HỌC GIẢ TRƯƠNG VĨNH KÝ



HỌC GIẢ TRƯƠNG VĨNH KÝ


https://www.facebook.com/lenguyenpd/posts/1160254834072491


*****

* Nhân chuyện lùm xùm liên quan đến quyển sách về nhân vật Trương Vĩnh Ký vừa phát hành, vài bạn có yêu cầu tôi cho biết quan điểm về "công" và "tội" của cụ. Xin post lại một bài cũ của tôi về nhân vật này để các bạn tùy nghi nhận định
*****


CHUYẾN BẮC HÀNH CỦA HỌC GIẢ TRƯƠNG VĨNH KÝ
VÀ CÁI CHẾT CỦA TỔNG TRÚ SỨ PAUL BERT


Hầu hết người Việt Nam và nhất là giới nghiên cứu sử học đã quá quen thuộc với Pétrus Trương Vĩnh Ký, một học giả xuất chúng am hiểu nhiều ngoại ngữ và có công lớn trong việc vận dụng chữ quốc ngữ trong giai đoạn sơ khai vào đời sống cộng đồng. Hàng trăm tác phẩm do ông để lại - đã xuất bản cũng như chưa xuất bản - có giá trị rất lớn trong điều kiện một xã hội Việt còn lạc hậu và đang bị ngoại bang chi phối. Tuy nhiên, có một mảng không nhỏ trong cuộc đời ông ít được đề cập đến, hoặc đề cập không đầy đủ, rõ ràng, khiến cho việc tìm hiểu và nhận định về nhân vật đặc biệt này dễ rơi vào trạng thái khiếm khuyết, phiến diện. Đó là mối quan hệ của Trương Vĩnh Ký với triều đình Huế, và nhất là với thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ 19.

***

Nói đến khả năng về ngoại ngữ của Trương Vĩnh Ký, có thể viện dẫn sau đây mấy dòng hồi ký của một du khách người Anh là J. Thomson, trong tác phẩm nhan đề 10 năm du hành ở Trung Quốc và Đông Dương:
“ Ông Petrousky (Petrus Ký-LN), một giáo dân Nam kỳ và là giáo sư dạy tiếng mẹ đẻ của ông tại Trường Thông ngôn Sài Gòn, là một ngoại lệ đáng lưu ý trong số những người bản xứ mà tôi vừa giới thiệu cùng bạn đọc. Ông từng theo học tại trường dòng Penang và tôi không bao giờ quên nỗi kinh ngạc khi được giới thiệu với ông.
Ông nói chuyện với tôi bằng một thứ tiếng Anh rất vững, với một cách nhấn nhẹ nhàng của người Pháp, còn với tiếng Pháp, ông diễn tả không kém phần trong sáng và lịch sự. Tiếng Y Pha Nho, Bồ Đào Nha, Ý, ông cũng quen thuộc như những ngôn ngữ phương Đông; chính nhờ sự hiểu biết đặc biệt này mà ông đang nắm giữ một địa vị cao. Một ngày nọ đến thăm ông, tôi nhìn thấy ông đang thực hiện quyển Phân tích, đối chiếu các thứ tiếng chủ yếu trên thế giới, tác phẩm mà ông phải bỏ ra 10 năm lao động miệt mài. (Jean Bouchot – Un savant et un patriote cochinchinois – Petrus J.B. Trương-Vĩnh-Ký (1837-1898)- trang 43) .
Nhờ sự uyên bác mà vào năm 1863, Trương Vĩnh Ký được tháp tùng phái bộ Phan Thanh Giản trong chuyến đi sứ sang Pháp (*) và quen biết với nhiều nhân vật nổi tiếng tại châu Âu lúc bấy giờ như Victor Hugo, Ernest Renan, Littré, Paul Bert…
Trong những thập niên 1860-1870, ngoài tư cách người phụ trách tờ Gia Định báo (từ 16.9.1869), Trương Vĩnh Ký còn giữ nhiều trách vụ khác như: thông ngôn của Soái phủ Nam kỳ, giáo sư trường thông ngôn (Collège des Interprètes), giáo sư trường Tham biện hậu bổ (Collège des Stagiaires), được Pháp phong ngạch trật Huyện hạng nhất năm 1872.
Trong thời gian cộng tác với Pháp, Trương Vĩnh Ký đã thực hiện hai cuộc Bắc hành, vào những năm 1876 và 1886. Chuyến thứ nhất được kể lại trong tập hồi ký bằng tiếng Việt, bìa in ba thứ tiếng: Pháp (Voyage au Tonkin en 1876), Việt (Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi (1876)) và Hoa. Chuyến thứ hai đánh dấu bằng nhiều thư từ trao đổi giữa Trương Vĩnh Ký và một nhân vật quan trọng bậc nhất của Pháp lúc bấy giờ là Tổng Trú sứ Paul Bert.

Vấn đề đặt ra cho những người tìm hiểu các chuyến đi quan trọng này của nhà học giả là mục tiêu chính của chúng.
Tại trang đầu tiên của tác phẩm Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi, người ta đọc thấy:”Năm Ất Hợi, bãi trường tham biện vừa xong, vùng tính đi ra Bắc chơi một chuyến cho biết. Trong bụng muốn cũng đã lâu; nên xin với quan trên (đây ám chỉ thực dân Pháp-LN), nhơn diệp (sic) chiếc tàu Duchaffaud đi mà đi. Về sấm (sic) hòm rương áo quần. Rủ thầy ba Hớn với ông sáu Thìn, nguyên một người ở tỉnh Bắc Ninh, một người ở Sơn Tây mà vào trong Nam kỳ đã lâu, đi theo trước là cho có bạn, sau nữa là cho họ về thăm quê quán….”

Như vậy theo tinh thần đoạn mở đầu, Trương Vĩnh Ký thực hiện chuyến Bắc hành lần thứ nhất nhằm “chơi một chuyến cho biết”, nói chung là một chuyến du hành “phi chính trị”. Đến miền Bắc, ông đi nhiều nơi, từ Hà Nội, Hải Phòng đến Hải Dương, Thanh Hóa…Ở đâu, ông cũng được tiếp đón một cách trọng thị. Các công sứ Pháp và các đại thần như Tổng đốc Hà Nội Trần Đình Túc, Tổng đốc Hải Dương Phạm Phú Thứ, Tuần phủ Nguyễn Tăng Doãn …đã dành cho ông những cuộc hội kiến thú vị.

Tuy nhiên, qua những gì diễn ra trong và sau chuyến đi, nhiều người tin rằng đó không phải là một chuyến du hành suông.
Pétrus Ký được hưởng lương trong suốt thời gian 3 tháng du hành và khi về, ông đã lập một báo cáo chi tiết dài 8 trang đề ngày 28.4.1876 gửi Thống Đốc Nam kỳ Duperré (về Pháp từ tháng 2 đến tháng 7.1876) thông qua viên Tham mưu trưởng Regnault de Premesnil. Báo cáo mở đầu bằng câu: “Tôi hân hạnh gửi đến ông bản báo cáo mà ông đã yêu cầu ở tôi về tình hình chính trị Bắc kỳ, nơi tôi vừa đến thăm..” (Jean Bouchot-Sđd-trang 34). Sau đó, Trương Vĩnh Ký trình bày một cách thật chi tiết hành trình của ông trong ba tháng ở miền Bắc, những nơi ông đã đến, những người ông đã gặp, trong đó có đoạn viết:”Các quan lại thường hỏi tôi xem nước Pháp có ý định xâm chiếm xứ sở này không. Tôi đã trả lời rằng không và tôi đã dựa điều tôi nói vào thỏa ước hòa bình và thương mại, vào những lợi ích mà họ (người Pháp-LN) đảm bảo cho An Nam….” (Jean Bouchot-Sđd – trang 39).
Nhiều chi tiết khác nữa cho thấy báo cáo ngày 28.4.1876  không phải là câu chuyện kể của một du khách độc lập, mà là bản tường trình của một viên chức chính quyền cho cấp trên về một số vấn đề chính trị. Điều này được chính Jean Bouchot thừa nhận trong tác phẩm dẫn trên, nhất là khi ông liệt kê những gì liên quan đến một Trương Vĩnh Ký có mối quan hệ chặt chẽ với nhà nước thuộc địa: năm 1872 được phong Huyện hạng nhất với mức lương 2.400 franc/năm, phụ trách các lớp dạy ngôn ngữ Đông phương với mức lương 9.000 franc, được bổ nhiệm làm thành viên Ủy ban tối cao giáo dục….

**
Trong hình ảnh có thể có: 1 người
HỌC GIẢ TRƯƠNG VĨNH KÝ



Chuyến Bắc hành lần thứ hai của Trương Vĩnh Ký có liên quan đến một nhân vật cao cấp của chính quyền thực dân mà ông đã gặp trong chuyến tháp tùng sứ bộ Phan Thanh Giản năm 1863. Đó là Paul Bert, người từng giữ chức vụ Bộ trưởng trong chính phủ Pháp.
Ngày 27.1.1886, Tổng thống Pháp ban hành sắc lệnh thành lập chế độ bảo hộ ở Trung và Bắc kỳ, và bốn ngày sau, đề cử Paul Bert làm Tổng Trú sứ (Résident général) hai miền này. Nhân vật này sinh ngày 17.10 1838 tại Auxerre (Pháp), là nhà sinh vật học, môn sinh nhà bác học Claude Bernard, đến năm 1868, đã thay chân Bernard tại Collège de France. Vào thời đó, Paul Bert đã là tác giả các công trình nghiên cứu về ghép cơ thể loài vật, về thuốc mê…Sau năm 1870, trong lúc vẫn tiếp tục việc nghiên cứu khoa học, ông ta bước vào chính trường, làm đại biểu Quốc Hội năm 1872, Bộ trưởng giáo dục những năm 1881-1882 .

Paul Bert đến Sài Gòn vào tháng 2 năm 1886, và người Việt Nam đầu tiên mà ông ta nghĩ đến là Trương Vĩnh Ký. Việc trao đổi thư từ bắt đầu diễn ra, Paul Bert đến thăm gia đình nhà học giả Việt Nam.
Ngày 8.4.1886, ông ta trở ra miền Bắc, thực sự nhận nhiệm vụ Tổng Trú sứ Bắc và Trung kỳ. Tuy khoảng thời gian ở Việt Nam thật ngắn ngủi, nhưng Paul Bert đã miệt mài làm việc, thực hiện được nhiều điều trong cương vị đầy khó khăn của mình. Ông ta thành lập các tòa công sứ, một hệ thống tổ chức mới mẻ, giúp củng cố chế độ cai trị ở cấp tỉnh, thành.
Vốn là nhà khoa học, trong tổ chức hoạt động của các tòa công sứ, ông ta rất chú trọng đến vấn đề vệ sinh. Nhờ một hệ thống thuế quan khéo léo, ông ta du nhập vào Bắc kỳ nhiều sản phẩm từ chính quốc (Pháp) mà không làm rối loạn thói quen sử dụng hàng châu Á của người bản xứ.
Các mỏ than, đường sắt, việc vận tải đường sông nhờ có Paul Bert mà trở nên nhộn nhịp hẳn lên. Ông ta đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục, đích thân giám sát các kỳ thi…
Đối với triều đình Huế, Paul Bert áp dụng chế độ bảo hộ thực sự, để cho triều đình có một sự tự do rộng rải để hoạt động, từ chối việc đặt một viên đại diện chính phủ Pháp tại Viện Cơ mật.
Ngày 10.6.1886, thể theo yêu cầu của ông ta, vua Đồng Khánh phải chia sẻ quyền hành cho một viên kinh lược tại Bắc kỳ. Người đầu tiên đảm trách chức vụ này là Nguyễn Hữu Độ. Để đảm bảo hơn nữa sự hữu hiệu trong chính sách của mình, Paul Bert muốn đặt hẳn một người Việt Nam thân cận với ông ta tại triều đình Huế. Người này sẽ theo sát mọi hoạt động của nhà vua, giúp đỡ nhà vua, theo cách mà chính quyền thực dân muốn.
Cần xác định rõ là vào thời kỳ Paul Bert đến Việt Nam (đầu năm 1886), trong bộ máy cai trị của Pháp, có hai chức danh không thống thuộc nhau, cho dù không ngang nhau về mặt hệ cấp. Đó là chức danh Thống đốc Nam kỳ (Gouverneur de la Cochinchine) và chức danh Tổng trú sứ Trung và Bắc kỳ, hay còn gọi là Toàn quyền Lưỡng kỳ (Résident général du Tonkin et de l'Annam). Viên Tổng trú sứ chịu trách nhiệm việc cai trị Trung và Bắc kỳ, còn viên Thống đốc chịu trách nhiệm riêng thuộc địa Nam kỳ.
Chỉ đến ngày 16.11.1887, sau khi Constans đến Việt Nam nhậm chức Toàn quyền Đông dương đầu tiên thì sự chỉ huy thống nhất ba miền Nam-Trung-Bắc mới thực sự nằm trong tay viên Toàn quyền.
Chính vì thế, trong thời gian còn ở Sài Gòn, chờ ra Bắc nhậm chức Tổng Trú sứ Bắc và Trung kỳ (dưới đây gọi tắt là Tổng trú sứ), Paul Bert phải đạt được sự thỏa thuận của Soái phủ Nam kỳ trong việc tạm sử dụng Trương Vĩnh Ký cho kế hoạch mà ông ta đã vạch ra.
Điều này gần như chỉ có tính hình thức, bởi vì quyền lợi của bọn thực dân thì ở đâu cũng vậy, miễn là có lợi cho họ.
Ngày 22.3.1886, Paul Bert gửi cho Trương Vĩnh Ký một lá thư nêu rõ hai việc: nhờ họ Trương lập danh sách những người có khả năng thông dịch tốt để sau này bố trí cạnh các tòa trú sứ của ông ta; mời vợ con ông Ký cùng đi với ông Ký (và Paul Bert) ra Huế. Năm ngày sau (27.3), họ Trương phúc đáp cho Paul Bert, nêu rõ việc đã lập xong danh sách thông ngôn và nêu lý do vợ con không thể tháp tùng ông được (Jean Bouchot-Pétrus J.B.Trương-Vỉnh-Ký (1837-1698) Editions Nguyễn Văn Của-Saigon-1927-trang 54-56).
Trong thư trên, Trương Vĩnh Ký có viết câu:”…tôi sẵn lòng đi với Ngài cùng vài thân hữu đáng tin cậy, trong một sứ mạng tạm thời để rồi sau đó, âm thầm quay lại nghề Nho, như ông Cincinnatus đã quay lại với cái cày của ông ta vậy…” (Sđd-trang 56)

Những ngày đầu tháng 4 năm 1886, Paul Bert và Trương Vĩnh Ký đã có mặt ở Huế. Chính sử triều Nguyễn viết về sự kiện này như sau: “Đại thần nước Đại Pháp là Bôn Be sang làm toàn quyền đại thần. Viện Cơ mật tâu nói: Tục các nước phương Đông, phương Tây, phần nhiều vụ lấy danh tiếng; cho nên các bậc sĩ phu học rộng, đi đến nước nào, phàm được dự tuyển vào địa vị thanh cao trọng yếu, thì lấy làm vẻ vang….Vua bèn chuẩn cho tôn toàn quyền đại thần Bôn Be làm Hàn lâm viện trực học sĩ, và ẩn sĩ trong Nam là Trương Vĩnh Ký (người Gia Định đi theo Toàn quyền đến) làm Hàn lâm viện thị giảng học sĩ…” (Đai Nam thực lục chính biên-tập XXXVII-NXB Khoa học xã hội-Hà Nội-1977-trang 147-148).
Xét về mặt phẩm cấp, chức danh Trực học sĩ của Paul Bert cũng chỉ vào hàng chánh tam phẩm, trong khi theo qui định, chỉ riêng viên Khâm sứ Huế (địa vị nhỏ hơn Tổng Trú sứ Bắc và Trung kỳ) đã xếp ngang Thượng thư, trật Chánh nhị phẩm rồi. Còn chức danh của Trương Vĩnh Ký cũng chỉ ở vào hàng tòng tứ phẩm. Sau khi để Trương Vĩnh Ký ở lại Huế, Paul Bert ra Bắc và chính thức nhậm chức vào ngày 12.4.1886.

Điều mà chúng ta cần tìm hiểu là nhà học giả họ Trương đã nhận những nhiệm vụ gì của Paul Bert trong thời gian ở Huế. Trước tiên có thể khẳng định rằng cho dù chỉ là một quan lại hạng trung, nhưng với tư cách một người thừa ủy nhiệm của Tổng trú sứ Pháp, Trương Vĩnh Ký được vua Đồng Khánh đối xử hậu hơn nhiều so với những bạn đồng liêu cùng cấp. Trong thời gian ở Huế, vị học giả Việt vẫn thường xuyên trao đổi thư từ với Paul Bert.
Nội dung bức thư đề ngày 17.6.1886 của Trương Vĩnh Ký hé lộ đôi điều về những việc Paul Bert muốn ông thực hiện. Thư có đoạn viết: “Hiện nay tôi đã đỡ (bệnh) rồi, tôi ở lại đây; tôi sẽ nghiên cứu người và việc, làm thế nào để khi nhà vua trở về, chúng ta có thể bước vào giai đoạn tổ chức và thực hiện những chuyển đổi cần thiết, với một nhân sự xứng tầm với nhiệm vụ. Tôi sẽ loại bỏ tất cả những kẻ được sủng ái và sẽ giúp nhà vua, sắp xếp Viện Cơ mật với những người thực sự có năng lực….
Tái bút: Nhà vua đã đi sáng nay. Các ông Touté và Halais đến trễ vài giờ, sẽ cùng với ông Pène đi gặp nhà vua vào tối nay, lúc trăng lên….” (Jean Bouchot-Sđd-trang 61-62).

Rõ ràng là một trong những việc quan trọng mà Paul Bert muốn Trương Vĩnh Ký giúp ông ta thực hiện là cải tổ sâu rộng thành phần nhân sự của triều đình Huế. Việc này thành hay bại và ảnh hưởng ra sao, sẽ đề cập đến ở phần cuối bài này. Tuy nhiên, qua nội dung bức thư có thể thấy là vua Đồng Khánh đã rời kinh đô đi Quảng Bình ngày 17.6.1886, đúng vào ngày 16 tháng 5 âm lịch như bộ Quốc triều chánh biên đã ghi (Sđd-trang 422) để kêu gọi vua Hàm Nghi quay về và các tổ chức nghĩa quân giải thể.
Điều cũng khá rõ là trong lúc nhà vua xuất hành thì Trương Vĩnh Ký ở lại triều nội.
Ngày 29.6.1886, Paul Bert viết cho Trương Vĩnh Ký một lá thư thật dài kể lể về chuyện đạo Thiên chúa tại Việt Nam, đồng thời cũng dành một đoạn để biện minh cho chủ nghĩa thực dân và trong phần cuối, đã nhờ vị học giả “phủ dụ” giới nho sĩ Cần vương đừng chống lại “nhà nước Đại Pháp” :  “Để tóm tắt lá thư thật dài này, tôi muốn nhờ ông làm cho những bằng hữu theo Nho học, những nho sĩ tài năng của Việt Nam biết rằng trong việc thi hành hòa ước, họ không phải sợ mất đi phẩm cách, tự do, quyền lợi. Thay vì chạy vào rừng kích động những nông dân nghèo tự giết nhau và phá hoại, họ nên hợp tác với tôi vì sự thịnh vượng của xứ sở họ”. (J. Bouchot Sđd-trang 67).
Như vậy, Paul Bert cũng muốn Trương Vĩnh Ký phủ dụ các nhân sĩ yêu nước đang theo phong trào Cần vương kháng Pháp. Ngày hôm sau, 30.6.1886, ông ta lại gửi tiếp cụ Trương một lá thư ngắn nêu rõ: “Tôi buộc lòng phải nhờ ông đặc biệt chăm sóc việc học cho Ngự đệ (không rõ là ai –LN). Tuyệt đối phải dạy ông ta học chữ Pháp. À, phải chi ông có thể khuyên nhà vua cũng làm như thế (học tiếng Pháp – LN). Liệu ông có thể nói trực tiếp với Ngài được không…” (J. Bouchot-Sđd-trang 67).

Như vậy, có thể tóm lược sứ mạng được Paul Bert giao cho Trương Vĩnh Ký có ít nhất ba điểm quan trọng:
- Cải tổ bộ máy nhân sự của triều đình Huế, có lẽ theo thâm ý của Paul Bert là đưa những kẻ chủ hòa lên thay những quan lại “chủ chiến”.
- Chiêu dụ giới nhân sĩ đang hoạt động trong phong trào Cần vương.
- Dạy cho vua Đồng Khánh và em trai học chữ Pháp.

Trong lúc tại Huế, Trương Vĩnh Ký thu phục được cảm tình của vua Đồng Khánh thì ở Hà Nội, Paul Bert cũng cải tổ sâu rộng bộ máy thuộc địa, đặt ở mỗi tỉnh một tòa trú sứ. Sự làm việc năng nổ tác hại lên sức khỏe ông ta. Trong một chuyến đi vượt đèo Hải Vân cùng với viên Chánh văn phòng là Klobukowski (sau này làm Toàn quyền Đông Dương –1908-1910) và vài người khác nữa, ông ta đã bắt đầu mang mầm bệnh sốt rét.
Trở về Hà Nội, ông ta vẫn lao vào công việc: đi thăm chùa Quảng Đông, nhận lời mời của quan Kinh lược, cùng nhiều việc khác nữa. Bác sĩ Grall (sau này được lấy tên đặt cho một bệnh viện ở Sài Gòn, nay là bệnh viện Nhi đồng 2) nhiều lần khuyên ông ta phải giữ gìn sưc khỏe, nhưng xem ra lời khuyên này không có mấy tác dụng. Hai ngày sau khi đến nhà Kinh lược sứ Nguyễn Hữu Độ, Paul Bert lại đi Kẻ Sở, sau đó về Nam Định, chủ trì kỳ thi Hương. Lần này bệnh trở nặng khiến ông ta phải tức tốc quay lại Hà Nội, ra lệnh cho Klobukowski gửi điện tín về Pháp, yêu cầu Bộ thuộc địa cử người kế nhiệm.

Ngày 11.11.1886, Paul Bert thở hơi cuối cùng, có người thân đứng vây quanh. Ông ta chỉ làm Tổng Trú sứ hơn 6 tháng, nhưng những gì ông ta làm được đã khiến cho nhiều người nhớ tới. Tên ông ta được dùng đặt cho nhiều con đường ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn… 

Trước ngày Paul Bert tạ thế, Trương Vĩnh Ký đang nghỉ phép tại Sài Gòn, ngày 4.11.1886 còn gửi cho viên Tổng Trú sứ một lá thư. Trước đó khá lâu, ngày 27.9.1886, ông gửi cho vua Đồng Khánh một thư bày tỏ tình cảm và không quên nhắc nhà vua “học chữ Đại Pháp”…Tiếng là về Sài Gòn để lo việc gia đình và dưỡng bệnh, kỳ thực thông qua thư từ, Trương Vĩnh Ký để lộ tâm trạng bất an trước thái độ của người chung quanh khi ông còn ở cạnh vua Đồng Khánh. Điều này được Khổng Xuân Thu, tác giả quyển Trương Vĩnh Ký 1837-1898 (NXB Tân Việt – Sài Gòn –1958) phát hiện khi sưu tầm tư liệu tại Tổng thư viện Pháp, trong đó có tài liệu của bác sĩ Léon Gautier, bạn thân của văn hào Victor Hugo, viết về Trương Vĩnh Ký. Tài liệu này có đoạn đáng chú ý sau: “Những năm về sau, tiên sinh trao đổi thư từ với các nhà văn hóa Pháp càng thưa thớt dần, và chỉ toàn những lời bi quan, yếm thế, hay nói cho đúng hơn, chỉ là những lời thanh minh, bày tỏ ẩn khuất, bất mãn của mình mà thôi. Theo như dư luận của các nhà cầm quyền cho hay thì trong giai đoạn sau này, Trương tiên sinh gặp nhiều trở ngại về đường chính trị của mình. Có nhiều người dèm pha, muốn tranh giành địa vị của tiên sinh (khi được sung vào Cơ Mật vụ giúp cho nhà vua An Nam – đây có ý nói vua Đồng Khánh đã hết sức sức tin dùng Trương Vĩnh Ký). Hoặc giả cũng có kẻ cho rằng Trương tiên sinh không trung thành với nước nhà….” (Khổng Xuân Thu – Sđd-trang 139).

Quả thật, có thể mấy tháng cộng tác với Paul Bert và hiện diện ở Huế đã gây ra trong lòng vị học giả một cú sốc. Vì thế, cho dù vua Đồng Khánh hết mực ưu ái, ban cho ông một bức thư dài (sau được con ông là Trương Vĩnh Tống dịch ra thành 234 câu thơ), sau khi Paul Bert qua đời, ông cố tình ở lại Sài Gòn, không ra Huế nữa, tiếp tục nghề dạy học cũ.

Theo Bouchot, từ năm 1890, Trương Vĩnh Ký gần như nghỉ hẳn công việc chính quyền, chuyên tâm nghiên cứu, viết sách, ông dịch quyển tự điển Littré, tác giả là một người quen biết cũ, đến chữ cheval thì qua đời (1.9.1898). Bài Tuyệt mệnh thi của ông nói lên nỗi trăn trở của nhà học giả trong những năm cuối đời, sau những đóng góp to lớn cho nền học quốc ngữ, đồng thời trong mối quan hệ với thực dân Pháp, tiêu biểu là trường hợp Paul Bert kể trên. Đọc hai câu cuối trong bài thơ tuyệt mệnh của tiên sinh, lòng người đọc không khỏi ngậm ngùi:

Cuốn sổ bình sanh công với tội,
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai



**************************

-Chú thích: (*) Xin nhấn mạnh là Trương Vĩnh Ký (cùng Tôn Thọ Tường) đi Pháp với tư cách một viên chức trong bộ máy thuộc địa của Pháp tháp tùng sứ bộ Phan Thanh Giản chứ không phải là nhân viên cơ hữu của sứ bộ như nhiều tác giả đã lầm tưởng.

LÊ NGUYỄN
24.11.2013
........../.


...nước Nga hiện đang thua cuộc


Blogger Nga: Chiến tranh thế giới thứ ba đã bắt đầu, và nước Nga hiện đang thua cuộc.




***

Chiến tranh thế giới thứ ba – đó không phải là bụi tro phóng xạ hay laser vũ trụ, mà đó là sự cạnh tranh giữa các quốc gia giành tầm cao trí tuệ, một blogger người Nga tên là Ilya Varlamov đã chia sẻ như vậy trong một bài viết với tựa đề “Tại sao Nga thất bại trong cuộc chiến với Mỹ”.


Theo nhận xét của Varlamov, sẽ không có một Elon Musk hoặc Steve Jobs trong tương lai muốn phát triển một dự án mới của mình tại Nga, bởi vì “bất cứ lúc nào, tất cả mọi thứ đều có thể bị xóa sổ lập tức bởi con ma cà rồng điên khùng FSB (Tổng cục An ninh Liên bang)”. Dưới đây là nội dung của bài viết:
Trước đây chiến tranh nổ ra vì sự tranh giành lãnh thổ, trong thế kỷ XX cuộc chiến chủ yếu về tàng trữ các nguồn tài nguyên và nhiên liệu. Cuộc chiến trong thế kỷ XXI sẽ là cuộc chiến tranh giành trí tuệ, và hiện chúng ta đang bị thất bại. 
Hãy nhìn nhận một cách trung thực: hoàn toàn không quan trọng khi thâu tóm bán đảo Crimea, và cũng chắng hề có ý nghĩa lớn lao nếu ông Putin buông hoặc giữ chặt quần đảo Kuril. Thậm chí nếu một ngày mai chúng ta lấy lại vùng Alaska cũng sẽ chẳng có gì thay đổi mang tầm chiến lược. 
Cuộc khủng hoảng gần đây đã cho thấy rõ, dầu và các nguồn dự trữ khác đã không phải là quá quan trọng. Đúng, chúng ta đã có rất nhiều tài nguyên, nguồn dự trữ lớn, nhưng để làm gì? Khi đói thì bánh mì cũng không thể phết bằng dầu? Giá dầu sụt giảm là tất cả chấm hết.

***

“Trong thế giới hiện đại ngày nay, đất nước chiến thắng là đất nước tạo ra được những điều kiện tốt nhất cho công việc và cuộc sống”.







Tác giả, blogger Nga: Ilya Varlamov

Tác giả, blogger Nga: Ilya Varlamov


Trong thế giới hiện đại hôm nay, đất nước chiến thắng là đất nước tạo được những điều kiện tốt cho công việc và cuộc sống. 
Một con người hiện đại, năng động và có học thức thì độ rào cản văn hóa sẽ thấp. Trong thế kỷ XIX và ngay cả trong thế kỷ XX, việc di chuyển đến một đất nước khác quả là một việc nghiêm trọng và đầy khó khăn. 
Nhưng ngày nay, đó chỉ còn là một chuyện vô cùng đơn giản, nhất là đối với giới trẻ thì đó là một vấn đề rất bình thường. Những công nghệ hiện đại, thông tin kết nối đã làm cho bạn cảm thấy thoải mái như đang ở nhà khi đang ở hầu như bất cứ nơi nào trên thế giới. 
Bạn không bị mất liên lạc, thông tin với người thân, bạn bè. Thậm chí gọi xe taxi ở Moscow hay New York đều sử dụng cùng một ứng dụng, thưởng thức ly cà phê yêu thích trong một không gian “Starbucks” cũng giống như nhau. Hôm nay bạn nhận được lời mời làm việc tại London, cần khoảng hai lần nhấp chuột để mua vé, hai lần nhấp chuột để thu xếp chỗ ở và ngày mai là bạn đã có mặt tại nơi việc. Đối với giới trẻ, những ranh giới địa lý không còn mấy ý nghĩa. Với họ, bay tới London dễ dàng hơn đi về Omsk. Nơi nào có điều kiện tốt, họ sẽ tới.
Tôi ít liên lạc với các bạn học cùng lớp của mình, nhưng mới đây qua mạng xã hội tôi biết được những người bạn trẻ, tài năng và thông minh nhất đều đã ra đi hết. Họ đã tạo dựng công việc và cuộc sống của mình đâu đó ở châu Âu, ở Mỹ hay ở Israel. Họ ra đi, bởi vì ở những nơi đó họ có nhiều cơ hội hơn, bởi vì ở những nơi đó không có những tòa án đưa ra những phán quyết từ một cuộc gọi điện thoại. Trong số họ, một số hiện đang dẫn dắt đội tuyển quốc gia Mỹ môn trượt tuyết trên núi cao, một số người khác đơn giản làm việc trong những công ty công nghệ IT tiếng tăm, nơi tạo ra các sản phẩm mà bạn đang sử dụng hàng ngày. 
Đó là sự thất bại của nước Nga.
Tỷ phú Durov, vì có doanh nghiệp bị chèn ép đã buộc ông phải rời đất nước – đó là sự thất bại của Nga.
Sharapova, niềm tự hào quần vợt của nước Nga, nhưng sống và được đào tạo tại Hoa Kỳ, cô ta phục  vụ cho sự phát triển của nền kinh tế Mỹ – đó là sự thất bại của Nga.
Và tôi chắc rằng, bạn có thể dễ dàng biết thêm được nhiều ví dụ điển hình khác.

***

“Ngày nay, cả thế giới bay trên những chiếc máy bay của Mỹ và châu Âu, đi trên những chiếc xe hơi của Nhật Bản và Đức. Còn chúng ta? thậm chí cả cái máy cơ khí cũng không làm ra hồn”.

 

Những tổn thất nói trên thực sự ít được chú ý, nhưng nếu thua thiệt một vùng lãnh thổ thì lại làm rùng beng lên. Mất mát tài năng trí tuệ thì không được biểu hiện, nhưng những tổn thất này sẽ mang lại khó khăn hơn nhiều cho đất nước, hơn nhiều những gì các bạn đang nghĩ.
Ngày nay cả thế giới bay trên những chiếc máy bay của Mỹ và châu Âu, đi trên những chiếc xe hơi của Nhật và Đức. Còn chúng ta? thậm chí cả cái máy cơ khí cũng không làm ra hồn.

Vâng, có lẽ các bạn sẽ không nhìn thấy rõ hết vấn đề, nhưng hãy xem xét bất kỳ một công nghệ sản xuất hiện đại nào đó, và bạn sẽ không nhìn thấy một máy móc sản phẩm của Nga. Một lần tôi nói chuyện với một phó giám đốc của một nhà máy quốc phòng của chúng ta, thời điểm đó chúng ta đang bị phương Tây trừng phạt, và hiểu được rằng: “Điều tồi tệ nhất không phải là chúng ta bây giờ không thể vay vốn từ các ngân hàng nước ngoài, nguồn tiền chúng ta có thể tìm ra được. Nhưng điều tồi tệ nhất là chúng ta đánh mất cơ hội, mất thời gian, không kịp mua những máy móc công nghệ chính xác cao. Thiếu những thứ này, chúng  ta không thể sản xuất được những vũ khí hiện đại”.

Tất cả những điều này là thực tế.


***

“Không ai muốn đầu tư kinh doanh ở Nga, bởi có thể một ngày đẹp trời con ma cà rồng điên khùng từ cục giám sát liên bang hay FSB đến và thổi bay sự nghiệp của họ”.

 

Hôm qua một nữ nhà báo gọi điện cho tôi và hỏi tôi rằng, tôi đã nghĩ ra được thêm trò gì tiếp theo chưa. Thật vớ vẩn, chính quyền muốn kiểm soát toàn bộ tin nhắn, trang web và những ý kiến bình luận của người dân. Tôi nghĩ rằng, sắp tới sẽ liên tiếp có những nhóm bạn trẻ, tài năng, dám nghĩ dám làm, những người yêu nước Nga, muốn được sống và làm việc tại đây, nhưng họ phải thu xếp hành lý ra đi và cống hiến cho Mỹ hay châu Âu. Bởi vì nếu đầu tư, phát triển kinh doanh ở Nga, có thể một ngày đẹp trời con ma cà rồng điên khùng  từ cục giám sát liên bang hay FSB sẽ đến và đóng cửa toàn bộ. Và không ai muốn như vậy.
Chẳng phải tự nhiên vậy, bởi vì đất nước hiện nay có những thẩm phán như Serebryannikova tòa án quận Chernojarsky tỉnh Astrakhan đã ký lệnh phong tỏa bách khoa toàn thư Wikipedia vì một bài viết vô tội. Có một Cục giám sát Liên bang Roskomnadzor chuyên đe dọa và ngăn chặn các dự án, trang web, nơi mà hàng triệu người đang sử dụng hàng ngày. Và vì thế, ở một nơi nào đó tại đất nước xinh đẹp này, những Elon Musk hay Steve Jobs tương lai đã tìm được câu trả lời cho băn khoăn: “tôi có nên phát triển một dự án mới ở Nga hay không?”.

***

“Tôi không nhìn thấy đất nước của tôi làm những điều khiến những con người tài năng, những bạn trẻ thông minh muốn sống và làm việc ở đây”.

Tất cả các nước phát triển đang cạnh tranh nhau để thu hút nguồn tài năng có trí tuệ. Ngay cả Trung Quốc cũng đã gia nhập cuộc đua này. Tôi không muốn kết luận bằng một kết cục buồn, nhưng hiện tôi không nhìn thấy đất nước của tôi đã làm được điều gì khiến nhưng con người tài năng, những bạn trẻ thông minh muốn sống và làm việc ở đây. Tôi đang nói về những con người tài năng và trí tuệ, họ có những phát minh mới, làm ra những sản phẩm mới, đưa những tên lửa lên vũ trụ, phát triển kinh doanh phục vụ cuộc sống của chúng ta.
Ai đó đang đe dọa bạn rằng sắp nổ ra một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba? Bạn tưởng tượng nó như thế nào? Bụi tro phóng xạ? Tia laser vũ trụ?
Không phải vậy!
Cuộc chiến tranh thế giới thứ ba đã bắt đầu rồi. Đây là cuộc chiến tranh giành trí tuệ, và hiện chúng ta đang thất bại.
.
Mika Lê|kygia.net
(Theo http://gordonua.com)



..../.

“VĂN MINH”



“VĂN MINH”



 https://www.facebook.com/nguyen.manhkim/posts/10155258555764796

******


Đọc cái gọi là “bộ quy tắc ứng xử” của thành phố “ngàn năm văn vật” chỉ thấy nực cười, không phải vì một số quy định kỳ lạ mà là sự mỉa mai nằm trong bản chất sự việc. Cái cây văn hóa một thời bị đốn chặt không thương tiếc, đến mức cái gốc cũng thối ruỗng, giờ lại lượm lặt vài chiếc cành khô và trưng ra rồi gán cho nó là “văn hóa” và gọi đó là “những quy tắc ứng xử cơ bản”!

Câu chuyện này khiến nhớ lại thời điểm Trung Quốc chuẩn bị Thế vận hội 2008, khi cả nước Trung Quốc giương cao khẩu hiệu “người người văn minh, nhà nhà văn minh”.

Hệt như mọi phong trào khác của đất nước cộng sản sống với “văn hóa tuyên truyền” và “văn hóa cổ động”, “sống văn minh” cũng được xây dựng thành “phong trào thi đua” để “đón chào Thế vận hội”. Không bạ đâu khạc đó, không vứt rác lung tung, không thụi cùi chỏ vào mặt nhau khi tranh cãi… là vài trong số “quy tắc ứng xử” được Trung Quốc phát động. “Giới chức văn hóa” gọi đó là sự “điều chỉnh “phần mềm” văn hóa công cộng”.

Chiến dịch được thực hiện đồng bộ tại khắp thành phố lớn, từ các khóa dạy ngắn trên truyền hình, biểu ngữ tuyên truyền đến các cuộc “thi ứng xử” tại nhiều địa phương…
Các chương trình trò chuyện truyền hình, kịch, tiểu phẩm hài – tóm lại là nhiều hình thức phương tiện truyền thông – đều được tận dụng để dạy dân chúng sống lịch sự hơn, từ cách đi đứng-xếp hàng nơi công cộng đến việc dùng điện thoại. Nhiều đại học cũng tổ chức thi ứng xử; biểu ngữ tuyên truyền được dán khắp làng mạc; và bà con chòm xóm được khuyến khích tham gia cuộc thi “cộng đồng văn minh”.

“Ăn uống cho phải phép cũng là một vấn đề lớn” – theo giáo sư Ge Chenhong – “Dân Trung Quốc có thói quen húp xì xụp, không hề biết định nghĩa cái khăn lót là gì, nhổ xương toèn toẹt lên bàn hoặc xuống sàn. Cách đây 20 năm thì không sao nhưng bây giờ thấy kỳ lắm!”.

“Ở đây, bạn có thể thấy những người mới hôm qua còn chưa có cái ăn mà hôm nay đã là triệu phú” – lời kể của June Yamada, hiệu trưởng một trường dạy nghi thức giao tiếp và ứng xử, tác giả quyển "Hãy nói như thế này, bạn nhé!" – “Họ có được ăn học đầy đủ hồi nào đâu nhưng họ có tiền. Vì vậy, họ vẫn tiếp tục quên đi tắm trong ba ngày”!

Trước đó, mùa hè 2005, chính quyền Bắc Kinh thực hiện “tháng giáo dục ứng xử trong công ty” trong khuôn khổ chiến dịch văn minh thực hiện toàn quốc. Hơn 100.000 công nhân phải tham gia khóa huấn luyện cách cười; vận vớ sạch khi đến công sở; vệ sinh cá nhân tươm tất... Tháng 5-2007, nhân viên “Phòng văn minh tinh thần Bắc Kinh” (có cả một cơ quan như thế!) túa ra đường phố để phát tờ rơi và kêu gọi bà con chấm dứt khạc nhổ bừa bãi.

Trong 7 ngày, người ta phát 100.000 túi nhổ nhưng gần như rất ít người xài. Vào ngày 11 hàng tháng, nhân viên tuyên truyền văn hóa xuất hiện tại nhiều địa điểm công cộng, cầm cờ vẫy, kêu gọi mọi người… xếp hàng trật tự…

Thế nhưng rồi sao? Sau ngần ấy thời gian được “điều chỉnh phần mềm văn hóa”, người dân nói chung và du khách Trung Quốc nói riêng vẫn “nổi tiếng” với những hành vi kinh khủng của họ.

Trung Quốc vẫn tiếp tục “khủng hoảng văn hóa” ở nhiều mặt. Reuters (27-12-2016) cho biết, Trung Quốc chuẩn bị thực hiện cái gọi là “cuộc cách mạng nhà vệ sinh” với dự án xây mới hoặc “cải tạo” 100.000 nhà vệ sinh công cộng. Những ai từng đi du lịch Trung Quốc hẳn có thể “cảm nhận” “sự khác biệt” của nhà vệ sinh công cộng nước này như thế nào (tôi là… một “nhân chứng”!).

Văn hóa không thể xây dựng từ những chiến dịch tuyên truyền, đặc biệt khi mà văn hóa đã bị đốn trốc gốc, khi nhận thức văn hóa đã bị uốn nắn lệch lạc. Không thể xây căn nhà khi mà cái móng đã mục rữa.

Văn hóa là dựng người.

Văn hóa không thể đến từ những “mô hình” mang tính hình thức như “khu phố văn hóa” hoặc “làng văn hóa”. Văn hóa cũng khó có thể trở thành một nếp sống đàng hoàng lâu dài, nếu nó được thực hiện như một cách “đối phó thời vụ” qua các chiến dịch “thi đua”; và khi “phản xạ có văn hóa” đã dần bị triệt tiêu.

Để kiến tạo lại một nền văn hóa xuống dốc, điều cần làm là tìm hiểu nguyên nhân khiến nó suy đồi và sửa lại từ đó, chứ không phải tạo ra cái gọi là “bộ quy tắc ứng xử”.

Điều đó cũng giống như tưới vài giọt nước cho một cái cây khô mục đã chết.

Giáo dục và xây dựng căn bản đạo đức mới là những viên gạch cần thiết để dựng ngôi nhà văn hóa.


Hơn nữa, “phần mềm văn hóa” không có giá trị gì nếu bản thân “hệ điều hành” không có văn hóa.

............./.

...... BÀ TÁM, ÔNG TÁM





BÀ TÁM, ÔNG TÁM VÀ CÁI NÍU TAY GIỮA CHỢ...




***



Nói ngay, bà Tám (Nguyễn Thị Tám) là má chồng tôi, dân Sài Gòn gốc Long An- một bà cụ 80 tuổi bình dị như rất nhiều bà cụ Việt Nam đang sống ở Orange County này. Còn ông Tám - Lý Lược Tam ở Chợ Mới An Giang là nhà nghiên cứu Nam bộ vừa qua đời hồi giữa năm nay, thọ 86 tuổi. Tôi quen bà Tám (dĩ nhiên rồi) nhưng không quen ông Tám, chỉ biết ông qua sách báo. Ông Tám- bà Tám cũng chẳng biết nhau- nhưng với riêng tôi thì họ vẫn luôn là những cái níu tay của cảm giác quê nhà nơi phố chợ này- nhất là mấy độ Tết về...






Tết về mà không có bà Tám- (tức bà Nội mấy đứa nhỏ, tức cô Tám dì Tám của đại gia đình nhà chồng tôi) thì ắt là chưa Tết. Bởi không có bà Tám lấy ai đủ uy tín hô hào tập hợp lũ lượt con cháu tụ về khi Monterey Park, khi Garden Grove, lúc Huntington Beach bên nhau xì xụp, cuốn trộn, thịt kho dưa giá, canh gà nhồi hột, bánh tét bánh chưng, giò thủ dưa món... có năm vào đúng mồng Một, mồng Hai có năm tận mồng Năm mồng Sáu tùy vào năm đó Tết gần... "weekend" nào! Không có bà Tám lấy ai hối đám đàn bà con gái áo dài lên chùa, ra hội chợ, thúc đám con trai chỉnh tề áo xống để mỗi năm có được một tấm hình đoàn viên đầy đủ, đặng gửi về Sài Gòn hay "meo" qua Texas, Paris...
Không thể tưởng được năm nào cũng gần như chỉ một mình bà loay hoay với từng ấy món ăn cho mấy chục mạng lớn bé tụ về mấy ngày Tết, vừa ăn tại chỗ lại còn gói mang về. Đám con cháu cứ ngại: "Tám làm nhiều món quá, cực quá!" bà cứ cười: "Tụi bay mắc đi làm, đi học... để đó Tám làm, túc tắc mấy bữa là xong!" Nhớ có năm bà xuống nhà tôi phơi củ cải làm dưa món, nhờ ông con trai to lớn của bà vắt khô chậu củ cải thái miếng, ông con trai vắt xong mặt cũng méo luôn vì tay mỏi nhừ. Mà đó chỉ là một trong những việc nhỏ không tên của đôi tay bà mấy chục năm nay, mỗi độ Tết về.
Mà không chỉ mỗi độ Tết về, không chỉ đến hồi làm dưa món... quanh năm khi cặm cụi làm một món ăn nào đó là bà trở thành một người kể chuyện kỳ tài nối dòng ký ức Long An- Sài Gòn trầm tư , sôi nổi...
Chẳng hạn, khi dằm những con mắm cá linh (mua từ chợ Hòa Bình Garden Grove) để chuẩn bị cho nồi bún mắm, bà có thể cho tôi nhìn thấy những rặng dừa nước Thanh Vĩnh Đông- Long An quê bà, mùa nước nổi tầm tháng Chín, tháng Mười đám cá linh non đầu mùa ùa theo con nước, lội xanh mặt sông, chỉ việc đặt lọp... xúc cá về nhà. Cá linh non xương chưa cứng, bụng beo béo, đem kho mẳn, kho tiêu hay nấu canh chua so đũa... ngon hết biết. Hay lúc khèo mấy cục thịt heo làm xá xíu nấu hủ tíu mì bà sẽ nhắc tiệm mì miệt Bà Điểm trong vườn cau xanh mát nổi tiếng mì ngon mà cũng nổi tiếng vì chỉ bán cho mỗi khách một tô, ăn xong thòm thèm gọi thêm tô thứ 2 thể nào cũng bị ông chủ tiệm nạt: "Ăn cho cố rồi chê mì người ta dở!"
Bà kể chỉ có một lần hồi bầu thằng Dũng này má tới ăn ổng thấy bầu bì nên thương tình... phá lệ bán cho má thêm tô nữa! Tôi phì cười nhớ ngay cái tiêm mì Nhật Hakata Ramen ở Fountain Valley cũng nổi tiếng ngon và nguyên tắc chỉ ăn tại chỗ, không bán "to go" mang về. Phải chăng cũng là vì cái "triết lý" muốn giữ gìn sự ngon cho khách: mì ngon phải ăn ngay, chứ đem về nhà rồi lại chê mì người ta dở? Thấy những câu chuyện xưa, do người già rỉ rả kể lại, bao giờ cũng đậm như chén thuốc sắc từ trải nghiệm.
Thì cũng kiểu như việc thỉnh thoảng khi nghe tiếng chửi thề từ bàn cà phê của mấy ông già ở khu Bolsa, tôi lại nhớ- nhớ đến kỳ lạ một đoạn trong bài viết về ông Tám- Lý Lược Tam thời ông sống ở Mỹ Luông, An Giang trong sách "Sài Gòn chuyện đời của phố"(Phạm Công Luận):
"...Chiều tà, ông ra quán cà phê ngoài xóm và quan sát chợ quê. Cà phê ngàn đồng một ly, uống chung với đá bào. Vậy mà ngồi được mấy tiếng đồng hồ. Mấy ông già Nam bộ ngồi chơi với nhau hay chửi thề. Ông bảo: "Ông chủ vựa cá ngoài chợ chửi thề nghe thần sầu, chửi rất bậy nhưng thật ra ổng rất đàng hoàng. Ổng không chửi thì làm sao điều khiển được mấy bà bán cá cùng mấy mụ mua cá. Mấy bả lộn xộn và dữ lắm, nhưng đàn ông không đánh được mấy bà , nên chỉ có chửi mới giữ được trật tự!" Mấy ông già không ai nhậu nhẹt, ra quán cà phê chỉ uống cà phê hoặc trà đường vậy mà vui. Đến khuya ở xóm ông chẳng thấy nhà nào đóng cửa. Khách đang ngồi chơi với ông tự nhiên thấy một thằng nhóc lạ hoắc ngồi thu lu cạnh mình: "Ủa, mày ở đâu ra?". "Dạ con ở bên kia" Nó chỉ đâu đó dãy nhà xa xa. Xóm này chả có gì chơi, con nít thấy người lạ là luông tuồng qua nhà người này chơi người kia chơi vậy đó, chẳng ai la rầy. Dưới nhà ông chuột chạy rần rần, mèo nhảy ầm ầm, ông bảo: "Chuột nó chạy đi chơi thôi, không sao đâu, nó cũng no rồi, nhà gần chợ mà. Còn con mèo thì nó.... đi tuần, nó ngó quanh nhà mình rồi qua nhà khác, chả làm bể món đồ nào..."
Với tôi, đoạn viết này thật đẹp, cái đẹp bình yên của miền Nam một thời chỉ còn lưu lại qua ký ức của những người ở thế hệ ông Tám. Và nó ấn tượng với tôi- một kẻ hậu sinh- tựa như một cái níu tay giữa chợ chỉ vì vô tình nghe... một tiếng chửi thề!
Rồi có khi không cần nghe, tôi cảm được cả cái níu tay lúc lặng yên ngắm mấy chậu sứ chật cứng những cành mai rừng Mỹ trong chợ hoa Phúc Lộc Thọ một ngày giáp Tết. Sang đây hơn 10 năm, tôi đã quen mắt với cái dáng suông đuộc của loại mai rừng Mỹ chi chít hoa vàng rực Tết trong những ngôi nhà Việt. Tôi không rõ người Việt ở Cali bắt đầu phát hiện và đưa mai rừng Mỹ (Forsythia) xuống phố bán cho nhau chưng tết thay cho nỗi nhớ mai vàng quê nhà từ khi nào. Cái xuất xứ ấy chắc cũng chẳng khác gì chuyện đem mai rừng 5 cánh về Sài Gòn bán từ hơn nửa thế kỷ trước được kể lại trong cuộc hàn huyên một chiều 29 Tết giữa ông Tám và mấy bạn già bên lề đường Lê Công Kiều- Sài Gòn:
"...Hồi xưa người ta không có mua mai về chưng tết đâu à nghen! Chú Lý- nhân viên Ngân hàng Việt Nam Thương Tín nhớ lại... Mà phải có mấy chậu cây quan trọng là vạn thọ và mồng gà. Mồng gà sặc sỡ, vạn thọ thơm. Ai có cây mai trồng trước sân thì chăm sóc cho nở bông, nhưng chẳng mấy ai cắt cành chưng trong nhà. Đến khi người Pháp quay trở lại miền Nam sau khi thua trận Điện Biên, Sài Gòn phát triển việc kinh doanh, mới thấy người ta bắt đầu chưng mai, với mong muốn may mắn, cát tường. Mấy người lính sẵn có phương tiện xe cộ và quyền di chuyển, vào tận rừng sâu miệt Hớn Quản, Lộc Ninh, Chơn Thành chặt mai rừng về cho người nhà đem ra chợ bán. Đến giờ, nhà nào cũng chưng cành mai hoặc thuê hay đặt chăm sóc mai ở vườn rồi bưng cả chậu đặt trong nhà. Đó là điều "khác hoắc"..."*
Thời gian, sự dịch chuyển... đã tạo ra bao điều "khác hoắc"(từ Nam bộ giờ ít ai còn nói) trong cái thú chưng mai ngày Tết, khác hoắc từ thời ông Tám ông Lý đến thời con cháu bây giờ. Và khác hoắc từ Sài Gòn đến Cali: ông Tám chắc chẳng thể ngờ những gốc mai vàng 5 cánh truyền thống VN đã có mặt sum vầy và kiêu hãnh ở chợ hoa Phúc Lộc Thọ- Quận Cam này từ Tết năm kia 2014- và cũng từ Tết năm ngoái 2015 những cành mai rừng Mỹ suông đuộc- thật ngoạn mục- lại đảo ngược nhập về VN "gây sốt" cho thú chơi hoa Tết của giới nhà giàu thích của lạ ở Sài Gòn, Hà Nội! Thật là khác hoắc!
Ở tuổi này, bà Tám đã có thể bình thản với mọi sự "khác hoắc" bởi cuộc đời bà là những chuỗi đổi thay: từ cô bé chèo ghe thoăn thoắt trên sông nước Long An theo gia đình về Sài Gòn khi người cha cắm đất dựng nhà ở khu Nancy (Quận 5 giáp Quận 1) lúc nơi đây còn là vùng lau sậy, trở thành thợ may, lấy chồng sanh con, rồi chờ chồng- khóc chồng nơi trại tù cải tạo, rồi sang Mỹ một mình tần tảo nuôi dạy năm đứa con, con cái trưởng thành, giờ lo đến cháu... Bao thác ghềnh qua, bao cái Tết qua, bà vẫn là nơi níu giữ những tình thân họ tộc, giữ những phong tục thói lề cho con cháu trong đời sống bận rộn nhập gia tùy tục xứ này.
Ở một nơi ngôn ngữ khác, tập tục khác, Tết cũng khác nhưng dù "khác hoắc" thế nào thì chúng tôi vẫn luôn có được cái níu tay ấm áp từ bà để nhớ"mình là người Việt", níu thêm chút nữa:"là người Nam!" Cái núm níu bền bỉ thơm tho như mâm cúng chiều 30 Tết từ hồi bà về làm dâu ở nhà chồng cho đến bây giờ vẫn một tinh thần Nam bộ chơn chất: mâm trái cây "cầu-dừa- đủ-xoài", nồi thịt kho với miếng thịt vuông lớn cùng hột vịt tròn để cầu được sự toàn vẹn vuông tròn, tô canh khổ qua đề mong cái khổ sẽ qua, cái sung sướng tới... 
Tết đến, thử hỏi còn lời chúc nhau nào trên môi đậu xuống mâm ăn lại tương phùng như thế?
ÔNG TÁM - LÝ LƯỢC TAM

Tết đến, người ta chúc người nhỏ mau lớn còn người già thì chúc khỏe, chứ thêm Tết là thêm già, thêm già là thêm... mất. Hồi giữa năm nay, ông Tám Lý Lược Tam đã mất ở tuổi 86 nhưng bao câu chuyện về Sài Gòn xưa của ông vẫn sống động trong những trang sách. Nỗi nhớ Sài Gòn với tôi bây giờ đã kèm theo nỗi nhớ ông Tám- một người chưa từng quen biết- nhưng đã giúp tôi được làm quen với một Sài Gòn- một miền Nam thời quá vãng.
Ông từng là nghệ nhân làm gốm ở An Giang, từng gắn bó và giúp ông Vương Hồng Sển dịch tài liệu, thơ văn bằng chữ Hán trên đồ sứ cổ từ đầu thập niên 70, được ông Sển giới thiệu với ông Sơn Nam rồi trở thành thân thiết, nhiều chi tiết trong sách của Sơn Nam về Bình Dương- Lái Thiêu là từ lời kể của ông Tám, cũng như sau này là nhiều câu chuyện về Sài Gòn trong sách Phạm Công Luận, ông là người quen cũ của con đường đồ cổ Lê Cồng Kiều, là một nhà nghiên cứu gốm Nam Bộ say mê cần mẫn...
"Và trên tất cả ông như một ông đồ già vui tính, thích ngao du với một thái độ sống thật bình thản, nhẹ nhàng và khoan hòa"**
Người ta có thể biết yêu hơn, được gắn bó hơn với cái hồn vía của một nơi chốn không bằng những điều gì to tát mà chính từ những câu chuyện chậm rãi ung dung của những người lưu giữ ký ức như ông Tám, bà Tám...
Như với tôi thỉnh thoảng hay nói câu "Dở như hạch!", cứ nói ào ào mà nào biết tại sao lại "như hạch" cho đến khi được nghe câu chuyện của ông Tám thời còn là một cậu bé được đi cùng mấy người chú từ Lái Thiêu lên Sài Gòn chơi:
"... Khoảng thời gian đó (thập niên 40) có nhiều người Ấn sống ở khu trung tâm Sài Gòn gần chợ. Người Ấn gốc Bombay chuyên cho vay lấy lãi và bán vải, còn những người Hạch chuyên thức đêm làm gác cửa, gác tiệm buôn. Nhóm người Hạch gốc Hồi giáo có làn da ngăm đen giống người Ấn và làm nghề gác cửa thì rất cần mẫn. Mấy ông chú nói với Thân (tên ông Tám lúc nhỏ) là họ chỉ giỏi nghề gác cửa, chuyển sang nghề khác thì dở ẹc nên mới có câu "Dở như Hạch". Sau này Thân biết Hạch nghĩa là Hadj, đứng đầu tên của họ- nghĩa là "hành hương" trong tiếng Á Rập, nhắc đến mơ ước một đời là hành hương đến thánh địa Mecca. Và ai có chữ Hadj đứng trước tên nghĩa là đã đến đó rồi"***
Đã đến đó rồi- những thánh địa trong tâm tưởng- cũng như nơi đây vùng đất tôi đang sống, bao người đã đến và cùng sống, cùng làm việc, cùng buồn-vui và ghi- dấu- riêng- mình: người Ấn, người Việt, người Mexico, người Đại Hàn, người Nhật... Rồi ai sẽ tiếp tục kể những câu chuyện đời người như thế của hôm nay- như ông Tám bà Tám đã kể- cho mai sau, trong muôn đời của Tết, trong những trang sách sẽ được lật ra...


THÚY HÀ

____________________________
Chú thích:
*bài "Đẹp xưa" trong "Sài Gòn chuyện đời của phố" tập 1- Phạm Công Luận
**bài "Ông Tám ở phố Lê Công Kiều" trong "Sài Gòn chuyện đời của phố" tập 1- Phạm Công Luận 
***bài "Lang thang trên thành phố xưa" trong " Sài Gòn chuyện đời của phố" tập3- Phạm Công Luận


............./.