Nhà nước : Ông là ai ?





Chuyện cũ nói lại



Cao Huy Thuần







Ngày xưa, ta gọi là « Quốc gia ». Quốc gia Việt Nam. Gia là nhà, quốc là nước. Bởi vậy, ai cũng hiểu như là hiển nhiên : Quốc gia là Nhà nước. Nhà nước ấy, theo định nghĩa pháp lý mà mọi người trên thế giới thường học, gồm ba yếu tố căn bản : một lãnh thổ, một dân số, một tổ chức chính trị. Việt Nam là một Nhà nước vì Việt Nam có một lãnh thổ hình chữ S, một dân số gồm nhiều thành phần dân tộc, một chính thể đóng đô tại Hà Nội. Thế giới hiểu Nhà nước Việt Nam là vậy. Nhưng người Việt Nam hiểu như vậy thì lầm to !


Đọc Hiến pháp 1980, rồi Hiến pháp 1992, rồi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp hiện nay, « Nhà nước » trong đó không phải là Quốc gia. Không phải là... Nhà nước !

Không gồm ba yếu tố như ta thường học.
Nó là cái gì đó không chính xác, và nó không chính xác vì ngôn ngữ đẻ ra nó không phải là ngôn ngữ pháp lý mà là ngôn ngữ chính trị.
Ngôn ngữ chính trị khai sinh ra nó nằm trong Hiến pháp 1980, tức là Hiến pháp chấm dứt Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thiêng liêng của thời Tuyên Ngôn Độc Lập, chấm dứt Hiến pháp 1946 mà ngôn ngữ rất pháp lý, chính xác.
Nói lại chuyện cũ may ra hiểu được chuyện mới chăng.

Trong « Lời Nói Đầu » của bản Hiến Pháp 1980 ấy có câu chỉ đạo như sau : « Nó (tức là Hiến pháp) thể hiện mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý trong xã hội Việt Nam ».

Quái, Quốc gia Việt Nam chạy đi đâu mà bây giờ chỉ còn « xã hội Việt Nam » ? Trong cái « xã hội » ấy, « Nhà nước » chỉ còn là một trong ba thành phần, đứng đàng sau rốt, như cái đuôi con voi.

Vậy thì « Nhà nước » này đâu có phải là khái niệm pháp lý mà ai cũng hiểu ? Nó là cái gì mà vai trò được giao phó là công việc của một anh quản lý ?

Hiến pháp 1992 hiện hành và Dự thảo sửa đổi không lặp lại nguyên văn câu tuyên bố chỉ đạo ấy nữa, nhưng tinh thần là y chang, một sợi chỉ hồng ấy thôi xuyên suốt từ đầu đến cuối.

Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý.

Đảng và Nhà nước là hai.

Đảng là ai, mọi người đều thấy cụ thể. Nhưng « Nhà nước », thực thể là thế nào, có thực thể hay không, khi Quốc hội cũng là đảng viên, khi Chính phủ cũng là đảng viên, khi đâu đâu cũng là đảng viên ?

Nếu Đảng và « Nhà nước » là hai thì ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không phải là Nhà nước ? Thế tại sao khi ông đi thăm nước này nước nọ, họ tiếp ông như đại diện của Nhà nước Việt Nam ? Trong đầu của mọi người trên thế giới, ông là Nhà nước Việt Nam ! Họ trương cờ đỏ sao vàng của Nhà nước Việt Nam để tiếp ông. Ông đứng nghiêm trang nghe quân nhạc của họ cử hành bài quốc ca của Nhà nước Việt Nam. Họ đâu có tiếp « xã hội Việt Nam » ! Họ tiếp « Nhà nước Việt Nam » ! « Xã hội Việt Nam » đâu có quốc kỳ, quốc ca ? Quốc kỳ ấy, quốc ca ấy có từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập lại Nhà nước Việt Nam đã bị xóa bỏ trên bản đồ thế giới như một quốc gia độc lập.

Trước đó, vẫn có « xã hội » nhưng không có Nhà nước !

Nhà nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chữ S độc lập, một con Hồng cháu Lạc độc lập, một chính quyền độc lập trong đó đảng Cộng sản tham gia như một thành phần. Như vậy, đảng Cộng sản nằm trong chính quyền, ở trong Nhà nước, cùng với nhân dân nằm trong bụng của Nhà nước, đâu có nằm lên trên ?

Dù cho sau đó, Hiến pháp 1980 ban cho đảng Cộng sản quyền lãnh đạo, và nếu nhân dân chấp nhận quyền đó, thì đó hiển nhiên là lãnh đạo trong chính quyền, lãnh đạo chính quyền, chứ sao lại lãnh đạo Nhà nước ?

Vậy thì « Nhà nước » được đẻ ra từ 1980 không phải là Nhà nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh rồi !

Vì vậy, khái niệm lẫn lộn như chỉ rối. Chẳng hạn, khi điều 9 đoạn 2 của Dự thảo sửa đổi viết : « Mặt Trận (Tổ Quốc) cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân », chữ « cùng » trong đó thật là bí hiểm.

Sao lại « cùng » ? Nếu anh ở trong Nhà nước thì anh không thể « cùng » được. Anh chỉ « cùng » với một cái gì hay với ai là khi cái đó, người đó, ở ngoài anh, chẳng hạn anh « cùng » với vợ anh.

Vậy Mặt Trận ở ngoài Nhà nước à ?

Lại cũng chẳng hạn khi điều 29 của Dự thảo sửa đổi viết : « Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý Nhà nước... », quái, ấy là một Nhà nước hay hai Nhà nước ?

Nhà nước nào tạo điều kiện ?

Nhà nước nào được quản lý ?

Nếu là hai thì vô lý, vì làm gì có hai Nhà nước, cũng như làm gì có hai mặt trời ! Nếu là một thì lại không chính xác vì cái việc « tạo điều kiện » là việc của các cơ quan Nhà nước, của chính quyền, trong đó đáng lẽ có cả đảng Cộng sản như đã nói.

Hãy đọc lại Hiến pháp 1946 : làm gì có chữ « Nhà nước » ! Bởi lẽ Nhà nước 1946 là nước, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và trong nước ấy chỉ có một chính quyền thôi, gồm : Nghị Viện (Quốc Hội), Chính phủ, cơ quan tư pháp, Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chánh ở các cấp địa phương. Đó là các cơ quan của chính quyền Nhà nước mà Hiến pháp quy định quyền hạn và trách nhiệm cụ thể cùng các mối tương quan qua lại.

Lúc đó cũng có đảng chứ, và đảng cũng chi phối chính quyền chứ, có thể lãnh đạo nữa trên thực tế, nhưng dù lãnh đạo đi nữa, đảng cũng là một bộ phận của chính quyền Nhà nước, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lui nhắc tới hoài mãi : « Đảng ta là đảng cầm quyền ».
Cầm quyền là cầm chính quyền trong Nhà nước, chứ đâu có đặt bày ra một khái niệm « Nhà nước » mông lung rồi giao cho nó cái phận sự của anh quản lý, làm việc dưới một thế lực lãnh đạo không pháp lý hóa được và cũng không muốn pháp lý hóa vì pháp lý hóa thì hóa ra nó ở dưới luật mất rồi, đâu còn tối cao nữa !

Tất cả nhập nhằng mà ai cũng biết và cũng nói từ lâu trong quan hệ giữa đảng và « Nhà nước » là do ở chỗ ấy : dẹp bỏ ngôn ngữ pháp lý của Hiến pháp 1946 và thay vào đó hai khái niệm chính trị bằng ngôn từ chính trị : « lãnh đạo » và « quản lý ».

Chừng nào hai khái niệm chính trị ấy chưa làm đề tài để thay đổi tư duy, sửa đổi Hiến pháp chỉ là thay đổi văn bản chính trị này bằng văn bản chính trị khác, không ảnh hưởng thực sự gì đến đời sống pháp luật.

Vậy thì Nhà nước là gì, và vai trò đích thực của Nhà nước là gì ?

Phe tự do nói : Nhà nước là trọng tài.
Phe mác xít nói : là bộ máy nằm trong tay một giai cấp để bóc lột giai cấp khác.
Gác ra ngoài tranh luận lý thuyết ấy, điều chắc chắn là lúc nhân loại đang còn ban sơ thì Nhà nước chưa có. Xã hội đầu tiên của loài người chắc hẳn là xã hội gia đình. Sau đó là thị tộc, đẳng cấp, bộ lạc... Nghĩa là Nhà nước không phải là cách tổ chức chính trị duy nhất của xã hội trong lịch sử nhân loại, nhưng là cách tổ chức chính trị mới mẻ nhất, hoàn hảo nhất.

Nhà nước xuất hiện sau một quá trình tiến triển dài của những cấu trúc xã hội ; những cấu trúc này càng ngày càng trở nên phức tạp và càng được phân biệt với nhau.

Nhà nước là sản phẩm của quá trình đó. Durkheim nói như vậy.
Thuyết mác xít thì giải thích : Nhà nước xuất hiện lúc mà những mâu thuẫn giai cấp không thể dung hòa được nữa. Dưới cái nhìn này hay cái nhìn kia, Nhà nước đều xuất hiện ngay khi có một đầu não chính trị tách ra khỏi xã hội và làm nhiệm vụ tạo lập trật tự.

Trong học thuyết mác xít, quyền hành từ xã hội mà ra nhưng lại có vẻ đứng lên trên xã hội để ngăn chận không cho những mâu thuẫn giai cấp đi đến mức làm tiêu diệt cả xã hội. Trong tư tưởng Durkheim, Nhà nước là một cơ quan có lý tính, có khả năng vượt qua những lợi ích và tranh chấp cá nhân.

Dù thế nào đi nữa, bản chất của Nhà nước là thống trị, thống trị bằng cách ban hành những quy tắc mà công dân phải tuân theo, nếu không thì sẽ bị trừng trị.
Mà sự trừng trị của Nhà nước thì hiệu nghiệm lắm, bởi vì Nhà nước có độc quyền cưỡng chế bằng quân sự.
Cưỡng chế, đó là đặc tính của Nhà nước.
Lịch sử của Nhà nước là lịch sử của sự tập trung dần dà quyền hành cưỡng bức vào tay những người cai trị, và Nhà nước được đẻ ra lúc nó trở thành nguồn gốc chính đáng duy nhất của quyền lực và bạo lực.
Nói một cách khác, Nhà nước chưa bao giờ chỉ làm công tác của một anh quản lý tính sổ tính sách.
Nhà nước làm ra luật, Nhà nước ban hành luật, Nhà nước tạo ra các cơ quan để thi hành luật, Nhà nước trừng trị sự vi phạm luật, Nhà nước giải quyết những phân tranh xã hội, Nhà nước duy trì trật tự : đó không phải là quản lý, đó là cai trị, và Nhà nước nào cũng cai trị, kể cả Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Dù chỉ là trên danh nghĩa thôi, ai dám bảo Quốc hội của ta không cai trị ? Ông là « cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất » mà.
Ai dám bảo ông thủ tướng hiện nay không cai trị ? Cai trị, không có gì khác hơn là soạn luật, làm ngân sách, thảo kế hoạch, bảo vệ trật tự an ninh. Dù cho ông làm dưới sự lãnh đạo của điều 4, bản chất của công việc ông làm là chính trị, không phải hành chánh.
Dù có điều 4 đi nữa, khi ông làm những công việc có bản chất chính trị, bản chất quyền lực, bản chất cai trị rồi, thì ông không phải là anh quản lý nữa. Cho dù có lúc ông đội cái mũ quản lý, lúc nào ông cũng cai trị, hoặc là cai trị thông qua bộ máy của đảng, hoặc là cai trị thông qua bộ máy Nhà nước, hoặc là, nói cho chính xác, thông qua bộ máy của Đảng - Nhà nước. Nói Nhà nước không cai trị cũng như nói thiên lôi không có sét. Thiên lôi không quản lý sét cho ai ở trên đầu, thiên lôi đánh là đánh.

Bởi vì không có Nhà nước nào quản lý cả, bởi vì đã là Nhà nước thì là cai trị, là sử dụng quyền hành chính trị, quyền hành ý thức hệ, cho nên vấn đề cố hữu đặt ra là : Vậy thì đảng làm gì ? đảng ở đâu ? đảng « lãnh đạo » như thế nào ?

Chỉ có hai cách để giải quyết vấn đề.

Một là đảng trực tiếp nắm hẳn quyền chính trị, sử dụng trực tiếp mọi quyền hành Nhà nước, và như vậy thì đừng phân biệt « lãnh đạo » và « quản lý » nữa trong đầu óc và trên giấy tờ, vì cả hai đã chính thức nhập làm một.

Hai là tách đảng ra khỏi Nhà nước như đã từng tuyên bố lâu nay, và như vậy thì Nhà nước sẽ nắm thực quyền và khái niệm « lãnh đạo » phải quan niệm lại.

Trong cả hai trường hợp, trường hợp nào cũng cần có con gà và nắm xôi để cúng tiễn đưa hương hồn anh quản lý về nơi chín suối.

*
Chuyện đã cũ, nói đi nói lại sợ nhàm mà chẳng được lợi lộc gì. Thế nhưng, mới cách đây mấy ngày thôi, hồi đầu tháng 11 này, báo Tuổi Trẻ có đăng bài phỏng vấn TS Nguyễn Sĩ Dũng, phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hội, mà nhan đề làm tôi giật mình : « Đổi mới là mệnh lệnh của thời đại ».
Dù đã từng nhiều lần lạc quan, rồi thời đại vẫn qua mà đổi mới vẫn cứ là mệnh lệnh, tôi vẫn muốn tiếp tục lạc quan khi đọc đoạn cuối của bài phỏng vấn, trong đó ông phó chủ nhiệm kể lại lần gặp cố thủ tướng Võ Văn Kiệt vài tuần trước khi ông mất :
« Lúc bấy giờ tôi có nói rằng cần phải hết sức tránh việc hình thành hai nhà nước trong một đất nước. Chúng ta có thể nghiên cứu nhất thể hóa sâu rộng hơn, như Singapore chẳng hạn, để Đảng lãnh đạo thật sự « hóa thân » vào Nhà nước... Tôi cho rằng hiện nay đây là nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất để đổi mới nền quản trị quốc gia của chúng ta ».

Nói với ông Kiệt thì chỉ cần nửa lời ông cũng hiểu, vấn đề là có ai khác nữa hiểu như ông ? Ông phó chủ nhiệm nói thêm : « Thật ra, nhất thể hóa cũng đã được Đảng ta đề ra, chứ không phải là điều gì mới mẻ cả ». Đúng vậy, không có gì mới. Bản thân tôi cũng đã nói cách đây hơn hai mươi năm. Nhưng nói mà ai nghe ?

Dù vậy, mấy lời tâm huyết của TS Nguyễn Sĩ Dũng là tiếng nói của trí tuệ thức tỉnh, buộc trí thức phải lưu tâm.

Cảm tạ lời nói đó, tôi nghĩ rằng : giá như Quốc hội chỉ đem vấn đề trọng yếu đáng nói này ra bàn thôi và gác qua một bên mọi chuyện hoa lá cành khác trong Dự thảo thì quả thật thời đại sẽ ăn mừng cho Việt Nam.

Dù ăn mừng quá muộn.


Cao Huy Thuần



…./.


Muốn khai sáng, phải “đốt lửa”



Muốn khai sáng, phải “đốt lửa”




Nhà giáo, nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vỹ






- Ông nói: “Càng sống tôi càng thấy mình là người hạnh phúc!” Trong ông, không có chỗ cho bi quan chán nản, cho những bận tâm hàm này tước nọ, cho những ham muốn bổng lộc giàu sang. Nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Nguyễn Hùng Vỹ hàng ngày vẫn đến bục giảng bằng chiếc xe máy cà tàng, vẫn mê mải với thế giới di sản của người xưa để lại, vẫn đắm chìm trong những không gian văn hoá mà cảm nhận hạnh phúc…


Nhiều người dân Kinh Bắc biết đến cái tên Nguyễn Hùng Vỹ bởi những đam mê và đóng góp của ông suốt 30 năm qua cho quan họ. Giờ, quan họ được tôn vinh là di sản văn hoá phi vật thể thế giới, hẳn ông đã thoả lòng?
Mê quan họ từ khi mới chỉ đọc về quan họ qua sách, khi mà quan họ chỉ thi thoảng được hát qua làn sóng phát thanh, tôi phải đợi tới mấy chục năm sau mới được cùng các cụ làng Lim bắt tay tái lập không gian hát quan họ ngay tại một trong những cái nôi quan trọng sản sinh tục hát này. Mất tới ba, bốn năm trời “ba cùng” với bà con trong điều kiện nghèo khó nhất, vất vả nhất để cùng những liền anh, liền chị của đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh sưu tầm, bảo lưu những làn điệu quan họ cổ cho đến ngày nay, tôi vẫn chưa thực thoả lòng. Vì vẫn còn những định kiến cho quan họ là của bần cùng cố nông (định kiến giai cấp), là thổ sản (định kiến dân tộc) vốn là hai “tật” lớn trong nghiên cứu…
Nếu chọn một dòng nhạc, một thể loại dân ca tiêu biểu nhất cho hồn vía dân tộc, ông sẽ chọn…?
Chèo. Vì chèo tích tụ đủ các yếu tố dân gian, bác học, diễn xướng, làn điệu, nhạc điệu… dù rằng đến nay chèo vẫn chưa được xếp vào danh sách những di sản văn hoá phi vật thể trên thế giới của UNESCO. Bởi một chữ “chạy”. Nhiều người, nhiều nơi chỉ giỏi “chạy”. Là di sản thực sự thì đâu cần phải “chạy”? “Chạy” để cái không xứng đáng thành cái xứng đáng để làm gì! Nhìn tổng thế văn hoá Việt Nam, dòng nhạc xứng đáng nhất là âm nhạc cách mạng 1930 – 1975, từ một nền âm nhạc địa phương lên tầm một nền âm nhạc quốc tế, nó khẳng định tư cách một dân tộc trong thế giới hiện đại, đưa một Việt Nam thuộc địa thành một Việt Nam có vai trò trên thế giới và đến với từng người dân. Vì sao UNESCO chưa nhìn ra điều đó, không thừa nhận điều đó hay chính chúng ta cũng chưa ý thức được điều đó? Ở đây có cả vấn đề quan điểm lịch sử, sứ mệnh của người trí thức, công nghệ văn hoá mạng…
Giảng dạy và nghiên cứu văn hoá dân tộc, ông nghĩ thế nào về một bộ phận lớp trẻ lớn lên mà không hề quan tâm đến những hòn ngọc văn hoá dân tộc?
Đó là một kiểu nhìn mà thôi. Còn có một kiểu nhìn khác: cứ mỗi dịp tết đến xuân về, có khoảng 20 triệu người Việt ríu rít hành hương về hội làng. Người ta tấp nập gói bánh chưng cho ngày hội đó. Khó có thể tìm thấy trên thế giới cảnh tượng này. Người người hướng về hội làng như hướng về một tôn giáo, cho dù đây đó có những giá trị bị đảo ngược, hội làng được mở với những bài tính lãi lỗ, thương mại hoá…
Trên bục giảng, ông có những “chiến công thầm lặng”. Trong nghiên cứu, ông cũng không tiếc sức mình. Điều gì khiến ông lao vào làm những việc mà chỉ học trò của ông được lợi, thay vì dồn công sức cho những đề tài cấp này cấp nọ nhằm mang lại danh và lợi cho bản thân?
Sự đảo lộn giá trị chính là nguyên nhân khiến người ta dù có đủ điều kiện hạnh phúc mà vẫn không thấy hạnh phúc.
Tôi là giảng viên khoa văn, nhưng vào những năm đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là đại học Khoa học xã hội và nhân văn – đại học Quốc gia Hà Nội) chưa tuyển sinh đào tạo ngành báo chí, trước thực tế sinh viên khoa văn ra trường chủ yếu lập nghiệp bằng việc làm báo, tôi đã nghĩ rằng, chỉ với một cây bút các em có thể sống được, tại sao mình không làm gì đó giúp các em. Thế hệ tôi còn được học thầy Quang Đạm, mỗi khoá 45 tiết, khi thầy chuyển vào Nam, khoa văn bỏ trống môn này. Thế nên khi có dịp, tôi đã mời giáo viên ngoài là các nhà báo nổi tiếng giỏi nghề về trường dạy ngoại khoá nghiệp vụ báo chí cho các em. Cần bổ sung kiến thức, tôi không ngại bỏ tiền mua tài liệu, giáo trình nước ngoài, tự đọc và học nghề báo để truyền nghề cho các em. Cứ như thế suốt bảy khoá học liền, cho đến khi khoa báo chí ra đời. Đầu tư rẻ, hiệu quả cao cho một số phận, một cuộc đời, tại sao không? Lúc đó, một số người phản ứng rất dữ: “Đã học khoa văn thì phải làm người nghiên cứu”. Họ không nghĩ như tôi: “Làm nghiên cứu là công việc của một bộ phận tinh hoa chứ không là của tất cả!” Giờ nhìn lại, tôi thấy mình đã dồn sức cho một quyết định đúng đắn, bởi đã có một số lượng học trò tốt nghiệp khoa văn ra làm báo, nhập cuộc tốt, thạo việc và phát triển nghề nghiệp rất đáng tự hào.
Mấy năm gần đây, Hà Nội xuất hiện một lực lượng “ông đồ trẻ” khiến những người hoài cổ vui mừng vì không còn phải lo cho một ngành nghiên cứu quan trọng bị bỏ trống. Ít người biết rằng, có được điều đó, có công lớn của thầy Nguyễn Hùng Vỹ...
Chuyện này bắt nguồn vào giữa thập niên 1990, khi đại học Tổng hợp vốn rất mạnh về mảng văn học truyền thống và Hán Nôm đầu thế kỷ 20 đứng trước nguy cơ “bỏ trống trận địa” vì nhiều thầy giáo đến tuổi nghỉ hưu. Các thầy Trần Nho Thìn, Trần Ngọc Vương hồi ấy ở tuổi 30 – 35, chưa thể gánh vác được. Cá nhân tôi cũng suy nghĩ về một lực lượng kế thế và kế hoạch đào tạo. Do vậy, suốt từ khoá 40 đến khoá 45, trong năm năm liền, không ai giao việc, không ai cấp tiền, nhưng tôi vẫn kiên trì thực hiện mục tiêu này theo cách của mình. Thầy thầy trò trò miệt mài chụm đầu vào nhau. Không tiếc tiền đưa sinh viên đến các di tích, bắt các em đọc kỹ về lý thuyết ngôn ngữ học cổ tự, mày mò trong sách từng chữ, từng chữ một… Rất may là thành công. Giờ, Sài Gòn có 7 – 10 nhà nghiên cứu Hán Nôm cấp cao đều đã ở tuổi 70, Huế có năm người đều ở tuổi 60, Hà Nội có 20 người ở tuổi 30! Họ hoàn toàn đủ năng lực, tri thức văn hoá và ngôn ngữ học để xử lý độc lập, giải mã các văn bản cổ; nhiều người trong họ đã giành được những giải thưởng quốc tế liên quan đến Hán Nôm. Có thể nói rằng, để đối thoại ra ngoài, đây là lực lượng chính chứ không phải ai khác!
Với một người giàu ý tưởng như ông, hẳn câu chuyện bổ sung nhân lực cho làng báo, làng Hán Nôm vẫn còn tiếp diễn…
Tôi còn ba năm nữa là nghỉ hưu. Từ nay đến đó, phải đào tạo được một lớp sinh viên viết kịch bản sân khấu – điện ảnh. Một lần điện thoại đường dài về quê thăm mẹ, tôi nghe một bà già nhà quê cách thủ đô 200km khoe “đang xem phim Hàn Quốc”. Rồi điều tra xã hội học dân tộc Cà Tu ở Quảng Trị, nhiều gia đình đặt tên con theo nhân vật trong phim Hàn Quốc. Vấn đề không nhỏ: nhân dân luôn hướng đến những điều tốt đẹp và một văn hoá đang bị xâm lấn bởi một thứ quyền lực mềm. So với Hàn Quốc, ta nhiều lợi thế hơn, từ lịch sử, con người, cảnh quan, nhưng điện ảnh của ta đang thua họ. Tôi nghĩ đến các sinh viên khoa văn của mình và muốn rằng chính các em sẽ làm được điều gì đó. Thế nên, công việc của tôi phải bắt đầu: lặng lẽ, dần dà tuyên truyền, lập câu lạc bộ (như trước đây đã lập câu lạc bộ Hán Nôm), động viên các em tự khai phá con đường của mình. Ai nghĩ ra cái gì thì phải chiến đấu cho cái đó. Tôi không đủ năng lực cầm tay chỉ việc cho các em thì tôi làm người đốt lửa. Các em giỏi hơn tôi, nhất định các em sẽ làm được. Đây chính là khát vọng cuối cùng trong nghề dạy học của tôi.
Theo ông, chất lượng của đội ngũ sư phạm đã ảnh hưởng thế nào đến chất lượng giáo dục?
Dạy văn là một nghề không chỉ thú vị, mà còn vô cùng hữu ích. Văn chương có thể dạy cho người ta nghĩ như thế nào, nói như thế ấy và sống đúng như thế.
Nghề sư phạm đòi hỏi sự hy sinh lớn, vì môi trường này có những khuôn phép của nó. Đã làm thầy thì phải mẫu mực, kể cả khi không bước chân lên bục giảng. Khi ai đó đã chọn cho mình một nghề, thì chắc chắn nghề đó sẽ quy định anh ta. Muốn phá bĩnh cũng không được, vì nghề không cho phép. Thực tế cũng có một số thầy cô giáo không có chuyên môn, mượn một số điều khác để phát ngôn linh tinh trên bục giảng và tưởng đó là giáo dục, là hay ho, đã làm hỏng môi trường lành mạnh của giáo dục. Tiếc là số này tương đối nhiều, phí phạm tiền học, thời gian của học trò. Không ít thầy dạy đại học nhưng trình độ chỉ là cấp 3 + 1, cấp 3 + 2. Có giáo sư mà 30 năm chẳng viết được một bài nghiên cứu khoa học nào. Lớp trẻ nhiều người giỏi, chớ coi thường họ, nhưng nếu không gặp được thầy giỏi thì có khi học xong bốn năm đại học đầu óc lại tối tăm hơn, xấu hơn, hỏng hơn. Ngược lại, nhiều thầy có chuyên môn, nghiêm túc truyền nghề, nhưng tiếp thu kiến thức là không dễ, trò lại thờ ơ không muốn nghe…
Tôi nghĩ, chỉ cần một phần ba số người dạy, với tâm huyết và năng lực chuyên môn của họ, nền giáo dục của ta vẫn phát triển, đặc biệt là giáo dục công lập! Cứ để nguyên đội ngũ, không sàng lọc, thì tiền lương và phụ cấp hưu trí sẽ thành gánh nặng xã hội!
Soi chiếu ra xã hội, ông có thấy sự thất bại trong giảng dạy văn chương sẽ để lại hậu quả trên chính con người thời đại?
Tất nhiên. Vì thế dạy văn là một nghề không chỉ thú vị, mà còn vô cùng hữu ích. Văn chương có thể dạy cho người ta nghĩ như thế nào, nói như thế ấy và sống đúng như thế.
Ông quan tâm đến cải cách giáo dục như một tiền đề hạnh phúc?
Phải sáng suốt để thấy rằng trên một tổng thể không thay đổi thì mọi đề án chỉ là ảo tưởng. Muốn cải cách thực sự, phải bắt đầu từ thay đổi tư duy: Học để làm gì? Tiêu tốn hàng trăm ngàn đồng học phí đại học mỗi tháng để làm gì? Để tương lai có nhà cửa, xe cộ, cơm no áo ấm – tức là thoả mãn nhu cầu vật chất – cấp độ đầu tiên của hạnh phúc. Và cao hơn là để có sự hiểu biết, sự tôn trọng lẫn nhau; cao hơn nữa là sự sáng tạo, là tự do. Sao cho mỗi người khi sinh ra, đều được tạo cơ hội để tìm kiếm cho mình hạnh phúc. Vậy thì, học chính là để hạnh phúc. Dạy chính là để hạnh phúc.
Tiếc rằng bên ngoài cánh cửa các ngôi trường là cuộc sống rộng lớn, cảm giác về hạnh phúc đang ngày một khó khăn hơn, chật vật hơn, hiếm hoi hơn như trải nghiệm được chia sẻ của nhiều người…
Sự đảo lộn giá trị chính là nguyên nhân khiến người ta dù có đủ điều kiện hạnh phúc mà vẫn không thấy hạnh phúc. Người ta tiện nghi bằng mọi cách, vật chất hoá bằng mọi cách và cho rằng đó là hạnh phúc. Giá trị vật chất, tiện nghi đã được đánh giá cao hơn sáng tạo và tự do. Một điều đáng buồn.
Lớp người hiện đại ít khi đề cập đến khái niệm hạnh phúc, vì nhiều lý do khác nhau. Nhưng ông thì không như vậy…
Vấn đề là người ta cứ chạy theo tăng trưởng, mà vẫn bất ổn, vẫn không hạnh phúc. Thế giới đang bị cuốn vào cơn lốc tăng trưởng, sau tăng trưởng là khủng hoảng, là hoang mang không biết thế nào là hạnh phúc. Cá nhân tôi, từ trẻ đã ước mơ trở thành nhà giáo. Và tôi đã thoả nguyện, vì được chọn đúng nghề và được làm nghề. Không chỉ đi dạy mà các hoạt động sáng tác, nghiên cứu cũng khiến tôi thoả lòng. Phải nói là những công việc đó, dù kết quả chưa được như nguyện vọng, nhưng tôi đã nỗ lực tối đa sức mình. Hạnh phúc do tự mình kiến tạo. Càng ngày tôi càng “ngấm” điều đó!
THỰC HIỆN: KIM HOA
CHÂN DUNG HỘI HOẠ: HOÀNG TƯỜNG

Xe Lam và Thăng Thích Tư Lệnh




Xe Lam và Thăng Thích Tư Lệnh




3 Tháng 10 2011
Huy Đức



Bộ trưởng Giao thông Đinh La Thăng hình như đang muốn làm một cái gì đó. So với những quan chức chỉ giữ ghế thì sự xông xáo của ông rất đáng được hoan nghênh. Ông có vẻ như đã đúng khi tìm thấy nguyên nhân làm ách tắc giao thông: Người dân đô thị thay vì sử dụng giao thông công cộng đã chỉ dùng phương tiện cá nhân. Ông cũng đúng khi cho rằng phải hạn chế phương tiện cá nhân đồng thời tăng cường năng lực vận tải công cộng. Nhưng, ông đề nghị: “trước hết là cấm xe cá nhân đi vào một số tuyến phố chính, sau đó mở rộng dần”; trong khi chưa thấy ông đưa ra cách gì “tăng cường” các phương tiện công cộng để người dân đi lại.

Trong ngày nhận chức, ông Đinh La Thăng nói với báo chí: “Ra đường nhìn thấy một cô gái mặc rất đẹp thì không phải vì thế ta mua ngay bộ đồ đó về cho vợ mặc”. Vậy mà, giờ đây, cứ bắt đầu một chính sách là ông lại dẫn Singapore làm thế này, Thailand và Trung Quốc làm thế kia. “Các thành phố lớn của Trung Quốc làm gì có xe máy” như ông nói. Nhưng, một trong những thành phố lớn đó là Quảng Châu, phải mất mười năm, đầu tư xe bus, xây dựng hệ thống tàu điện ngầm, vận động nhân dân rồi đến năm 2006, họ mới đưa toàn bộ xe gắn máy ra nghĩa địa.

Cũng trong ngày nhận chức, ông Thăng nói: “Là tư lệnh ngành, phải cho tôi toàn quyền như vị tướng ra trận, phải được toàn quyền quyết định chiến đấu, tiến hay lùi mới làm được”. Nếu ông Đinh La Thăng muốn làm tư lệnh thì có lẽ Thủ tướng nên khuyến khích ông học bơi rồi giao cho ông một hải đoàn ra lấy lại Hoàng Sa. Bộ trưởng là một nhà hành pháp chính trị chứ không phải là “thủ lĩnh” như hồi ông làm Bí thư Đoàn Tổng công ty xây dựng Sông Đà. Phương tiện để thực hiện các ý định của Bộ trưởng là chính sách, là thuyết phục, chứ không phải là ra lệnh.

Để giải bài toán giao thông đô thị không thể chỉ nắm đầu đứa “bé miệng” nhất: xe máy. Không biết đã có khi nào ông Đinh La Thăng ra ăn cháo gà Hải Triều, nhìn cao ốc Bitexco 68 tầng được xây trên khuôn viên chỉ rộng 6.000m2. Để tính, sau khi kinh tế phục hồi, nếu tòa nhà văn phòng ấy có đủ người đến làm việc thì giờ tan tầm lấy đâu chỗ cho họ đứng khi vừa tiếp đất. Bitexco cũng đang làm thủ tục để biến Trung tâm cấp cứu Sài Gòn thành một cao ốc khoảng 55 tầng. Dòng người từ các cao ốc được xây ở trung tâm này sẽ di chuyển như thế nào để về nhà? Để trả lời câu hỏi ấy, Bộ trưởng Giao thông phải thảo luận với Chính quyền Thành phố, Bộ xây dựng và đương đầu với các thế lực sau lưng Vincom, Bitexco… chứ không ngồi quyết một mình được đâu “Thăng Tư lệnh” ạ.

Bài toán giao thông công cộng phải được giải trước khi cấm các phương tiện cá nhân. Không chỉ vì giao thông công cộng chỉ đáp ứng chưa tới 10% nhu cầu đi lại của người dân Hà Nội, Sài Gòn, mà còn bởi taxi thì quá mắc còn xe bus thì bất tiện. Ở “các thành phố trên thế giới” mà ông Thăng hay ví dụ, từ bến xe bus hay Metro người dân khá thoải mái khi đi bộ tới chỗ làm việc hay về nhà. Ở Việt Nam, dân chúng đã chiếm hết vỉa hè, từ nơi làm việc ra bến xe bus rồi từ bến xe bus đi bộ về nhà đều vừa quá xa vừa trắc trở.

Để nối các khoảng cách đó, nên tham khảo một loại xe rất được ưa dùng ở Sài Gòn trước đây: xe lam. Xe lam là một phương tiện có thể len lỏi trong nhiều con phố nhỏ. Xe lam cũ có nhược điểm là rất ồn. Nhưng, có thể đóng mới một loại xe chở 8 người theo mô hình xe lam sử dụng đầu máy honda 250 phân khối.

Xe bus cồng kềnh không nên để chạy trên tất cả các tuyến như hiện nay vì xe thì to lại chạy hết sức nghênh ngang trong khi đường sá thì quá chật. Xe bus lớn chỉ nên cho chạy từ Đông sang Tây theo đại lộ Võ Văn Kiệt. Từ hướng Hóc Môn, xe bus lớn nên dừng lại ở công viên Gia Định; Từ Củ Chi nên dừng lại ở một trạm đầu đường Cộng hòa; Từ Thủ Đức, nên dừng lại bên ngoài cầu Điện Biên phủ. Một loại xe bus dưới 45 chỗ có thể chạy xuyên tâm theo trục Lý Thường Kiệt, 3-2, Điện Biên Phủ… Phần còn lại là nhiệm vụ của “xe lam”. Trước đây, đã có những hợp tác xã vận tải sử dụng xe Daihatsu cải tạo theo mô hình xe lam nhưng bị các “ông lớn” xe bus gây sức ép để thành phố dẹp những chiếc Daihatsu không xin trợ giá đó. Xe lam cũng chở được từ 8 đến 10 người như Daihatsu mà rẻ hơn và chiếm chỗ ít hơn. Xe lam cũng sẽ làm giảm lượng taxi, loại phương tiện 4 chỗ thường chỉ có một khách ngồi trên đó.

Tiếp theo, phải đầu tư skytrain và metro. Có thể làm trước skytrain vì rẻ hơn và thời gian đưa vào sử dụng nhanh hơn, cho dù nó có thể làm xấu không gian đô thị. Chỉ khi có metro và skytrain nối trung tâm Hà Nội với Ba Vì, Tam Đảo; nối Chợ Bến Thành với Bình Dương, Củ Chi… các khu chung cư cách thành phố 30-45 phút skytrain bắt đầu mọc lên thì mới cho các cao ốc văn phòng xây dựng giữa trung tâm thành phố. Các phương tiện giao thông công cộng phát triển tới đâu thì ban hành chính sách “làm khó” phương tiện cá nhân tới đó. Khi đó, có thể học cách thu lệ phí xe vào thành phố của Thượng Hải; có thể học cách thu lệ phí xe đi vào một số tuyến đường trung tâm, cách đấu thầu quyền đăng ký xe mua mới của Singapore… Có thể thu trước một số lệ phí xe cộ và xăng dầu để đầu tư nếu Bộ trưởng thuyết phục được người dân những khoản thu ấy là cần thiết.

Cấm như cách mà Bộ trưởng Đinh La Thăng định làm thì tất nhiên là đỡ phải suy nghĩ hơn. Nhưng, Bộ không phải là công trường như Sông Đà hay Ialy để cần một người ra lệnh. Vai trò của Bộ trưởng là đưa ra chính sách. Muốn làm chính sách thì phải phân tích và phải theo đúng quy trình. Đôi khi để giải quyết một vấn nạn ở tầm quốc gia lại phải bắt đầu bằng việc trả lời những câu hỏi nhỏ: Nếu cấm xe máy ở một số tuyến đường như Bộ trưởng mới sáng kiến thì làm sao người dân có nhà trên những tuyến phố ấy có thể đón bạn bè đi xe máy tới nhà mình? Vì sao họ lại không có quyền đi xe máy như người dân ở những con phố khác?

…./.