PHƠI BÀY SỰ THẬT, KẾT TỘI THỦ PHẠM “ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HÓA”


PHƠI BÀY SỰ THẬT , KẾT TỘI THỦ PHẠM “ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HÓA”



46 ÔNG GIÀ LỊCH SỬ Ở HAI THÀNH PHỐ THÀNH ĐÔ VÀ TRÙNG KHÁNH KÊU GỌI MẠNH MẼ ĐẢNG CÔNG SẢN TRUNG QUỐC: PHẢI THANH TOÁN TỘI ÁC CHỐNG LẠI LOÀI NGƯỜI CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG!



Chúng tôi là những ông già lịch sử hơn 70, 80 tuổi, đồng thời cũng là những người đã từng trải qua và là nạn nhân của nhiều chiến dịch chính trị trong 27 năm Mao Trạch Đông cầm quyền Trung Quốc. “10 năm đại họa” đã qua được 46 năm, vì thế chúng tôi lấy con số 46 để đồng đứng tên ra lời kêu gọi đẫm máu và nước mắt này, với hy vọng toàn Đảng và toàn dân chớ nên quên giai đoạn lịch sử bi thảm, nhói lòng và đau thương ấy.   
    Ông Trần Nhất Tư, người từng đảm nhận các chức vụ trưởng nhóm Nhóm nghiên cứu phát triển nông thôn Trung Quốc, giám đốc Trung tâm phát triển nông thôn Quốc vụ viện, ủy viên Ủy ban cải cách thể chế kinh tế Quốc vụ viện, viện trưởng Viện nghiên cứu cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc, tổng thư ký Văn phòng cải cách chính trị Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và phó hội trưởng Hội nghiên cứu cải cách chính trị Trung Quốc nói: Trong 30 năm đầu cầm quyền của Đảng cộng sản Trung Quốc từ 1949-1978, các cuộc “đấu tranh giai cấp” và “vận động chính trị” do Mao Trạch Đông  phát động cứ đợt sau lại tàn khốc hơn đợt trước, khiến cho Trung Quốc đại lục phải trải qua mối đại họa chưa từng có, trở thành một “địa ngục trần gian”. Khi ấy, những con người cư ngụ trên mảnh đất được mệnh danh là “Thần Châu đại địa”, “Lễ nghi chi bang” không người nào là không ngày ngày run sợ sống trong hoảng loạn, không biết khi nào tai ương sẽ đến với người nhà hay người thân của mình. Hầu như các giới tinh anh không sót một ai đều lần lượt bị đánh, phê và làm nhục, thậm chí còn phải xa lìa vợ  con, gia đình tan nát chết chóc.




Trong vòng 30 năm, Mao Trạch Đông đã tạo ra 8,3 triệu oan hồn, 30 triệu án oan, hơn 300 triệu người bị đấu tố, có thể nói, Mao Trạch Đông coi mạng người như cỏ rác, tội ác gây án oan khắp thiên hạ đã vượt quá tội ác của tất cả các bạo chúa trong lịch sử cộng lại.” 
  
     Mao Trạch Đông năm 1966 lại một lần nữa kỳ công trù hoạch “đại họa” cướp sạch nền văn minh của lịch sử nhân loại – “Đại cách mạng văn hóa vô sản”. Vì sao ông ta lại phải phát động cái gọi là “Đại cách mạng văn hóa vô sản”?
Nhằm 2 mục đích:  Một là để thoát ra khỏi sự bế tắc chính trị cá nhân, đoạt lại quyền lãnh đạo đã bị mất vì tam niên nhân họa, mưu đồ đùn đẩy tội ác gớm guốc bỏ đói hơn 37,5 triệu người cho chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ và cán bộ các cấp. Vì thế mà ông ta phải giết người diệt khẩu, mượn lực lượng quần chúng để làm mất uy tín của Lưu Thiếu Kỳ trước hàng loạt cán bộ lãnh đạo các cấp có tranh cãi và bất mãn với ông ta; hai là để tăng cường sự độc tài cá nhân “Marx và Tần Thủy Hoàng” thì buộc phải biến thiên hạ do Đảng cộng sản cầm quyền thành “thiên hạ nhà họ Mao” cha truyền cho con, con truyền cho cháu, để soán cải giai đoạn lịch sử ông ta đang cầm quyền thành một bộ mặt hoàn toàn khác, truyền lại cho hậu thế hình ảnh một “thánh quân” thiên hạ. Muốn đạt được mục đích này buộc phải làm cuộc “vận động quần chúng” coi trời bằng vung một lần nữa. 

Mao Trạch Đông suốt đời đầy những thủ đoạn ứng biến, rất biết cách làm sao để huy động được năng lượng thói xấu của con người. Bắt đầu từ năm 1965, đầu tiên ông ta mượn tay Giang Thanh xúi giục Diêu Văn Nguyên soạn thảo, công bố bài “Bình về vở kịch lịch sử tân biên “Hải Thụy bãi quan”, để làm khúc dạo đầu cho “Đại cách mạng văn hóa vô sản”. Tháng 4.1966, để tiêu diệt Thành ủy Bắc Kinh Đảng cộng sản Trung Quốc do Bành Chân đứng đầu, Mao Trạch Đông đã phát độnh chiến dịch “Tam gia thôn” hàng vạn khẩu pháo cùng nổ, Canh Tức, Đặng Thác, Ngô Hàm, Liêu Mạt Sa bị chụp mũ phản Đảng, phản chủ nghĩa xã hội, phản tư tưởng Mao Trạch Đông, bị bãi quan cách chức, giam giữ, cách li thẩm tra.
Đặng Thác bị bức tự sát ngày 16.5.1966; một bí thư Thành ủy Bắc Kinh trở thành oan hồn đầu tiên trong “Đại cách mạng văn hóa vô sản” của Mao Trạch Đông (vào ngày này “Nhân dân nhật báo” đăng “Thông báo ngày 16.5” về Đại cách mạng văn hóa). Không lâu sau, cả  nhà phó bí thư Thành ủy Bắc Kinh Ngô Hàm cùng vợ là Viên Chấn và cô con gái đã tự vẫn. Kế đến là các vụ tự sát của nhà văn Lão Xá, nhà sử học Tiễn Bá Tán. Tiếp nữa là thư ký của Mao Trạch Đông Điền Gia Anh đã ôm hận tự sát (?) tại Vĩnh Phú Đường Trung Nam Hải  ngày 23.5.1966, với tội danh “thay đổi trước tác của Mao chủ tịch”. Khi chỉnh lý kỷ yếu các bài nói của Mao Trạch Đông, ông ta đã gạch bỏ phần “Cái hiểm của Hải Thụy bãi quan”.   

Họ đều bị tội xúc phạm đến Mao Trạch Đông chỉ vì đã viết các bài phê phán Diêu văn Nguyên và biện hộ cho Ngô Hàm, mọi người gọi họ là “Ngũ quân tử Bính Thìn”.
Tiếp đó, Mao Trạch Đông ra mặt ủng hộ “Tạo phản đại tự báo” của Nhiếp Nguyên Tử ở Đại học Bắc Kinh, nhưng vẫn cảm thấy hỏa lực chưa đủ mạnh, thế là liền đích thân vung dao quăng ra “Đại tự báo của tôi – Bộ tư lệnh nã pháo”. Rồi sau đó 8 lần tới lầu thành Thiên An Môn gặp mặt “Hồng vệ binh” toàn quốc, đưa ra khẩu hiệu phi nhân tính, vô nhân đạo “quét sạch bọn đầu trâu mặt ngựa”, “đập tan phong kiến, chỉnh sửa tư bản”, khuyến khích những con búp bê non nớt đứng lên “tạo phản”, “đoạt quyền”, thả sức đánh, đập, cướp, tịch thu, nhen lên ngọn lửa tà dữ dội “đánh đổ phái cầm quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”.


Bỗng chốc trật tự xã hội đang yên ổn hòa bình trở nên cực kỳ hỗn loạn, Mao Trạch Đông vẫn hồ nghi rằng chưa đủ loạn, lại đưa ra tiếp chủ trương vô chính phủ “đập tan công kiểm pháp[i]”, “hất bỏ đảng ủy làm cách mạng”, đồng thời lấy danh nghĩa “tam chi lưỡng quân”[ii] để kích động “đấu tranh vũ trang”quy mô lớn trên toàn quốc. Bỗng chốc tiếng súng vang lên, xác chết đầy đồng, tiếng khóc mất con mất chồng dậy khắp phố xóm.
           
Trong thời gian này, “Hồng vệ binh” với sự xúi giục của Mao Trạch Đông đã tịch thu gia sản, đập phá di tích một cách say máu, thả sức đánh người giết người, thật đúng là “coi trời bằng vung” như Mao vạn tuế đã nói.
Cả một dải Thần châu đại địa đẫm tanh mùi máu, Xích huyện Cửu vực thương tích chất chồng. Theo thống kê chưa đầy đủ, từ 18.8 đến 7.12 năm 1968, cả nước lần lượt có tới hàng chục vạn người bị hồng vệ binh đánh cho đến chết, có tới hơn 10 triệu hộ bị tịch thu gia sản.
Chỉ riêng thành phố Bắc Kinh là đất tốt lành nhất đã có hơn 114 ngàn hộ bị tịch thu gia sản. Thượng Hải có 10 vạn hộ bị tịch thu gia sản, huyện ngoại thành Xuyên Sa, một huyện nhỏ với hơn 500 ngàn nhân khẩu, đã có tới 7800 hộ gia đình bị tịch thu gia sản. Ở tận Thắng Huyện, Chiết Giang xa xôi có hơn 8 ngàn hộ bị tịch thu gia sản. Ngay cả huyện tự trị dân tộc Di-Cáp Nê Giang Thành, Vân Nam ở nơi xa xôi hẻo lánh cũng có tới 565 hộ bị tịch thu gia sản. Thành phố Uy Hải Sơn Đông chỉ riêng giới công thương, giới văn hóa đã có 275 hộ bị tịch thu gia sản.
Về mặt tàn phá di tích lịch sử lại càng khiến cho lòng người quặn thắt.
Thành phố Bắc Kinh, trong số 6843 di tích chính phủ ra lệnh bảo vệ ở lần tổng điều tra đầu tiên vào năm 1958, đã có tới 4922 di tích bị phá ở các mức độ khác nhau. Hồng vệ binh ở Học viên thể thao Bắc Kinh còn nhảy cả lên Phật hương các “Di hòa viên” để đập vỡ tượng Phật “Thích Ca Mâu Ni”. Hơn 200 hồng vệ binh ở Đại học sư phạm Bắc Kinh đã chạy đến Khổng Miếu Khúc Phụ ở Sơn Đông để tạo phản, triệu tập cuộc họp hàng vạn người đập phá Khổng Miếu, rồi còn gửi điện cho Mao Trạch Đông nói: “Mao chủ tịch kính yêu: Chúng cháu đã tạo phản!  Chúng cháu đã tạo phản! Bức tượng mộc Khổng Tử đã bị chúng cháu lôi đi, bức hoành phi “Vạn thế sư biểu” đã bị chúng cháu  giật xuống, mộ Khổng Tử đã bị chúng cháu san phẳng, tấm bia ca công tụng đức đế vương phong kiến đã bị chúng cháu đập vỡ, các tượng mộc trong Khổng Miếu đã bị chúng cháu đập vỡ sạch…”, chỉ riêng hồng vệ binh do Đàn Hậu Lan ở Đại học sư phạm Bắc Kinh cầm đầu đã đập phá tổng cộng hơn 6000 di tích, đốt hơn 2700 cổ thư, hơn 900 cổ tự họa, đập hơn 1000 tấm bia các đời, trong đó có hơn 70 di tích được nhà nước xếp hạng, đốt hơn 1000 trân bản thư tịch, gây tổn thất không gì bù đắp nổi cho đất nước.   

Các lăng mộ của những người nổi tiếng khác, như Viêm Đế Lăng, mộ Thành Cát Tư Hãn, mộ Chu Nguyên Chương, mộ Hạng Vũ, mộ Hoắc Khư Bệnh, mộ Trương Trọng Cảnh, mộ Gia Cát Lượng, mộ Nhạc Phi, mộ Viên Sùng Hoán, mộ Vương Hy Chi, mộ Ngô Thừa Ân, mộ Ngô Kính Tử, mộ Bồ Tùng Linh, mộ Trương Chi  Động, mộ Khang Hữu Vi, mộ Từ Chí Ma, mộ Phó Bao Thạch, mộ Từ Bi Hồng, mộ Trương Tự Trung, mộ Cù Thu Bạch… đều bị phá sạch. Bạch Mã Tự ở Thành Đông Lạc Dương dựng vào năm Đông Hán Vĩnh Bình thứ 11 (năm 618),  dựng lại năm Gia Tĩnh đời Minh (năm 1556). Đây là ngôi đền Phật giáo đầu tiên của Trung Quốc bị hồng vệ binh phát động nông dân sống gần đó đập phá. Thập La Hán Đường bị phá sạch sành sanh. Cuốn “Kinh Pattna” do một vị cao tăng Ấn Độ mang tới từ 2 ngàn năm trước đã bị đốt. Viên ngọc quí hiếm “Bạch Ngọc Mã” bị đập vỡ tan. Mấy năm sau, Hoàng thân Norodom Sihanouk nguyên thủ quốc gia Campuchia muốn đến triều bái ở Bạch Mã Tự, thủ tướng Chu Ân Lai đành phải cho đưa 18 vị La Hán từ Bích Vân Tự ở Hương Sơn Bắc Kinh và Kinh Pattna tàng trữ ở Cố cung đến Bạch Mã Tự  ở Lạc Dương, nhằm che đậy sự man rợ và tội ác của Đại cách mạng văn hóa.    

Đại Phật tựa lưng vào Điểu Vưu Sơn, nhìn ra Thanh Y Giang ở Lạc Sơn Tứ Xuyên cao tới 70 m, hồng vệ binh phá không nổi, liền chặt đầu cả 500 vị La Hán ở Điểu Vưu Tự nằm phía sau. Hồng vệ binh Đại học Sơn Tây  đến thánh địa Phật giáo Ngũ Đài Sơn phá Tứ cựu, đập nát miếu mạo tượng Phật, tổ chức họp đấu tố các nhà sư và ni cô, sau đó cưỡng bức 289 nhà sư và ni cô hoàn tục, quay về làm xã viên trong các đội sản xuất ở nguyên quán. Trong địa phận huyện Châu Chí Thiểm Tây còn lưu giữ được thánh địa Đạo giáo “Thuyết kinh đài” 2500 năm, theo truyền thuyết là nơi tác giả của “Đạo đức kinh” thuyết giảng. Ngôi Đạo quán này với Thuyết kinh đài làm trung tâm, trong vòng bán kính 10 dặm phân bố rải rác hơn 50 di tích, kể cả Tông thánh cung do Đường Cao Tổ Lý Uyên xây dựng, đã bị phá hủy trong Đại cách mạng văn hóa, hồng vệ binh ra lệnh bắt các đạo sĩ phải cắt tóc cạo râu, hoàn tục lập gia đình.
Đại giáo đường Nicholas ở Cáp Nhĩ Tân là một trong hai đại giáo đường chính thống duy nhất trên thế giới (tòa còn lại ở Nga), tất tật kiến trúc cùng kinh quyển, vật dụng của Đại giáo đường đều bị hồng vệ binh đập phá.
Lương Tấu Minh, người từng đấu tranh thẳng cánh với Mao Trạch Đông, khi nhớ lại cảnh hồng vệ binh tịch thu gia sản đã nói: “ Chúng xé sách, đập đồ cổ, rồi còn vừa xé vừa chửi rủa là “đồ của chế độ phong kiến”, cuối cùng ra lệnh một tiếng chất hết ra sân rồi đốt tất cả những thư tịch và tự thư từng được 3 đời cố nội, ông nội và cha tôi đích thân mua từ đời Thanh, còn có cả những thứ tự tôi gìn giữ. Hồng vệ binh tự khiêng tự đốt, rồi còn vây xung quanh hô khẩu hiệu. Khi hồng vệ binh ôm ra 2 bộ sách đồ sộ “Từ nguyên” và “Từ hải”, tôi chạy tới ngăn lại. Tôi bảo, đây là 2 bộ sách công cụ mà ai cũng cần đến nó, hơn nữa lại là của một học sinh nước ngoài cho tôi mượn, nếu mà đốt mất thì làm sao trả lại cho chủ của nó được. Hồng vệ binh đã phớt lờ tôi, vẫn cứ ném 2 bộ sách vào trong biển lửa, lại còn nói thêm: ‘Tiểu tướng hồng vệ binh cách mạng bọn tôi có “Tân Hoa từ điển” là đủ rồi’.
Hồng Học Gia, Du Bình Bá vào thập kỷ 50 bị Mao Trạch Đông khâm định là “học giả phản động tư sản”, từ khi là đối tượng công kích trọng điểm của hồng vệ binh, lúc bị tịch thu gia sản chúng đã nhét vào bao tải tàng thư của mấy đời dòng họ, châm một mồi lửa đốt luôn cả những tư liệu nghiên cứu về “Hồng lâu mộng” mà Du Bình Bá lưu giữ. Cựu bộ trưởng giao thông Chương Bá Quân là “đại hữu phái” có tiếng, tàng thư có tới hơn vạn quyển, chỗ ở của ông đã bị hồng vệ binh của một trường trung học gần đó chiếm dụng làm “Tổng bộ hồng vệ binh”. Khi mùa đông đến, đống tàng thư của họ Chương trở thành nguồn nhiên liệu sưởi ấm suốt ngày đêm cho bọn đầu sỏ hồng vệ binh, sau đó, trừ một số ít bản tốt được lưu giữ ở Thư viện Bắc Kinh ra, còn lại đều bị đưa vào nhà máy giấy để làm bột giấy.
Ở Thượng Hải, những cuốn sách được họa sĩ Lưu Hải Túc cất giấu kĩ đã bị hồng vệ binh tịch thu, chất đống ngoài đường đốt suốt hơn 5 giờ đồng hồ, số tự thư bị đốt cháy không đếm xuể. Phó giám đốc Bảo tàng văn sử trung ương Thẩm Y Mặc là đại gia thư pháp nổi tiếng khắp thiên hạ, ông lão họ Thẩm 84 tuổi sợ những bức “thư họa phản động” của mình sẽ mang họa đến cho người thân, lại lo rằng khi đốt có người nhìn thấy sẽ tố giác, tội gấp bội lần, nên đã đem xé nát tất cả những tác phẩm mà mình đã tích lũy được cùng một loạt những tác phẩm đích thực của các đại thư pháp gia đời Minh Thanh, cho vào chậu nước ngâm thành bột giấy, rồi vo viên lại cho người thân xách ra khỏi nhà lúc đêm khuya vắng lặng, vứt xuống sông Tô Châu.
 Nhà bồi tự họa là ông già Hồng Thu Thanh được người đời gọi là “thần y” của cổ tự họa, từng bồi cho không biết bao nhiêu di vật hạng quốc bảo, như tranh sơn thủy của Tống Vi Tông, tranh mặc trúc của Tô Đông Pha, các tác phẩm của Văn Vi Minh và Đường Bá Hổ…; những bức tự họa của các danh nhân mà mình đã dành hết gia sản, đem hết tâm huyết gìn giữ đã bị hồng vệ binh cho một mồi lửa, ông nói trong nước mắt:  Tự họa nặng hơn 100 cân[iii], đốt mãi à!” Họa gia Lăng Hư ở Đào Hoa Ổ mộc khắc niên họa xã, Tô Châu, có bức “Ngư lạc họa sách” dài tới 50 thước vẽ vào thập kỷ 50, từng được coi là quốc bảo tặng Tổng thống Indonesia Sukarno; hàng ngàn bức cổ bản họa ở các nơi trên đất Trung Quốc mà ông đã bỏ ra cả mấy chục năm trời để sưu tập cũng khó lòng thoát khỏi thảm họa giống như các tác phẩm hạng quốc bảo khác của ông,  đã bị hồng vệ binh đốt sạch.
 
Điều đáng sợ hơn cả là,  “phái tạo phản” ở khắp nơi trên cả nước ngoài việc đại sát đặc sát những người không cùng quan điểm với mình ra, Đại Hưng ở Bắc Kinh và Đạo Huyện ở Hồ Nam, còn tiến hành thảm sát cả nhà cái gọi là 5 loại phần tử “địa phú phản hoại hữu”, ngay cả đứa trẻ lên 3 cũng không tha, thật là bi thảm nhất trần gian, xưa nay chưa từng có.

Xin hỏi là tội của ai?  
 
Có tư liệu cho biết, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi từ 6.1966 đến 11.1974, có tới hơn 120 vị lãnh đạo Đảng và nhà nước, hơn 12.000 người thuộc giới trí thức tinh anh văn hóa  khoa học kĩ thuật đã bị Mao Trạch Đông trực tiếp và gián tiếp bức hại cho đến chết hoặc tự sát. Theo thống kê chưa đầy đủ, trong 10 năm đẫm máu này, cả nước có hơn 100 triệu người bị chỉnh đốn, 20 triệu người bị chết.

Đây là tội lỗi tột cùng!  
        
Ai là tên thủ phạm của “Đại cách mạng văn hóa”?
Mao Trạch Đông!
Ai là kẻ đầu sỏ  “đại họa”?  
Mao Trạch Đông!    
     
Đại cách mạng văn hóa đã hủy hoại lịch sử văn hóa 5 ngàn năm của dân tộc Trung Hoa cùng những trí thức cũ mới đã kiến tạo nên nền lịch sử văn hóa ấy,  từ Khổng Tử, Mạnh Tử 2000 năm trước đến Ngô Hàm, Đặng Thạc ngày nay.
Thực tế, những người bị ông ta loại bỏ đều là những viên ngọc báu trong nền văn hóa dân tộc Trung Hoa, là những bậc tinh anh trong giới trí thức.
Mao Trạch Đông đã đem các phẩm chất đạo đức truyền thống trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, ôn, lương, cung, kiệm của dân tộc Trung Hoa vứt bỏ đi như giẻ rách, chẳng thèm phân biệt cặn bã với tinh hoa. Rồi hậu quả là: Uy tín của đảng đã bị rơi xuống tận đáy, văn hóa mất gốc, kinh tế sụp đổ, tà ác lên ngôi, đạo đức của người dân đại thụt lùi; trong con mắt của dân chúng thế giới, Trung Quốc trở thành một quốc gia ngu muội, dốt nát, dã man, không có nhân quyền, tà ác.
        
Thế nhưng Đảng cộng sản Trung Quốc cho đến tận giờ vẫn chưa kết án  tên thủ phạm Đại cách mạng văn hóa, cho đến tận giờ vẫn chưa thanh toán tội ác của tên đầu sỏ “đại họa”, nhận tội và chịu hình phạt thay cho Mao Trạch Đông là “Bọn 4 người” và “Tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu”.
Quả tình “Bọn 4 người” và “Tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu” có làm không ít những chuyện xấu xa, nhưng chúng hành sự là tuân theo ý chỉ của  Mao Trạch Đông, chúng chẳng qua chỉ là một bầy chó dữ được nuôi dưỡng trong vòng tay của Mao Trạch Đông. Chó dữ cắn người thì phải diệt, lẽ nào Mao Trạch Đông là kẻ dung túng cho chó dữ làm càn lại không đáng phải gánh trách nhiệm tội lỗi 
hay sao? 


Đảng cộng sản Trung Quốc  không dám đối mặt với sự thật lịch sử, vẫn tôn ông ta là “lãnh tụ”, “vĩ đại”. Đó là sự coi thường sự bình đẳng giữa con người với con người trước luật pháp, là sự xúc phạm đạo đức, ai sẽ dẹp yên được? Và rồi ai sẽ lại dẹp yên được đây?

Còn sở dĩ nước cộng hòa nhân dân ngày nay pháp chế chưa được khai mở, thật giả đảo điên, thiện ác lẫn lộn, đen trắng bất phân, tham lam bạo ngược, không tôn trọng nhân quyền, thờ ơ với sinh mệnh, chính quyền đánh người, cảnh sát hành  hung, tất cả đều là ác quả của việc tên thủ phạm, tên đầu sỏ “Đại cách mạng văn hóa” Mao Trạch Đông vẫn chưa phải chịu sự thanh toán tội ác cần có.
Đảng cộng sản Trung Quốc đòi hỏi 1,3 tỉ dân các giới trên toàn Trung Quốc phải tuân thủ luật pháp, nhưng với Mao Trạch Đông thì lại đi ngược lại luật pháp đạo lí. Người xưa nói: Trách người trước tiên hãy tự trách mình.
Vì lí do này, chúng tôi mạnh mẽ kêu gọi “Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc” và “Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc”: Phải thanh toán những tội ác ghê tởm mà tên thủ phạm “Đại cách mạng văn hóa”, tên đầu sỏ “đại họa” Mao trạch Đông đã phạm phải! Hãy làm một cuộc  chuyển giao thế hệ cho lịch sử! Hãy trả lại cho xã hội một sự công bằng!   
  
Chúng tôi đặc biệt kiến nghị các bậc tinh anh tham dự Đại hội 18:
1.  Lập tức thanh toán triệt để những tội ác ghê tởm mà Mao Trạch Đông đã gây tai ương chuốc họa cho tổ quốc và nhân dân, gỡ bỏ chân dung ông ta  khỏi Thiên An Môn, đem cái thi thể rữa nát của ông ta ra khỏi quảng trường.      
2.  Chấm dứt truyền bá tất cả những bài hát, bộ phim, phim truyền hình và tạp chí sách vở ca ngợi Mao Trạch Đông, nhằm giúp ích cho việc gắn kết mọi lực lượng dân chúng tề tâm hiệp lực xây dựng một nước Trung Quốc mới tự do, phồn vinh, giàu mạnh.  

46 ông già lịch sử ở 2 thành phố Thành Đô và Trùng Khánh: Tưởng Văn Dương, Lý Quốc Nguyên, Phiên Thái Tài, Vương Nghĩa Trân, Vương Chí Nhân, Vương Phục Nam, Trịnh Hán Sinh, Trình Thế Quang, Ngô Hồng Quang, Lâm Hiến Quân, Ngưu Lập Hoa, Ngô Khởi Thành, Viên Chính Tâm, Tiêu Cập Trung, Lưu Bích Quần, Cảnh Lương Thìn, Chu Khánh Quang, Vương Thiệu Mẫn, Lý Nghi Lương, Từ Quý Chính, Thiết Lưu, Ô Tích Xương, Đường Đạo Phú, Lưu Văn Giới, Quách Viêm, Khuất Sở Bình, Trương Bình Trung, Ngải Phong, Hoàng Bảo Tùng, Vương Trọng Cương, Phương Chí Siêu, Diệp Thức Lễ, Phạm Cự Minh, Thầm Đông Hợi, Liêu Xích Minh, Bành Mộ Đào, Khâu Định Quốc, Lâm Tịch Ánh, Hùng Tập Lễ, Hồ Sùng Trinh, Điền Công Lượng, Phòng Nhượng Hỷ, Ngô Giới Cầm, Triệu Quần, Tưởng Văn Khâm, Chu Quốc Can, Tống Trạch Vũ, Dương Minh Truyền, Du Quốc An, Dương Thiểu Tây, Hạ Thành Nghiệp, Hà Lập Giản, Đàm Tuấn Xương, La Khai Văn, Phạm Trung Châu.
 
Điện thoại liên lạc ở Trùng Khánh:  023-68108800
Điện thoại liên lạc ở Thành Đô:  18228152159
 
Ngày 6 tháng 9 năm 2012.

Xin đặc biệt lưu ý:    Danh sách này không được lưu trên điện thoại, chủ yếu để tránh sự tấn công quấy rối của các phần tử Mao phái.
Chúng tôi không sợ chúng, bởi đó là một bang phái lưu manh côn đồ bất chấp đạo lí luật pháp, hễ cất lời là những câu bẩn thỉu tục tĩu, ngoài những lời chửi rủa uy hiếp khủng bố ra, không có được mấy tiếng người.
Quan điểm của chúng tôi là bất biến: Phê Mao đến tận cùng, kiên quyết không thoái bộ. Nếu các phần tử Mao phái thấy quan điểm của chúng tôi là không đúng, thì xin mời viết bài phản bác, nếu cho là chúng tôi bất chấp tình lý, thì có thể tố cáo với cơ quan công an cho đến khi tòa án khởi tố, nhưng không được giở thói côn đồ.

 
Nguồn: boxun.com



anhbasam.wordpress.com/




TAMNAMBAYBAY

Trần Mạnh Hảo làm thơ khóc Nguyên Hồng



Trần Mạnh Hảo làm thơ khóc Nguyên Hồng


Phạm Xuân Nguyên
“Much Ado About Nothing”


[...]

Trần Mạnh Hảo kể chuyện: 

"Thôi! Bây giờ trở lại hai bài thơ Khóc Nguyên Hồng. Đó là hai bài thơ tôi viết vào dịp bác Hồng mất, năm 1982. Bài đầu in báo Nhân Dân, còn bài sau thì không thể in được.
[...]
Hôm ấy tôi nhớ là có cái thuyền vượt biên bị chìm ở biển. Của Chúa lại trả về Chúa. Tất cả thuyền ấy đều bị dạt vào bờ hết. Hàng mấy chục xác chết bị dạt vào bãi Dứa, tức là bãi Trước. Tức là chỗ trung ương du lịch bây giờ. Trại viết mở cửa nhìn ra đó. Và mọi người đã chứng kiến cảnh đau lòng này ở thành phố Vũng Tàu. 

Bữa cơm trại trưa đó, vô tình tôi đọc được ở tờ báo Nhân Dân kê nồi. Tôi chợt nhìn thấy dòng cáo phó có tên Nguyên Hồng, không có quê hương, không có địa chỉ, không có một dòng sự nghiệp. Rồi chúng tôi bàn nhau tổ chức. Nguyễn Quang Thân viết một bài, tôi viết một bài thơ. Và tôi đã làm bài thơ đúng trong 15 phút có tên Cho một nhà văn nằm xuống. Lời đề từ cũng rất hiện đại: "Kính tặng anh Nguyên Hồng và kính tặng hương hồn lũ chúng ta". Chính cái chết của bài thơ này bắt đầu từ "hương hồn lũ chúng ta". Sau này người ta đai ra thành chuyện lớn.
Bài này tôi bị đánh "nặng nề". Trên tạp chí Sân Khấu còn đăng bài của Hoàng Tùng và Hoàng Mạnh Tường, nói là Trần Mạnh Hảo đã quay súng bắn vào Đảng. Tạp chí Sông Hương còn tường thuật lại vụ này. Anh nên nhớ rằng hồi ấy Bùi Minh Quốc và Dương Thu Hương đọc bài này đã đỏ gay mặt. Hồi đó Dương Thu Hương đang phấn đấu vào Đảng. Bài thơ này đã sinh ra hệ lụy, tôi không muốn kể. Bài thơ và sự việc bài thơ còn kéo dài một năm nữa để khai trừ Đảng tôi nhưng không có lý do để khai trừ. Tôi cũng cố gắng để không bị khai trừ. Vì nếu khai trừ, hồi đó có lẽ tôi sẽ bị bắt". 
.....

"Xin nói tiếp, tại sao lại phải làm thêm một bài thơ nữa về Nguyên Hồng. Thời ở trong rừng, tôi có biết ông Võ Trần Chí và ông Võ Văn Kiệt, mà ông Hoài Vũ lại là bạn thân của hai ông này. Hoài Vũ là cố vấn riêng cho Võ Trần Chí. Mà Nguyễn Quang Sáng và Hoài Vũ, Thép Mới đều biết rõ "sự kiện" bài thơ này. Ông Thép Mới có bảo với ông Võ Văn Kiệt và Võ Trần Chí sai Hoài Vũ đến gọi tôi lên. 

Đúng vào tối 19/5/1983 tôi vào gặp hai ông ở văn phòng Bí thư thành ủy. Câu đầu tiên ông Kiệt nói là: 

-Hảo à! Đù má… Mày làm cái gì mà dữ vậy? 

Anh phải hiểu rằng tính cách người Nam Bộ là thế. Sống với nhau trong cơ quan hay lúc sinh hoạt thường hay dùng câu ĐM kèm theo. Thân tình mới có câu ĐM. Còn đã gọi nhau bằng đồng chí là "có chuyện". Nghe được lời mắng của anh sáu (Võ Văn Kiệt) lại có kèm ĐM, tôi biết ngay là "thoát". Anh Sáu còn nói thêm về tác hại của bài thơ cho tôi hiểu và hỏi tôi: 

-Thế bây giờ mày định làm thế nào? 

Tôi chân thành đáp lại ngay: 

-Em sẽ làm một bài thơ khác cải chính lại. 

Thế là tôi làm lại một bài thơ khác viết theo ý ngược lại. Tôi đọc cho anh Sáu nghe. Anh vẫn thấy chối tai. Cuối cùng anh bảo: 

-Thôi dẹp ba cái trò thơ phú ấy đi… 

Nhắc lại để anh biết thêm về vụ Trần Mạnh Hảo làm thơ khóc Nguyên Hồng thế nào.
" 


........./.



Trần Mạnh Hảo sinh năm 1947 tại Nam Định. Lúc nhỏ Trần Mạnh Hảo theo cha xứ đi giúp lễ và học kinh sách giáo lý chủng viện công giáo. Lớn lên đi học, vì lý lịch xấu không được vào đại học.
Năm 1975 ông từ rừng Lộc Ninh về Sài Gòn, ra khỏi lính làm báo dân sự. Năm 1982 vì viết bài thơ "Cho một người nằm xuống" để khóc Nguyên Hồng ông bị treo bút ba năm. Năm 1989, in tiểu thuyết Ly Thân, ông bị cho ra khỏi đảng, đuổi khỏi biên chế nhà nước.
Trần Mạnh Hảo đã xuất bản trên dưới 30 đầu sách. Tuy nhiên từ 10 năm nay các bài viết của ông bị cấm in trên báo lề phải, không được xuất bản sách trong nước. Trần Mạnh Hảo thú nhận hiện nay ông chỉ còn viết trên Internet cho vui... 

.......................


tamnammotba

Tư duy thượng tôn pháp luật


Choáng về tư duy thượng tôn pháp luật

 Nguyễn Quang A
anhbasam.wordpress.com/2012/09/13/1251-choang-ve-tu-duy-thuong-ton-phap-luat/





“Đe” các ngân hàng không chịu hạ lãi suất, lấy tiền đâu ra thâu tóm ngân hàng, tội thâu tóm ngân hàng,… đấy là những cụm từ nóng trên báo chí trong những ngày gần đây.
Thông tin úp úp mở mở, đăng rồi gỡ xuống, chẳng còn biết đâu mà lần. Việc ấy tạo ra mảnh đất màu mỡ cho những tin đồn và không có gì hủy hoại lòng tin hữu hiệu hơn thông tin bất nhất, quanh co, mập mờ và những tin đồn.
Trong tình hình ấy những phát ngôn chưa thận trọng của những người lãnh đạo có thể rất nguy hại, đẩy nhanh việc hủy hoại lòng tin mà lòng tin là một trong những nhân tố tối quan trọng để cho thị trường và xã hội vận hành suôn sẻ, và là một trong không nhiều việc nhà nước cần tạo dựng và duy trì.
Bức xúc trước việc các doanh nghiệp lao đao, khó tiếp cận vốn, mà các ngân hàng lại chưa hạ lãi suất nhanh, nên trong một cuộc họp giữa doanh nghiệp và ngân hàng một vị lãnh đạo của một thành phố lớn được báo chí đưa tin rằng ông đã đe “những ngân hàng không giảm trần lãi suất cho vay thì trong cuộc họp Hội đồng nhân dân thành phố, tôi nói vài câu là người dân … rút hết tiền gửi vào ngân hàng khác, lúc đó đừng có kêu”.




Nguyễn Bá Thanh - Bí thư Thành ủy
kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân
thành phố Đà Nẵng : "Những ngân hàng
không giảm trần lãi suất cho vay
thì trong cuộc họp HĐND thành phố,
tôi nói vài câu là người dân Đà Nẵng
rút hết tiền gửi vào ngân hàng khác,
lúc đó đừng có kêu!"
 
Có thể hiểu được sự bức xúc của vị lãnh đạo ấy. Nhưng nếu tường thuật của báo là đúng, thì cũng thật đáng bàn về lời “đe nẹt” trên của ông.
Các ngân hàng quốc tế và các ngân hành chưa có mặt tại thành phố của ông, nghe ông “đe” như vậy chắc sẽ “vãi linh hồn” và hẳn phải cân nhắc chán xem có nên hoạt động ở đó hay không.
Bất kể ai mà “nói vài câu” khiến “người dân rút hết tiền” từ một ngân hàng để “gửi vào ngân hàng khác”, thì người đó đích thực vi phạm quyền tự chủ hoạt động của các ngân hàng được quy định tại Điều 7 của Luật các tổ chức tín dụng, là kẻ xúi giục, phá hoại và có thể làm sụp đổ hệ thống ngân hàng và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đấy là chưa nói đến quy định “trần lãi suất cho vay” có hợp pháp hay không, cũng chưa nói đến ý “lạm dụng quyền lực” và tư tưởng gia trưởng độc đoán.

Phải nói cho rõ: nhà nước không phải, và các quan chức nhà nước càng không phải là “cấp trên” của các ngân hàng.
Chức càng to càng phải tuân thủ pháp luật, cách “đe nẹt” vô lối như vậy là không thể chấp nhận được.
Thế mà theo báo chí, một cựu Thống đốc lại “hoan nghênh và hoàn toàn ủng hộ với bài toán này” của vị lãnh đạo đó. Tuy nhiên, ông cũng do dự khi nói thêm “trong trường hợp khác, nếu ngân hàng nhà nước không có chủ trương này mà chỉ” ông lãnh đạo ấy “can thiệp vào, áp đặt thì nó sẽ khác, sai quan điểm. Nhưng trong trường hợp này, Ngân hàng nhà nước đã có chỉ đạo và” ông ấy “đã làm đúng chức năng nhiệm vụ của mình”. 


TS Cao Sĩ Kiêm: Tôi ủng hộ việc
làm của ông Nguyễn Bá Thanh

Lạm phát tăng cao, rồi lại thiết chặt tiền tệ quá mức và không nghiêm trị các ngân hàng yếu kém đẩy lãi suất lên là nguyên nhân chính của tình hình. Đó là lỗi điều hành chính sách và cái “chủ trương”, “quan điểm” về trần lãi suất cho vay là trái quy luật và trái luật. Nên sự biện bạch vòng vo như thế cũng không che được ý định vi phạm luật và lạm dụng quyền lực.
Cả hai vị đều là các đại biểu quốc hội, người dân có thể hỏi lấy đâu ra sự thượng tôn pháp luật, bao giờ mới có nhà nước pháp quyền khi những người trong cơ quan lập pháp có tư duy như vậy?
Rồi còn nghe người ta nói “về tội phạm thâu tóm ngân hàng” về “yêu cầu điều tra, xử lý nghiêm minh”. Theo tôi biết trong luật hiện hành của Việt Nam không có “tội thâu tóm ngân hàng”. Các nhà lập pháp hãy quy định rõ ràng về tội đó, rồi mới có thể “yêu cầu điều tra, xử lý nghiêm minh” những kẻ vi phạm. Mua-bán (và thậm chí thâu tóm) doanh nghiệp là chuyện bình thường. Lừa đảo, không tuân thủ quy định trong mua bán cổ phần là phạm pháp nhưng là chuyện khác. Không có cái gọi là “tội thâu tóm ngân hàng”. Như thế nếu có kẽ hở, lỗ hổng luật pháp để cho một số người lợi dụng trong mua bán cổ phần thì trước tiên các nhà lập pháp phải nhìn lại lỗi của chính mình và sửa hay bổ sung luật.




Tại phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (BCĐ), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng biểu dương Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an, đã nghiêm túc chấp hành sự chỉ đạo của Chính phủ; đã khởi tố, điều tra để đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật nhằm thâu tóm ngân hàng, gây mất ổn định hoạt động ngân hàng.



Tại phiên chất vấn của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội, trả lời một đại biểu, thống đốc ngân hàng nhà nước được cho là đã nói rằng “Ai đi thâu tóm Sacombank không báo cáo với Ngân hàng Nhà nước, do vậy tôi cũng không biết họ lấy tiền đâu ra… Khi nào Đại hội cổ đông chốt lại thì mới biết một cổ đông tham gia bao nhiêu cổ phần có phù hợp với quy định không. Còn tiền ở đâu, hiện nay chúng tôi đang thanh tra Sacombank, đến hết tháng 8 này sẽ hoàn thành. Khi đó sẽ … công bố kết luận thanh tra công khai.”
.." tôi cũng không biết
họ lấy tiền đâu ra..."

Ông không sai khi đá trách nhiệm sang cho cơ quan khác, nhưng cũng cho thấy kẽ hở đâu đó trong quy định hiện hành về chứng khoán và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Một số nhà đầu tư đã bị Ủy Ban chứng khoán phạt về vi phạm thủ tục (thông báo nếu sở hữu đến 5%). Nên rà lại quy chế theo hướng gộp toàn bộ cổ phần của những người có liên quan (công ty liên quan, vợ con, anh em) và thậm chí hạ ngưỡng 5% xuống (G. Soros khi mua gần 2% cổ phần tại đội bóng Anh, Manchester United, thì phải báo cáo ngay cho SEC, Ủy Ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ!). Với hệ thống lưu ký điện tử như hiện nay của Việt Nam có thể kiểm tra và phát hiện ra ngay sự vi phạm, nếu muốn.
Cũng tương tự, hệ thống thanh toán, mà Ngân Hàng Nhà nước đã xây dựng với hàng chục triệu USD tài trợ của Ngân hàng Thế giới, cho phép Ngân hàng Nhà nước kiểm tra các nghi vấn chuyển tiền rất nhanh chứ không quá phức tạp đến mức “không biết họ lấy tiền đâu ra”.
Đã hết tháng 8 từ lâu chưa rõ lời hứa “công bố kết luận thanh tra công khai” đã được thực hiện chưa?
Người dân có quyền yêu cầu các vị hãy cẩn trọng khi phát ngôn và nhất là phải gương mẫu hành động theo tinh thần thượng tôn pháp luật.




........./.

tamtutamnam

_____________________________________ Nước Mỹ 9/11/2012








****************






















................../.

THU HOẠCH




tambonsauko


Tập hợp một số hình ảnh của những trang trại công nghiệp và truyền thống, cây trồng và các lễ hội thu hoạch trên thế giới...




(BẢN DỊCH CỦA GOOGLE)





Công nhân thu hoạch quả việt quất hoang dã ở trại Ridgeberry ở Appleton, Maine vào ngày 27 tháng 7 năm 2012. 
(Robert F. Bukaty / Associated Press) #





Felix Munk, người đứng đầu của tổ chức nuôi ong Stadtimker, nắm giữ một tổ ong với ong tại Vienna vào ngày 11 Tháng 7 năm 2012. 
 (Lisi Niesner / Reuters) #




Công nhân thu thập nho trắng trong vườn nho nổi tiếng Chateau Haut Brion, Premier Grand Cru des Graves, trong quá trình thu hoạch nho ở Pessac-Leognan, gần Bordeaux, Pháp vào ngày 04 tháng 9 năm 2012. (Bob Edme / Associated Press) #






Một nhân viên làm việc theo mùa từ Ba Lan chọn táo trên 31 tháng bảy năm 2012 Herzberg Obsthof trang trại ở Frankfurt / Oder, Đức, gần biên giới Ba Lan.(Patrick Pleul / AFP / GettyImages) #









Nông dân cỏ lĩnh vực tại Satnapur Village, Ấn Độ vào ngày 28 Tháng 6 năm 2012. (Sanjit Das / Bloomberg) #





Cocoa nông dân làm việc tại Sekyere, Ghana vào ngày 25 tháng 7 năm 2012. (Yaw Bibini / Reuters)



Phụ nữ hát khi họ ăn mừng ngày đầu tiên của lễ hội thu hoạch ở làng của Hrgovi, Bosnia vào ngày 14 Tháng 7 năm 2012. (Amel Emric / Associated Press)



Một nông dân quan hệ ớt đỏ trước khi treo chúng khô tại Khokana, Nepal vào ngày 11 Tháng Tám năm 2012. (Niranjan Shrestha / Associated Press) 





Nam cạnh tranh trong một cuộc đua trâu ở Jembrana, Bali vào ngày 12 Tháng Tám năm 2012. Hơn 300 con trâu tham gia trong "Mekepung" (trâu chủng tộc), một nghi lễ tạ ơn sau khi thu hoạch thành công. (Firdia Lisnawati / Associated Press) #



Một nông dân tham gia một cuộc đua bò truyền thống trong ngôi làng Bavarian phía nam của Muensing gần hồ Starnberg trên 26 tháng tám 2012. (Michael Dalder / Reuters) #





Ứng cử viên cho cuộc thi Hoa hậu Lily nước đặt ra trong áo của họ, được làm từ thân cây lily nước khô, nước trong Lily Festival tại thành phố Las Pinas, Phi-líp-pin on July 19, 2012. Cư dân thu hoạch cây lục bình nước và khô thân, trở thành nguyên liệu cho sản xuất giỏ, khay, dép và các chức năng và các mặt hàng trang trí khác. (Romeo Ranoco / Reuters) #




Một nhân viên làm việc trên dây chuyền sản xuất tại nhà máy bột mì Công ty Daehan Mills tại Incheon, Hàn Quốc, ngày 29 tháng 8 năm 2012. Hàn Quốc là nước nhập khẩu lớn thứ hai của châu Á hạt. (SeongJoon Cho / Bloomberg) #




Một nông dân đi qua một lĩnh vực lúa khô ở vùng ngoại ô của Jammu, Ấn Độ vào ngày 24 Tháng Bảy năm 2012. Mưa đã giảm ít nhất 22% dưới mức trung bình quốc gia. (Channi Anand / Associated Press) #




Một kết hợp thu hoạch ngô ở một cánh đồng gần Coy, Ark vào ngày 16 tháng 8 năm 2012. (Danny Johnston / Associated Press) #



Một máy kéo thu hoạch cỏ khô trên một cánh đồng gần Hildesheim, Đức vào ngày 18 tháng 8 2012. (Nigel Treblin / dapd / Associated Press #



Một kết hợp cắt giảm gạo trong một lĩnh vực gần Tucker, Ark vào ngày 16 tháng 8 năm 2012. Arkansas nông dân trồng lúa trồng 1,135 triệu mẫu Anh vào năm 2012, 59% lúa của quốc gia năm nay. (Danny Johnston / Associated Press) #




Một nông dân đi qua các lĩnh vực lúa gạo tại Khokana, Népal 08.2012 

(Prakash Mathema / AFP / GettyImages)





Nông dân chờ đợi cho khách hàng khi họ tập trung cùng với các xe tải chất đầy ngô tại thị trường trong Lahore vào ngày 03 Tháng Chín 2012. (Arif ALIArif Ali / AFP / GettyImages) 





Lúa mì mùa đông được tải từ một gặt đập liên hợp vào ngày 12 tháng 8 năm 2012 tại Hanover Wuelfer 

(Julian Stratenschulte/AFP/GettyImages) 




*****************************************************************************

____________________________ SATẾ mếu....



tranh gởi không báo nào đăng
đem về cho vợ tung tăng gói dồi
...ưu tư bút ngẩn xa xôi
giật mình thế sự theo ruồi vụt qua



............./.


những bộ tứ của hội họa Việt Nam




Về những bộ tứ của hội họa Việt Nam


*******


"nhất Trí


nhì Vân,


tam Lân


tứ Cẩn "



********************************






"nhất Sáng  

___________________________ nhì Liên







tam Nghiêm 
_______________________tứ Phái "


*************





Gerard hỏi : Người ta thường nói về những bộ tứ của hội họa Việt Nam "nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn " và bộ tứ thứ 2 "nhất Sáng, nhì Liên, tam Nghiêm, tứ Phái " vì sao có sự sắp hạng và đặt tên như thế ?


Artistphuong : Ngay từ những năm 1960 đã xuất hiện trong công chúng thuật ngữ đó để nói về 2 bộ tứ của hội họa Việt Nam "nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn " và bộ tứ thứ 2 "nhất Sáng, nhì Liên, tam Nghiêm, tứ Phái ".Có thể thấy, BXP cùng với 3 người bạn đồng khóa của ông (Sáng-Liên-Nghiêm)đều đã có những thành tựu và tác phẩm quan trọng (từ khi còn trẻ tầm U40) để đủ được xếp vào tứ trụ trong nền mỹ thuật Việt Nam.

Thực tế, đó là do quần chúng tự phong "tước hàm,tước vị" cho các ông từ những năm 60.Tôi nhớ khi xưa,BXP cũng không tỏ ra thú vị hay tán thưởng lắm về sự xếp hạng và đặt tên như thế.Có lần ông còn nói vui :"Người ta nói thế cho có vần điệu chứ thực ra là mượn ý của câu dân gian liệt kê thứ bậc ,chất lượng món cờ tây :“nhất bạch, nhì vàng, tam khoang, tứ đốm”. 



Tất cả những họa sĩ trong 2 bộ tứ ấy đều là sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương - một trường cao đẳng được thành lập năm 1925 và nằm trong hệ thống Đại học Đông Dương được chính quyền Pháp bắt đầu xây dựng từ đầu thế kỷ 20. 

Đối với bộ tứ thứ nhất,một bộ tứ quan trọng không chỉ về thành tựu sáng tạo mà còn về tính tiên phong của nền hội họa non trẻ của đất nước:"nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn ", Riêng chỗ đứng của Nguyễn Tường Lân xem ra khá mong manh. Thật ra, họa sĩ Nguyễn Tường Lân là một họa sĩ kỳ tài của Việt Nam thời 1930 đến 1946, tuy nhiên ông dã không để lại được nhiều những dấu ấn và những tác phẩm đủ quan trọng để đứng vào nhóm tứ trụ này. 



Có hai họa sĩ sáng giá ,đáng tiếc lại không được đứng vào bộ tứ nào đó là trường hợp: Lê Phổ và Nguyễn Phan Chánh.

Lê Phổ có sự nghiệp hội họa được thế giới biết đến như một biểu tượng của sự kết hợp Đông và Tây, các tác phẩm hội họa của Lê Phổ được chào đón trên thị trường nghệ thuật thế giới từ Paris đến NewYork, điều mà chưa có một họa sĩ Việt Nam nào đạt tới và thang giá tranh của Lê Phổ đến thời điểm này vẫn cao giá nhất trên thị trường mỹ thuật thế giới dành cho họa sĩ người Việt Nam.. Nếu Lê Phổ có vấn đề không gắn bó với Tổ quốc (ông rời bỏ Việt Nam từ năm 1937 và sống cho đến hết đời tại Pháp ) thì Nguyễn Phan Chánh hoàn toàn đáng được vinh danh, ông là một người đã tạo ra một diện mạo tranh lụa Việt Nam không lẫn vào bất kỳ một phong cách nào đối với các nước có nền tranh lụa lớn nhất thế giới như Trung Quốc và Nhật Bản. Trong những buổi trà dư,tửu hậu, bàn luận về các bậc họa sĩ tiền bối,anh em họa sĩ thường ví von họa sĩ Nguyễn Phan Chánh giống như là "Nguyễn Bính" trong hội họa, ý muốn nói nghệ thuật của ông chân chất , hiền lành và hơi quê quê. Có người còn ví xem tranh của ông nó "nhẹ" như uống bia mặc dù biết rằng bia mà uống nhiều thì vẫn có thể làm người ta say , nhưng vẫn là bia, nó không phải là chất rượu mạnh như Nguyễn Sáng , như Bùi Xuân Phái...

Bộ tứ “Phái - Sáng - Liên - Nghiêm” đều tồn tại với thời gian sau nửa thế kỷ thử thách. Họ, mỗi con người đều có một lịch sử dữ dội, một định mệnh của thiên tài. bộ tứ này chỉ còn lại một mình Nghiêm – Nguyễn Tư Nghiêm, lừng danh với Điệu múa cổ; Thuý Kiều, Kim Trọng; Những con giáp... 

Ngoài tài năng, cá tính tư duy sáng tạo, lòng đam mê sáng tạo của các ông còn có một yếu tố cực kỳ quan trọng đó là bối cảnh đất nước. Nếu họ không có một lịch sử như thế thì ngọn lửa nào đủ cường độ để tạo ra những vàng ròng của đất nước?
Họ là những nghệ sĩ biết bạo gan bơi ngược dòng chủ lưu, tìm ra cho bằng được con đường riêng của mình trong sáng tạo nghệ thuật, làm nên những tác phẩm mà ban đầu rất có thể sẽ bị đón tiếp một cách lừng khừng, ghẻ lạnh nhưng sau này đã trở thành những giá trị được cả xã hội thừa nhận. Hãy nhìn vào từng cuộc đời của Phái - Sáng - Liên - Nghiêm, chúng ta sẽ hiểu vì sao có sự sắp hạng và đặt tên như thế. Mỗi người trong số họ có riêng một phong cách nghệ thuật và một số phận dữ dội thật sự hiếm có trong lịch sử hội họa Việt Nam. 



Thế kỷ 20, hội họa Việt Nam sản sinh được hai bộ tứ huyền thoại, mang tầm vóc Quốc tế . Nhưng từ năm 1975 đến nay đã hơn 30 năm, chúng ta không hề có thêm được một họa sĩ "Người Lớn" nào chứ đừng nói có thêm được "bộ tứ huyền thoại". Phải chăng cuộc sống hiện đại và những tiện nghi tiêu dùng đầy đủ , cùng các phương tiện giải trí phong phú đã triệt tiêu những câu thúc, dồn nén , những khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ ?






Nguyễn Phan Chánh







Nguyễn Tường Lân




Trần Văn Cẩn





Lê Phổ 




*********************