Miền nam từ ký họa xưa



Miền nam từ ký họa xưa



+ PHOTO BY GOOGLE.COM




















......./.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời



Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời

   Đại tướng đầu tiên, Tổng tư lệnh tối cao
Quân đội nhân dân Việt Nam
Võ Nguyên Giáp qua đời 
lúc 18h09 
ngày 4/10
tại Hà Nội
 khi ông vừa bước sang tuổi 103.

















......../.

Sùng bái THẦN TƯỢNG

Sùng bái – mảnh đất tốt cho chế độ nô lệ






Bác XÍT và bác MAO
Bác XÍT và bác MAO
Trong thời Cổ Đại, chế độ nô lệ được thiết lập bằng bạo lực. Kẻ mạnh tạo ra quanh mình một nhóm những kẻ trung thành với nó, dùng bạo lực bắt những thành viên khác trong quần thể phải làm nô lệ cho chúng. Kẻ nào chống lại sẽ phải chết.
Từ thời Trung Đại đến nay, trên danh nghĩa không còn chế độ chiếm hữu nô lệ. Tuy nhiên, ở nơi này nơi khác, bằng cách này hay cách khác, các nhà nước phong kiến và nửa phong kiến thực chất vẫn tạo ra trong lòng nó những kiểu chế độ nô lệ “không toàn phần”. Đặc biệt, về tư tưởng, đại đa số quần chúng thực chất vẫn phải sống trong chế độ nô lệ. Lợi dụng sự dốt nát của quần chúng – do chưa có điều kiện học tập, nghiên cứu và cũng do chính sách ngu dân – giới cầm quyền nhồi sọ con người đến mức họ có thể coi những điều vô lý và ngu xuẩn nhất như chân lý tuyệt đối. Trong số những “chân lý” khốn nạn đó có những tín điều như: vua là con trời (hay lãnh tụ là thánh) và mọi thứ ta được hưởng đều là của vua ban (hay lãnh tụ đem đến cho).
Sở dĩ kiểu nô dịch như vậy tồn tại được hàng ngàn năm là vì bên cạnh sự áp đặt ách cai trị và tư tưởng, nó còn được duy trì bởi chính tâm lý quần chúng, một thứ tâm lý của kẻ thiếu bản lĩnh và thiếu ý thức về giá trị cá nhân: tâm lý thích dựa bóng thần tượng, và do đó rất thích (cùng nhau) xây dựng thần tượng.
Vì sao con người thích thần tượng?
Có vài lý do để người ta thích thần tượng. Thứ nhất, do cảm thấy thần tượng là người che chở và đem lại quyền lợi cho mình. Điều này có khi đúng, có khi là ảo tưởng. Lãnh tụ của một cuộc khởi nghĩa chống lại một chế độ hà khắc và thối nát là nhân vật chủ chốt tạo ra sự thay đổi (ít ra ban đầu là theo chiều hướng tốt lên) cho cuộc sống của hàng vạn, hàng triệu người. Người đứng đầu một quốc gia, trước sự xâm lăng của một thế lực ngoại bang độc ác, nếu có bản lĩnh, có thể là ngọn cờ để tập hợp mọi lực lượng chống xâm lăng. Một nhà cải cách thông minh có thể định hướng cho xã hội phát triển nhanh… (Tuy nhiên, đừng bao giờ quên rằng đó mới là sự định hướng; kết quả của sự thay đổi chỉ có thể đạt được bằng mồ hôi xương máu của hàng triệu người!) Nhưng trong rất nhiều trường hợp, đông đảo quần chúng ngộ nhận kẻ bóc lột mình là ân nhân. Thứ hai, người ta bám vào những lời giáo huấn của thần tượng như những chân lý để khỏi phải động não (mặc dù chẳng mấy khi làm theo). Và thứ ba, khi có thần tượng, người ta cảm thấy chính mình dường như cao giá hơn.
Với sự châm biếm nhẹ nhàng, câu ca dao cổ nói:
“Một ngày tựa mạn thuyền rồng
Còn hơn mãn kiếp nằm trong thuyền chài.”
Thuyền rồng là quyền lực, cũng là sự sang trọng. Người “ở trong thuyền rồng” là thần tượng. Càng gần người đó, người ta càng cảm thấy mình danh giá, có quyền ngẩng cao đầu trước những kẻ đứng xa thuyền rồng hơn.
Hơn thế, chưa cần chạm được vào thần tượng hay được thần tượng vấn an, chỉ cần được nói về thần tượng thôi, người ta cũng cảm thấy rưng rưng xúc động vì hạnh phúc rồi. Đó, chi tiết này trong cuộc sống của thần tượng của tôi, liệu đã mấy ai biết. Thế mà tôi biết đấy nhé. Và tôi hiểu được giá trị của chi tiết đó. Tôi biết nói về nó. Tôi có thể làm cho mọi người hiểu thêm được vĩ nhân của chúng ta (và so với người chung quanh thì tôi được quyền “sở hữu” vĩ nhân nhiều hơn chút ít). Hiểu biết về vĩ nhân cũng là một kiểu tri thức, và ở chỗ này, tôi hơn các anh đấy nhé!
Thần tượng được xây dựng như thế nào?
Khi xảy ra một sự kiện gắn với tên tuổi một người nổi tiếng, ví dụ kỷ niệm một trận chiến mà người đó là chỉ huy bên thắng cuộc, người ta, đặc biệt là giới truyền thông, bắt đầu thi nhau nói thật nhiều, bằng những cách mà người ta cố gắng làm cho hay hơn, độc đáo hơn của những kẻ nói khác, về người nổi tiếng đó. Chỉ cần một ngày mà toàn bộ giới truyền thông đều thi nhau ca ngợi thần tượng, cuối ngày hôm đó cảm nhận của người nghe/xem về sự vĩ đại của thần tượng sẽ rõ nét hơn hẳn ngày hôm trước.
Cứ thế, nếu năm nào người ta cũng nói về người đó hàng tháng ròng trên phương tiện truyền thông, và kháo nhau tại gia đình, trên bàn nhậu ở quán xá, một đồn thổi thành mười, mười đồn thổi thành trăm, tiếng tăm của nhân vật đó tăng theo cấp số nhân… , thì sau ba-bốn mươi năm, người ta có thể biến một chính khách ban đầu có ít nhiều nổi trội thành một vĩ nhân hạng một của nhân loại. Người này thấy người khác ca ngợi mà mình chưa góp lời được thì cũng cố ca ngợi vài câu, nếu biết được một vài chi tiết cụ thể về con người đó thì càng hãnh diện. Ít có người nào tuy biết chút ít nhưng vì thấy mọi người ca ngợi quá nhiều rồi nên thấy mình nói thêm cũng thừa và nhiêu khê.
Đặc biệt, khi có một vài phóng viên hay chính khách nước ngoài ca ngợi thì tốc độ vĩ nhân hóa đối với nhân vật đó có thể vượt lên trên mọi sự tưởng tượng.
“Mày nói thế nào ấy chứ… Cụ được bao nhiêu người ở các nước văn minh ca ngợi cơ mà. Chính khách A ở nước X nói thế này. Phóng viên B ở nước Y nói thế kia…”
Một yếu tố rất thuận lợi cho việc thần tượng hóa một nhân vật chính là tâm lý thích thần tượng của người đời, thậm chí đơn giản là tâm lý ngưỡng mộ kẻ có quyền thế, đặc biệt khi người ta chưa va chạm với kẻ cường quyền. Bạn được một người lạ ôm chầm lấy trong lần gặp mặt đầu tiên, bạn sẽ thấy bình thường. Nhưng nếu người ôm bạn là một yếu nhân của một quốc gia, thì dù người đó không có gì thật sự kiệt xuất, bạn cũng sẽ thấy xúc động và nhớ mãi cái ôm đó. Sự việc như vậy có thể định hướng nhận thức về cường quyền của bạn cho toàn bộ cuộc đời. Cho nên, về mặt nhận thức, thật may mắn cho những ai thời trẻ không một lần được một vị lãnh tụ nào ôm vai bá cổ. Tôi đã chứng kiến một số nhà khoa học tài ba hết lời ca ngợi một vài hành vi rất bình thường của một chính khách có hạng, coi đó như những quyết sách cực kỳ thông minh, thể hiện một trí tuệ siêu đẳng.
Với tâm lý của đa số quần chúng như thế, việc xây dựng thần tượng càng dễ dàng, nếu giới cầm quyền thi hành một chính sách nhằm thần thánh hóa lãnh tụ. Hãy nhớ: một dân tộc văn minh bậc nhất như dân tộc Đức cũng đã từng phát cuồng phát dại vì Adolf Hitler. Nếu giả dụ tài năng của y cũng chỉ như y sẵn có, nhưng y bớt ngông cuồng chút ít, đừng tấn công Liên Xô, dừng tàn sát dân Do Thái, và thỉnh thoảng y ôm chầm lấy một vài phóng viên hay chính khách nước ngoài, thì y sẽ được xem là một trong những lãnh tụ vĩ đại của nhân loại. Bạn có thể nói: thì chính vì y không có được cái đó nên y mới không vĩ đại như một vài lãnh tụ của các dân tộc khác? Đúng vậy, nhưng đòi hỏi đó cũng có gì cao siêu lắm đâu, và làm được điều đó đâu cần phải là một thiên tài?
Và hãy nhớ lại: hàng triệu người Bắc Hàn đã và đang tin rằng cha con ông cháu họ Kim là những lãnh tụ vĩ đại. Hãy nhớ: “Gangnam Style” đang làm hàng trăm triệu người phát rồ. Và nếu có “chiến lược” quảng cáo hợp lý, khiêm tốn hơn chút ít, đồng thời đừng dùng một người “tâng” thô thiển như vị giáo sư nọ, thì Huyền Chíp cũng đã có thể trở thành thần tượng của hàng triệu thanh thiếu niên Việt Nam…
Tâm lý đám đông có thể làm nên những điều ghê gớm. Đặc biệt, khi nó được một tầng lớp có thế lực khéo léo lợi dụng thì nó có thể tạo ra những biến chuyển long trời lở đất. Đám người sùng bái một thần tượng có thể nghiền nát bất cứ nhóm người nào dám nói những điều không hay về thần tượng của họ.
Sùng bái – mảnh đất tốt cho chế độ nô lệ
Một khi người ta tôn thờ một thần tượng, hầu hết là suốt đời người ta sẽ trung thành với thần tượng đó, và không bao giờ đặt ra câu hỏi: Liệu ở góc độ này hay góc độ kia, vị thần tượng của mình có đúng hay không. Dưới chế độ phong kiến, chỉ cần hé răng hỏi liệu vua có sai không đã bị xử trảm rồi. Ở các nước cựu cộng sản, tình trạng cũng không khá hơn là mấy. Tại Liên Xô, ngay cả khi Stalin đã chết thì Khruschëv và một vài ủy viên bộ chính trị khác phải vất vả lắm mới tiến hành được khá thành công cuộc chiến chống lại được tệ sùng bái cá nhân Stalin, và nhiều lúc ông ta đã ở trong tình trạng nguy hiểm cả đến tính mạng. Ở hầu hết các quốc gia độc tài hay độc đảng khác, việc huyền thoại hóa lãnh tụ cũng là cản trở đáng sợ, làm cho tiến trình dân chủ hóa phải chịu biết bao hy sinh mất mát đau đớn. Nhà cầm quyền nắm được cái “thóp” đó, nên họ thường xuyên tiến hành và “mồi” cho quần chúng tham gia xây dựng và “bồi đắp” cho thần tượng.  
Việc trung thành với thần tượng gần như đồng nghĩa với việc trung thành với chế độ mà thần tượng đó đã tham gia dựng nên. Vì vậy, những ai có ý thức vươn tới tự do, hãy đừng mắc mưu những kẻ muốn xây dựng thần tượng để duy trì chế độ.
Một người có công với dân tộc hay nhân loại cần phải được ghi nhận và tôn vinh. Nhưng chỉ nên làm việc đó ở mức độ vừa phải và xứng đáng. Việc ngày nào cũng ra rả ca ngợi, thường xuyên tổ chức hội thảo, tưởng niệm,… cuối cùng chỉ góp phần làm cho xã hội đi thụt lùi, kéo dài sự nô dịch.
*
Đức Phật Gautama (Thích Ca Mâu Ni) – người mà ngày càng được nhiều nhà tư tưởng, nhiều nhà bác học thừa nhận là có tư tưởng cao siêu nhất và cũng đúng đắn nhất – đã từng dạy:
“Con người phải là chỗ dựa của chính mình. Chớ tìm nơi trú ẩn ở chỗ khác.”

NGUYỄN TRẦN SÂM

.../.

ĂN MẶC và ĂN NÓI


ĂN MẶC và ĂN NÓI
Tháng 10 4, 2013
Tưởng Năng Tiến
Có lần, bên bàn nhậu, tôi nghe một cha nói (y như thiệt) rằng hồi năm 1941 nhà nước thuộc địa đã trao tặng giải thưởng và cấp bằng tưởng lục cho một người dân Việt vì đã chế ra cái đèn dầu Hoa Kỳ – hiện vẫn còn được lưu dụng, ở nhiều nơi.
Cùng thời điểm này, chính xác là vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, xẩy ra trận Trân Châu Cảng. Theo Wikipedia:
“Cuộc tấn công bao gồm hai đợt không kích với tổng cộng 353 máy bay xuất phát từ 6 tàu sân bay Nhật Bản. Trận tấn công đã đánh chìm 4thiết giáp hạm Hoa Kỳ (2 chiếc trong số đó sau này được vớt lên và đưa trở lại hoạt động), và gây hư hỏng cho 4 chiếc khác. Quân Nhật còn đánh chìm hoặc phá hoại 3 tàu tuần dương, 3 tàu khu trục và 1tàu thả mìn, phá hủy 188 máy bay...”
So như thế (nghĩ) đã buồn nhưng sự thật còn buồn hơn thế nữa. Cha đẻ cái đèn dầu Hoa Kỳ – thực ra – là một người Ba Lan, Ignacy Łukasiewicz. Ông làm ra nó vào năm 1853.
Một trăm năm mươi hai năm sau, báo Tiền Phong – số ra ngày 7 tháng 10 năm 2005 – còn (chua chát) thêm rằng: “Chúng ta chưa tự làm được cái đinh vít!”
Dân Việt, rõ ràng, không có “năng khiếu” cao về khoa học và kỹ thuật. Ít nhất thì cũng không “cao” bằng dân Nhật. Nói cách khác (và nói một cách hơi hoa mỹ) Việt Nam là một xứ sở trọng nông hoặc thuần nông, chỉ chuyên về việc sản xuất lúa gạo thôi.
Đã có một thời mà mọi thứ ở đất nước này đều có thể có thể qui ra gạo, và gạo còn được dùng như một loại hoá tệ cho sinh hoạt mua bán thường ngày, kể cả việc… mua dâm – theo như lời kể của một nhà văn:
“Ga Vinh một buổi tối trời mưa. Một túp nhà lá nằm nép bên vệ đường, phía sau là khoảng nước dở ao dở rãnh, muỗi và cỏ nhiều. Một ngọn đèn dầu run rẩy vì gió, cháy leo lét được treo trước cửa sổ. Một con chó già còm cõi bê bết bùn đất và lạnh, nằm in bóng đèn dầu dưới cửa sổ, tru ư ử trong họng mà không dám vào nhà vì sợ đòn. Gió hú rít xoáy quanh cửa tranh nhau luồn vào nhà. Có tiếng mái tranh cọ nhau xào xạc như van xin. Tiếng chẫu chuộc gọi cái làm nhịp cho mưa rơi…
Có tiếng chân rẽ nước đi tới, rồi một cái đầu đàn ông thò vào cửa sổ, nhễu nước lã chã xuống con chó.
“Bao nhiêu?”
Bên này:
“Năm chục.”
“Ðắt thế, gái Sài Gòn còn chả tới nữa là…”
“Thế muốn bao nhiêu?”
“Hai chục…?”
 “Thanh toán trước đi!”
“Gì mà vội thế, chả ‘tình’ tí nào cả.”
“Sao? Có tiền không?”
“Lấy gạo nhé?”
“Gạo gì? Mậu dịch hay gạo mới?”
“Mới chia tiêu chuẩn tháng ở cơ quan về, chưa xem.”
“Gạo mậu dịch rồi, tính bao nhiêu?”
“Hai chục.”
“Ðắt quá, mà cũng không có cân nữa.”
“Mười tám đồng vậy, đong đại bằng ống sữa bò đi…”
“Ừ, thế cho tiện, cân mất công, gạo đi mua nặng ký… mà này, có trộn đá dăm vào không đấy?”
“Mang đèn ra mà soi.”
“Gạo này chỉ mười lăm đồng.”
”Ðong vun tay thế kia thành hai cân của người ta chứ còn gì…”
Một thằng nhóc chừng chín tuổi thình lình hiện ra như chui từ dưới đất lên, đứng mút tay nhìn cảnh đong gạo. Người đàn ông còn đang loay hoay cột lại cái bao của mình thì nó giật túi gạo nơi tay người đàn bà, chạy vụt ra cửa.
“Nấu cơm nhé, đừng nấu cháo… Nhớ để phần cho chị đấy.”
(Thế Giang. “Chỗ nước đọng”. Thằng người có đuôi. Costa Mesa: Người Việt, 1987. 99-104)
Câu chuyện trên, tất nhiên, đã cũ. Thời sổ gạo và tem phiếu đã qua. Ngày 27 tháng 9 năm nay, tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, Thủ tướng Việt Nam – ông Nguyễn Tấn Dũng – đã long trọng thông báo cho toàn thể nhân loại biết rằng:
“Từ một nước thiếu đói, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Chúng tôi không chỉ bảo đảm an ninh lương thực cho riêng mình mà còn góp phần tích cực bảo đảm an ninh lương thực thế giới.”
Hai năm trước, báo Công an Nhân dân (số ra ngày 20 tháng 7 năm 2011) cũng đã khẳng định tương tự: “Cái đói bị đẩy lùi xa tít tắp”.
Nói như vậy chắc là xa dữ lắm. Theo như tường trình của phóng viên Uyên Nguyên, RFA, hôm 22 tháng 5 năm 2013, cái đói đã bị đẩy tuốt luốt lên tới… những huyện miền núi ở tỉnh Thanh Hoá:
“Nhìn bữa ăn của gia đình người Thái Trắng này, nó cũng giồng như nhiều bữa ăn khác của những gia đình Thái Trắng khác mà chúng tôi gặp ở Mường Lát, Quan Hóa, Ngọc Lặc, Lang Chánh… Một nồi cơm độn sắn lát, một bát cà rừng và một chén mắm chuột để chấm cà, chúng tôi chỉ biết ứa nước mắt nhìn đồng loại nuốt cơm!”
 Hoặc còn xa hơn nữa, “tít tắp” mãi đến tỉnh Hà Giang, như tâm sự (nghe được vào ngày 25 tháng 9 năm 2012) của cô phó hiệu trưởngTrần Thị Phúc:
“Học sinh ở đây nghèo lắm, nếu không xuống tận địa bàn chắc khó có thể hình dung hoàn cảnh của từng cháu. Có những em quanh năm chỉ mặc duy nhất một bộ quần áo, chưa từng biết đến đôi tất và thường xuyên phải ăn mèn mén thay cơm.”
Cái đói và chuyện ăn độn, bây giờ, chỉ còn quanh quẩn (quanh năm suốt tháng) ở những vùng xa, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng thôi. Chứ còn ở miền xuôi nói chung thì ngay tại nông thôn người dân vẫn được ăn cơm, và ăn no.
Riêng tại Hà Nội hôm nay còn có những tách cà phê hay những tô phở trị giá  (cỡ)… nửa triệu đồng! Câu thơ ngày xưa (Đảng còn kia bát phở hoá thành mơ) của Nguyễn Chí Thiện đã bị thời thế bỏ lại phía sau xa lơ, xa lắc. Uớc mơ của người dân Việt hôm nay, rõ ràng, đã vượt mức ăn/ mặc. Đã đến thời người dân đòi ăn/nói – như họ vừa dõng dạcTuyên bố về thực thi Quyền Dân sự và Chính trị:
“Chúng tôi yêu cầu nhà cầm quyền tôn trọng quyền bày tỏ quan điểm của công dân, thẳng thắn tranh luận và đối thoại, từ bỏ cách đối xử không công bằng, không minh bạch và không đường hoàng như đã và đang áp dụng đối với những kiến nghị sửa đổi Hiến pháp và những tiếng nói đòi dân chủ khác với quan điểm của nhà cầm quyền.
Ý kiến khác nhau cần được tranh luận thẳng thắn để tìm chân lý; còn dựa vào quyền lực để cản trở việc công bố, không đối thoại mà chỉ đơn phương phê phán, quy kết, thậm chí dùng nhiều cách ngăn cấm và trấn áp thì không những vi hiến và trái với Công ước quốc tế mà còn không đúng với tư cách chính đáng của một nhà cầm quyền.
………..
Thực tế ở nước ta cho thấy rõ: thể chế này đã tạo nên một bộ máy cầm quyền có nhiều quyết sách sai trái và quan liêu, tham nhũng nặng; một “bộ phận không nhỏ” trong bộ máy lợi dụng quyền lực (cả quyền cai trị và quyền sử dụng, định đoạt đất đai, tài nguyên, tài sản công) cấu kết với một số nhà kinh doanh làm giàu bằng nhiều thủ đoạn bất minh (cả trong khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân), hình thành các nhóm lợi ích bất chính, xâm phạm quyền lợi của nhân dân, dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo quá bất công ở nước ta. Không ít người trong giới cầm quyền các cấp cùng với các nhóm lợi ích và sự hậu thuẫn của thế lực bên ngoài đang dựa vào bạo lực cùng nhiều thủ đoạn không chính đáng để duy trì quyền thống trị đất nước theo thể chế toàn trị, có phần do tư duy giáo điều, bảo thủ, nhưng phần quan trọng hơn, phổ biến hơn là do muốn bảo vệ và giành thêm lợi ích riêng bất chấp lợi ích chung của đất nước, của dân tộc…
Để vượt qua những thách thức hiểm nghèo đối với đất nước và dân tộc, giải pháp cơ bản là phải cải cách thể chế chính trị, chuyển từ toàn trị sang dân chủ…”
Điều đáng tiếc là những đòi hỏi thượng dẫn, xem ra, đều quá sức “chịu đựng” của chế độ hiện hành. Mâu thuẫn này khiến cho tình trạng xã hội Việt Nam xem ra có vẻ lôi thôi lắm, và e là sẽ còn lôi thôi lâu, cũng như (chắc chắn) sẽ lôi thôi lớn – trong tương lai gần.
Ông Trần Huỳnh Duy Thức, trước khi trở thành một tù nhân lương tâm, đã bàn luận về tình huống lưỡng nan hiện tại như sau:
“Trung Quốc và Việt Nam… không thể tiêu hóa nổi kết quả đương nhiên của sự tiến hóa do vận động của nền kinh tế thị trường vốn bắt buộc đòi hỏi một thể chế chính trị ngày càng dân chủ … Mặc dù hai nước này đã chấp nhận kinh tế thị trường và nhận hưởng công trạng của nó, nhưng họ dường như không thấy được quy luật này diễn biến không thể đảo ngược như thế nào và nó sẽ đẩy tất cả các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị đến đâu. Nên họ kịch liệt chống lại sự tiến hóa tất yếu này…”
Ông Trần Duy Thức bị bắt vào ngày 24 tháng 5 năm 2009. Hơn ba năm đã trôi qua. Từ đó đến nay, cả đống nước sông (cùng nước suối, nước mưa, và nước mắt) đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống. Nhiều sự kiện đã xẩy ra khiến cho thái độ “kịch liệt chống lại sự tiến hóa tất yếu này”của Hà Nội – chắc chắn – sẽ không thể kéo dài lâu nữa, ít nhất thì nó cũng không thể lâu bằng bản án 16 năm tù mà chế độ này đã dành cho ông.
Câu hỏi đặt ra người Việt sẽ làm gì sau đó, sau khi những kẻ cầm quyền hiện tại buộc phải buông tay hay thay đổi? Tương lai thường không tốt đẹp, hay sáng sủa gì cho lắm, đối với những ai không sẵn sàng để chờ đón nó.
© 2013 Tưởng Năng Tiến & pro&contra



......./.


CHÍNH PHỦ MỸ đóng CỬA










Chương trình chăm sóc sức khỏe Obamacare đã trở thành tâm điểm của sự bất đồng giữa các nghị sỹ hai đảng Dân chủ và Cộng hòa.

Theo các nghị sỹ Dân chủ, Obamacare sẽ mang lại hy vọng, giúp cho khoảng 32 triệu người trong số 50 triệu người chưa có bảo hiểm y tế được hưởng các dịch vụ y tế thông qua bảo hiểm, thì tầng lớp người giàu và các nghị sỹ Cộng hòa lại cho rằng nó sẽ làm tăng 500 tỉ USD tiền thuế với người Mỹ, vì để có kinh phí, Chính phủ Mỹ đã đề nghị tăng thuế 5% với những người có thu nhập từ hơn 1 triệu USD/năm.  




Như vậy, về cơ bản, cuộc tranh cãi không có hồi kết giữa các nghị sỹ Dân chủ, Cộng hòa thực chất vẫn là về đảm bảo lợi ích cho người giàu (thiểu số) và người nghèo (đa số). Trong khi Mỹ hiện có tới 50 triệu người, chiếm 16% dân số, vẫn chưa có bảo hiểm y tế và cần Obamacare, thì chỉ có khoảng 1% dân số thuộc nhóm người có mức thu nhập hàng năm từ 1 triệu USD trở lên.












Theo dự kiến, ngày 17.10 sẽ là hạn cuối cho việc nâng trần nợ của Chính phủ Mỹ và nếu quốc hội không thể thông qua việc nâng trần nợ, Mỹ sẽ lần đầu tiên trong lịch sử bị vỡ nợ. 



........./.

Hơn cả nói dối




Hơn cả nói dối chính là... thống kê  


Thời gian gần đây, những con số thống kê về tình hình kinh tế đã trở thành đề tài bàn thảo sôi nổi trên mặt báo, với nhiều nghi ngờ.   Không ai biết chính xác tỷ lệ nợ xấu là bao nhiêu. 

Thống đốc ngân hàng Nhà nước trước đây cho rằng con số nợ xấu là 10%, nhưng chính ông sau đó vài ngày lại nói là 8,6%. Sự “nhảy đầm” của những con số như thế làm người dân thấy rất khó tin. Ngay cả nguyên phó Thủ tướng Vũ Khoan còn phải thốt lên là ông cảm thấy khó tin vào thống kê của Chính phủ!  





Số dối tại người  

Sự thiếu tin tưởng vào con số thống kê không phải là hiện tượng mới. Phương Tây có một câu nói nổi tiếng: “Có ba loại nói dối: dối, dối đáng nguyền rủa, và… thống kê”(*). Con số thống kê được xếp vào nhóm nói dối còn tệ hơn là đáng nguyền rủa!  

Tại sao con số thống kê được xem là kinh tởm như thế? Tại vì người dùng con số và bản chất khoa học của con số. Người dùng con số thống kê thường là những người có học, họ xuất hiện trước công chúng một cách nghiêm chỉnh (veston, thắt cravat) và do đó càng tăng mức độ tin cậy. Vói sự kỳ vọng như thế, khi công chúng biết rằng họ nói dối thì đó là một sự thất vọng ghê gớm. Khác với con chữ, bản thân con số là sự chính xác của khoa học (nếu ai đó nói rằng “một thiểu số cán bộ” thì không thuyết phục bằng “có 1% cán bộ”), và khoa học theo nguyên tắc thì không được dối trá. 

Do đó, dùng con số thống kê để nói dối là một “trọng tội”, vì nó nguy hiểm hơn tất cả các loại nói dối khác.  

Không phải ngẫu nhiên mà trong nghị trường ở các nước phương Tây, con số thống kê được sử dụng rất cẩn thận. Nói dối trong xã hội phương Tây là điều đại kỵ, dù chính trị gia nổi tiếng là nói dối. (Xin mở ngoặc để nói thêm rằng ở các nước phương Tây, các thành phần xã hội bị người dân khinh thường nhất gồm người bán xe cũ, giới làm việc trong ngân hàng, và… chính trị gia). Ở Úc, nếu bộ trưởng trình bày một con số hay một phát biểu quan trọng mà không có cơ sở thì được xem là trọng tội, và bị ghi vào hồ sơ quốc hội.  

Nhưng ở Việt Nam, có nhiều quan chức, kể cả quan chức cao cấp, có xu hướng dùng con số thiếu cẩn thận. Người ta thường dùng (hay có khi “vặn vẹo”) con số thống kê được để yểm trợ cho các phát biểu nào đó. Điều trớ trêu nhất có lẽ là con số tăng trưởng GDP. Trong khi cả nước tính trung bình, tỷ lệ tăng trưởng GDP khoảng 6%, nhưng các tỉnh/thành thì báo cáo tăng trên 10%. Những khác biệt đến vô lý như thế làm cho ngay cả chuyên gia thống kê cũng phải thốt lên “sự dối trá của số liệu”. 

Trong khoa học, vặn vẹo số liệu là một trọng tội và nhà khoa học sẽ bị kỷ luật, nhưng (trớ trêu thay!) trong nghị trường thì chẳng ai bị kỷ luật gì cả!  

Thật ra, con số không dối trá, chỉ có người sử dụng con số để nói dối. Để chứng minh thành tích giáo dục, người ta có thể làm cho con số tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông cao ngất ngưởng tới 95 – 100%. Trong trường hợp này, con số đó là được thu thập đúng, nhưng nó là con số đã bị “tra tấn”. Do đó, thủ phạm nói dối ở đây chính là cái hệ thống đã tra tấn, đã tạo ra con số đó chứ không phải con số.  


“Sai con toán, bán con trâu”  

Con số thống kê cũng là một sản phẩm của xã hội, chứ không tồn tại một cách độc lập. Chính vì thế mà con số cần phải đặt trong bối cảnh thì mới có ý nghĩa. Mới đây, một trong những con số gây ra nhiều nghi ngờ nhất có lẽ là con số 1% cán bộ công nhân viên không hoàn thành nhiệm vụ. Càng đáng nghi ngờ hơn khi trước đó ngay trong nghị trường Quốc hội, có con số 30% cán bộ công chức làm việc theo kiểu “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về”. Người ta nghi ngờ con số 1% không chỉ vì nó khác biệt quá lớn với con số 30%, nhưng còn vì không biết con số đó được thu thập và tính toán như thế nào, và định nghĩa thế nào là “không hoàn thành nhiệm vụ”. 

Không có câu trả lời cho hai câu hỏi đó thì con số 1% hay 30% đều chưa nói lên ý nghĩa thật của chúng.  Nếu con số thống kê bị làm cho sai, bị biến thành một công cụ để nói dối thì các chính sách công sẽ gây ảnh hưởng xấu đến rất nhiều người.  

Bối cảnh của con số rất quan trọng. Nhiều người rất tự hào rằng tỷ lệ phát triển kinh tế (qua con số tăng trưởng GDP) cao nhất nhì thế giới, nhưng có lẽ họ quên rằng Việt Nam xuất phát từ một cơ sở rất thấp so với các nước trong vùng như Thái Lan và Malaysia. Có thể (chỉ là ví dụ) thu nhập bình quân của người dân Việt tăng gần bốn lần từ năm 2000 – 2012, nhưng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam vào năm 2000 chỉ 402 USD (bằng 1/5 của Thái Lan). Nếu chúng ta tăng trưởng thì các nước láng giềng cũng không đứng một chỗ. Đặt trong bối cảnh như thế mới thấy còn quá sớm để tự hào. 

Bối cảnh còn quan trọng hơn khi con số liên quan đến tử vong. 
Khoảng năm năm trước, tôi kinh ngạc khi đọc một bản tin trên báo trích dẫn phát biểu của một quan chức rằng “Lao động Việt Nam tại Malaysia: tỷ lệ tử vong chỉ 0,09%”. Tại sao “chỉ”, trong khi có hàng trăm người chết? Có 315 người Việt đã chết trên xứ người, với những nguyên nhân mù mờ, là một điều rất đáng quan tâm. Mỗi cái chết là một thảm trạng cho gia đình nạn nhân. Con số 315 tử vong cũng có nghĩa là 315 gia đình đang lâm vào cảnh khó khăn, khốn đốn. Chẳng những là 315 cái tang gia đình, mà còn là một sự mất mát không nhỏ cho quốc gia Việt Nam. 
Cần nhắc lại rằng những người lao động kém may mắn này chết trong độ tuổi sung mãn nhất của đời người. 
Nếu tuổi thọ trung bình trong nam giới cả nước là 71, tính trung bình mỗi cái chết tương đương 46 năm sống bị mất, và tính chung 315 người chết có nghĩa là trên 14.000 năm sống bị mất đi. Con số 0,09% có lẽ quá nhỏ đối với người mê sảng con số, chứ nó không hề nhỏ với cộng đồng.  

Con số có khi còn được sử dụng để nguỵ biện. 
Không ít người nghĩ rằng ngành y tế Việt Nam dù được đầu tư thấp nhưng có hiệu quả cao. Nhận định này dựa vào so sánh con số thống kê tuổi thọ trung bình của dân số và đầu tư cho y tế của Việt Nam và các nước tiên tiến như Mỹ hay Âu châu. Nhưng đây là một nguỵ biện bằng con số, bởi vì đánh giá hiệu quả của một nền y tế không ai chỉ chọn một chỉ tiêu duy nhất như tuổi thọ trung bình, mà còn phải xem xét đến tỷ lệ tử vong ở trẻ em sơ sinh, chất lượng chăm sóc, sự hài lòng của bệnh nhân, v.v. Vả lại, người dân Việt Nam bỏ tiền túi cho y tế nhiều hơn là đầu tư trung bình của Nhà nước. Do đó, một so sánh giữa Việt Nam và Mỹ rất khó cho chúng ta một kết luận đúng.  

Người Việt chúng ta có câu “sai con toán, bán con trâu” để nói lên hệ quả nghiêm trọng của việc tính toán sai. 

Tính toán sai có thể bắt nguồn từ con số sai. Nếu con số thống kê bị làm cho sai, bị biến thành một công cụ để nói dối thì các chính sách công sẽ gây ảnh hưởng xấu đến rất nhiều người.  



NGUYỄN VĂN TUẤN  


(*) “There are 3 kinds of lies: lies, damned lies, and statistics”. Nhiều người cho rằng tác giả câu này là Benjamin Disraeli, Thủ tướng Anh vào thế kỷ 19, nhưng trong thực tế ông không nói câu đó. Rất có thể người nói là nhà văn Mỹ Mark Twain.


......../.

Việt Nam: Sự trả thù!


Việt Nam: Sự trả thù! 




Bản dịch của Nguyễn Thái Nguyên 
(Defend the Defenders)
  
Hussein Shobokshi 
Saudi Gazette 





Nơi văn hóa gặp nhau: một người lái xích lô đợi  khách ở bên ngoài cửa hàng Louis Vuitton ở Hà Nội. Photo: Telegraph 








Nếu nhà lãnh đạo vĩ đại Hồ Chí Minh sống lại, hẳn ông sẽ rất khó khăn và mất thời gian để nhận ra đất nước mà ông đã chiến đấu rất gian truân để bảo vệ. Mặc dù Việt Nam vẫn còn tự nhận mình là một nhà nước Cộng sản, bạn sẽ phải tự đấm vào mặt để tin điều đó.  
Rõ ràng chủ nghĩa tư bản là động lực đằng sau sự tăng trưởng rất lớn của nền kinh tế và những con số đáng kinh ngạc đã chứng minh hùng hồn cho hiện tượng này. Số lượng triệu phú đô la Việt Nam đã tăng lên chóng mặt, 14,7 phần trăm chỉ trong năm 2013. Đó cũng là tốc độ tăng nhanh thứ hai trong khu vực Đông Nam Á ngay sau Thái Lan, theo một báo cáo đáng tin gần đây.  

Việt Nam vẫn cố gắng bám víu vào chủ nghĩa cộng sản, trong khi thực tế thì đi theo mọi mặt của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Đó không phải là con số quan trọng duy nhất. Tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam đã tăng lên rất đáng nể, 5 phần trăm và thị trường đã chứng kiến sự bùng nổ quan trọng, tăng 35 phần trăm kể từ cuối năm 2011.  

Thành phố Hà Nội, một thời gian dài là biểu tượng của cộng sản chống lại “cuộc xâm lược của tư bản chủ nghĩa”, ngày nay ta nhìn thấy biểu tượng của chủ nghĩa tiêu thụ phương Tây xuất hiện trên mọi đường phố cùng với việc khai trương gần đây của hãng thời trang xa xỉ Louis Vuitton, nhà bán lẻ nổi tiếng của Pháp và là biểu tượng của sự giàu có và sang trọng. Các tòa nhà văn phòng hiện đại tại các khu dân cư sang trọng cũng như một loạt các khách sạn đã tạo ra sự bùng nổ về xây dựng, dẫn đến thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến một đất nước mà trước đó chỉ biết đến như “nhà máy bóc lột”, chuyên sản xuất hàng may mặc giá rẻ và giày thể thao. Các tổ chức tài chính cũng đã được mở văn phòng tại Việt Nam, từ các ngân hàng thương mại cho các ngân hàng đầu tư cũng như các công ty bảo hiểm. Môi trường kinh doanh thân thiện thu hút các công ty luật trên thế giới và các công ty kiểm toán. Bây giờ nó là một cảnh tượng rất bình thường khi nhìn thấy KFC, Pizza Hut, Starbucks, Standard Chartered cũng như Rolls Royce khắp Hà Nội   

Đối với những người đã chuẩn bị và sẵn sàng chờ đợi sẽ có phần thưởng lớn tại Việt Nam. Có hơn 17 triệu người trong độ tuổi từ 10 và 19, về cơ bản sẽ trở thành 1,7 triệu người tiêu dùng mỗi năm trong thập kỷ tới. Giờ đây đó là điều hấp dẫn đối với bất kỳ công ty đa quốc gia nào.  

Mỹ thua Việt Nam trong thời chiến nhưng rõ ràng đã chiến thắng trong thời bình và có vẻ rất thỏa mãn với thành quả đó. Việt Nam hôm nay là một đồng minh của Mỹ, ít nhất là về kinh tế. Rõ ràng là Mỹ đã hoàn vốn và, nếu nói theo một cách ngọt ngào, đó là sự trả thù cuối cùng.  

Hồ Chí Minh, tôi xin lỗi khi nói rằng ông không được yên nghỉ trong hòa bình!  


* Nguồn: Saudi Gazette