàng giống Tiên trên trời không thể sống cùng nhau” chỉ là lí do giả.


Cho rằng Tổ mẫu Âu Cơ là biểu tượng cho văn hóa nữ tính, thậm chí có người còn khẳng định đó là dấu ấn mẫu hệ hay mẫu quyền là một ngộ nhận. Sự thực, trong huyền thoại này, Âu Cơ chỉ thực hiện mỗi chức năng sinh đẻ và nuôi con, còn những gì to tát đều phải cậy nhờ quyền lực đàn ông mà biểu tượng là Lạc Long Quân tồn tại như chỗ dựa tinh thần và sau đó là những đứa con trai lấy họ Hùng nối nghiệp muôn đời.

Huyền thoại cấp cho con người bằng da bằng thịt một uy quyền tuyệt đối bằng cách khoác lên màu sắc thần quyền: 100 đứa con trai mang họ Hùng ấy thuộc nòi giống con Rồng cháu Tiên, tức mang sức mạnh vô địch của Thiên tử. Điều ấy có ý nghĩa tiêu hủy hoàn toàn những cuộc phản kháng. Đám dân sở tại từ chính cư trở thành ngụ cư, bị thống trị vĩnh viễn.

Con Rồng cháu Tiên ban đầu chỉ là huyễn tưởng của giới cầm quyền, sau đó được dân gian hóa thành huyễn tưởng của cả dân tộc. Huyễn tưởng này một thời đẩy giới cầm quyền tự tôn về nguồn gốc thần thánh (Thiên tử – con Trời), sau đó ru ngủ nhân dân trong cái bọc trứng ấm áp dưới sự chở che của Thiên tử bản địa lẫn Thiên triều ngoại bang. 


Giống như Minh Trị Thiên Hoàng từng huyễn tưởng về nguồn gốc chí tôn Amaterasu (天照, Thiên Chiếu) của mình, lấy Thần Đạo làm quốc giáo để thống trị dân đen và đòi thống trị thế giới. Phải đợi đến khi bại hoại trong Thế chiến thứ 2, Thiên hoàng Hirohito mới chính thức cúi đầu tuyên thệ trước quốc dân đồng bào trong bản Tuyên ngôn Nhân gian (人間宣言, Ningen-sengen), chấp nhận từ bỏ quan niệm về sự thần thánh hóa gia tộc của mình. 
Bốn triệu tín đồ Thần Đạo thời ấy đành chấp nhận sự thật xác thịt trong hình hài con người, dù là hoàng tộc, và tuyên bố quan hệ của Vua với Dân không dựa trên một tư tưởng thần thoại học nào cả mà dựa trên sự tin cậy phát triển như một gia đình mang tính lịch sử (*). 

Không giải huyền thoại, không có nước Nhật văn minh, hòa bình và dân chủ. Tự trọng khác hẳn với tự tôn, tự đại.

Huyền thoại cái bọc trứng của người Việt tưởng đào sâu vào cội nguồn, nhưng hóa ra là sản phẩm vong thân, bị đồng hóa và đầy mặc cảm của một dân tộc bị cưỡng hiếp.


Cái bọc trứng là một sáng tạo hoàn hảo cho một chiến lược diễn ngôn: nó pha chế giữa những khác biệt: người và vật, thần tiên và người phàm, phương Bắc và phương Nam, ngoại bang và nội cư để đi đến một sự thống nhất thành đại cục. Mọi sự phản kháng, chia rẽ đều có thể bị quy kết thành thù địch, thậm chí phản cội nguồn!


Cần nhắc lại, giải huyền thoại không đồng nghĩa với bôi nhọ lịch sử, lật đổ thần tượng mà làm sáng tỏ lịch sử, trả thần tượng về với đời thường trần tục, vạch rõ trò chơi kiến tạo trong thế giới ảo gọi là lịch sử – văn hóa của loài người để bắt đầu một kiến tạo mới hợp lí hơn thay cho kiến tạo cũ đã lỗi thời. Hủy gắn với Tạo (De-construction) như một động lực của sự phát triển.


Chu Mộng Long
Viết xong vào mùa xuân 2016, sửa chữa 2017
————————————————
1. M. Bakhtin (Từ Thị Loan dịch) (2006), Francois Rabelairs và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng, Khoa học xã hội.
2. R. Barthes (Phùng Văn Tửu dịch) (2008), Những huyền thoại, Tri thức.
3. F. Engels (1884), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu, và của nhà nước, https://www.marxists.org/vietnamese/index.htm
4. M. Foucault (2004), The Archaeology of Knowledge, trans. Sheridan Smith, A.M.,Tavistock, London.
---------------------------------------------------
(*) Đoạn kết của Tuyên ngôn Nhân gian (theo Wikipedia):
“ 朕ト爾等國民トノ間ノ紐帯ハ、終始相互ノ信頼ト敬愛トニ依リテ結バレ、單ナル神話ト傳説トニ依リテ生ゼルモノニ非ズ。天皇ヲ以テ現御神トシ、且日本國民ヲ以テ他ノ民族ニ優越セル民族ニシテ、延テ世界ヲ支配スベキ運命ヲ有ストノ架空ナル觀念ニ基クモノニモ非ズ。 ”
“The ties between Us and Our people have always stood upon mutual trust and affection. They do not depend upon mere legends and myths. They are not predicated on the false conception that the Emperor is divine, and that the Japanese people are superior to other races and fated to rule the world".
Tạm dịch:
“Mối quan hệ giữa Trẫm và các thần dân luôn luôn là dựa vào lòng tin và sự thương yêu lẫn nhau, chớ không phải dựa vào các huyền thoại và dị đoan. Quả nhân xin khẳng định rằng quan niệm về hoàng đế là thần thánh và người Nhật Bản là dân tộc siêu hạng so với các dân tộc khác và có trọng trách là thống trị thế giới này là một quan niệm sai lầm".
............./.

Ta Lính Miền Nam

Ta Lính Miền Nam




Ta trở về, giáp mặt chiến tranh
Ðồi cháy lửa mặt trời nhuộm đỏ
Thau rượu đế mừng ta thằng lính sữa
Dzô ông thầy ! hữu sự có thằng em

Trung đội ta về, hai mươi mấy thằng con
Thằng trai miền Nam hề , sinh thời ly loạn
Ðứa gốc Kinh, đứa Nùng, đứa Thượng
Ðứa độc thân, đứa con vợ đề đùm
Ðứa gốc nhảy dù , đứa gốc đào binh
Ðứa ăn chay trường , đứa thèm thịt chó

Ta ra trường núi sông nghiêng ngửa
Tập chửi thề, gái , rượu, xung phong
Hàng trang ta là lựu đạn dao găm
Thêm tuổi trẻ ta già như quả đất
Thêm một trái tim ngự đầy Chúa Phật
Thêm một cõi lòng tràn ngập quê hương

Khi đánh nhau, thắng bại lẽ thường
Chỉ mong đàn con bình an vô sự
Chỉ mong trở về gặp nhau đụng rượu
Lỡ chết rồi hồn cũng thoát thành men

Ta cần gì giáp sắt che thân
Gánh gì đồ chiến tranh cho nặng
Trên đầu ta mũ rừng nhẹ hẩ~ng
Trong túi ta một gói thuốc chuồn
Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm
Ðể thấy miền Nam lính hiền ghê gớm

Mấy năm trời giày da vẹt gót
Ngày lãnh lương về chợ dưỡng quân
Cám ơn những nàng má phấn môi son
Yêu ta vội vàng trước khi tiếp Mỹ
Con gái tiểu thư mơ toàn hoàng tử
Còn ai chia giùm ta con rận hành quân ?

Ta lính miền Nam hề, gốc nho phong
Không chiến tranh cũng thành đốc tờ,đốc tiếc
Thời thế đẩy đưa ta làm lính chiến
Mang nỗi buồn như rừng lá khai quang
Ta đứng giữa trời bốn phía rưng rưng

Em mười lăm đi làm đĩ Mỹ
Thằng nhỏ mười ba học đòi sát ngụy
Ma quỉ phương ngoài học xẻ Trường Sơn
Ðất nước ta , cường quốc bán buôn
Hậu phương ăn chơi biểu tình đảo chánh
Lúc đồng đội ta sống lên chết xuống
Một đám ở nhà nhảy nhót thâu đêm
Lãnh chúa ta thì ăn trước ngồi trên
Hùng hổ lắm nhưng mạt hèn cũng lắm ...

Khóa của ta
Trên mấy trăm thằng tình nguyện
Ði nhảy dù, thủy bộ, thám báo " ác ôn "
Ðứng đợi cả ngày để bốc lá thăm
Toàn thứ dữ mà vui như chợ tết
Có đứa mang bằng kỹ sư về nước
Chọn cọp ba đầu rằn làm lính tiền phong
Ta lính miền Nam hề,vận nước ngửa nghiêng
Ta cũng lênh đênh cùng cơn mạt kiếp
Ta trèo lên cây hỏi rừng cho biết
một nơi nào hơn ở Việt Nam ?
Có người lính nào bi tráng hơn lính miền Nam ?


Trần Hoài Thư



Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị




Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị 
Trịnh Cung

***

LTS:“Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị” của họa sĩ Trịnh Cung nhất định sẽ được đón nhận với nhiều phản ứng khác nhau từ nhiều tầng lớp độc giả. Bài viết đưa ra một số nhận xét của cá nhân Trịnh Cung về người nhạc sĩ tài hoa, sống và sáng tác trong một giai đoạn vô cùng điêu linh của đất nước, cùng với một số tư liệu đã được công bố ở một số nơi. Tác giả Trịnh Cung tất nhiên đã dự kiến được những gì bài viết này có thể mang đến cho chính ông khi ông viết: “Bài viết này chắc chắn sẽ gây ra sự mất mát tình cảm, sự đổ vỡ các mối quan hệ vốn có của tôi, vì một số những nhân vật được đề cập nay đang còn hiện diện trong cuộc đời. Sự thật bao giờ cũng gây mất lòng, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần trong nhiều năm qua: có nên viết nó ra, giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong tôi suốt hơn 30 năm qua? Sự quằn quại của nó trong cái nhà tù ký ức cũng làm tôi đau buồn đến không chịu nổi. Giải phóng cho nó là giải phóng cho chính tôi, dù có phải bị trả giá.”
Tạp chí Da Màu trân trọng ghi nhận tinh thần trách nhiệm của hoạ sĩ Trịnh Cung, và bài viết được đăng tải với ước muốn tạo cơ hội làm sáng tỏ những ngóc ngách trong đời sống của một nghệ sĩ tài hoa nay đã thành người thiên cổ.

***



Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (Trích bài viết: “Về Trịnh Công Sơn và Những Ca Khúc Phản Chiến Của Anh”, in trong Trịnh Công Sơn, Cuộc Đời, Âm Nhạc, Thơ, Hội Hoạ & Suy Tưởng do Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn ấn hành năm 2005)?

Sự thực có đúng như câu khẳng định chắc nịch ở trên của ông Hoàng Tá Thích và hoạ sĩ quá cố Bửu Chỉ? Chắc chắn là sai 100% rồi nếu như Trịnh Công Sơn không là tác giả của 3 tập nhạc phản chiến (Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam và Ta Phải Thấy Mặt Trời), và cũng chưa từng tham gia vào Phong trào Đấu tranh Đô thị của Thanh niên Sinh viên Học sinh để chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn mà chính cuốn sách của Hoàng Tá Thích và bài viết của Bửu Chỉ vừa nhắc đến ở trên đã có nhiều tiết lộ. Mặt khác, trong bài viết “Có Nghe Ra Điều Gì” Trịnh Công Sơn gửi cho bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn Lữ Kiều năm 1973 có đoạn như sau: “…Chưa bao giờ tôi có ý nghĩ tự đề nghị với mình một trách nhiệm quá lớn, nhưng khi đã lỡ nhận chịu những cảm tình nồng hậu từ đám đông, thì những tình cảm kia phải được đền bồi…”. Và trong thư TCS gửi cho Ngô Kha - người bạn cùng chí hướng chính trị và cũng là người em rể, đồng thời là lãnh tụ của Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức này đã bị Công An Huế bắt (1972-1974) - chúng ta sẽ dễ nhận ra ý thức làm chính trị chống chế độ Sài Gòn của Trịnh Công Sơn. Nhất là trong đoạn Lê Khắc Cầm nói về mối quan hệ giữa TCS và tổ chức cơ sở thành uỷ Huế do Lê Khắc Cầm bí mật phụ trách trước 1975 như thế nào, thì không thể nói là TCS không có toan tính chính trị như nhận định của hoạ sĩ Bửu Chỉ (Xin xem thêm Thư TCS gửi Ngô Kha và đoạn trao đổi về lá thư này giữa Nguyễn Đắc Xuân và Lê Khắc Cầm trong phần tư liệu đính kèm bài).

Trước khi nêu thêm những dẫn cứ quan trọng hơn để chúng ta có cái nhìn rõ hơn về thái độ chính trị của TCS thời chiến tranh VN, và cũng nhằm cung cấp thêm tư liệu để làm rõ các mối quan hệ có tính dính líu vào hoạt động chính trị phản chiến thân Cộng của TCS, tác giả xin kể một kỷ niệm với Ngô Kha và vì sao Ngô Kha lấy tên cho lực lượng đấu tranh của mình là Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức.

Vào năm 1971, tôi có mời Ngô Kha tới dự bữa cơm đầy năm Vương Hương, con đầu lòng của tôi tại nhà ở Phú Nhuận. Sau tàn tiệc, tôi đưa Ngô Kha ra về. Chúng tôi đi bô từ ngã tư Phú Nhuận về hướng cầu Kiệu, khi gần đến chân cầu, Ngô Kha nói với tôi: “Cậu vào chiến khu với mình đi, có người dẫn đường đang chờ”. Tôi không ngờ lại bị Ngô Kha đưa vào thế kẹt. Lúc này, tôi đang là Trung Úy biệt phái dạy tại Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, vừa bị Nha Mỹ Thuật Học Vụ trả về lại Bộ Quốc Phòng vì được Mỹ cấp học bổng tu nghiệp mỹ thuật tại Trung Tâm Đông và Tây, Hawaii, Hoa Kỳ (Sau 1975 tôi mới biết ông Nguyễn Văn Quyện, kiến trúc sư, Giám đốc Nha Mỹ Thuật Học Vụ, người ký quyết định không cho tôi đi Mỹ và trả tôi lại quân đội theo đề nghị của hoạ sĩ Vĩnh Phối - Hiệu trưởng Trường CĐMT Huế, cả 2 đều là Việt cộng nằm vùng), và Ngô Kha đang là em rể của Trịnh Công Sơn, cũng mang cấp bậc thiếu uý Quân lực VNCH có tư tưởng phản chiến, nhưng tôi không biết gì về hoạt động ly khai của anh cho tới lúc này. Thật bất ngờ và căng thẳng, làm sao tôi có thể đi về phía bên kia chiến tuyến? Tôi không hề tham gia vào phong trào phản chiến, tôi chơi với Trịnh Công Sơn, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường khi họ chưa là người chống lại chế độ Việt Nam Công Hoà. Ngay cả tại “túp lều cỏ” Tuyệt Tình Cốc ở Huế, nơi mà nhà văn Thế Uyên trong một bài viết của anh có tên “Cuộc Hành Trình Làm Người Việt Nam Qua Trịnh Công Sơn” đã tự bạch anh từng đến dự những cuộc họp bàn về đấu tranh chính trị do nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đứng ra tổ chức, tôi cũng chưa bao giờ đặt chân đến đó và thậm chí không hề biết có những việc như thế. Đơn giản vì tôi rời Huế vào sống ở Sài Gòn sau khi tốt nghiệp Mỹ thuật năm 1962, mối quan hệ giữa tôi và họ chỉ là một tình bạn văn nghệ thuần tuý. Để thối thác lời đề nghị ghê gớm này của Ngô Kha, tôi dừng lại trong bóng đêm bên này cầu Kiệu và nói với anh:”Ông thấy con mình vừa đầy năm, bà xã còn quá trẻ và yếu đuối, làm sao mình bỏ nhà đi vào căn cứ với bạn được. Hơn nữa mình không đồng ý cách giết người của họ ở Huế hôm Tết Mậu Thân… thôi chúc bạn lên đường may mắn!”. Thế nhưng, sự việc sau đó lại đưa Ngô Kha đến một hoàn cảnh khác. Anh không đi vào rừng mà về Huế rồi bị bắt và chịu một cái chết bi thảm.

Về Nguyễn Đại Thức là ai mà Ngô Kha dùng đặt tên cho lực lượng đấu tranh của mình?
Theo Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đại Thức nguyên là một hạ sĩ quan quân lực VNCH ly khai đã bắn hụt tướng Huỳnh Văn Cao khi ông dùng trực thăng kiểm soát tình hình Phật giáo xuống đường ở Đà Nẵng và Huế, và đã bị lính Mỹ bắn hạ. Hành động và cái chết của Nguyễn Đại Thức đã đưa Ngô Kha đến sự chọn lựa Nguyễn Đại Thức là tên và biểu tượng cho nhóm quân nhân ly khai đấu tranh chống Mỹ Nguỵ do anh tổ chức. Sau đây là đoạn viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong Căn Nhà Của Những Gã LangThang: “…Theo tin tức quân báo của Kha nhận từ đoạn Đà Nẵng, thì lực lượng thuỷ quân lục chiến của Kỳ sẽ chĩa mũi nhọn vào những người của phong trào mà họ cho là nguy hiểm, ngay từ lúc họ đặt chân đến Huế để tránh hậu hoạ. Ngô Kha cùng đi với chiến đoàn ly khai của anh sẽ kéo dài cuộc cầm cự trên đèo Hải Vân, để tạo điều kiện cho tôi thoát…”. Đối với cá nhân tôi, nhờ tiết lộ kinh khủng này của Hoàng Phủ Ngọc Tường, những năm gần đây, tôi mới biết mình đã từng bị Ngô Kha dùng tình bạn để đưa vào cái gọi là Chiến đoàn ly khai Nguyễn Đại Thức mà không biết khi anh rủ tôi đi vào cứ như đã nói ở trên. May mà tôi đã từ chối.

Với bao nhiêu sự việc gắn kết với nhau, hoà quyện, ăn khớp, như thế mà chúng ta vẫn còn hoài nghi, vẫn biện bạch đây chỉ là một thứ tình cảm hồn nhiên hay hoa mỹ hơn, đấy là ý thức về thân phận dân tộc, tiếng nói đòi hoà bình đậm tính nhân bản cho quê hương của một người nghệ sĩ tài hoa như TCS, thì chi tiết sau đây đã được Nguyễn Đắc Xuân tiết lộ và đã xác nhận lại với tác giả bài viết này như sau: “Vào đêm ngày 29-5-1966, trên đường Trần Bình Trọng-Đà Lạt, Trần Trọng Thức (nhà báo), Nguyễn Ngọc Lan (linh mục, đã chết), Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đã cùng nhau bàn về một giải pháp chính trị cho trí thức yêu nước và người đưa ra sự chọn lựa rất quyết đoán và hợp ý với 3 bạn đồng hành với mình: “Không có con đường nào khác cho anh em mình ngoài Mặt trận Giải Phóng Miền Nam!”.Vậy là đã quá rõ về khuynh hướng chính trị của Trịnh Công Sơn!

Từ Chính Trị Phong Trào đến Chính Trị Cầm Quyền?
Vỡ mộng chính trị cầm quyền
Những ngày trước 30-4-75, Sài Gòn rơi vào tình trạng hỗn loạn. Người thân cộng thì hí hửng, người quốc gia thì lo âu và tìm đường bỏ nước. Mọi thứ sinh hoạt đều tê liệt, tôi nằm trong số người chịu trận, bế tắc, no way out. Trong thời điểm tinh thần sa sút này, tôi thường ghé qua nhà TCS để tìm một thông tin tốt lành vì anh có nhiều mối quan hệ, nhưng cũng không được gì vì TCS từ chối ra đi và cho biết sắp nhận chức Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hoá trong chính phủ Dương Văn Minh lên thay Thiệu-Kỳ, em trai TCS là đại uý Trịnh Quang Hà sẽ được giao làm Cảnh sát Trưởng quận 2 (nay là quận 1). Thế là xong, TCS sẽ tham gia chính quyền được chuyển từ tay Nguyễn Văn Thiệu để thương lượng hoà bình với quân GP đang bao vây Sài Gòn và doạ sẽ tắm máu Sài Gòn nếu VNCH không buông súng.

Thế nhưng, TCS và người em không có tên trong thành phần chính phủ Dương Văn Minh khi các hệ thống thông tin quốc gia công bố ngày 27-4-75 và cũng không có tên kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đống trong vai đệ nhất Phó Thủ Tướng - người bạn chính trị không lộ diện của TCS từ trước sự kiện Tết Mậu Thân 1968, một cố vấn chính trị, một công trình sư cho sự nghiệp chính trị của TCS, đã vận động cho TCS vào chính phủ này như là đại diện của phe Phật giáo. Và với kết quả này, nhà hoạt đầu chính trị trẻ tuổi Nguyễn Hữu Đống đã phải rời khỏi nhà TCS ngay sau đó, sau khi đã ăn ở trong nhà TCS nhiều tháng trước như một người em rể.Sau này, trong thời Lý Quí Chung còn sống, tôi có hỏi về sự việc này. Với tư cách là một Bộ trưởng Thông Tin và người rất thân cận với tướng Dương Văn Minh, Lý Quí Chung đã xác nhận: không hề có một đề cử nào cho TCS và Nguyễn Hữu Đống vào chính phủ Dương Văn Minh cả. TCS và gia đình đã bị Nguyễn Hữu Đống lừa rồi! Và từ đó TCS đã coi Nguyễn Hữu Đống là kẻ ghê tởm.

Một chút về Nguyễn Hữu Đống
Nguyễn Hữu Đống tốt nghiệp thủ khoa Trường Kiến Trúc Sài Gòn khoảng năm 1964 nhưng không hành nghề kiến trúc sư, bắt đầu chơi thân công khai với Trịnh Công Sơn vào khoảng 1970. Tôi không được biết gì nhiều về nhân vật này ngoài việc chứng kiến sự xuất hiện thường xuyên trong nhà TCS những tháng trước 4/1975 với tư cách em rể TCS, giữa lúc Sài Gòn liên tiếp nhận những thông tin về các tỉnh Tây Nguyên thất thủ, và cũng được biết từ TCS vào những ngày cuối của tháng 4/1975 là: chính quyền mới sẽ vẫn giữ nguyên chiếc ghế Đệ nhất Phó Thủ Tướng của chính phủ đầu hàng Dương Văn Minh (tức ghế của Nguyễn Hữu Đống). Sau đó, Nguyễn Hữu Đống đã vượt biên và định cư ở Pháp.

Thế nhưng, vào khoảng năm 1992, Nguyễn Hữu Đống về Sài Gòn và tìm thăm tôi. Tôi tiếp anh tại nhà và cùng ăn trưa. Thật ra, giữa tôi và Nguyễn Hữu Đống không đủ thân để anh tìm thăm, chẳng qua là chỗ để anh trút hết những gì TCS và gia đình không tiếp khi anh tìm đến thăm họ sau hằng chục năm ly gián từ ngày ấy. Trong những thổ lộ của Nguyễn Hữu Đống có 2 chi tiết đáng chú ý: Một là: Ý tưởng và mô hình kiến trúc Ngôi Đền Tình Yêu có hình quả trứng (lấy từ truyền thuyết Âu Cơ đẻ ra 100 trứng) để TCS chủ trì như một giáo đường là của Nguyễn Hữu Đống; Hai là: để Ngôi Đền Tình Yêu này mang đậm sắc thái TCS, Nguyễn Hữu Đống lập ý cho TCS viết Kinh Việt Nam. Dự án này tôi đã được TCS cho biết trước năm 1975 và sẽ xây dựng trên ngọn đồi của Bác sĩ Bùi Kiện Tín ở Thủ Đức, nằm đối diện với nghĩa trang quân đội Sài Gòn cũ. Xét về mặt tài năng kiến trúc và con người đầy tham vọng làm chính trị của Nguyễn Hữu Đống cũng như mối quan hệ mang tính chính trị giữa anh và TCS thì thông tin này đáng tin hơn là gần đây có nghe dư luận từ Phạm Văn Hạng là dự án này của Phạm Văn Hạng và TCS được ông Võ Văn Kiệt ủng hộ?
(Để biết thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa TCS và Nguyễn Hữu Đống, xin độc giả đọc thêm đoạn trích dẫn trong phần ghi chú cuối bài viết này, câu Lê Khắc Cầm trả lời phỏng vấn Nguyễn Đắc Xuân về TCS).

Bài Học Lớn Cho Người Làm Chính Trị Tự Phát Trong Xã Hội CSVN
Những Gáo Nước Lạnh Ngày “anh em ta về”
Tuy nhiên, sau sự thất bại ấy, TCS lại đứng lên vui mừng vì Sài Gòn của anh trong ngày 30-4-75 đã xuất hiện: “Cờ bay trăm ngọn cờ bay” và“anh em ta về mừng như bão cát quay cuồng…”. Từ sự kiện tại Đà Lạt mà Nguyễn Đắc Xuân đã nhắc đến ở trên cho đến ngày 30-4-75 không có một chỉ dấu nào cho thấy có mối liên lạc về mặt tổ chức giữa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Trịnh Công Sơn. Thậm chí khi anh được kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái đưa đến Đài Phát Thanh Sài Gòn để hát bài Nối Vòng Tay Lớn mừng chiến thắng lịch sử 30-4-75, TCS, tác giả của ca khúc có tính dự báo cho ngày huy hoàng này của quân Giải phóng và bi thảm cho phía VNCH, cũng bị Tôn Thất Lập, một nhạc sĩ chủ chốt trong phong trào Hát Cho Đồng Bào đã thoát ly đi theo MTGPMN, đuổi ra khỏi phòng thu: “Mày có tư cách gì mà hát ở đây!”…

Bị bất ngờ với cú ra đòn khá tàn nhẫn này của người “anh em”, TCS thật sự choáng váng và sợ hãi, mọi niềm hân hoan trong anh về giấc mơ hoà bình cho đất nước của mình nay đã thành hiện thực bỗng chốc tan thành mây khói. Niềm vui tưng bừng reo ca “…Mặt đất bao la / anh em ta về / Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng/ Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam…” (Nối Vòng Tay Lớn) hôm ấy không thuộc về TCS, và thay vào đó là nỗi ám ảnh sắp bị thủ tiêu và phải làm thế nào chạy trốn khỏi “người anh em” càng sớm càng tốt.

Thật ra, tai nạn chính trị này đã có nguồn gốc từ quan điểm chính về tính hai mặt trong âm nhạc và con người TCS của Ban Văn Hoá Tư Tưởng-Trung Ương Cục Miền Nam do Ông Trần Bạch Đằng phụ trách. Chính nhạc sĩ Trần Long Ẩn đã kể lại rằng đã có một cuộc họp kiểm điểm TCS trong Cứ trước 1975 với thành phần tham dự gồm có hầu hết các văn nghệ sĩ thoát ly theo MTGPMN như: Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn,… dưới sự chủ trì của ông Trần Bạch Đằng.

Và Cuộc Chạy Trốn Khỏi Sài Gòn
Sự sợ hãi càng tăng cao khi TCS nhận được tin mình sẽ bị thanh toán. Chỉ vài ngày sau, TCS đã âm thầm cùng mẹ rời khỏi Sài Gòn bằng xe đò, trực chỉ ra Huế, nơi anh cũng đang có những “người anh em” thân thiết cũ vừa chiến thắng trở về như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Thái Ngọc San,… hy vọng chắc được yên thân.

Trở lại sống trong căn hộ cũ 11 Nguyễn Trường Tộ - Huế, TCS quây quần với bạn bè cũ và mới không được bao lâu thì cả thành phố Huế lên cơn sốt đả đảo TCS và Phạm Duy. Các biểu ngữ được giăng ở các trường đại học và TCS phải lên Đài truyền hình Huế đọc bài tự kiểm điểm. Sự cố lần này cũng lại do một nhạc sĩ tổ chức, nhạc sĩ Trần Hoàn, Giám đốc Sở VH&TT tỉnh Bình Trị Thiên. Thế là TCS đã tránh được vỏ dưa SG nay lại găp vỏ dừa Huế! Sự bé cái lầm lần này, có lẽ do TCS đã kỳ vọng ở bạn mình quá nhiều nhưng thực tế vai trò trong lực lượng tiếp quản Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân rất khiêm tốn, chính họ cũng đang phải cố gắng phấn đấu để được kết nạp vào đảng thì làm sao bao che cho tác giả của 2 ca khúc từng bị người CSVN kết án (Ca khúc Gia Tài Của Mẹ với câu: “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” đã xúc phạm đến đại cuộc chống Mỹ cứu nước của người CSVN và ca khúc Cho Một Người Nằm Xuống để thương tiếc Lưu Kim Cương - đại tá không lực VNCH chết bởi đạn của quân GPMN - người bạn một thời đã từng dùng máy bay không quân đưa TCS lên Đà Lạt thăm Khánh Ly hoặc ngược lại, đón Khánh Ly về hát với TCS) tại Sài Gòn?

Lần này ở Huế, tính tẩy chay TCS nghiêm trọng và công khai hơn hẳn vụ ở Đài Phát Thanh SG vừa qua. Tình bạn cũ trong trái tim TCS sụp đổ đã đành mà giấc mơ “Khi đất nước tôi thanh bình/Tôi sẽ đi thăm…” tưởng dễ thực hiện của anh cũng bị dập tắt. Những tháng ngày tiếp theo ở Huế, TCS sống như một con tin trong Hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên, thường xuyên được tổ chức bố trí đi lao động thực tế trên những cánh đồng vào mùa khô cũng như mùa lụt, không hơn gì một người phải chịu cải tạo.

Cuộc Chạy Trốn Lần Thứ 2
Tuy nhiên, đang kẹt trong cái thế “tiến thoái lưỡng nan” này ở tại chính quê nhà, nơi mình từng tham gia hoạt động đấu tranh chống Diệm rồi chống Mỹ-Thiệu trong Phong Trào Đô Thị Huế với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ng K, Nguyễn Đắc Xuân,… cũng không xong mà về lại Sài Gòn thì càng nguy hiểm thì một vị cứu tinh kịp xuất hiện, ông Võ Văn Kiệt - nhà lãnh đạo công sản cao cấp tiếp quản Sài Gòn lúc bấy giờ. Một cuộc vượt biên nội địa đưa TCS vào lại Sài Gòn sau khoảng 1 năm anh phải “đi thực tế” tại các vùng quê tỉnh Bình Trị Thiên được bí mật tổ chức do ông Kiệt uỷ thác cho nhà văn cộng sản Nguyễn Quang Sáng thực hiện thành công. Từ đây, dưới sự ưu ái của ông Kiệt và nhà văn Nguyễn Quang Sáng được uỷ nhiệm của thượng cấp chăm sóc TCS, cái hạn bị hăm doạ hay trù dập với người nhạc sĩ lãng mạn cách mạng này đã kết thúc.Qua những “sự cố” như thế, có thể thấy TCS đã mắc những sai lầm với người CS như sau:

- Thiếu minh bạch trong suy nghĩ về chiến tranh VN và tính hai mặt trong quan hệ xã hội.
- Không ở trong một đường dây của tổ chức và chịu sự lãnh đạo của tổ chức đó.
- Không dám thoát ly đi theo MTGPMN.

Và những sai lầm của TCS với phía VNCH:

- Kêu gọi phản chiến nhưng chỉ nhằm vào phía VNCH.
- Thiên về phía người CSVN ngay cả sau khi bị họ giết hụt trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế.- Chống lại phía đã tạo cho mình điều kiện học hành và tự do sáng tác, kể cả tự do tư tưởng dù có bị chế độ SG hạn chế và kiểm duyệt, nhưng không quyết liệt tiêu diệt như đã được thổi phồng (dùng giấy của Hoàng Đức Nhã cấp để đi đường do Phùng Thị Hạnh trung gian, nhiều sĩ quan VNCH che dấu,…) để có một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tồn tại lừng lẫy như thế cho đến ngày 30-4-75. Dù ý thức chính trị ra sao, Trịnh Công Sơn vẫn là sản phẩm của chế độ VNCH đúng như Đặng Tiến đã nhận định trong một bài viết ở đâu đó mà tôi không còn nhớ tên.

Bước Ngoặt “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”
Sa Lầy vào Rượu và Xu Nịnh
Cuối tháng 5-1978, tôi ra khỏi trại cải tạo, gặp lại TCS. Lần nào đến nhà anh ở 47c Phạm Ngọc Thạch-Sài Gòn, sáng hay chiều, cũng thấy TCS ngồi nhậu rượu Ararat, một loại cô-nhắc Nga (sau “đổi mới” chuyển qua rượu chát đỏ của Pháp, và sau cùng là Whisky Chivas) với Nguyễn Quang Sáng và một số bạn “mới”. Tôi cảm thấy có một điều gì đó không ổn, hình như tôi, một thằng sĩ quan Nguỵ đi tù về, không còn được TCS và gia đình coi là người thân như ngày xưa. Thái độ khó chịu của tôi mỗi lần ngồi trước mặt những người bạn “mới” này của Sơn đã khiến tôi bị TCS và gia đình tẩy chay ngầm.

Thực ra, tôi đã bị TCS và nhóm bạn Huế cũ loại ra từ những năm tháng tôi đi lính VNCH mà tôi không hề biết. Sau này, hoạ sĩ Tôn Thất Văn (đã chết) đã kể lại cho tôi rằng có những cuộc họp ở Huế vào những năm 60-70, TCS và những người mà tôi đã coi là bạn thân tình đã đem tôi ra để phê phán, tẩy chay vì tôi đã không trốn lính và đứng về phía Quốc Gia. Rất tiếc, trong số này lại có cả Đinh Cường, người đã từng học cùng trường mỹ thuật, ở cùng nhà, và do tôi giới thiệu làm quen với TCS, do tôi kết nối với anh bạn Thọ giàu có ở Đà Lạt để có những tháng ngày cùng TCS rong chơi thơ mộng khi lưu lại căn phòng anh Thọ đã thuê cho tôi tại biệt thự số 9 đường Hoa Hồng hay ở trong căn nhà sàn gỗ thơ mộng bên một dòng suối róc rách trong một hóc núi của thị trấn Đơn Dương từ trước khi tôi rời Đà Lạt về Sài Gòn năm 1964 theo giấy gọi vào quân trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức khoá 19. Và cả những tháng ngày nhàn nhã làm sinh viên sĩ quan tại đây vào năm 66 hay 67, lúc này tôi là sĩ quan huấn luyện CTCT và phụ trách một phần nguyệt san “Bộ Binh”. Sau ngày 30-4-75, với cấp bậc Trung uý ngành Công binh VNCH, Đinh Cường trở lại Trường Mỹ Thuật Huế và được miễn đi học tập cải tạo nhờ vào việc đã tham gia các hoạt động đấu tranh chống VNCH của nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, TCS,.., nhiều năm trước.

Có một kỷ niệm đặc biệt với Đinh Cường mà tôi cũng muốn nói ra luôn sau bao nhiêu năm cố giữ chặt trong lòng, để lòng mình thôi nặng trĩu và cũng minh chứng cho một tình bạn không hề có thật mà anh ấy đã dành cho tôi, mà tôi đã hằng chục năm cố nghĩ khác đi, cố không tin. Sự việc xảy ra như thế này: Ngày 1-5-75, 8g sáng tôi đến nhà Đinh Cường ở đường Nguyễn Đình Chiểu cũ, gần chợ Tân Định để xem tình hình như thế nào. Như thường lệ tôi vẫn đến đây dễ dàng như người trong nhà nên rất tự nhiên bước lên cầu thang dẫn lên căn gác của bạn mình. Thế nhưng chị TN, vợ Đinh Cường đã chặn tôi lại ở giữa cầu thang và nói Đinh Cường đi khỏi rồi. Tôi không tin và nói lớn là có hẹn trước, lúc đó Đinh Cường mới nói vọng xuống để tôi lên. Khi lên tới nơi thì đã có mặt của Bác sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng cùng ngồi đó. Tôi gượng gạo ngồi xuống và Đinh Cường nói với 2 vị khách kia như hỏi ý: “Mình cấp cho TC cái giấy chứng nhận thuộc Thành Phần Thứ 3 nhé!”. Lập tức tôi đứng lên và từ chối: “Không, hãy để tôi chịu trách nhiệm với họ, và Thành Phần Thứ 3, Thứ 4 gì họ cũng dẹp sạch thôi!”…

Với TCS, gia đình cùng các “đồng chí” rượu của anh, tôi lúc này là một kẻ xa lạ, một người lạc hướng, môt cái gai khó chịu, một con kỳ đà làm cho cuộc vui hoan lạc của họ không được hoàn hảo, tôi nên biến đi. Nhưng tôi lại là một gã ngoan cố, tự cho mình nhiệm vụ phải ngồi lại để làm Sơn tỉnh táo hơn, để những tiếng nói bớt đi những lời xu nịnh. Ý thức được rượu, phụ nữ và xu nịnh là một loại ma tuý tổng hợp đang nhấn chìm TCS được nguỵ danh dưới khẩu hiệu “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” nên tôi cố chiụ đựng sự khó chịu của họ và vẫn không tìm cách lấy lại chỗ đứng thân thiết vốn có với TCS thủa còn trai trẻ ở Huế bằng rượu chè, quà cáp đắt tiền và những tán tụng nuông chìu. Tôi vẫn đứng trên đôi chân liêm sỉ và theo đuổi một thứ nghệ thuật tri thức, đó là chỗ mà TCS, trong thâm sâu của tâm hồn anh, không thể loại bỏ tôi cho dù có khác nhau về quan điểm chính trị và cách sống. Đó cũng là điều mà TCS trong những lúc cô đơn nhất đã đến gõ cửa nhà tôi bất kể đêm khuya hay khi bình minh vừa ló dạng để hàn huyên hoặc khoe và hỏi ý kiến tôi về bức tranh mà anh vừa vẽ.

Điều Đáng Tiếc
Trong thời buổi sống như một kẻ bên lề của một Sài Gòn đã bị đổi tên và những người bạn thân một thời hồn nhiên như thế nay cũng đã cúi mình, ngoan ngoãn làm những con rối của chế độ mới, quay lưng lại với thân phận khốn đốn của đồng loại, tự huỷ tri thức, lương tâm, thứ một thời nhờ nó đã làm nên những ca khúc tranh đấu cho thân phận và tự do con người, nay chọn cho mình con đường sa lầy vào rượu, thuốc và phụ nữ, tôi thấy mình thật sự cô độc và bất lực trước sự sụp đổ từng ngày của một người bạn tài hoa nhất mà tôi từng yêu quí. Nhiều khi tôi muốn nói với bạn mình: “Tại sao cậu lại sa đà vào những cuộc chơi phù phiếm? Tại sao cậu không viết những ca khúc cho thân phận VN 2 đang bị một thứ xiềng xích vô hình nhưng vĩnh cửu, vì nó được khoá bởi chính người VN chứ không phải ngoại bang? Hay ít ra thì cậu nên sống yên lặng như một cái bóng, một hòn đá tảng vì cái giấc mơ hoà bình, thống nhất quê hương của cậu dù không phải nguyên nhân chính gây ra sự sụp đổ hoàn toàn nền Cộng Hoà trẻ tuổi MNVN, nhưng về mặt tâm lý cũng đã ít nhiều làm lợi cho phía bên kia, vô tình đồng loã với kẻ đã gây ra cái bi kịch thảm khốc cho hằng triệu người Việt từng ái mộ, tôn thờ cậu nay phải bỏ nước ra đi bằng giá của cái chết không được chôn cất, bằng sự tật nguyền tinh thần, nếu may mắn đến được bờ tự do thì bạn cũng đáng được cảm thông… Vì tôi biết chắc chắn một điều là tất cả những trí thức thiên tả VN như cậu cũng đều không chờ đợi một kết cuộc cho đất nước theo cách như đang diễn ra…”. Nhưng có lẽ trực giác của tôi đã mách bảo rằng điều ấy nằm ngoài khả năng của TCS, cứ để cuộc sống của anh phụ thuộc vào bản năng, đã tiêu vong rồi một TCS mạnh mẽ dấn thân, mạnh mẽ ca hát cho hoà bình đất nước, cho dân tộc ấm no, bình đẳng, tự do và hạnh phúc như ngày nào. Thời cuộc làm ra TCS đấy thôi, anh không phải là người làm ra thời cuộc, nên tôi đã nghẹn họng.

Ảo Tưởng Cuối Cùng
Dần dà rồi TCS cũng tìm lại cho mình một phần phong độ sáng tác nhờ hấp thụ những ngọn lửa nhỏ từ những nhan sắc phụ nữ và sự trân trọng (theo chủ trương) của những nhạc sĩ thuộc Hội Âm Nhạc TP HCM như Xuân Hồng, Hoàng Hiệp, Thanh Tùng, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn,… và một nhóm nhạc do họ tổ chức có tên “Những Người Bạn” ra đời khoảng thập niên 90, và TCS được coi là đầu đàn. Anh trở thành nhân tố quan trọng nhất trong việc thu hút sự chú ý của công chúng mỗi khi anh có mặt trong các show diễn của nhóm. TCS cũng là một tiếng nói có trọng lượng nhất đối với nhiều tên tuổi hàng đầu của nhạc cách mạng VN như Văn Cao, Trọng Bằng, Hồng Đăng,… trừ ông nhạc sĩ Bộ Trưởng Bộ VH&TT Trần Hoàn (đã nghĩ hưu), người từng mở chiến dịch đả đảo anh một thời ở Huế, là vẫn tiếp tục nhìn TCS như một kẻ xấu.

Dù gì thì thế đứng chính trị của TCS cũng đã được tốt hơn trước rất nhiều, có phải vì thế mà anh đã chủ quan nghĩ mình là người đến lúc nên đứng vào hàng ngũ của đảng?

Sơn đem ý định này nói với tôi, tôi liền can:“Không nên Sơn ơi, cậu đang là một nhân vật âm nhạc lớn, người ta nể trọng vì ảnh hưởng của cậu đối với công chúng rất lớn cũng như quốc tế. Nay cậu trở thành đảng viên mới tò te còn ai coi trọng nữa. Nếu ông Hoàng Hiệp chống lai là may cho cậu lắm đó!”. Tôi đã nói với TCS như thế và TCS im lặng. Tuy nhiên không phải nhờ sự phân tích ấy mà TCS không trở thành đảng viên Đảng CSVN, mà bởi sự ngăn cản của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, người giữ vai trò chính trị của Hội Âm Nhạc TP HCM và cũng là cán bộ có trách nhiệm quản lý TCS. Trong một lần bất bình vời Hoàng Hiệp về việc bị kiểm điểm, TCS đã chửi thẳng vào mặt Hoàng Hiệp ngay tại trụ sở Hội Âm Nhạc TP HCM:”Mày là thằng mặt lồn!”.

Đã không những không được vào đảng, TCS còn được cho về hưu để vĩnh viễn kết thúc giấc mơ - ảo tưởng cuối cùng của anh.

Cái Chết - Vinh Quang Đích Thực
Nếu con đường chính trị đối với TCS là một con đường dẫn anh xuống vực thẳm thì cái chết là một kết thúc hoàn hảo. Hay nói một cách khác, nó đã giải cứu và trả lại vinh quang đích thực cho anh - vinh quang dành cho di sản ca khúc TCS.

Không chỉ niềm vinh quang này bừng sáng huy hoàng bởi hàng chục ngàn người yêu âm nhạc của anh ở trong nước tiễn đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, mà người Việt trên khắp thế giới cũng nhỏ lệ tiếc thương, nhất là người Việt ở Mỹ, nơi mà Trịnh Công Sơn lúc sinh tiền không dám đặt chân đến dù không ít lời mời. Một lễ tưởng niệm long trọng được tổ chức tại Hội trường báo Người Việt với sự tham dự đông đảo của nhiều giới khác nhau trong cộng đồng ở cả Nam và Bắc California ngay trong đêm 1-4-2001, điều mà trước đó không ai dám nói công khai về tình cảm của mình với TCS ở chỗ đông người tại Mỹ.

Lời Kết
Sau 8 năm Trịnh Công Sơn ra đi, mọi cảm xúc thương tiếc sau cái chết của anh trong mỗi chúng ta cũng đã phần nào chìm lắng, hôm nay, tôi quyết định và chọn lựa thời điểm này để viết về một góc khác, một phương diện khác của Trịnh Công Sơn mà chưa ai viết hoặc viết một cách có hệ thống.
Bài viết này chắc chắn sẽ gây ra sự mất mát tình cảm, sự đổ vỡ các mối quan hệ vốn có của tôi, vì một số những nhân vật được đề cập nay đang còn hiện diện trong cuộc đời. Sự thật bao giờ cũng gây mất lòng, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần trong nhiều năm qua: có nên viết nó ra, giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong tôi suốt hơn 30 năm qua? Sự quằn quại của nó trong cái nhà tù ký ức cũng làm tôi đau buồn đến không chịu nổi. Giải phóng cho nó là giải phóng cho chính tôi, dù có phải bị trả giá.

Đó là về phần cá nhân tôi, còn đối với TCS, bài viết này tôi muốn bổ sung thêm những điều mà trong các cuộc nói chuyện về TCS ở Mỹ tôi đã không thể nói hết được. Một nửa sự thật cũng chưa phải là sự thật. Tôi tin vào điều tốt đẹp của sự thật. Nó có thể sẽ làm tan đi hình ảnh một TCS được tô vẽ bởi những huyền thoại và ảo ảnh lấp lánh trong lòng ai đó, nhưng sẽ trả lại một TCS thiên tài đích thực của âm nhạc như nó vốn có, để mọi người nếu đến với nhạc Sơn thì sẽ có được cơ may yêu mến trọn vẹn một con người có thực, chứ không phải một thứ tượng đài được nhào nặn, tô vẽ và dựng lên vì một mục đích riêng. Đã đến lúc sự thật đó cần được trả lại cho những người Việt đã, đang và sẽ mãi còn coi nhạc Trịnh là lẽ sống của mình, mang nó theo mình như một thứ tài sản vô giá dù đi đến bất kỳ đâu, dù ở chiến tuyến nào.

Tất nhiên, những lập luận và lời kể trong bài viết này dựa vào những gì tôi đã trải qua, những tư liệu riêng và những tư liệu của những người bạn cũ của TCS mà họ đã công khai phổ biến trên các phương tiện truyền thông, và vì thế chắc chắn còn thiếu sót tất yếu, vì tôi biết còn nhiều sự thật đang được cất dấu bởi những người có quan hệ cận kề với TCS trong từng giai đoạn của lịch sử VN từ 1954 đến hôm trước khi TCS qua đời mà họ vì những lý do nào đó chưa tiện nói ra. Tôi xin cám ơn những ai sẽ đóng góp thêm những gì giúp cho bài viết này được hoàn hảo hơn, kể cả những phản biện.

Sau cùng, mỗi con người Việt Nam đã trải qua và sống sót sau cuộc chiến tranh khốc liệt vừa qua đều giữ trong mình những sự thật riêng, một gốc nhân chứng riêng, xin quí vị hãy trả lại nó cho lịch sử, nếu được như thế thì tấm gương lịch sử VN mới trong sáng được. Cũng vì điều này, cho tôi xin lỗi những gì mà bài viết có làm tổn thương đến một ai đó cũng là vì không còn sự lựa chọn nào khác.

Sài Gòn 29/3/2009
TRỊNH CUNG

Tư liệu tham khảo:

1. Như Những Dòng Sông, Hoàng Tá Thích, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ 2007.

2. Trịnh Công Sơn, Cuộc đời, Âm nhạc, Thơ , Hội hoạ & Suy tưởng, Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn, 2005.

3. Thư TCS gửi Ngô Kha, nguồn: http://www.gio-o.com

4. Sự thực Thư Gửi Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, phần phỏng vấn Lê Khắc Cầm, nguồn: http://www.gio-o.com

5. Có nghe ra điều gì, Thủ bút của TCS nói về trách nhiệm của mình với đám đông (Tư liệu của Bác sĩ, nhà văn Thân Trọng Minh - Lữ Kiều).


............/.

Phật giáo Việt Nam



Phật giáo Việt Nam




Thầy Tuệ Sĩ là một trong những người hiếm hoi của thời đại đủ tư cách, về sở học Phật giáo lẫn vị trí nhân chứng sống nhìn thấy mọi thăng trầm Phật giáo từ năm 1963 đến sau 1975 cũng như bây giờ, để viết về Phật giáo. Những gì ông viết không chỉ là chứng cứ. Nó là nỗi lòng của một bậc tu học. Đọc bài viết này của ông sẽ giúp hiểu rõ Phật giáo sau 1975 đã bị phá một cách có hệ thống như thế nào, dẫn đến tình trạng ngày càng sa lầy bát nháo vô phương cứu vãn! Hãy nghe lại câu “dằn mặt” của Mai Chí Thọ, lúc đó là Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố HCM, với Hòa thượng Thích Trí Thủ, bấy giờ là Viện trưởng Viện Hóa Đạo, rằng: “Các thầy chỉ có hai con đường, theo hoặc chống. Các thầy theo, chúng tôi tạo điều kiện cho sinh hoạt. Các thầy chống, chúng tôi còn đủ xe tăng thiết giáp đó”! Trích...
…
“ĐẠO PHÁP-DÂN TỘC-CHỦ NGHĨA XÃ HỘI”, BIẾN THÁI CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN TẠI
Lời Dẫn: Bài tham luận này được viết đã lâu. Nguyên đề là “Văn minh tiểu phẩm,” chỉ là bài tham luận có tính chuyên đề. Bỗng nhiên nó mang tính thời sự. Ban đầu người viết không có ý định phổ biến rộng rãi, mà chỉ giới hạn trong một số thức giả đọc để suy ngẩm về quá khứ và tương lai.
Tuy nhiên, nay nó được cho phổ biến, vì trong mấy tuần vừa qua, Nhà Nước đã vận dụng bộ máy tuyên truyền khổng lồ và độc quyền, từ diễn đàn Quốc hội, cho đến các cuộc họp một số phường quận; từ Hội đồng chứng minh, Giáo hội trung ương, cho đến các ban Đại diện Phật giáo quận; bằng các phương tiện phát thanh, truyền hình, báo chí; mục đích là xác định lại lập trường “trước sau như một” của Đảng CSVN đối với Phật giáo, và cũng xác định sự hiện hữu duy nhất của Phật giáo qua đại diện hợp pháp là Giáo hội Phật giáo Việt Nam, mà thực chất là một tổ chức chính trị của Đảng, thực hiện đúng sách lược tôn giáo theo chỉ thị của Lenin: “Đảng phải thông qua tôn giáo để tập hợp quần chúng.” Chính điều đó xác định rõ nhiệm vụ lịch sử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam như là công cụ bảo vệ Đảng, đúng như lời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trước đây đã tuyên bố: Phật giáo Việt Nam là chỗ dựa cho người Cộng sản Việt Nam làm cách mạng (...)
Trước khi giới thiệu bản văn, nhân tiện tôi ghi thêm một vài sự kiện có tính lịch sử gần nhất, để người đọc có thêm cảm hứng suy luận. Tôi nói sự kiện lich sử gần nhất, là muốn nói ngay đến sự xuất hiện của Pháp sư Thích Trí Độ lần đầu tiên tại miền Nam sau ngày Cộng sản chiến thắng. Trên lễ đài chiến thắng, gồm các lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, hàng cao nhất. Pháp sư thay mặt Phật giáo miền Bắc, mà trên cương vị người chiến thắng, là chính thức đại diện toàn thể Phật giáo Việt Nam. Đó là vị Pháp sư, mà miền Nam gọi là Đại lão Hòa thượng. Ngài bận chiếc áo sơ-mi cụt tay như các cán bộ cao cấp khác của Đảng và Nhà Nước. Sự thực như vậy rất rõ: Phật giáo không tồn tại nữa ở Miền Bắc, mà chỉ tồn tại như một bộ phận của Đảng và lãnh đạo Phật giáo chỉ là cán bộ của Đảng và Nhà Nước.
Ở miền Nam, theo báo cáo của Trần Tư, tài liệu của Bộ Nội vụ phổ biến năm 1996, bấy giờ chỉ có “khoảng 2,5 triệu tín đồ.” Nhưng do nhu cầu lịch sử, nói theo lý luận của Đảng, nghĩa là chưa xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nên tôn giáo như thuốc phiện ru ngủ vẫn còn có nhiệm vụ lịch sử của nó; do nhu cầu lịch sử nên Đảng thừa nhận tồn tại tín ngưỡng Phật giáo. Tín ngưỡng, chứ không phải tôn giáo. Bởi vì, tin và thờ bình vôi, cây đa, ông Táo, ông Địa, là tín ngưỡng, chứ không phải tôn giáo. Đảng tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng chỉ cho phép tin một số hiện tượng. Ngoài ra là mê tín, hoặc duy tâm mang tính phản động thì triệt để bài trừ.
Năm 1980, tôi được anh Võ Đình Cương mời họp thảo luận về văn hóa Phật giáo tại tòa soạn Giác Ngộ, tại đó, đại diện Mặt trận Thành phố HCM đến dự, và đề nghị (thực chất là ra lệnh): Nhiệm vụ văn hóa Phật giáo là bài trừ mê tín; do đó phải xét lại trong Phật giáo những gì không thuần túy thì phải dẹp bỏ. Thí dụ, Quan Âm, Địa Tạng có thuần túy Phật giáo hay không? Tôi phản ứng: đó là đức tin tồn tại ít nhất hơn 2.000 năm, trên một phạm vi châu Á rộng lớn; do đó không ai có quyền xét để dẹp bỏ. Tin hay không, đó là quyền tự do cá nhân. Nhưng dẹp bỏ thì không ai có quyền.
Ngay sau 1975, nhiều tượng Phật lộ thiên bị giựt sập. Gây chấn động lớn nhất là giựt tượng Quan Âm tại Pleiku. Viện Hóa Đạo đã có những phản ứng quyết liệt, và đích thân Hòa thượng Đôn Hậu mang tài liệu phản đối ấy ra báo cáo Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Hòa thượng kể lại cho tôi nghe, sau khi chuyển hồ sơ vi phạm chính sách tôn giáo lên Thủ tướng; hôm sau Hòa thượng được một Đại tá bên Bộ Nội vụ gọi sang làm việc. Sau khi nghe Đại tá lên lớp chính trị, Hòa thượng nói: “Bởi vì Thủ tướng có nhờ tôi sau khi vào Nam trở ra Bắc, báo cáo Thủ tướng biết tình hình Phật giáo trong đó. Vì vậy tôi báo cáo những vi phạm để Chính phủ có thể kịp thời sửa chữa, ngăn chận cán bộ cấp dưới không để vi phạm. Nếu Thủ tướng không muốn nghe thì thôi. Còn việc lên lớp chính trị như thế này, đối với tôi (Hòa thượng) thì xưa quá rồi.” Dù sao, phản ứng ấy cũng làm chùn tay những đảng viên cuồng tín Mác xít, và tự kiêu về chiến thắng với khẩu hiệu nhan nhản các đường phố lúc bấy giờ: “Chủ nghĩa Mác Lê-nin bách chiến bách thắng muôn năm!” Nghĩa là, không thể tự do hoành hành như trong những năm sau 1954 trên đất Bắc.
Ở đây, chúng ta phải đặt câu hỏi: sau 1975, nếu không có Phật giáo miền Nam, cùng với thái độ cương quyết của các vị lãnh đạo Giáo hội Thống nhất, Phật giáo Việt nam sẽ thoi thóp đến lúc nào rồi đứt hơi luôn, với đà tự kiêu chiến thắng 1975 và với ảo tưởng về thành trì xã hội chủ nghĩa bách chiến bách thắng của Liên Xô?
Năm 1982 là cột mốc lớn cho Phật giáo Việt Nam, với lời tuyên bố của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Đảng không dại gì mà dựa lưng vào chỗ mình chưa nắm chắc. Do đó, bằng mọi giá phải cải tạo Phật giáo miền Nam, giống như cải tạo xã hội chủ nghĩa theo phương thức tịch thu tư liệu sản xuất và đưa các chủ tư bản đi lao động cải tạo. Đảng biết chắc, tuy gặp phải chống đối quyết liệt của lãnh đạo Phật giáo, nhưng với bạo lực chuyên chính trong tay, sẽ phải cải tạo thành công. Trước hết, sự bức tử đối với Thượng tọa Tâm Hoàn, Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Bình Định, năm 1975, gây kinh sợ không ít cho những ai cưỡng lại ý chí của Đảng. Kinh hoàng nhất là cái chết của Thượng Tọa Thiện Minh năm 1978, trong trại giam K4, Bộ Nội vụ. Đó là thời gian tôi được giam cùng trại với Hòa thượng Thiện Minh, nhưng hoàn toàn cách ly. Chỉ biết rõ, khi nghe tiếng Hòa thượng trả lời thẩm vấn ở phòng hỏi cung kế cận. Tất cả điều đó củng cố cho tuyên bố của ông Mai Chí Thọ, bấy giờ là Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố HCM, nói thẳng với Hòa thượng Trí Thủ, bấy giờ là Viện trưởng Viện Hóa Đạo: “Các thầy chỉ có hai con đường, theo hoặc chống. Các thầy theo, chúng tôi tạo điều kiện cho sinh hoạt. Các thầy chống, chúng tôi còn đủ xe tăng thiết giáp đó.” Hòa thượng trả lời: Không theo cũng không chống. Nhưng, đối với Đảng, không có con đường thứ ba.
Ý chí của đảng là một chuyện. Nhưng những người Phật giáo cũng nên tự đặt câu hỏi: Ban Liên lạc Công giáo Yêu nước cũng hoạt động rất tích cực, nhưng không đưa được Hội đồng Giám mục vào trong Mặt trận Tổ quốc. Trong khi, rất nhanh chóng, Phật giáo trở thành một bộ phận của đảng Cộng sản Việt Nam. Tại sao?
Từ ngày thành lập đến nay, Giáo hội thành viên Mặt trận đó đã làm những gì? Làm nhiều lắm, vì chùa chiền đồ sộ thêm lên. Như lời Hòa thượng Thanh Tứ phát biểu mới đây trong buổi lễ khai giảng của trường Phật học Trung cấp tỉnh Bình Định. Hòa thượng nói: “Phật giáo thời Lý rất thạnh. Nhưng không bằng nay. Vì nay cơ sở của ta to lớn hơn.” Ấy là, theo như lời Hòa thượng nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bài phát biểu: nhờ chính sách của Đảng. Đó là sự thực không thể chối cãi. Nhưng cần nói cho rõ thêm, Việt Nam chúng ta bây giờ tiến bộ hơn thời Hồng Bàng gấp vạn lần. Thời Lý, nước Việt Nam chỉ từ Thanh Hóa trở ra Bắc, chỉ hơn 1/3 lãnh thổ hiện nay. Như vậy thì cơ sở hiện nay nhất định phải to lên rồi.
Nhưng cái to hơn ấy của lịch sử bốn nghìn năm văn hiến lại chưa bằng một phần nhỏ của Thái Lan chỉ hơn 8 thế kỷ định cư. Và cũng nhờ chính sách của Đảng, nếu chính sách đó trước sau như một, nghĩa là như Phật giáo miền Bắc trước 1975, thì không biết ngày nay các Hòa thượng khi xuất hiện trước công chúng sẽ khoác tăng bào, hay cũng chỉ bận áo sơ mi cán bộ như Pháp sư Trí Độ trước đây? Trên toàn miền Bắc, cho đến 1975, có trên dưới 300 “ông sư, bà vãi.” Đến 1996, theo báo cáo Bộ Nội vụ của Trần Tư, “Hiện nay Phật giáo ở miền Bắc có khoảng 3.000 tăng ni, tín đồ phần đông là ông già (bà già là chủ yếu–nguyên văn). Số cao tăng tiêu biểu hầu hết đã già yếu không còn khả năng hoạt động. Số tăng ni trẻ trình độ văn hoá cũng như lý luận về Phật giáo thấp, không đủ sức làm nhiệm vụ tranh thủ Phật giáo miền Nam và hoạt động quốc tế.” Giáo hội Phật giáo Việt Nam phục vụ cho cái gì, theo báo cáo đó đã quá rõ.
Vậy thì, qua hơn 20 năm hoạt động, trong tư cách là một bộ phận của đảng, Giáo hội PGVN đã làm thêm được gì cho văn hóa Phật giáo Việt Nam so với những gì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) đã làm trước 1975? Trong khi cả khu vực, và kể luôn cả nước Việt Nam đều tiến bộ, theo chừng mực nào đó, mà Phật giáo Việt Nam chưa lấy lại được thế đứng của nó trong lòng văn hóa dân tộc như trước đó, vậy thì Dảng hỗ trợ Phật giáo Việt Nam tiến theo hướng nào?ng trên chính trường quốc tế. Ngoài tờ Giác NĐgộ ra, với ba cơ sở giáo dục cao cấp, tương đương đại học, nhưng đã có công trình gì đáng kể?
Vậy thì, qua hơn 20 năm hoạt động, trong tư cách là một bộ phận của đảng, Giáo hội PGVN đã làm thêm được gì cho văn hóa Phật giáo Việt Nam so với những gì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) đã làm trước 1975? Trong khi cả khu vực, và kể luôn cả nước Việt Nam đều tiến bộ, theo chừng mực nào đó, mà Phật giáo Việt Nam chưa lấy lại được thế đứng của nó trong lòng văn hóa dân tộc như trước đó, vậy thì Đảng hỗ trợ Phật giáo Việt Nam tiến theo hướng nào?
Bề ngoài, cũng còn có mặt đáng nói khác, đó là giáo dục. Trước hết, bao nhiêu cơ sở Trung học Bồ đề, và các Viện Đại học: một Vạn Hạnh, và một Phương Nam, của Phật giáo miền Nam, nay biến đi đâu mất? Nói là biến, vì hầu hết các tăng ni sinh, kể cả những vị đang học tại các trường cao cấp Phật học, không biết các cơ sở giáo dục này là cái gì, dạy những gì trong đó. Chính vì vậy mà họ chỉ biết Phật giáo Việt Nam tiến bộ vì chùa to Phật lớn.
Các tăng ni sinh này được đào tạo để làm gì? Không thấy họ được đưa về các địa phương để giảng pháp cho Phật tử. Cũng không có cơ sở văn hóa nào để họ phục vụ. Hầu hết, học xong, trở về chùa, làm nghề thầy cúng hoặc thầy bói. Tất nhiên cũng có nhiều thầy cô vẫn tìm cách mở các khóa học Phật pháp, nhưng cũng chỉ giới hạn trong một số tỉnh thành lớn, nhất là Thành phố HCM. Ngay như Huế, được xem là kinh đô của Phật giáo miền Nam, hầu như các thầy chỉ đi cúng và đăng đàn chẩn tế, hoặc lập đàn chay phá cửa địa ngục cho cô hồn đi chơi, chẳng có buổi giảng kinh nào đáng kể. Còn cái trường gọi là cao cấp Phật học, hay Học viện Phật giáo Hồng Đức, sau khi Hòa thượng Thiện Siêu tịch rồi, không còn thầy cô nào đủ sức dịch cho xuôi một trang luận Câu-xá, thì lấy chữ đâu mà giảng dạy kinh luận cho tăng ni sinh trình độ cao đẳng, đại học?
Nhìn chung, Phật giáo chỉ đang phục vụ nhiều nhất cho người giàu. Còn quần chúng tại các vùng sâu xa, vì họ thiếu phước, kiếp trước ít tu, nên nay chẳng mấy khi được nghe các thầy cô thuyết pháp. Còn lập đàn chẩn tế và phá cửa địa ngục cho ông bà cha mẹ siêu thăng, đốt vàng mã thật nhiều cho ông bà có tiền tiêu và có xe hơi nhà lầu, dưới âm phủ, thì họ không đủ tiền.
Tóm lại, nếu nói Phật giáo Việt Nam hiện tại chẳng có tiến bộ gì thì không đúng. Vì cơ sở chúng ta hiện nay đồ sộ hơn trước, kể cả miền Nam trước 1975 chứ không cần so sánh xa xôi lùi cho đến đời Lý như Hòa thượng Thích Thanh Tứ. Ngoài việc xây dựng chùa to Phật lớn, Phật giáo hiện tại đã đóng góp gì cho gia tài văn hóa, tư tưởng của dân tộc, ngoài sứ mệnh được giao phó là rao truyền chính sách sáng suốt của Đảng quang vinh? Còn chuyện tìm một vị trí của Phật giáo Việt nam, dù chỉ khiêm tốn thôi, trong thế giới hiện đại, là điều mộng tưởng xa vời.
Gần đây, các trường Phật học tại Sài Gòn sợ tăng ni sinh nghe thêm những nguồn thông tin không phù hợp với sự tuyên truyền một chiều vừa độc quyền vừa độc đoán của Nhà nước, nên vừa cảnh cáo, vừa khuyên răn: hãy quên đi quá khứ mà lo chăm học cho hiện tại. Quên đi quá khứ hận thù, để sống trong tình cảm dân tộc bao dung, đó là điều cần phải học. Nhưng quên đi những thành tựu quá khứ gần nhất, chỉ cách đây chưa đầy 30 năm, để rồi so sánh sự tiến bộ của ta ngày nay với thời đại Hồng Bàng, hay với thời Lý như Hòa thượng Thanh Tứ, thế thì bản chất của nền giáo dục Phật học ấy là gì? Có phải các thầy muốn dạy tăng ni sinh quên đi những hy sinh gian khổ của Thầy Tổ đã tạo ra di sản ngày nay, do vậy họ sẽ nhận thức dễ dàng rằng những gì chúng ta đang thừa hưởng ngày nay là nhờ công ơn Đảng và Nhà nước?
Lời hăm của các thầy có giá trị “hàn mặc di luân” của những nhà giáo dục. Chính vì thế tôi cho phổ biến bài tham luận này, mà trước đó tôi cho là ý kiến cá nhân nên giới hạn người đọc. Bây giờ tôi vẫn xem đây chỉ là quan điểm cá nhân. Nhưng tôi cho phổ biến để các thầy có cơ sở kiểm chứng những thành tựu mà Nhà nước đã giúp Phật giáo Việt Nam. Tất nhiên, tôi nhận mọi trách nhiệm trước pháp luật, và trên hết, trước lương tâm của một con người còn tin tưởng giá trị làm người.
Già Lam 10-11- 2003,
.....
Nguồn: "Tuệ Sĩ Đạo sư – Thơ và phương trời mộng", tập 2, Ban Tu Thư Phật Học Hải Đức Nha Trang, in lần thứ nhất; California - Hoa Kỳ 2006

BÀI HỌC ĐAU ĐIẾNG CỦA NHÂN DÂN



BÀI HỌC ĐAU ĐIẾNG CỦA NHÂN DÂN

Mạnh Kim

https://www.facebook.com/nguyen.manhkim/posts/10157899778464796

******

Kể cả những cú đấm tàn bạo nhất vào mặt người biểu tình cũng không đau bằng việc chiếc lư hương ở tượng đài Đức Thánh Trần (bến Bạch Đằng, quận 1, Sài Gòn) bị dời đi ngay trong dịp tưởng niệm sự kiện 17-2 (Trung Quốc xâm chiếm Bắc Việt Nam). Hành động cực kỳ vô văn hóa, thất kính với tiền nhân và vô lễ với nhân dân này lại xảy ra ngay trong bối cảnh mà cụm từ “sòng phẳng với lịch sử” được nhắc đi nhắc lại như một trong những động thái cần làm để giải oan lịch sử và gỡ được lời nguyền “hèn nhục” trong quan hệ ngoại giao quái đản giữa Việt Nam với Trung Quốc. Tuy nhiên, nhân dân đã bị mắc lỡm. Hèn vẫn hèn và nhục vẫn nhục!
Lời nguyền “hèn nhục” vẫn ám nặng trong kịch bản “tưởng nhớ sự kiện 17-2”. Nội dung lớn nhất của kịch bản là chỉ đạo báo chí làm mạnh sự kiện tưởng niệm với các “tuyến bài” chủ yếu vạch trần tội ác Trung Quốc và tính chính nghĩa Việt Nam trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc. Chẳng có cái gì gọi là báo chí được “cởi trói” ở đây cả. Đừng đánh giá cao “sự cởi mở” của Ban Tuyên giáo Trung ương. Báo chí không hề được cởi trói. Họ tiếp tục bị trói khi được yêu cầu thực hiện “nhiệm vụ chính trị tuyên truyền” với nội dung bài vở được chỉ định từ cách đây vài tháng. Lực lượng truyền thông đã được xua ra để diễn một vở kịch chính trị tuyên truyền nhằm phục vụ chính trị đối ngoại.
Đừng vội vỗ tay hoan hô Tuyên giáo trước một hoặc vài sự kiện được bật đèn xanh. Chừng nào còn phụ thuộc vào tín hiệu đèn xanh thì báo chí vẫn còn sống dài dài với nỗi thấp thỏm bị siết cổ nửa đêm bằng tin nhắn hoặc cú gọi lạnh tóc gáy từ một “đồng chí” Tuyên giáo. Cá nhân Võ Văn Thưởng, trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, cũng là công cụ. Tuyên truyền phục vụ đường lối chính sách của Đảng vẫn là “tôn chỉ” xuyên suốt của hoạt động báo chí Việt Nam. Thậm chí cách thức thể hiện cũng được chỉ định. Cơ quan truyền thông trung ương VTV chỉ được phép dùng từ “đối phương”, “lính bên kia biên giới”... chứ không được đề cập trực tiếp đến “Trung Quốc”.
“Ban tổ chức” cũng yêu cầu siết chặt “công tác an ninh”, hay chính xác hơn, là tăng cường rình rập, theo dõi và ngăn chặn các cuộc thắp hương tưởng niệm của người dân. Những nhân vật nằm trong danh sách “đối tượng nguy hiểm” lâu nay lại được lệnh giám sát nhất cử nhất động… Và không như đợt tưởng niệm sự kiện Mậu Thân (21-1-2018), khi “một cầu truyền hình cảm xúc kỷ niệm 50 năm cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 được diễn ra tại ba điểm cầu…, cùng sự tham gia biểu diễn của hơn 600 nghệ sĩ, diễn viên với 14 tiết mục nghệ thuật…, với sự tham dự của các bà mẹ, cựu chiến binh, nhân chứng lịch sử, lãnh đạo trung ương và thành phố nhiều thời kỳ”…, nơi người ta nghe “những chứng nhân… kể chuyện một thời lửa đạn”…, đợt tưởng niệm 40 năm cuộc chiến biên giới Trung-Việt không hề có một chương trình ca nhạc “hào hùng” nào.
Đặc biệt, không có bất kỳ chương trình đi thắp hương nào của các cấp lãnh đạo, từ trung ương đến địa phương. Nhang khói chỉ được thắp trên mặt báo. Không có phát biểu nào của Tổng bí thư-Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch, Bí thư TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân… Một sự kiện đau thương trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn lại được ca hát “tự hào” nhưng với cuộc chiến trước ngoại xâm thì ánh đèn không được rọi đến.
Điều bất ngờ “tuyệt đối” nhất khiến người dân phẫn nộ tột độ là việc ra lệnh dời lư hương tại tượng Đức Thánh Trần. Nói về lý do dời lư hương, bí thư quận ủy Q.1 (TP.HCM) Trần Kim Yến cho biết, việc chuyển dâng hương ở tượng Đức thánh Trần Hưng Đạo về Đền thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo là chương trình nằm trong kế hoạch chỉnh trang Q.1 sau Tết. “Một số người cho rằng việc làm này nhạy cảm nhưng tôi nghĩ đó là việc làm bình thường và được nhiều bà con ủng hộ” - bà Yến nói. Ngay lập tức, phản ứng dư luận là rất dữ dội. Bà Yến trở thành tấm bia để người dân công kích và thậm chí phỉ nhổ. Tuy nhiên, vụ này có thể bà Yến không tự quyết. Còn có vai trò Ủy ban nhân dân TP.HCM, Sở Công an thành phố, Tuyên giáo thành phố và Bí thư thành phố Nguyễn Thiện Nhân. Cũng không loại trừ khả năng quyết định này đến từ Trung ương. Với những gì diễn ra, có thể thấy toàn bộ câu chuyện tưởng niệm sự kiện 17-2 đã được xây dựng kịch bản từ trước và các ban ngành địa phương theo đó thực hiện. Ý đồ kịch bản và chi tiết kịch bản không thuộc quyền địa phương. Nó chắc chắn không phải là kết quả của một cá nhân. Một viên chức địa phương tép riêu như Trần Kim Yến càng không.
Nhân dân lại bị tạt một gáo nước lạnh vào mặt. Nhân dân lại bị đấm một cú vào đầu. Đau điếng! Nhân dân lại được “ăn” một cú lừa. Bài học “đừng nghe những gì cộng sản nói” không mới. Nhân dân vẫn bị lừa thường xuyên. Có điều đây là lần đầu tiên người ta lừa cả Đức Thánh Trần. Chính quyền cộng sản ăn cướp của dân thì còn lạ gì nhưng chính quyền lần này ăn cướp cả bàn thờ và ăn cướp cả lịch sử. Bài học này sẽ luôn là bài học lớn nhất và là bài học đau nhất mà nhân dân nhận được từ chính quyền.


........../.

..cuộc chiến 17 tháng 2

Nhân kỷ niệm cuộc chiến 17 tháng 2

TẠ DUY ANH


https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=10213650979126371&id=1160946631

******


Tôi nhập ngũ khi cuộc chiến 1979 đã lùi lại được gần 6 năm, chỉ còn phần cuối của cuộc chiến 1984. Nơi tôi đóng quân là thị xã Lào Cai hoang tàn, đổ nát và dày đặc mìn. Do làm công tác quản lý quân lực, nên tôi có điều kiện la cà nói chuyện với những chỉ huy có mặt trong ngày Lào Cai thất thủ, kết hợp kiểm chứng qua lời kể của một số người dân còn bám trụ ở lại sau khi quân Trung Quốc rút đi và có thể đi đến khẳng định, bên Việt Nam hoàn toàn bất ngờ trước đòn tấn công ồ ạt của phía Trung Quốc. 
Bất ngờ một trăm phần trăm. 
Cả những quân nhân có mặt trong ngày 17-2-1979 lẫn người dân (những người tôi hỏi) đều kể lại giống nhau rằng, vào đêm hôm trước, do là ngày nghỉ, nên bộ đội ta và một số bộ đội, dân thường Trung Quốc vẫn cùng nhau xem phim ở thị xã Lào Cai, như mọi kỳ nghỉ cuối tuần khác. Chỉ mãi gần sáng, khi pháo binh Trung Quốc bắn vào sân bay Lào Cai, mọi người mới hốt hoảng hỏi nhau chuyện gì đang xảy ra. Tuy nhiên, vào thời điểm ấy thì quân Trung Quốc đã tràn ngập ở bất cứ chỗ nào, từ trận địa trên chốt, lẫn các con đường chính. 
Hóa ra quân Trung Quốc cải trang thành dân thường, lợi dụng lính biên phòng ta đi xem phim, đã chiếm một số điểm chốt tiền tiêu! Nhiều bộ đội Việt Nam bị giết chết ngay từ đêm ngày 16 mà không một ai hay biết? Hôm sau, khi chiến tranh chính thức nổ ra, để bảo toàn lực lượng, những người lính biên phòng và một số quân địa phương ít ỏi phải lùi xuống tuyến sau, lúc đầu là Cam Đường, Bến Đền, rồi thị trấn Lu thì dừng lại, chờ phản công. Vì không hề có kháng cự đáng kể, nên lính và dân binh Trung Quốc tràn qua biên giới như đi vào chỗ không người, thả sức cướp bóc sâu vào hàng chục km. 
Chúng nhanh chóng đánh chiếm Cam Đường, nơi có mỏ Apatit. Toàn bộ thiết bị cơ giới ở đây đều bị Trung Quốc lấy đem về nước hoặc đốt cháy. Mỗi cái xe Zin ba cầu mới tinh mà họ lấy đi, còn chở kèm theo mấy tấn quặng mang về làm 4 hiện đại hóa! Tại thị xã Lào Cai thì các cơ quan của nhà nước, của tổ chức quốc tế như trụ sở làm việc, trường học, văn phòng đại diện…, đều bị Trung Quốc giật mìn phá sập. Kho lương thực thì họ phá sau khi lấy hết thóc gạo. Gần sáu năm sau cuộc chiến, tôi vẫn còn kịp được chứng kiến di sản của sự tàn phá nhơ bẩn ấy.
Thời kỳ đó, quân đội Trung Quốc còn rất yếu, trang thiết bị lạc hậu, chiến thuật cổ lỗ, chủ yếu cậy đông để áp đảo đối phương. 
Nhiều người tiếc rằng, nếu phía Việt Nam chủ động đón lõng bằng trận địa bày ra từ trước để đánh địch (như từng xảy ra ở trận Chi Lăng thời Lê), có lẽ con số lính Trung Quốc phải phơi xác trên lãnh thổ Đại Việt không dừng lại ở ba vạn như ước tính của Hoa Kỳ. Đặng Tiểu Bình có thể cũng thắt cổ hoặc uống thuốc độc mà chết vì nhục, như tổ tiên của ông ta 200 năm trước.

Nhưng điều đó, may thay cho kẻ xâm lược, đã không xảy ra. Nhiều năm sau này, tôi vẫn cố công đi tìm lời giải thích vì sao phía Việt Nam hầu như không chuẩn bị gì đáng kể trước cuộc chiến tổng lực của Trung Quốc? Có nhiều dấu hiệu cho thấy Trung Quốc chuẩn bị chiến tranh từ rất lâu trước đó, nhất là sau khi quân Việt Nam tiến vào Campuchia. Vậy mà dọc tuyến biên giới từ Bát Xát đến thị xã Lào Cai, tại thời điểm tháng 2 năm 1979, chỉ có duy nhất một trung đoàn bảo vệ với hệ thống hầm thưa thớt, chủ yếu làm bằng cốt tre!. 
Thật không thể tưởng tượng chúng ta lại mất cảnh giác một cách…tuyệt đối như vậy.

Khi cuộc chiến kết thúc, người ta mới biết Trung Quốc huy động một lực lượng quân sự khổng lồ, gấp gần 30 lần số quân Thanh tràn vào nước ta thế kỷ 18. Làm thế nào mà với trình độ tác chiến lạc hậu, bọn xâm lược có thể tập trung được tới 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không với 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn, (chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau) và áp sát biên giới Việt Nam mà không hề gây ra bất cứ động tĩnh nào cho đối phương? Rồi còn hàng triệu dân binh? Chúng không thể chui từ dưới đất lên chỉ sau một đêm? Chắc chắn nó phải được chuẩn bị nhiều ngày, với sự tham gia của hàng chục triệu người và không sự tài giỏi nào có thể giấu kín tuyệt đối mà không bị đối phương phát hiện, dù chỉ bằng mắt thường! 
Vậy mà đối phương là chúng ta thì lại hoàn toàn bất ngờ. Dù ai có đưa ra bằng chứng hoặc lời giải thích gì đi nữa, thì cái sự thật ấy vẫn không thay đổi.
Một câu hỏi đặt ra là chả lẽ tình báo của chúng ta bị “mù” hay bị vô hiệu hóa? Tôi không tin vào điều này. 
Tôi ngờ là có sự mù lòa từ ở tít thượng tầng? 
Tuy nhiên, câu trả lời cuối cùng xin bỏ ngỏ để mọi người tiếp tục suy ngẫm và đưa ra lời lý giải. Tôi chỉ xin góp vào bằng một câu chuyện do một đại tá quân đội kể. 
Anh kể rằng, thực ra biên giới Tây Nam đã có chuyện đụng độ từ ngay năm 1975, nhưng phải mãi khi quân Pôn-pốt gây thảm sát ở đảo Thổ Chu, nhất là cuộc bắn giết đẫm máu ở thị trấn Ba Chúc, tỉnh biên giới An Giang, các “cụ” nhà ta mới tỉnh ra để thấy hóa ra nó là kẻ thù, chứ chẳng còn là đồng chí đồng hướng gì nữa (Còn gì nhục hơn khi là đồng chí với lũ diệt chủng và quan thấy của chúng). Theo anh bạn tôi thì trước đó một hai năm, lính Khơ-me đỏ đã giết dân và lính ta tràn lan. Cũng bắn hàng loạt, chặt đầu, phanh thây, nhưng hễ cứ báo cáo lên là lại được trả lời đó chỉ là xô xát đơn thuần, chứ không phải chủ trương gây chiến của lãnh đạo Campuchia! 
Dù sao thì họ vẫn là những người đồng chí! 
Tình đồng chí lớn lắm??? 
(Viết đến đây tôi lại chợt nhớ lời của một ông thầy, khi ông bảo rằng, cái từ tàn phá văn hóa khủng khiếp nhất chính là từ đồng chí!)
Ngay giờ đây bất cứ ai cũng có thể vào từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia để đọc những dòng chua xót sau, như một phần lời xác nhận câu chuyện tôi vừa ghi lại:
“Từ ngày 30 tháng 4 năm 1977, quân Khmer Đỏ bắt đầu đồng loạt nổ súng tấn công biên giới Tây Nam Việt Nam. Ngày 18 tháng 4 năm 1978 (tức là 12 tháng sau), chúng tràn vào Ba Chúc, thẳng tay chém giết những dân thường vô tội. Nhiều người chạy tới chùa Phi Lai và Tam Bửu và chạy lên núi Tượng nhằm ẩn náu, song cũng bị quân Khmer Đỏ tàn sát dã man.
 
Trong suốt 12 ngày chiếm đóng từ 18 đến 30 tháng 4 năm 1978, quân Khmer Đỏ đã giết chết 3.157 dân thường”.

Lịch sử thường hay lặp lại, nhưng cơ may sửa chữa sai lầm thì không mấy khi. 
Nếu bị một cú “mù” tương tự như sự kiện 17-2 năm 1979, nhưng lần này là ở trên biển Đông, thì chúng ta mất sạch.

Kỉ niệm 30 năm rời quân ngũ
......../.