Vinh Danh Nguồn Sáng

Vinh Danh Nguồn Sáng

. Đinh Tấn Lực

“Một hạt rượu rơi
Trái đất nghiêng say
Mẩu giấy vụn
Tôi vẽ con diều bay bổng
”
Phùng Cung (trang dạo của tập Xem Đêm – 1995 nxb Văn Hóa-Thông Tin)

Truyện ngắn Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh được đăng lần đầu trong tập san Nhân Văn số 4, tháng 10-1956. Ngay sau đó, nhà thơ Phùng Cung, người viết truyện, đã bị đấu tố tả tơi bởi hội đồng cai văn nghệ đương thời, rồi bị tước mất biên chế, và dõi suốt 140 bận nhìn ánh trăng rằm qua song sắt các nhà tù Hỏa Lò, Bất Bạt, Bảo Thắng, Phong Quang, Yên Bái, Lai Khê…

Minh Đức, nhà xuất bản truyện ngắn nói trên và các tập san Nhân Văn-Giai Phẩm cùng thời, lập tức bị đóng cửa. Bằng không, hẳn Minh Đức đã xuất bản cả hai kiệt tác Trăng Tù và Xem Đêm sau này của thi sĩ Phùng Cung.

Năm mươi lăm năm sau, một nhà thơ ở tuổi cháu của Phùng Cung, tên là Bùi Chát, sang Á Căn Đình nhận giải thưởng năm 2011 của Hiệp Hội Tự Do Xuất Bản Quốc tế (IPA), do nỗ lực thành lập và điều hành nhà xuất bản độc lập Giấy Vụn.

Bùi Chát đã bị bắt ngay khi quay về tới phi trường Tân Sơn Nhất. Kỷ niệm chương giải thưởng Tự Do Xuất Bản lập tức bị nhà nước ta tịch thu.

Nếu không phải là các loại giải túc cầu SEAgames, giải cờ vua Ekateriburg, giải dương cầm Chopin, hay giải toán học Fields… thì các loại giải thưởng quốc tế khác, đặc biệt có dính líu tới nội hàm văn hóa-thông tin, đều (chẳng những không được hoan nghênh mà còn) lập tức ứng ngay vào tội phản động, vì đã thuộc phạm trù chấn hưng dân khí, gia cố dân chí và nâng cao dân trí. Nhà xuất bản Giấy Vụn tất yếu là nằm gọn trong phạm trù này.

Lần trước, 2004, người điều hành nxb Giấy Vụn là nhà thơ Bùi Chát, cùng với đồng sáng lập viên nhóm Mở Miệng là nhà thơ Lý Đợi, đã bị bắt về tội phát tán tờ rơi tại một buổi đọc thơ, khi công an võ trang sở tại ập vào giải tán buổi sinh hoạt văn nghệ đó. Quả thật, ngoại trừ danh tính của vị đại tướng lừng lẫy trên chiến trường Điện Biên già 2 năm trước ngày nhà thơ Phùng Cung bị bắt, thì trước giờ, Văn với Võ ít khi sánh vai nhau trong chính sách đối nội của ta, tức là hiện tại vẫn chẳng có gì khác thời Minh Đức của hơn nửa thế kỷ trước.

*

Từ Minh Đức tới Giấy Vụn, tính theo khoảng cách địa dư, giữa thủ đô của VN Dân Chủ Cộng Hòa và cựu Hòn Ngọc Viễn Đông, tròm trèm 1000 dặm, có thể cường điệu và sến nương một tý mà gọi là thiên lý, cho nó …gần gụi thiên triều.

*

Từ Minh Đức tới Giấy Vụn, tính theo khoảng cách biên niên, là một nối dài xuyên suốt miền trí tuệ và khu tài đức của các TBT Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng… cũng có thể văn vẻ lên gân chút mà kêu bằng 7 triều đại, cho nó …máu.

*

Từ Minh Đức tới Giấy Vụn, tính theo khoảng cách nghị quyết, tạm kể từ đại hội III ngày 10.9.1960, người ta đếm được cả thảy là chín cái, kể cả cái nghị quyết cởi trói số 6 và lập tức xiết lại trước cái số 7. Cho dù, trước sau gì thì chúng cũng mang trên lưng cái nội dung hình số 8, của cái còng.

*

Từ Minh Đức tới Giấy Vụn, tính theo khoảng cách máu xương, là ba cuộc nội chiến:
- một huynh đệ tương tàn giữa Nam-Bắc VN để phân định thế giới lưỡng cực;
- một bầu bí tương xâm giữa Việt đỏ với Khờ-me đỏ để phân định Quốc Tế III lưỡng cực; và
- một răng môi tương cấu giữa Việt đỏ với Tàu đỏ để phân định gốc ngọn của bá quyền.

Cả ba đã cài cắm dọc dài đất nước (và trên cả lãnh thổ “bạn”) nhiều triệu bia mộ, bất kể là có cốt hay rỗng không.

*

Từ Minh Đức tới Giấy Vụn, tính theo khoảng cách chính sách, là một cuộn chỉ đỏ xuyên suốt trước sau như một: Phần Thư Khanh Nho – đốt sách chôn trò.

1951 – Nhà văn/phê bình Xuân Sách đã ghi lại thời ông mới chập chững bước vào văn đàn VN như sau:

“Anh VT khuyến khích tôi viết, tôi giữ bí mật không cho ai biết, cũng kín được một cuốn vở học sinh và giấu kỹ trong ba lô. Hết khóa tôi cùng một số đồng đội tốt nghiệp loại khá giỏi được điều ra Việt Bắc bổ sung cho sư đoàn pháo binh 351 (do thành lập vào tháng 3 năm 1951 nên dùng luôn làm tên của Sư đoàn). Trước đó ta đã có một trung đoàn 75 ly lấy được của địch. Và bây giờ thêm một trung đoàn 105 ly học bên Trung Quốc kéo về. Chúng tôi đi bộ từ Thanh Hóa ra Việt Bắc hết một tháng, nhìn thấy trung đoàn bạn mà mê mẩn: Quân lính khỏe mạnh, quần áo ka ki, thắt lưng da, quân phong quân kỷ chính quy. Một hôm tôi được đồng chí Trưởng ban tuyên huấn sư đoàn gọi lên, anh còn rất trẻ mới 23 tuổi, còn tôi mới qua tuổi 19. Anh đột ngột nói một câu khiến tôi giật mình:
- Tôi biết đồng chí viết một cái chuyện, hãy đưa tôi đọc.

Tôi định chối nhưng nghĩ lại ngay, cái thứ mình đã giấu tận đáy ba lô mà ông ấy còn biết thì giấu diếm làm gì nữa, hãy coi đây là mệnh lệnh. Tôi về lán lục ba lô lấy quyển vở lên:
- Báo cáo, đây chỉ là bản viết tập sự của tôi với mục đích dành riêng cho mình chứ không phổ biến. Chắc là chưa ra gì, đồng chí đọc rồi cho ý kiến.

Ba hôm sau đúng hẹn tôi trở lại. Đồng chí Trưởng ban mời tôi một điếu thuốc lá Trung Quốc, tôi nói không biết hút và được anh khen thế là tốt. Và với giọng nói rất điệu anh hỏi:

- Đồng chí đứng trên lập trường quan điểm nào mà viết cái chuyện này?

- Tôi chưa hiểu lập trường là thế nào, tôi thành thật trả lời, đây là chuyện đã xảy ra ở Trường Sĩ quan pháo binh mà tôi theo học. Tôi dựa vào chuyện thật ấy mà viết, tất nhiên cũng có thay đổi chút ít, nhưng tôi đã nói đây chỉ là ghi chép tập sự chứ chưa phải là tác phẩm, xin đồng chí góp ý thẳng thắn.

- Ý kiến của tôi là một người trước khi đặt bút viết dù chỉ là bản thảo mà không biết mình đứng trên lập trường nào thì hỏng từ gốc, tác phẩm sẽ gây hại. Cũng may đồng chí chưa đưa cho ai đọc, nhưng đừng giữ lại làm gì, đem đốt đi.

Nói rồi anh ném cho tôi bao diêm nhãn hiệu Trung Quốc:
- Đồng chí đốt ngay ở đây càng tốt.

Tôi đốt. Chao ôi cái ghi chép đầu tay của tôi. Nó cũng chưa là gì chứ nếu là một tác phẩm lớn thì ông Trưởng ban đã mắc cái tội đốt sách chôn nho truyền lại từ đời Tần Thủy Hoàng rồi”.

1954 – Trích Hồi Ký Của Một Người Hà Nội (ông Nguyễn Văn Luận, bút hiệu tựdo):

“Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số ‘lớp Chín hậu phương’, năm sau sẽ sáp nhập thành ‘hệ mười năm’. Số học sinh ‘lớp Chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức Hiệu đoàn’, nhận ‘chỉ thị của Thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’. Họ truy lùng… đốt sách! Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn ‘kiểm tra’, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang ‘tập trung’ tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt.

Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm ‘phấn khởi’, lời hô khẩu hiệu ‘quyết tâm’, và ‘phát biểu của bí thư Thành đoàn’: Tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là… ‘cực kỳ phản động!’. Vào lớp học với những ‘phê bình, kiểm thảo… cảnh giác, lập trường’, tôi đành bỏ học. Chiếc radio Philip, ‘tự nguyện’ mang ra ‘đồn công an’ , thế là hết, gia tài của tôi!

Đoàn Chuẩn nhớ thương hát ‘Gửi người em gái miền Nam’, để rồi bị đấu tố là tư sản, rạp xinê Đại Đồng phố Hàng Cót bị ‘trưng thu’. Hoàng Giác ca bài ‘Bóng ngày qua’, thành ‘tề ngụy’, hiệu đàn nhỏ ở phố Cầu Gỗ phải dẹp, vào tổ đan mũ nan, làn mây.

Thụy An là người Hà Nội ở lại, ‘tham gia hoạt động’ Nhân Văn-Giai Phẩm, đòi tự do cho văn nghệ sĩ, bị tù, sau chuyển lên rừng, không có ngày về Hà Nội. Bà đã dùng đũa tre chọc mù một mắt”.

Nữ sĩ Thụy An-Lưu Thị Yến đã ghi trên vách xà lim số 12 nhà tù Hỏa Lò:

“Tại nơi này, tôi đã dùng đũa chọc, hủy bỏ một con mắt của tôi để phản đối chế độ CS độc tài phi nhân đàn áp dã man văn nghệ sĩ”.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật đến thăm nữ sĩ Thụy An tại Sài Gòn sau biến cố ’75, đã ngậm ngùi về chính mình như sau:

“Chọc đi một mắt cho mù
cũng không bớt nửa cảnh tù ngó ra
nhìn vào gương người đàn bà
ta soi thấy cái bóng ta còn lùn”.

1975 – Công tác “bình định” đầu tiên ở miền Nam vừa mới bị cưỡng chiếm là niêm phong, tịch thu sách vở của các thư viện, các nhà in, các nhà xuất bản và các nhà sách lớn (Khai Trí/Sống Mới/Độc Lập/Đồng Nai/Nam Cường/Trí Đăng…) để chuyển về Bắc. Còn đại khối nhân dân vừa mới được “giải phóng” thì được lệnh tập trung toàn bộ sách vở các loại, từ tiểu thuyết, biên khảo đến giáo khoa… để nhất tề đốt sạch.

Tên gọi của chiến dịch đốt sách này là “tiêu diệt văn hóa đồi trụy Mỹ-Ngụy”, một phiên bản của quân Minh trong những ngày đầu đô hộ nước ta thời 1414, lại có phần tinh vi/hiện đại hơn.

Ông chủ nhà sách Khai Trí bị tước đoạt trắng tay và bị đi tù nhiều năm, trước khi sang Mỹ định cư cùng gia đình. Về sau, ông nghe lời đường mật là sẽ được giao trả tài sản sách vở mà quyết định quay về VN, hy vọng gầy dựng lại một Khai Trí lừng lẫy như xưa, nhưng rốt cục ông đã âm thầm qua đời ở đây với đôi bàn tay trắng.

“Bạn bảo tôi phải cố gắng lên.
Vâng, tôi xin nghe lời bạn!

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, nếu là khởi đầu của ‘Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công’, với cả trong Nam, ngoài Bắc, anh chị em nhìn lại nhau…

Thì đâu có cảnh, chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, dân mình bỏ nước mình ra đi, liều chết. Ôi, khoảng nửa triệu oan hồn còn đâu đây quanh ta. Dưới ách thực dân tàn độc, đế quốc bạo tàn, cũng vẫn ‘một tấc không đi, một ly không rời’ quê mẹ.

Chỉ vì ‘treo đầu dê, bán thịt chó’, ‘Chủ nghĩa bạo lực, cách mạng, chuyên chính, nghiêm trị, độc tôn, độc đảng độc tài, độc trị’ quả thật độc… ác! Với các chính sách bức hại tôn giáo, Cải cách Ruộng đất, giết chủ đất, đốt sách, bỏ tù văn nghệ sĩ, đổi tiền, ngăn sông cấm chợ, cải tạo công thương nghiệp, đánh tư sản, diệt nhà buôn… Và bất cứ ai cũng có thể bị tập trung cải tạo, đi tù…

Bạn bảo tôi phải cố gắng lên.
Vâng, tôi xin nghe lời bạn!”.

Thơ Ý Nga – Cố Gắng Lên – (Nguyễn Hữu Nhật & Nguyễn Thị Vinh viết Tựa).

Không hoa mắt, điếng lòng mà được sao:

“Dòng sông chữ tuôn vào biển lửa
rát mặt cây xanh héo ngọn chào
lưỡi vàng liếm đen lòng giấy trắng…”.
Nguyễn Hữu Nhật (Thơ Hoa Sen).

Đầu thiên niên kỷ thứ ba, quyển Chuyện Kể Năm 2000 của nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã bị bộ VH-TT ra lệnh thu gom, tịch biên, thiêu hủy… chỉ vì đã ghi lại trung thực tình hình sinh hoạt của các trại tù lao cải tại VN không khác gì các gu-lắc của Liên Xô trước đây, với cùng một thứ chính sách giết người bằng đói khát vật chất và khủng bố tinh thần.

Sách bị đốt tất. Còn người viết sách?

Đó là những “Biệt kích Văn hóa” với tội danh “gián điệp phục vụ CIA của Mỹ”, đã bị đọa đày từ chết dở đến chết thật: Phạm Văn Sơn, Hoàng Hải Thủy, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Hữu Nhật, Tú Kếu, Chóe…

“Nhớ mãi cái đêm ra tù
về nhà khêu ngọn đèn mù suốt đêm
nhìn chồng, gầy ốm, đứng yên
vợ bặt tiếng khóc, gọi tên, sợ lầm”.
Nguyễn Hữu Nhật (Ra Tù).

“Bị cấm viết cũng chẳng cần
bỏ vào núi sống ẩn thân qua ngày
chưa kịp thấy mây trắng bay
người không hộ khẩu hai tay bị còng”.
Nguyễn Hữu Nhật (Thơ Hoa Sen).

“Kẻ đốt sách chôn học trò, dù chết đã nghìn năm vẫn không thoát bị nguyền rủa là bạo chúa”. Kiều Phong (Chân Dung “bác” Hồ, dòng đầu phần VII).

Nhắc đến Tần Thủy Hoàng, không mấy ai nhớ xuể ông ta đã giết bao nhiêu người, nhưng sẽ bật nhớ ngay vụ đốt sách, được coi là tội lớn nhất của ông.

Tuy nhiên, nếu căn cứ trên số người bị giết hay số sách bị đốt thì họ Tần chẳng là cái đinh gì so với họ Mao! Mà họ Mao thì vốn dĩ từng là bậc thầy vạn tuế vô cương của đệ nhất chủ tịch cùng bảy đời tổng bí thư của VN kể trên.

Khốn thay, lửa bén giấy nhưng không đốt được ý tưởng:

“Họ Tần đốt sách Khổng Khưu vậy mà cái lý Tam Cương của người nước Lỗ đâu có bị hỏa thiêu cùng sách?”. Vũ Khắc Khoan (Thần Tháp Rùa).

Khốn thay, họ Mao cũng đốt sách Khổng Khưu, chỉ để ít lâu sau lũ hậu duệ dựng tượng đài và lập Giải Khổng Tử.

Cho nên, để vượt qua hoàn cảnh nghiệt ngã cùng cực dưới tay các bạo chúa 7 triều, trường phái giấy vụn đã mon men hình thành và phát triển mạnh mẽ ngay trong khắp các loại nhà tù lớn nhỏ ở VN:

“Mảnh giấy bao thuốc lá Sông Cầu, Sông Mã, Sông Hồng lượm được với mẩu bút chì đen, đổi một phần sắn trắng. Viết mò trong đêm được dòng nào gấp mép giấy đánh dấu. Sáng ra, vào nhà cầu ôn lại xong vứt đi. Rồi cả ngày hôm đó lên núi hay xuống rừng đọc thầm thơ như tụng kinh. Không nơi nào chắc chắn bằng đầu óc, và không đầu óc nào tốt bằng tình bạn yêu thơ giữ dùm”. Nguyễn Hữu Nhật (Thơ Hoa Sen).

Cho tới ngày Giấy Vụn chính thức trở thành một nhà xuất bản nổi tiếng là in đẹp nhất nước.

*

Từ Minh Đức tới Giấy Vụn, tính theo khoảng cách văn học, chính là một hệ thống ngụy thư. Bởi, đối với tuyên huấn trung ương thì đốt sách chỉ là việc ở ngọn. Cái gốc cần vun chính là một hệ thống diễn giải/đánh bóng/tô chuốt cơn mê đồng bóng được nâng cấp lên hàng chủ nghĩa, để lừa mị nhân dân, đảng viên, và chính lãnh đạo.

“Cái tội đốt sách của Tần Thủy Hoàng vẫn còn là nhẹ. Đến như tìm sách để cho các loại ngụy thư ngày một ùa ra, đến lan man tai hại không thể gỡ được, thì cái tội của nhà Hán còn nặng hơn nhiều”. Kim Thánh Thán.

1951 – Nhà phê bình Xuân Sách kể tiếp:

“Ít lâu sau ông tuyên huấn lại gọi tôi lên, lần này có thêm anh Cương. Anh là sinh viên Hà Nội, bỏ học vào bộ đội, vóc dáng cao lớn, có trình độ học vấn được chọn để đào tạo phi công, nhưng rồi ta chưa đủ điều kiện thành lập không quân nên anh được chuyển về pháo binh cùng đơn vị tôi. Xin mở ngoặc nhạc sỹ Văn Cao sáng tác bài Không quân Việt Nam là lấy cảm hứng từ lớp học của anh Cương. Anh biết nhạc và đã từng sáng tác một số bài hát. Ông trưởng ban có vẻ thân thiện hơn:
- Hôm nay tôi gọi hai đồng chí lên để trao nhiệm vụ. Toàn quân cũng như sư đoàn ta sắp bước vào một cuộc chỉnh huấn quan trọng. Toàn quốc toàn quân xác định lập trường chiến đấu. Bộ đội chúng ta phải có tinh thần chiến đấu thật cao, tinh thần hy sinh bậc nhất, sẵn sàng hiến thân mình cho đất nước… Chúng ta cần có một bài hát để cổ vũ cho cuộc chỉnh huấn này. Tôi thay mặt phòng Chính trị sư, giao cho hai đồng chí nhiệm vụ sáng tác bài hát đó. Ngắn thôi và dễ hát, để hợp với trình độ chiến sỹ. Phải nêu bật được ý nghĩa như tôi vừa nói. Đồng chí Cương làm nhạc, đồng chí Sách viết lời, trong vòng một tuần nhưng hoàn thành càng sớm càng tốt. Tôi đã báo cho đơn vị, trong tuần này hai đồng chí được miễn mọi công việc chỉ tập trung vào việc này thôi.

Ba ngày sau chúng tôi đã làm xong nhưng tranh thủ mấy ngày còn lại hai đứa vác đàn ra rừng ngồi hát nghêu ngao và tán gẫu. Đến hẹn chúng tôi lên nộp bài. Cương chơi ghi ta và hai đứa đồng ca :

‘Hôm nay ta về đây để chỉnh huấn. Là quân đội nhân dân phải có tinh thần chiến đấu thật cao, phải có tinh thần hy sinh bậc nhất, hiến thân mình cho nước…’.

Bài hát gam Đô trưởng nhịp hành khúc, có hai đoạn và điệp khúc.

Tác phẩm được trưởng ban vui vẻ chấp thuận:
- Các đồng chí thấy chưa, khi người viết đã biết rõ mình viết cái gì, viết để phục vụ ai với mục đích cụ thể thì tác phẩm sẽ thành công. Đó là quan điểm văn nghệ phục vụ công nông binh mà tôi đã lĩnh hội được trong tài liệu ‘Cuộc tọa đàm về văn nghệ ở Diên An’ của Mao Chủ tịch. Khi nào có thời gian tôi sẽ đưa tài liệu đó để các đồng chí nghiên cứu và học tập.

Chúng tôi còn được thưởng mỗi người một cái ca sắt tráng men làm ở Trung Quốc có vẽ hình ảnh về tình đoàn kết Việt-Trung–Xô”.

Đừng hỏi về điểm giống nhau như đúc giữa lời nhạc và lời dặn dò trước đó của “anh tuyên huấn”, hay vì sao văn nghệ chỉ nhằm phục vụ công-nông-binh.

Đừng hỏi vì sao bộ môn văn nghệ bao gồm cả một bộ phận chuyên viết đơn đặt hàng, và, làm văn nghệ là một hình thức lao động biểu hiện cao độ tính phục tùng đúc rập.

Cũng đừng ai hỏi thép đã tôi thế nào. Cứ bước vào chỉnh huấn là thấy tất:

“Tuổi đời tròn băm sáu
Tuổi đảng vừa mười sáu
Con bốn đứa trên vai
Cứ tưởng mình thành người

Nào ngờ vào chỉnh huấn
Lại thấy mình ngớ ngẩn
Non nớt và khù khờ
Không bằng đứa trẻ thơ

Mới hay rằng chân lý
Đã có người đại lý
Mình chỉ có tấm lòng
Mình là kẻ ăn đong

Mà ngay đến tấm lòng
Chắc đâu mình đã có
Tất cả đều đi vay
Trừ những phần bé nhỏ

Có những người đặc biệt
Gì gì họ cũng biết
Họ nghĩ cho mọi người
Và đúng cả khi sai…”.
Vũ Cận (Tốt Số).

Chính thế: Trại văn là chỗ đào tạo người viết ở dạng thô. Chỉnh huấn mới là lò rèn các ngòi bút thô cho tốt nghiệp thành hệ loa phường minh họa nghị quyết:

“Loa không dùng tiếng quạ
Không, loa nói tiếng người
Loa nói tiếng nước tôi
Mà chao ôi xa lạ

Loa đang gào chân lý
Gió Đông thổi bạt gió Tây
Nông thôn bao vây thành thị
Loa gào sáng đêm tối ngày

Loa dạy súng đẻ chính quyền
Người mạnh hơn bom nguyên tử
Cách mạng coi khinh chiến tranh
Người cách mạng thắng bằng ý chí

Loa căm thù con hổ giấy
Và bầy đàn xét lại Moskva
Căm thù căm thù hết thảy
Rít gầm và khua phèng la…”.
Vũ Cận (Tiếng Loa).

Chính thế: Trại văn, và cả chỉnh huấn, đều là các lò đúc gia truyền một mẫu mực nền tảng của chủ nghĩa:

“Văn chương là thứ chùi thay giấy
Cũng nên vừa khẩu vị vua quan”.
Vũ Cận (Người Cầm Bút Khuyên Người Cầm Bút).

*

Từ Minh Đức tới Giấy Vụn, tính theo khoảng cách địa chính trị, là một đoạn đường sắt từ ga Đông Hà băng ngang cầu Hiền Lương chập vào ga Đồng Hới. Nối liền ba miền nhập một, suốt từ Cà Mau lên gần tới Ải Nam Quan và một phần thác Bản Giốc. Nối liền hằng hà những tượng đài Tổ quốc Ghi công. Nối liền những sân gôn thay cho đồng lúa. Nối liền những khu rì-sọt chiếm mất chỗ của các rặng thùy dương.

Chỉ chưa kịp nối liền được lòng người cả nước, cả trong và ngoài nước.

Cũng chưa nối liền được các bộ não xơ cứng với bước tiến thần long mãnh hổ và tầm văn minh hiện đại của láng giềng quanh mép Thái Bình Dương.

Cho dù bên ngoài VN đã là một bản đồ thế giới mới toanh, từ Đông Âu qua Iraq tới Ai Cập, và hứa hẹn ngày còn mới hơn nữa. Nhật tân, nhật tân, nhật nhật tân. Cho dù Quốc tế III và KGB của thời Minh Đức đã bốc hơi, giúp thêm một phần tư nhân loại hít thở không khí tự do. Cho dù người ta dùng hoa để đặt tên cho những cuộc đổi đời của hàng tỷ sinh mệnh. Cả màu nữa. Đấy mới chính thực là Hoa-Màu mà loài người mong gặt hái kể từ ngày biết định cư định canh.

*

Từ Minh Đức tới Giấy Vụn, tính theo khoảng cách dư luận quốc tế, gộp cả chính khách, truyền thông, và doanh nhân nước ngoài, là một áp suất bật bung van bảo hiểm.

Xu thế thời đại không ngừng lại ở việc đòi hỏi nhà nước thực thi quyền con người, mà luôn cả các quy luật toàn cầu về lao động, an sinh và môi trường sinh thái. Đó là loại áp suất bít kín các ngỏ quay đầu lại, và khiến cho người phát ngôn bộ ngoại giao của ta phải lắm phen tắt tiếng.

WTO, AI, IBA, hay CPC… chỉ là những ví dụ.

CNN, ABC, NBC, RFA, WSJ, hay RSF… cũng chỉ là một vài ví dụ.

*

Từ Minh Đức tới Giấy Vụn, tính theo khoảng cách kỹ thuật, là một bước nhảy từ bản vỗ sang Page Maker và PDF.

Sắc nét và đa dạng/điệu đàng hơn, là một bước nhảy từ nghiêm nghị sang phá cách, từ tượng trưng sang cụ thể, từ núp bóng sang trực diện, từ ẩn dụ (con ngựa già) sang bộc bạch (sau cộng sản)…

Choàng thêm bên ngoài đó nữa là đôi hia bảy dặm của cuộc cách mạng kỹ thuật số quá độ từ các máy đánh chữ IBM, Xerox, Fax… bước sang email, internet, phôn di động, SMS… và các loại hình mạng xã hội, với tốc độ thông tin toàn cầu nhanh như điện chớp.

*

Từ Minh Đức tới Giấy Vụn, quan trọng hàng đầu và là điểm nhấn sau cùng, tính theo khoảng cách tâm tư và ý chí, trên thực tế, chỉ dài bằng một dấu gạch nối. Của Sự Thật. Của Mong Ước. Của Niềm Tin.

Khởi từ nỗi đau phải làm chứng nhân của một đất nước bị dày xéo đến lầm lụi/tang thương suốt nửa thế kỷ:

“Lênh đênh muôn dặm nước non
dạt vào ao cạn
vẫn còn lênh đênh”.
Phùng Cung (Bèo).

Khởi từ những bức xúc bầm gan tím ruột mỗi ngày:

“Công đức phô trương dù thứ thiệt
Không cho quyền lực mấy hào quang
Khỏi lo dạy bảo điều chưa học
Đừng mệt treo gương việc chẳng làm
Tiền thuê sáng tác văn huyền thoại
Nên thưởng cho ưng phệ liên hoan
Sách cao vẫn cứ đôi mông thép
Ngồi xếp bằng trên miệng thế gian”.
Vũ Cận (Lời Mưu Sĩ).

Khởi từ một khẳng định tuyệt đỉnh của nhân loại:

“Chưa làm nhà vì mải bận làm người”. Hữu Loan.

Khởi từ một khát vọng cháy bỏng ngàn đời của gần trăm triệu người có cùng gốc từ một bọc trăm trứng:

“Có thể không bao giờ tôi mở
Nhưng căn phòng của tôi phải có cửa sổ
Có thể tôi không dùng đến
Nhưng đời tôi phải có tự do
Tự do
Tự do
Tự do
Hãy bắt đầu bằng việc
Không để ai suy nghĩ giùm mình

Anh chị em ơi
Xin nghe tôi một điều nữa thôi
Chúng ta bực mình khi thấy người khác
Lục lọi đồ đạc của mình
Có lý nào chúng ta lại làm thinh
Khi người ta lục lọi một thứ
Quý hơn cả đồ đạc
Quý hơn cả tự do
Ðó là tâm hồn con người!”.
Nguyễn Hữu Nhật (Người tù già kể chuyện mình)

Từ những điểm khởi vật vã đó, cái gạch nối vừa nêu đã được in nét đậm:

Chủ trương của Minh Đức là mở thoáng một không gian suy tư, không để ai suy nghĩ giùm mình, bung rộng ra bên ngoài cái khung rào hẹp của nền văn hóa loa phường chập choạng kể trên.

Còn chủ trương của Giấy Vụn, theo nhà thơ Bùi Chát, là giúp cho các nghệ sĩ sáng tác có thể thực hiện những tác phẩm trung thực với suy nghĩ của chính mình, và giúp cho độc giả có thể tìm đến những tác phẩm mà họ thực sự muốn đọc.

Khi nói về lý do chọn người nhận giải cho năm 2011, ông Alexis Krirorian – giám đốc điều hành của IPA đã cho biết: “Tiêu chuẩn lựa chọn người nhận giải phải là một nhà xuất bản độc lập, đóng góp vào phong trào tự do xuất bản, và Bùi Chát là một trong những người hiếm hoi trên thế giới đang kiên trì làm công việc ấy”.

Trong bài diễn văn trước khi trao giải, ông Young Suk Chi, Chủ tịch hiệp hội IPA, nói rằng: “Nỗ lực của Giấy Vụn đã thúc đẩy một phong trào mới của những nhà tư tưởng mới, của những nhà văn, nhà thơ, những người làm nghệ thuật tự do… không chấp nhận sự áp đặt những tư tưởng chính trị, tuyên truyền lên họ”.

Đáp từ của nhà thơ Bùi Chát khá đơn giản: “Cũng như những anh em đang bị tù đày, quản thúc, và tất cả những người đang đấu tranh cho một tương lai tốt đẹp ở Việt Nam, chúng tôi luôn tin tưởng vào lương tri. Thông qua việc xuất bản một cách tự do những điều cần thiết, chúng tôi biết rằng nhiều độc giả của chúng tôi sẽ tìm thấy lại lương tri của mình… Hy vọng giải thưởng sẽ là cú hích đáng kể cho sự phát triển của phong trào xuất bản độc lập, đặc biệt là sự phát triển của xã hội dân sự, tại Việt Nam”.

Đến nay Giấy Vụn đã xuất bản gần 30 tác phẩm.

Giấy Vụn đã thõng tay bước qua khu rừng loa. Giấy Vụn đã xếp xó các loại khuôn thước đỏ. Giấy Vụn đã khơi than tàn thành lửa bùng của hy vọng:

“Nếu không cho lửa vào thơ được
tôi sẽ cho thơ vào lửa ngay
chính trái tim người là ngọn đuốc
soi đường gươm loáng ánh hoa bay”.
Nguyễn Hữu Nhật – (Thơ Lửa).

Giấy Vụn không đứng diễn một mình. Giấy Vụn đã kéo màn khai mạc một hướng sinh hoạt thoải mái mới được nhiều người ủng hộ. Giấy Vụn có thể sẽ phải đối diện với biết bao khó dễ trong một môi trường dưỡng nuôi điều sai quấy bằng nền tảng văn hóa bạo lực trọng võ khinh văn. Song ai cũng biết là Giấy Vụn sẽ can cường giữ đúng hương đúng vị của lẽ phải:

“Quất mãi nước sôi
trà đau nát bã
không đổi giọng Tân Cương”.
Phùng Cung (Trà).

Giấy Vụn xứng đáng được vinh danh nguồn sáng:

“Đêm đen
kìm kẹp ngọn đèn
gãy l
ửa
vẫn vinh danh nguồn sáng
”.
Phùng Cung (Nguồn Sáng).

Gút lại ở đây, vấn đề không còn treo ngành ở cái giải thưởng quốc tế Tự Do Xuất Bản nữa, bất kể là nó đang ở trong tay nhà thơ Bùi Chát hay trong ngăn kéo của công an. Vấn đề cũng không nằm ở nhà thơ Bùi Chát hay ở công an; một khi cả nước biết chuyện và thế giới đã lên tiếng. Vấn đề, cho dù không do Bùi Chát khởi xướng, rõ ràng là nó đang nhen nhúm hình thành một dạng tương quan Xã Hội Dân Sự mới toanh mà lẽ ra đã từng có từ lâu ở đây: Nhà Nước làm thuê theo ý Nhân Dân.

Nền tảng của Xã Hội Dân Sự chỉ nở hoa một khi Nhân Dân Tự Giành Lại Quyền Lực Của Mình. Nghĩa là: Nhân dân có toàn quyền hội họp, lập hội, thông tin, xuất bản… theo đúng hiến pháp và luật pháp, mà không cần phải xin phép đảng.

Giấy Vụn đang nắm tay chúng ta để cùng làm điều mơ ước đó.

“Đảng xướng dân tùy – dân bất tùy bất cập
Đảng cầu dân cụ – dân bất cụ bất an”
(đảng nói dân theo, dân không tuân theo thì đảng liệu hồn
đảng mong dân sợ, dân đếch sợ thì đảng khó yên
).
Đinh Tấn Lực sưu lục từ Truyền Kỳ Cổ Ngạn.

09-5-2011 – Nhân lễ giỗ thứ 14 nhà thơ Phùng Cung.

Blogger Đinh Tấn Lực – Chép tặng Cành Nam & Vũ Đông Hà



NÓI LẠI CHUYỆN PHIM XÍCH LÔ

NÓI LẠI CHUYỆN PHIM XÍCH LÔ

THÁI KẾ TOẠI

(Đại tá - Nguyên Giám đốc ĐACAND)

Ngoảnh đi ngoảnh lại từ khi phim Xích lô bị cấm chiếu ở Việt Nam đã 16 năm. Mười sáu năm gần như là khoảng cách một thế hệ, nhiều đồng nghiệp trẻ trong làng điện ảnh thì hầu như không biết đến chuyện này. Một số đồng nghiệp già thì không biết đầy đủ. Mấy người biết đầy đủ thì im lặng. Trong mấy năm vừa rồi tôi có nêu lại việc này với Cục Điện ảnh. Những người lãnh đạo cũ trong cuộc thì đã nghỉ hưu. Người mới thì dường như cảm thấy mình không có trách nhiệm trả lời về một vụ án oan trong làng điện ảnh đã thuộc về quá khứ. Tôi cũng đã nghỉ hưu, gần như giã từ các hoạt động điện ảnh để tập trung làm mấy tác phẩm văn học cuối đời nhưng tôi cứ băn khoăn về câu hỏi Tại sao có vụ cấm chiếu phim Xich lô? Tại sao lại có chuyện đối xử kì quái, bất công với đạo diễn Trần Anh Hùng như thế? Tại sao một bộ phim của người đạo diễn người Việt với các diễn viên Việt Nam về đề tài đương đại Việt Nam, quay tại thành phố Hồ Chí Minh, được giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venise danh giá. Lần đầu tiên người Việt được giải Sư tử vàng, một giấc mơ và có lẽ còn lâu nữa mới lại có một sụ kiện như thế mà giới lí luận phê bình điện ảnh im lặng không bàn đến một lời, trừ một vài bài “đánh’’ không có động cơ nghề nghiệp.

Tôi là một người trong cuộc. Lúc đó tôi đang là Trưởng phòng An ninh Văn hóa quốc gia, A25 Bộ Công an.

Chuyện bắt đầu như thế này:

Vào đầu thập niên 90 người Việt có một tài năng điện ảnh kiệt xuất. Người đó là đạo diễn Trần Anh Hùng.

Trần Anh Hùng tên Pháp là Guy Phimasset sinh ngày 5- 6- 1966 tại Mỹ Tho, quốc tịch Pháp. Bố mẹ TAH quê ở Nam Đàn, Nghệ An, theo đạo Thiên chúa, di cư vào Nam từ 1954, sang Lào sinh sống từ 1973, rồi sang Pháp năm 1975, hiện làm nghề may quần áo ở Pháp. TAH có một người em trai tên là Dũng sinh năm 1968 tên Pháp là Henry Phimasset, tốt nghiệp ngành kinh tế thương mại. Từ phim Xích Lô anh Dũng làm trợ lý đạo diễn cho TAH.

Tại Pháp TAH học và đậu tú tài văn chương bậc A, học Đại học Triết một năm rồi bỏ để thi vào học Trường Điện ảnh Lumière bốn năm, quay phim ngắn Thiếu phụ Nam Xương trong trường. Học xong chương trình TAH không thi tốt nghiệp, ở nhà viết một loạt kịch bản chào bán cho các hãng phim như:

Thiếu phụ Nam Xương, Hòn Vọng Phu, Thánh Saint Julien L’ Hospitalien,

Phim trinh thám dựa theo một cuốn tiểu thuyết của Nhật, năm nay đã quay tại Nhật.

Phim về cuộc chiến của giặc Cờ Đen ở Việt Nam năm 1910.

Phim về đời sống người Việt ở Pháp.

Mùi đu đủ xanh. Phim đã được sản xuất.

Cyclo (Xich lô). Phim đã được sản xuất.

Rượu đế củ kiệu. Đề tài Việt Nam dự định quay ở Hà Nội.

Những ngày không mưa. Đã quay ở Hà Nội.

Năm 1991 lần đầu tiên TAH về Việt Nam để chọn cảnh cho phim Mùi đu đủ xanh nhưng không thực hiện được việc quay phim ở Việt Nam vì lí do tài chính mà chỉ có thu thanh tiếng động Việt Nam trong tháng 10- 1992.

Tại Liên hoan phim Cannes 1993 Mùi đu đủ xanh đoạt Giải Caméra vàng. Ngày 15-7-1993 Trần Anh Hùng cùng Christophe Rosignon Giám đốc hãng LAZENNEC FILM vào Việt Nam mang phim Mùi đu đủ xanh chiếu báo cáo cho Hội đồng duyệt phim quốc gia và xin đi khảo sát thực tế cho kịch bản phim Xich lô.

Từ tháng 2 đến tháng 5.1994 TAH vào sửa chữa và trình duyệt kịch bản phim Xich lô. Trong thời gian này phim Mùi đu đủ xanh được gửi đi dự giải OSCAD, lọt vào chung kết cùng bốn phim khác. TAH cùng Trần Nữ Yên Khê nữ diễn viên vợ của TAH, Rosignnon và Giám đốc Hãng phim Giải phóng Trần Thanh Hùng đi Hollywood dự lễ trao giải OSCAD năm 1994.

Cần nói một chút về ảnh hưởng của phim Mùi đu đủ xanh. Tôi quan sát thấy bộ phim này mang đến một giọng điệu kể chuyện lạ khác với cách kể chuyện truyền thống trong phim của chúng ta và cách tác giả khai thác những chi tiết đời sống nông thôn Nam Bộ một cách chuyên nghiệp, hiện đại. Một vài nghệ sĩ đã mượn tôi kịch bản Mùi đu đủ xanh để tham khảo. Sau đó tôi thấy quả là ngôn ngữ Trần Anh Hùng có tác động tạo ra sự chuyển biến ở một số tác phẩm, trong đó có thể nói có cả nghệ sĩ cỡ hàng đầu trong nước. Trong bối cảnh lúc ấy, sự tác động đó là quý giá.

Ngày 6-4-1994 Thứ trưởng BVHTT Nguyễn Trung Kiên ký Quyết định số 501 HTQT/QĐ đồng ý cho phép Hãng phim Giải phóng cung cấp dịch vụ cho hãng Lazenec Film thực hiện bộ phim truyện Xích lô của đạo diễn Trần Anh Hùng tại Việt Nam.

Xin nói thêm để có kịch bản trình duyệt lãnh đạo Bộ VHTT các chuyên viên, lãnh đạo Cục Điện ảnh, Vụ HTQT Bộ VHTT và A25 trong đó có tôi đã phải đọc và giúp tác giả sửa chữa nhiều lần. Đến khi nội dung kịch bản đạt yêu cầu, có chính kiến của A25 ủng hộ, Cục Điện ảnh ra văn bản Giám định nội dung kịch bản trình lãnh đạo Bộ VHTT ký quyết định cho phép sản xuất phim. Tôi phải đọc kịch bản Xích lô nhiều lần. Với bản thảo lần cuối cùng tôi chấp nhận được về nội dung và tin rằng với ý đồ của TAH, cách trình bày câu chuyện đầy ấn tượng của anh sẽ có một bộ phim độc đáo.

Vì phim được thực hiện chủ yếu tại thành phố Hồ Chí Minh, lại do Hãng phim Giải phóng cung cấp dịch vụ nên A25 giao cho A25B tức bộ phận thường trực của A25 ở phía Nam do anh Trương Hòa Bình phụ trách, trong đó có bộ phận của đơn vị tôi anh Hoàng Phước Thuận và anh Bùi Dương Minh phụ trách công tác bảo vệ.

Phim Xích lô quay trong 77 ngày từ 4-11-1994 đến 11-2-1995. Trong thời gian đó giám sát viên A25b liên tục làm việc cùng đoàn phim. Tôi được nghe báo cáo có những cảnh trên hiện trường thấy có thể gây tác động không tốt, cán bộ A25b còn yêu cầu thay đổi chi tiết. Ví dụ trường đoạn đứa bé con mụ trùm băng cướp bôi sơn đỏ vào người chạy ra đường bị xe chẹt chết, giám sát viên không yên tâm vì mầu đỏ có thể gây phản cảm đã đề nghị TAH thay bằng sơn màu xanh lơ. TAH đã đồng ý thay đổi nhiều phân đoạn theo ý các cán bộ giám sát.

Từ 21-4 đến 6-5- 1995 thu tiếng động thật cho phim tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh vẫn có cán bộ giám sát của A25b.

Từ 29-8 đến 9-9-1995 Trần Anh Hùng cùng các Đoàn nghệ sĩ của Xich lô đi dự Liên hoan phim VENISE lần thứ 52 tại Italya. Trong đoàn có diễn viên Lê Văn Lộc vai Xich lô, Đinh Hoài Ngọc trợ lý đạo diến kiêm phiên dịch của đoàn phim, hai vợ chồng nghệ sĩ Nguyễn Văn Đây Chủ nhiệm kiêm diễn viên Thầy ru con.

Đêm 9-9-1995 phim Xích lô được đăng quang nhận Giải thưởng lớn Sư tử vàng. Tôi và nhiều đồng nghiệp, nghệ sĩ điện ảnh cũng xúc động vì cái tin này. Lần đầu tiên một đạo diễn người Việt Nam còn rất trẻ, một phim về Việt Nam hiện tại, làm tại Việt Nam với các diễn viên Việt Nam được một giải thưởng vào loại danh giá nhất của điện ảnh thế giới. Đấy là một dịp để quảng bá cho đất nước Việt Nam, cho con người Việt Nam và cho cả tương lai của điện ảnh Việt nam nữa nếu nó quy tụ được những người con tài năng đang sống ngoài đất nước.

Nhưng thật đáng tiếc, ngay sau đó tôi được nghe đã có những phản ứng bất lợi cho Xích lô. Sớm nhất là ý kiến của ông Lý Chánh Trung từ bên Pháp về làm xao động tại thành phố Hồ Chí Minh.. Trong lúc dư luận ồn ã như vậy thì bản phim nhựa chưa về đến Việt Nam. Hầu hết người Việt Nam chưa biết mặt mũi bộ phim được Giải Sư tử vàng là thế nào.

Tôi nhớ một buổi chiều nóng nực cuối tháng 9-1995 tại phòng họp của Cục Điện ảnh, phòng họp thôi, ngày ấy chưa có phòng chiếu hiện đại như bây giờ, Xich lô được trình chiều bằng băng video. Thành phần xem phim gồm có Hội đồng duyệt phim quốc gia và một số cán bộ của Ban tuyên huấn, Bộ VHTT, Hội ĐAVN. Công an có anh Khổng Minh Dụ, tôi và anh Nguyễn Trọng Đạo. Tôi thấy nội dung phim vẫn như kịch bản nhưng cách dựng phim và sử dụng âm thanh, màu sắc của Trần Anh Hùng đã tạo ra một ấn tượng dữ dội. Bây giờ thì cái kiểu âm thanh đó đã trở nên bình thường vì người ta đã quen với âm thanh Xơ rao các phim bom tấn của Mỹ của châu Âu nhưng lúc đó tôi thấy mấy gương mặt thật tội nghiệp. Có người còn la hét đòi giảm âm lượng. Âm thanh của phim gây sốc cho những người thần kinh yếu. Trong không khí oi bức, nhộn nhạo với cách tổ chức chiếu phim cẩu thả, Xích lô đã tạo ra một ấn tượng để tự giết nó. Cuối cùng có một cuộc hội ý nhưng lộn xộn và ý kiến không thống nhất, đợi bàn lại với một buổi chiếu bản phim nhựa.

Sau buổi chiếu có các bài báo Suy ngẫm sau khi xem phim Xich lô- Giải thưởng Sư tử vàng của Nguyễn Tường trên báo Tuần tin tức số 40 (2-8/10/1995), Phim Cyclo: Việt Nam là phương tiện hay là đối tượng phản ánh trên báo Văn Hóa ngày 15-10-1995.

Hình như có một thế lực vô hình nào đó tạo ra sụ trấn áp Xich lô. Trong cơ chế bộ máy của chúng ta người lãnh đạo nhiều khi rất sợ những người cực đoan tả khuynh hay nhân danh bảo vệ chế độ XHCN như thế. Chẳng lẽ vài người như thế lại tài giỏi, sáng suốt hơn một guồng máy làm việc của chúng tôi ư? Một guồng máy chuyên môn trực tiếp với nghề nghiệp phải nghĩ kỹ hơn họ chứ.

Bộ trưởng Bộ VHTT đã yêu cầu Hãng phim Giải phóng kiểm điểm về việc hợp tác với Hãng Lazennec làm phim Xích lô. Sau đó có quyết định cấm chiếu phim Xích lô ở Việt Nam. Còn tôi và A25 không được hỏi ý kiến về việc này. Tôi dự định khi có một buổi họp đàng hoàng hơn với bản phim nhựa sẽ phát biểu chính kiến của mình. Tất nhiên là tôi bảo vệ đạo diến Trần Anh Hùng và người bạn của tôi Trần Thanh Hùng Giám đốc Hãng phim Giải phóng một người đầy nhiệt huyết và mạnh dạn tìm cầu nối điện ảnh nước nhà với thế giới.

Vậy mà tôi cứ chờ … Cuối cùng cho đến nay không hề có một buổi họp như thế. Tôi không rõ những cá nhân nào đã làm các văn bản tham mưu cho lãnh đạo Bộ VHTT ra một quyết định vội vã như vậy. Với một quyết định của ông Bộ trưởng Bộ VHTT người ta đã coi Trần Anh Hùng như một nghệ sĩ chống chế độ, ra tiếp một cái lệnh cấm anh về nước trong nhiều năm.

Quay lại nội dung phim Xich lô. Bộ phim đã gây ra sự phân hóa cao độ trong số người đã được xem phim. Tôi hỏi ý kiến một số nghệ sĩ, người khen thì khen hết lời. người chê thì cũng chê thậm tệ. Nhưng tựu trung người ta đều cho rằng nó trình bày thực trạng xã hội một cách táo bạo mới mẻ quá. Ấn tượng của nó mãnh liệt quá. Các bài báo lên án phim Xích lô nói gì? Người ta cho là bộ phim đầy những hình ảnh bạo lực, nhiều cảnh sex và hiện thực trong phim không đúng với thực tế Việt Nam.

Sau này các đĩa phim Xích lô được bán chui ở trong nước nhưng bản quay trộm chất lượng xấu. Anh Ba Đây có cho tôi mượn một cái băng video din, tôi lại cho bạn tôi Lê Cẩm Lượng ở Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh sao lại cho sinh viên xem.

Tôi cứ tự hỏi tại sao Liên hoan phim Venise năm 1995 người ta trao giải Sư tử vàng cho phim Xích lô? Lẽ ra các nhà phê bình phim Việt Nam phải giải đáp câu hỏi đó. Có lẽ vì sợ hãi Bộ VHTT mà họ im lặng. Không một ai bênh vực cho bộ phim tội nghiệp đó.

Chả lẽ LHP Venise chỉ nhằm chống Việt Nam? Chả lẽ vì chống Việt Nam Ban Giám khảo lại hạ mình để trao giải cho một bộ phim mà người Việt Nam cho là thấp kém? Lý trí của một người tỉnh táo có thiện chí giải đáp câu này không khó lắm.

Ở phim Xích lô, Trần Anh Hùng trình bày một phong cách khác hẳn Mùi đu đủ xanh. Tôi cho rằng với những đạo diễn có biên độ phong cách giữa các tác phẩm xa nhau như vậy là một tài năng. Nhịp điệu của Xích lô co dãn thất thường, chất liệu và cốt truyện Á Đông được trình bày với các thủ pháp ấn tượng hậu hiện đại. Các hình tượng mang tính ẩn dụ cao, mang cả tinh thần triết học, nó cho người ta thấy cuộc sống các xã hội Á Đông kiểu như Việt Nam đang vươn tới thị trường và thế giới hiện đại như thế nào cùng cái giá mà nó phải trả, cái giá rất đắt, thậm chí kinh hoàng. Tuy vậy TAH đã đưa ra được lời giải cho câu hỏi đó.

Gìn giữ gia đình là chỗ cứu rỗi cho con người.

Thực trạng xã hội đen hôm nay sau 15 năm cho thấy đã vượt qúa xa những cảnh báo của anh.

Sau này hệ lụy của vụ Xích lô còn theo tôi và Trần Anh Hùng khi tôi chuyển sang làm Giám đốc Điện ảnh CAND. Giữa năm 1998 tôi hợp tác với Hãng Laennec Film. Tôi đã tạo điều kiện cho TAH về nước đi thăm Hà Nội và một số nơi để viết một kịch bản phim mới. Chúng tôi nói chuyện nhiều về những biến đổi của Hà Nội. Đầu tiên Hùng muốn ba người đàn bà Hùng yêu quý cùng đóng trong một bộ phim. Như Quỳnh, Lê Khanh, Trần Nữ Yên Khê. Sau Hùng định hình ý tưởng, cho ba người này vào dòng xoáy của một gia đình gốc Hà Nội lâu đời đang rạn vỡ vì các tác động của đời sống hiện đại. Hùng vẫn băn khoăn về việc bảo vệ các giá trị của gia đình Á Đông. Đó là kịch bản phim Những ngày không mưa.

Kịch bản Những ngày không mưa cũng phải sửa chữa nhiều lần, cuối cùng cũng được ĐACAND chấp nhận và chuẩn bị trình Cục Điện ảnh thì rắc rối lại rơi xuống.

Báo Quân đội nhân dân ngày 23-8-1998 đăng bài Hà Nội và Sài Gòn thời mở cửa qua cách nhìn phiến diện của đạo diến Trần Anh Hùng. Bút pháp của tác giả khá chuyên nghiệp, có thể là một nhà phê bình chuyên nghiệp ở Cục Điện ảnh nhưng ký tên Hạnh Lê.

Tiếp theo báo Văn Nghệ số 36 ngày 5-9-1998 đăng bài Cần một chữ Tâm khi làm phim về Việt Nam. Tác giả là Phạm Viết Đào, một người đã có nhiều chỉ trích gay gắt ngành điện ảnh.

Điều có vẻ vô lý và không đàng hoàng cho lắm là sự phê phán nhằm vào một kịch bản còn ở thời kỳ bí mật, chưa trình duyệt, chưa công bố chỉ có những người có trách nhiệm mới được cầm nó, lý lẽ phê phán với những tiêu chí không phải là tiêu chí nghệ thuật, phiến diện, thô thiển, nặng về quy chụp chính trị. Để thêm nặng đòn người ta còn lật lại cả phim Xích lô, tức là Trần Anh Hùng chống Việt Nam có cả quá trình, có cả hệ thống quan điểm..

Thời gian này tại Bộ VHTT đang có mâu thuẫn của một vài người với Cục Điện ảnh, với anh Nguyễn Khoa Điềm về vấn đề hợp tác làm phim với nước ngoài. Theo tôi mâu thuẫn này không phải là bản chất vấn đề hợp tác làm phim với nước ngoài mà xuất phát từ một góc độ khác nhưng hợp tác làm phim với nước ngoài là một cái cớ tốt nhất có thể lợi dụng vì nó rất dễ bị khai thác về chính trị. Anh em nghệ sĩ chúng ta nhiều khi bị những cú đòn oan trong một xã hội lỏng lẻo về pháp luật như thế.

Trần Anh Hùng đưa cho tôi bản thảo bài viết của anh để trả lời hai bài báo ở trên.

Về phim Xích lô TAH viết:

Để nói rõ sự thật về tôi, trước hết tôi xin nói đến vấn đề bạo lực trong phim Cyclo. Người ta thấy bạo lực trong phim này rất ghê tởm. Tôi cho đó là điều tốt. Bạo lực phải đưa ra một cảm giác ghê tởm. Đây không phải là một loại bạo lực giải trí. Và phim này đoạt giải Sư Tử Vàng tại Venise không phải “về thành công trong thể loại phim bạo lực” như có người Việt Nam mới viết trên báo. Trong liên hoan Phim Venise không có phân biệt thể loại.

“Chúng tôi trao giải Sư Tử Vàng cho phim Cyclo về phong cách thể hiện bạo lực”. Đây là lời nói của ông Jorge Semprun thì cái từ “bạo lực” trong miệng ông có một giá trị đặc biệt.

Jorge Semprun là một nhà văn, cũng là Bộ trưởng Bộ Văn hóa của Tây Ban Nha trước kia. Và cái điều quan trọng nhất có liên quan đến bạo lực là ông ta đã bị giam trong trại tập trung của Đức trong Thế Chiến Thứ Hai, ông đã thấy cái bạo lực và cái chết của mình rất rõ ràng.Vậy thì ông ta thừa biết bạo lực là như thế nào và thế nào là cái nhìn đạo đức về bạo lực và thế nào là kích động bạo lực.

Khi tôi làm phim Cyclo tôi không hề nghĩ đến chuyện bôi nhọ đất nước của tôi. Tôi là một nghệ sĩ Việt Nam định cư ở nước ngoài. Và Tổ quốc Việt Nam rất thiêng liêng đối với tôi. Nếu ai không hiểu về tôi mà kết luận vội vàng về tôi thì đó là một ác cảm ghê tởm tôi không thể tưởng tượng nổi… Cái mục đích của tôi khi làm phim này là để đưa vào nền Điện ảnh thế giới một tác phẩm nghệ thuật do một người Việt Nam làm.

Và tôi chọn một con đường đi cực kỳ khó khăn là vì phim Cyclo không phải là một loại phim dễ thương. Sự giằng xé giữa cái thiện và cái ác là một đề tài rất nặng nề, rất khó xử. Đã nói đến cái thiện và cái ác thì đừng nói đến sự cân bằng giữa hai khái niệm này. Cái ác thường phô trương một cách ly kỳ. Còn cái thiện thì không. Cái thiện không phải là loại sức mạnh biểu hiện ở bên ngoài. Phim Cyclo gắn bó rất chặt chẽ với cái ý này. Để tránh sự giả tạo và để gần sự thật, phim Cyclo dành cho cái thiện một chỗ đứng đặc biệt, đó là giữa hai hình ảnh, giữa hai cảnh, ở khoảng trống giữa hai hàng chữ. Phong cách mô tả cái thiện qua âm bản tạo cho tâm hồn thèm muốn cái thiện và đi tìm nó. Ai cũng biết trong xã hội nào cũng có mảng sáng và mảng tối. Đó cũng có nghĩa là thiện và ác. Tôi muốn thể hiện cái ác ghê gớm bao nhiêu thì sự tồn tại và giá trị của cái thiện càng lớn bấy nhiêu.

… Tôi xin kể một giai thoại rất riêng tư đã đến với tôi trong liên hoan Phim Venise làm cho tôi hiểu rõ vì sao tôi phải đấu tranh quyết liệt để thuyết phục những nhà sản xuất phải để cho tôi làm phim nói tiếng Việt. Việc này là rất phức tạp vì không có một lý do gì khiến cho một người Pháp bỏ tiền ra để làm một cuốn phim không nói gì về dân tộc của họ. Không có lý do gì ngoài tình yêu tha thiết của tôi đối với Việt Nam mà thuyết phục được họ.

…Sau khi xem phim Cyclo chiếu lần đầu tiên ở Venise, tôi hỏi bố tôi xem phim thấy thế nào, có được không?

- Ba phải xem lại vì đoạn đầu của phim, nước mắt nó cứ ứa ra làm ba chẳng thấy gì cả.

- Sao vậy ba?

- Thì… trên màn ảnh khổng lồ, ba thấy những khuôn mặt Việt Nam, mà trong đó chứa đầy sự trưởng thành của con. Họ nói tiếng Việt tại liên hoan phim lớn này làm ba xúc động

Đây là lời nói của một người cha khoan dung.

Nhưng tôi rất tin ở lời nói này bởi vì tôi chợt nhớ cảm xúc tự hào của tôi khi tôi nghe âm thanh của những câu nói bằng tiếng Việt vang lên trong Liên hoan Phim Cannes với cuốn phim đầu tay của tôi.

Do những rắc rối ở nội bộ đơn vị tôi, một nhóm người vì cá nhân chống lại việc làm phim Những ngày không mưa, Những ngày không mưa phải chuyển sang Hãng phim truyện Việt Nam do nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát mới lên Giám đốc. Và cuối cùng do tài ngoại giao khéo léo của Hồng Ngát, phim đã làm xong và được công chiếu ở Việt Nam. Những người cản bước Trần Anh Hùng đã không thực hiện được ý đồ đen tối của họ. Niềm vui của Hãng phim truyện Việt Nam cũng là niềm vui của tôi, bởi trước đây khi còn ở A25 tôi đã coi đây là chỗ thân thiết của mình, nơi tôi vào ngành điện ảnh với bộ phim đầu tay cùng đạo diễn Vương Đức, phim Cỏ Lau.

Đúng là phim Xích lô là một chuyện buồn của ngành điện ảnh Việt Nam. Một bài học điển hình về cách đối xử với tài năng nghệ thuật và các tác phẩm đỉnh cao của bộ máy quản lý nghệ thuật một nước tiểu nông.

Nhưng vụ phim Xich lô không chỉ liên quan đến vài ba cá nhân trong cuộc. Nó ảnh hưởng đến những vấn đề lớn hơn đối với nền điện ảnh của chúng ta.

Tác hại lâu dài của nó vẫn còn đang ám ảnh đời sống điện ảnh với những cách hành xử vô lối tùy tiện.

Và cũng không ít chuyện buồn đã diễn ra như thế trong mấy chục năm qua. Nhiều số phận nghệ sĩ phải trả giá, nhiều tác phẩm bị chìm nổi. Những con người ấy, những tác phẩm ấy đang đợi chúng ta nói lại về họ… Đó cũng là điều tâm huyết của tôi muốn nói với các đồng nghiệp điện ảnh của mình.

Tháng 8- 2010

VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN

TỐNG VĂN CÔNG: VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN

Tống văn Công

Đọc Góc ảnh chiếu từ nước Nhật của nhạc sĩ Tuấn Khanh, dù đau lòng tôi cũng đồng tình với ông: " Đôi khi giữa những hoang tàn đó của nước Nhật, người ta bừng sáng hy vọng – và đôi khi sống giữa những điều được gọi tên là bình yên của đất nước mình, một người Việt Nam vẫn có thể cảm nhận được những ảnh chiếu sắc cạnh của sự hoang tàn". Đã có nhiều bài viết cho rằng nếu tai họa như nước Nhật xảy ra ở nước ta thì có thể hình dung nhiều điều xấu xa sẽ xảy ra bởi sự băng hoại đạo đức của người Việt. Mới đây, có ý kiến chỉ đạo báo chí: "Khi đề cao tinh thần vượt khó của nhân dân Nhật Bản không nên cường điệu, vô hình chung (trung) hạ thấp tinh thần của người Việt Nam". Cường điệu là điều không nên, tuy nhiên có cần phải lo lắng "vô hình trung hạ thấp tinh thần của người Việt Nam" ? Lổ Tấn chọn đơn thuốc AQ đắng nghét đã có hiệu quả chữa trị tinh thần bạc nhược của người Tàu. Sau này, nhà văn hóa Bá Dương tiếp tục mổ xẻ "Người Trung Quốc xấu xí" cũng được đồng bào ông cho là cần thiết.

Nhân chuyện này, tôi muốn chúng ta cùng nhớ rằng dân tộc ta vốn không phải xấu xa như hôm nay mà đã từng có những thời kỳ rất tốt đẹp . Hằng ngàn năm trước, ông cha ta có tư tưởng nhân văn vượt thời đại: "Thương người như thể thương thân". So với "Điều gì mình không muốn thì đừng gây ra cho người" của Khổng Tử quả là cao hơn. Con cái biết sánh: "Công cha như núi Thái sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra". Cha mẹ mong muốn "Con hơn cha là nhà có phúc" chứ không đòi hỏi "Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu". "Thuận vợ đồng chồng tát bể Đông cũng cạn" chứ không phải "phu xướng phụ tùy "… Đối với hàng xóm thì "Tối lửa tắt đèn có nhau". Đối với đồng bào thì "Người trong một nước phải thương nhau cùng" v.v.

Những ai đã từng trải qua thời kháng chiến chống thực dân Pháp đều biết: Ở các vùng giải phóng, đêm nhà nhà không cài cửa. Nhân dân giành nhau đón mời bộ đội về nhà mình để chăm sóc nuôi dưỡng. Đơn vị tôi có anh Nguyễn Hoàng Minh là người Bắc, được các bà các mẹ bảo: "Tao thương nó hơn tụi bay. Nó xa cha xa mẹ vô đây". Trong lần nói chuyện với cán bộ miền Bắc sắp đi B (vào Nam),Tổng bí thư Lê Duẩn kể, thời chống Pháp, ông ở nhà dân và họ đều biết ông là Bí thư Trung ương cục. Mỗi lần ông đi công tác về gặp bữa cơm, ông bà chủ nhà hỏi: "Thằng Ba, mầy ăn cơm ở đâu chưa? Chưa, thì vô bếp lấy chén đũa ra ăn luôn nghe!".

Khi tập kết ra Bắc, đơn vị tôi đóng quân ở nhiều vùng.Tôi nhận ra là đồng bào mình ở miền Bắc cũng sống đầy tình nghĩa như trong Nam, dù vật chất có thiếu thốn hơn. Thời Mỹ ném bom phá hoại, nhân dân các vùng khu IV dám đem ván phảng nhà mình lót hố bom cho xe bộ đội kịp chuyến vào Nam. Các vùng bị B52 dội bom ác liệt như Khâm Thiên, Gia Lâm…, hoàn toàn không có hiện tượng hôi của. Xăng dầu, quân dụng rải dọc theo ven đường không cần canh giữ, cũng không bị trộm cắp…

Câu thành ngữ "Ra ngõ gặp anh hùng" mô tả chính xác con người Việt Nam trong suốt 30 chiến tranh. Toàn dân tin những người lãnh đạo đang dồng cam cộng khồ với mình vì "Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do". Do vậy mà được thế giới nhìn vào,ca ngợi "Việt Nam là lương tâm của nhân loại"!

Tại sao người Nhật thảm bại trong chiến tranh, đã có thể vươn dậy làm nên sự "thần kỳ Nhật Bản". Còn ta thì ngược lại từ "ra ngõ gặp anh hùng" đến tình trạng "Đến chỗ nào cũng thấy ăn cắp"! Có lẽ xem xét hiện tượng trái ngược này sẽ giúp chúng ta thu được nhiều điều bổ ích ?

Có người cho rằng, vì người Nhật tiếp tục những bài học từ thời Thiên Hoàng. Nói như vậy thì xa xôi quá! Tôi nghĩ, chỗ khác nhau giữa ta và họ là cách rút ra bài học sau chiến tranh, từ đó mà tìm đúng con đường đi tới.

Người Nhật bại trận đã nhanh chóng nhận ra nguyên nhân thất bại của mình là đi ngược lại xu thế thời đại: Chủ nghĩa Sôvanh (Ph. Nicolas Chauvin), chủ nghĩa thực dân với mọi hình thức đã bị lịch sử phủ định .Người Nhật cũng nhanh chóng nhận ra, Mỹ là một quốc gia dân chủ, đề cao nhân quyền, họ tham gia lực lượng Đồng minh chỉ nhằm chống phe trục, chứ không có mưu toan chiếm Nhật làm thuộc địa. Từ nhận thức đó, dù vừa bị Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử đầu tiên, người Nhật không coi họ là kẻ thù mà tự nguyện giao kết là đồng minh chiến lược trong công cuộc phục hưng đất nước. Nhờ quan hệ này, người Nhật suốt thời gian dài không phải bỏ nhiều chi phí cho quốc phòng, tập trung mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, xã hội, trở thành tấm gương tốt đẹp nhiều mặt:

1 – Từ bỏ độc tài quân phiệt, xóa hệ thống chính trị phát xít, tôn trọng dân chủ, nhân quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập. Nhật Bản là nước quân chủ lập hiến, trong đó Thủ tướng nắm quyền cao nhất về quản lý quốc gia và chịu sự giám sát của Quốc hội hai viện, cùng Tòa án Hiến pháp nhằm ngăn chặn những quyết định vi hiến của Chính phủ. Thế giới coi Nhật là một nước có nền dân chủ đầy đủ, ưu việt vào bậc nhất.

2 – Chuyển đổi nền kinh tế phục vụ chiến tranh thành nền kinh tế dân sinh, nâng cao sức cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu. Từ hoang tàn người Nhật xây dựng nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Gần đây Trung Quốc tuyên bố đã chiếm vị tri nền kinh tế lớn thứ 2, nhưng mức thu nhập bình quân của người Trung Quốc còn thấp quá xa so với Nhật. Trong khi đó Nhật không có tình trạng cách biệt giàu nghèo khủng khiếp như Trung Quốc!

3 – Xây dựng nền văn hóa tiên tiến và bảo tồn bản sắc tốt đẹp của truyền thống Nhật Bản; một nền giáo dục hàng đầu thế giới về đào tạo những con người phát triển toàn diện. Nền văn hóa và giáo dục đó sản sinh 2 nhà văn đoạt giải Nobel văn học là Yasunari Kawabata, Kenzaburo Oe và nhiều văn tài khác như Kôbô Abê , Haruki Murakami. Trà đạo, hát ka-ra-o-kê, thơ Hai-ku, ẩm thực Nhật được thế giới hâm mộ.

Đặc biệt những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn cho nhân dân Việt Nam mà chúng ta chưa thực hiện được đã có thể nhìn thấy ở Nhật Bản như : "Chính quyền từ xã tới trung ương phải do nhân dân lập ra"; "Nếu Chính phủ làm hại dân thì nhân dân có quyền đuổi Chính phủ", "Cán bộ, đảng viên là người lãnh đạo và là đày tớ của nhân dân"… Mấy năm qua, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vị Thủ tướng Nhật chỉ vì chưa thực hiện được một lời hứa náo đó đã phải từ chức, chứ chưa cần người dân đưa đơn kiện. Trong vụ động đất hiện nay, chúng ta thấy ông Thủ tướng Can vô cùng tất bật vẫn bị người dân Nhật phê phán đã chậm có mặt ở nơi bị tàn phá nặng nhất .

Tai họa vừa qua, phẩm chất con người Nhật Bản được nhân loại thán phục chính là kết quả của nền chính trị, kinh tế, văn hóa và giáo dục ưu việt của họ.

Hàng chục năm qua, Việt Nam chúng ta đã nhận được sự giúp đỡ hào hiệp của Nhật Bản.Hiện nay hàng vạn sinh viên và người xuất khẩu lao động Việt Nam đang học tập và lao động ở Nhật. Nhiều nhà lãnh đạo nước ta trân trọng đề cao mối quan hệ đối tác chiến lược Nhật – Việt. Chẳng lẽ chúng ta không biết trân trọng tìm học con đường đưa tới dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh theo kiểu Nhật? Tựu trung gồm 3 điểm vừa kể ở trên.

Chúng ta ra khỏi chiến tranh với tư thế người anh hùng chiến thắng siêu cường số 1 thế giới! Nguồn sức mạnh để chiến thắng, được chúng ta nhận định là từ "3 dòng thác cách mang" thế giới. " Chủ nghĩa Mác – Lênin bách chiến bách thắng muôn năm !" được chúng ta trương cao khắp đất nước như là một tuyên ngôn, là tổng kết chiến tranh và là ngọn cờ sẽ dẫn đường đi tới. Từ nhận định đó đưa tới đổi tên Đảng, đổi quốc hiệu, thực hiện chuyên chính vô sản, vạch ra đường lối tiến nhanh tiến mạnh ,tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó, trên bình diện quốc tế, chủ nghĩa xã hội đang lâm vào khủng hoảng, đã có nhiều dấu hiệu rạn vỡ. Rạn vỡ dễ thấy nhất là sự chống đối nhau điên cuồng, kể cả bằng vũ lực của hai nước lớn nhất là Liên Xô và Trung Quốc, cho thấy điều gọi là chủ nghĩa quốc tế vô sản không hề tồn tại! Mãi đến khi đã bị Trung Quốc phản bội tấn công, chúng ta vẫn kiên trì nhận định Mỹ là kẻ thù lâu dài, nguy hiểm, còn Trung Quốc chỉ là kẻ thù trực tiếp, bởi đang có một nhóm cầm quyền mang tư tưởng bá quyền bành trướng. Do nhận định như vậy, ngay sau khi Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, Tổng bí thư Nguyễn văn Linh vội vàng sang cầu hòa với Trung Quốc trong thế yếu, ca ngợi "16 chữ vàng", trong thực tế đau buồn là đang bị chiếm đất, chiếm đảo, đưa tới nghịch cảnh mãi tận hôm nay! Để Trung Quốc có cớ xâm lược là không khôn khéo, tuy nhiên thỏa hiệp vô nguyên tắc và không biết tìm cách để chọn nhiều đồng minh chiến lược, đối trọng với họ giữ vững an ninh cũng là không biết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Khác hẳn chúng ta, người Mỹ nhanh chóng nhận ra thất bại của họ trong cuộc chiến là đã không hiểu được sức mạnh từ chủ nghĩa yêu nước của người Việt (Hồi ký của nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Macnamara). Họ muốn sớm lập quan hệ với chúng ta, nhưng trớ trêu thay chúng ta không vượt qua nổi mối thù! Chúng ta không hiểu đúng sức mạnh quyết định chiến thắng của mình chính là được khơi dậy từ lời kêu gọi chính xác của Hồ Chí Minh:"Không có gì quý hơn Độc lập Tự do"! Hiện tượng hàng triệu quân chế độ Sài Gòn dễ dàng tan rã, chắc chắn không phải vì họ hèn kém bởi họ cũng là con Lạc, cháu Hồng, chắc rằng họ rã ngũ vì không thấy mình đối địch với cộng sản, mà đối địch với Độc lập Tự do! Ông Lê Duẩn cho rằng phải "giương cao 2 ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội" , trong tình thế bấy giờ là đúng, bởi vì cần phải có vũ khí của Liên Xô,Trung quốc. Tuy nhiên, "ngọn cờ xã hội chủ nghĩa" mặt khác đã làm cho sự quyết đấu vì ý thức hệ giữa Tự do và Cộng sản của Pháp, Mỹ càng thêm quyết liệt. Nói như vậy, không hề có ý giảm nhẹ trách nhiệm của Pháp và Mỹ. Cho đến khi đã bị sa lầy trong cuộc tái chiếm thuộc địa, phải tìm giải pháp Bảo Đại, thế mà người Pháp vẫn làm cho "con ngựa cũ" của mình phải lồng lộn: "Hơn nữa, nếu chính phủ Pháp đoạn giao với "Bác Hồ" chính là bởi lý do sự đòi hỏi về độc lập và thống nhất của họ nhiều hơn lý do họ là cộng sản quốc tế" (Bảo Đại – Con Rồng Việt Nam, trang 334). Từ thời ấy, Mỹ đã gánh cho Pháp hơn 80% chiến phí. Chính thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã đẩy Cụ Hồ phải tìm chỗ dựa Trung quốc, Liên Xô .

Nếu tỉnh trí, nhìn đúng thế mạnh chiến thắng vừa qua của mình, chúng ta sẽ trở lại với Cụ Hồ khi trích Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp làm Tuyên ngôn độc lập Việt Nam, .mà vấn đề cốt lõi là Dân chủ và Nhân quyền. Nếu sớm nhận thức như vậy chúng ta ắt sẽ chủ đông thực hiện đường lối Đổi mới khi chưa bị tình thế thúc ép. Và như vậy sẽ là không có cải tạo xã hội chủ nghĩa công, nông, thương nghiệp; cũng không cần cải tạo cán binh Sài Gòn; sẽ không có nạn thuyền nhân. Toàn thế giới sẽ tiếp tục đứng bên Việt Nam như 30 năm qua. Trung Quốc không dễ lôi kéo Mỹ để gây cho chúng ta hai cuộc chiến thảm khốc. Với thế và lực mới ấy, chúng ta sẽ phát triển nhanh chóng, có thể chưa theo kịp Nhật Bản, nhưng chắc chắn không thể kém Hàn quốc, bởi họ còn bị trì kéó bởi một Bắc Triều Tiên. Tiếc thay!

Dù sao chúng ta cũng còn may mắn hơn Bắc Triều Tiên, Cu Ba, vì đã có những nhà lãnh đạo dám xé rào, Đổi mới, dù đã đến lúc bế tắc. Cuộc Đổi mới đã đem lại sức sống cho nền kinh tế Việt Nam mà thành tựu của nó đã được ca ngợi quá nhiều, thiết tưởng không cần phải nhắc lại. Riêng đối với Đảng Cộng sản thì cuộc Đổi mới đã đem lại thế mạnh nào và đào sâu thế yếu nào? Và nó đã tác động ra sao đối với phẩm chất con người Việt Nam? Đó là những vấn đề cực kỳ rộng lớn mà chúng tôi không có tham vọng giải đáp được, chỉ mong xới lên để các nhà lý luận của Đảng Cộng sản và các bậc thức giả trong ngoài nước cùng bàn.

Tôi nhớ, đầu những năm 90 ông Nguyễn Cao Kỳ trả lời câu hỏi: Vì sao vốn là người kiên quyết chống Cộng, ông lại kêu gọi hòa hợp dân tộc, về nước hợp tác với chính quyền cộng sản phát triển đất nước? Ông Kỳ đáp: Tôi nghĩ rằng ở Việt Nam không còn cộng sản. Bởi tôi hiểu công sản chủ trương chỉ còn một giai cấp và không chấp nhận kinh tế thị trường .Nay họ công nhận kinh tế nhiều thành phần giai cấp, phát triển thị trường tự do. Họ giống như những thày tu đã ngả mặn rồi mà vẫn cứ đòi gọi mình là thày tu. Ý kiến nôm na của ông Kỳ hoàn toàn phù hợp với lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin . Những nhà lý luận Mác xít của Việt Nam cứ khất lần khất lữa suốt 25 năm vẫn không thể tìm ra định nghĩa mới cho chủ nghĩa xã hội ngoài câu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, 5 năm sau được bổ sung thêm từ Dân chủ đứng sau từ Công bằng, rồi phải mất 5 năm nữa từ Dân chủ mới được chuyển lên đứng trước Công bằng! Ôi, nguyện vọng dân chủ đã được Hồ Chí Minh khơi dậy, nhân dân ta đã tốn bao xương máu để giành lấy vậy mà sao thực hiện nó vất vả đến như vậy!

Những người mác xit đều biết lý thuyết về sự phù hợp giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng. Trong lời tưạ Tuyên ngôn đảng cộng sản in bằng tiếng Đức ngày 28-6-1883, Ăng-ghen viết: "Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy ". Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam hiểu rõ lời dạy đó, nên đã nhiều lần nhắc lại rằng phải Đổi mới toàn diện từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội. Văn kiện Đại hội 11 cũng nhắc "Đổi mới trong lĩnh vực chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế". Tuynhiên cho tới nay hệ thống chính trị hầu như không có thay đổi gì đáng kể so với 25 năm trước. Cuộc bầu cử Quốc hội đang xúc tiến từ cung cách đến nội dung chỉ đạo cũng na ná như xưa. Về tỉ lệ đảng viên trong Quốc hội, ông Võ văn Kiệt cho rằng chỉ nên hơn 50%, khóa 12 là 92%, khóa này được nêu ra là từ 85 đến 90% . Ông Võ văn Kiệt cũng đề nghị "Về cơ bản đã làm đại biểu Quốc hội thì thôi không làm quan chức hành chính nữa". Nhưng khóa này quan chức hành chính ứng cử vẫn đông!

Do cơ cấu xã hội không phù hợp sản xuất kinh tế như Ăng-ghen nêu ra mà đã xảy ra những điều tréo ngoe giữa thực tế cuộc sống với lý thuyết từ các nghị quyết. Có thể nêu ra hàng chục dẫn chứng, nhưng chỉ xin nêu hai điều đang trở thành hiểm họa cho Dân tộc và cho cả Đảng cộng sản :

1 – Trong khi chúng ta dành những lời thân thiết nhất cho các quốc gia Đảng cộng sản lãnh đạo, cho cánh tả, coi sức mạnh thời đại ta cần phải kết hợp là ở đó thì thực tế là chúng ta phải dựa vào sự giúp đỡ lớn nhất ở các nước tư bản tiên tiến như Nhật, Hàn Quốc… những đồng minh chiến lược của Mỹ. Trớ trêu hơn là Trung Quốc, người đồng chí có chung16 chữ vàng, chung mục tiêu 4 tốt, chung quan điểm trong nhiều sự kiện lớn của thế giới (như Bắc Phi, Libi…) và chính sách đối nội (như dân chủ, nhân quyền; bên kia thì có Lưu Hiểu Ba, bên này là Cù Huy Hà Vũ). Dù chúng ta đã cố sức chiều theo họ rất nhiều vấn đề khó chiều như: Họ đóng cửa các công trình khai thác bôxít ở nước họ, để sang khai thác bôxit trên "mái nhà" của nước ta và cả Đông Dương. Mới hôm qua, họ xả nước bẩn làm ô nhiễm Sông Hồng, nhưng chính quyền Vân Nam thẳng thừng từ chối đề nghị khẩn thiết của Lào Cai cùng phối hợp nhau để kiểm tra!

Càng trớ trêu thay, hầu như tháng nào người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng phải lắp đi lắp lại một lời tuyên bố giống nhau: "Trung Quốc cần chấm dứt ngay sự vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam"!

2 – Hệ thống chính tri của chúng ta luôn luôn được đề cao về sứ mệnh cao cả là đang lãnh đạo toàn dân tộc theo quy luật tiến hóa của lịch sử loài người, nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó suốt 20 năm nay, những người điều hành hệ thống chính trị này luôn luôn bị các cơ quan chuyên môn của quốc tế xếp vào "tốp 10" đại tham nhũng. Tham nhũng Việt Nam đứng trên hơn 150 quốc gia tư bản, bộ máy điều hành của họ chắc chắn không có đảng viên cộng sản nào! Năm 2006, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nhận định "Tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ"..Đầu năm 2011, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cho rằng chống tham nhũng là "mong mỏi rất chính đáng và tha thiết của những người dân. Nhưng cho đến hôm nay tôi tự thấy nhiệm vụ đó tôi làm chưa xong " (Báo xuân Sài Gòn tiếp thị).

Ngày nay người dân nhìn đâu cũng thấy những người đảng viên cán bộ lúc nào cũng nói về giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, về học tập và làm theo đạo đức Bác Hồ, về quyết tâm đi lên chủ nghĩa xã hội, trong khi đó họ chẳng những có mức sống cao hơn hẳn người dân mà có quá nhiều người nhà cao cửa rộng, con cái làm chủ những công ty tư nhân có vốn nhiều triệu đô la. Hơn 3.000 cuộc đình công của công nhân không qua sự chỉ đạo của Công đoàn, hiện tương nông dân khiếu kiện vượt cấp vùng nào cũng có, đã nói lên tâm trạng xã hội không yên ổn!

Từ ngàn xưa, người dân vẫn nhìn vào người cầm quyền để noi theo gương trong cuộc sống. Cổ đại có gương Nghiêu, Thuấn thuần dưỡng cả nước trở thành lương dân. Quá nhiều người dân hư hỏng người lãnh đạo phải soi lại mình.

Chúng ta kêu gọi toàn Đảng thống nhất nói theo Nghị quyết, làm theo Nghị quyết và các cơ quan truyền thông phải tuyên truyền đúng định hướng, để tạo ra sự đồng thuận trong toàn dân. Hãy nhớ lại, Cụ Hồ đâu có nhiều lời, chỉ cần một câu thôi, đã khiến cả nước đứng dậy đi theo dù con đường vô cùng gian khổ.

Hai năm qua có quá nhiều điều dù Đảng có Nghị quyết, báo chí tuyên truyền theo định hướng, nhưng không dễ tạo ra được đồng thuận, Ví dụ:

Chủ trương hợp tác với Trung Quốc khai thác bôxít, đã có hàng ngàn chữ ký kiến nghị dừng lại, có những chữ ký của các vị đáng kính như Đại tướng Võ Nguyên Giáp; nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình; người anh hùng có nụ cười công phá chế độ Sài Gòn Võ thị Thắng; những nhà khoa học hàng đầu đất nước như Nguyễn văn Hiệu; Chu Hảo; Đặng Hùng Võ; Nguyễn Quang A…

Mới hôm qua đây là vụ án Cù Huy Hà Vũ. Dù anh ấy có văn phong không quen tai như lâu nay (như ông bà mình nói, trực [trung] ngôn nghịch nhĩ) , nhưng tất cả nội dung đều nằm trong quyền công dân mà ngày xưa, Bác Hồ từng khuyến khích và Hiến pháp hiện hành không cấm. Do vậy, mặc dù muốn làm cho vụ án trở thành bé nhỏ ,không quan trọng (các bản tin VTV tối 4 tháng 4 năm 2011 đều không xếp vào các tin quan trọng; phiên tòa gói gọn không hết một ngày). Nhưng tầm quan trọng của nó vẫn cứ lộ rõ, bởi: nhiều tướng lĩnh cách mạng, văn nghệ sĩ, bình luận viên báo chí trong và ngoài nước cho rằng Hà Vũ nói những điều nhiều người nghĩ như thế mà không nói; Giáo dân thắp nến cầu nguyện trước ngày tòa xử; và các ngả đường quanh tòa án có quá nhiều cảnh sát bảo vệ.

Nước Nhật không thể có những vụ án tương tự. Chúng ta có nên học tập Nhật Bản? Nên lắm chứ ! Tuy nhiên trước hết nên học tập Hồ Chí Minh, không chỉ học và làm theo đạo đức mà trước hết hãy học và thực hiện tư tưởng Tự do, Dân chủ của Người!

Ngày 5 tháng 4 năm 2011

T.V.C.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fathlrakhnaqvra.oybtfcbg.pbz/2011/04/gbat-ina-pbat-ivrg-anz-in-aung-ona.ugzy

Trận Suối Tre

Trận Suối Tre (Việt Nam)

Mario Salazar

Ngày 28 tháng 3 năm 2011

MONTGOMERY VILLAGE, tiểu bang Maryland – ngày 21 tháng 3 năm 2011 – đúng ngày này cách đây 44 năm, vào ngày 21 tháng 3 năm 1967 tại khu vực làng Suối Tre thuộc Chiến khu C ở tây bắc Sài Sòn có trận giao tranh. Đó là trận đánh diễn ra trong một ngày tại Việt Nam đã gây cho phía địch số người chết nhiều nhất.

Vào giữa trưa ngày 21, chúng tôi đã gom được 647 xác chết của phía địch rồi đặt trong hai hố chôn tập thể rất to được đào bằng xe tăng lắp thêm lưỡi máy xúc. Tôi nhớ lúc ấy đang ăn bữa trưa là hộp khẩu phần C nguội tanh, hai chân tôi buông thõng xuống một trong hai chiếc hố đó. Chưa kịp ăn xong tôi đã phải bỏ đi chỗ khác vì mùi bốc lên từ dưới hố không thể chịu nổi và có người đã vứt mẩu thuốc lá đang hút xuống dưới hố làm cho quần áo của một xác chết bắt lửa bốc mùi khói rất khói chịu. Nghe có vẻ như tôi đã không còn cảm xúc gì cả? Không phải vậy; đó là một trong những điều thực tế xảy ra trong chiến đấu mà ta phải thích nghi hoặc buộc phải chấp nhận.

Trước hết tôi xin giới thiệu Tiểu đoàn bộ binh cơ giới của tôi. Tiểu đoàn gồm khoảng 30 xe thiết giáp chở bộ binh (Armored Personnel Carriers (gọi tắt là APC hoặc thiết giáp). Loại xe này cũng chạy bằng bánh răng xích giống như xe tăng và mặc dù vỏ của nó không bằng vỏ của xe tăng nhưng đây là một loại xe tuyệt vời. Nó có thể chạy với tốc độ 45 dặm một giờ và có thể lội nước. Vũ khí của xe gồm ba súng máy, một khẩu đại liên cỡ 50 li còn hai khẩu kia là loại súng máy M60 cỡ 7,62 li . Ngoài ra mỗi người của tiểu đội ngồi trên xe đều được trang bị vũ khí cá nhân. Vỏ xe được làm bằng hợp kim nhôm và chịu được hỏa lực của vũ khí hạng nhẹ và mảnh lựu đạn. Hiện nay quân đội của nhiều nước vẫn sử dụng các loại xe như thế này.

Điểm đáng chú ý của cuộc hành quân nói trên là ngay từ đầu nhiều nhiệm vụ đã không hoàn thành và đã xảy ra tình trạng hỗn loạn. Mặc dù pháo binh đã nã đạn dồn dập để phát quang khu vực làm bãi đáp trực thăng đầu tiên song trực thăng vẫn không thể đáp xuống khu vực đó. Đợt không vận đầu tiên đưa lính tới để lập một căn cứ hỏa lực yểm trợ được đặt tên là Fire Support Base Gold lẽ ra phải được hoàn thành vào ngày 18 tháng 3. Đơn vị của tôi, tiểu đoàn bộ binh thiết giáp 2/22 cùng một đơn vị thiết giáp phối thuộc là Tiểu đoàn thiết giáp 2 thuộc Trung đoàn thiết giáp 34 đã không thể hoàn thành nhiệm vụ phát quang một khu vực trong rừng rậm nên cuộc hành quân phải hoãn vào ngày hôm sau. Sang ngày 19 tháng 3 chúng tôi vẫn không thể tới được địa điểm để thực hiện nhiệm vụ yểm trợ cuộc đổ bộ của đơn vị pháo binh là Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn pháo binh 77 và một tiểu đoàn bộ binh yểm trợ là Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn Bộ binh 22 (thuộc Lữ đoàn 3, Sư đoàn bộ binh số 4) vì thế viên đại tá chỉ huy chiến dịch đã chọn một bãi đáp trực thăng khác và bắt đầu chiến dịch mà không cần chuẩn bị trước bãi đáp.

Khi đợt trực thăng thứ hai chuẩn bị đáp xuống một địa điểm gần làng Suối Tre thì khối thuốc nổ tự tạo to như đạn pháo 155 li do quân địch điều khiển từ xa đã phát nổ phá hủy 2 trực trăng và làm hỏng 5 chiếc khác. Giao tranh bắt đầu nổ ra ở các khu vực quanh bãi đáp khiến một vài trực thăng bị phá hủy mặc dù máy bay cường kích đã được gọi tới để tăng viện.

Trong lúc các tốp trực thăng vừa bắn vừa tìm cách đáp xuống khoảng đất trống gần làng Suối Tre bỏ hoang thì các đơn vị của Lữ đoàn 3 Sư đoàn bộ binh số 4, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn bộ binh 22 (chính là chúng tôi) và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn bộ binh 12 và Tiểu đoàn thiết giáp 2/34 vẫn không thể di chuyển được nhiều. Tuy địa hình ở khu vực này khô ráo, nhưng chúng tôi chỉ có thể tiến rất chậm vì bị quân địch liên tục quấy rối và mặt đất thì gồ ghề.

Sang ngày 20 tháng 3 trong lúc đơn vị thiết giáp của chúng tôi chọc thủng được một đường để tiến vào bãi đất trống nằm trên một vị trí đất cao thì các đơn vị tiền tiêu rơi vào ổ phục kích và chúng tôi quan sát thấy một quả lựu pháo được phóng trúng một chiếc thiết giáp, đạn xuyên qua chiếc xe và một người bạn của tôi ở trong xe, rồi phát nổ gây thương vong một vài người ở bên trong. Bạn tôi là Frances Smith, một người Anh, đã chết ngay tức khắc.

Đêm hôm đó chúng tôi hạ trại trên đỉnh đồi. Khu vực đó trơ trụi hầu như không còn cây cối, chỉ có một vài cây con và những ụ đất do mối làm tổ. Tất cả chúng tôi đều biết Việt Cộng đã đặt chúng tôi trong tầm ngắm và đêm hôm đó họ sẽ pháo kích chúng tôi. Chúng tôi ngạc nhiên khi đã trải qua một đêm yên ổn trừ một điều khá kỳ cục đã xảy ra với tôi. Trong lúc tôi đang ngồi ăn tối dưới một cái cây thì một quả lựu đạn do sơ xuất đã phát nổ làm một mảnh đạn văng vào thân cây rồi xuyên vào miếng lót của chiếc mũ sắt tôi đang đội (miếng lót được làm bằng nhựa cứng đút vừa vặn bên trong chiếc mũ sắt chúng tôi đội ngày ấy).

Sau một đêm ngủ ngon, chúng tôi bị đánh thức bằng mệnh lệnh bất thường “nhặt quân trang rồi lên xe!”. Khi “đã lên xe” chúng tôi được thông báo tiếp rằng “đây mới là nhiệm vụ thực sự”. Chúng tôi còn được cảnh báo trước là nếu xe bị loại khỏi vòng chiến đấu thì hãy nhanh chóng rời khỏi xe và nhảy lên chiếc xe đi ở phía sau. Trong lúc đang chạy qua khu rừng thì chúng tôi được biết các tiểu đoàn khác, tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 22/77 Pháo binh bị lực lượng rất đông quân địch đang tấn công dữ dội. Giao tranh nổ ra vào lúc sáng sớm, quân địch đã tràn vào một số vị trí, một “tháp pháo” đã bị bắt sống. Tháp pháo là một vũ khí phòng thủ của các đơn vị pháo binh. Nó gồm có bốn súng máy cỡ 50 ly đặt trên một tháp quay. Đó là một thứ vũ khí tuyệt vời. Thông báo được đưa ra là nếu chúng tôi không tới được chỗ các đơn vị đang bị tấn công thì hơn 300 đồng đội của chúng tôi sẽ bị giết hoặc điều tồi tệ hơn nữa có thể xảy ra.

Quân địch tham gia tấn công gồm tổng cộng hơn 2.500 lính. Trong đó có Trung đoàn quân chủ lực 272 của Việt Cộng. Họ đã đặt cược rằng với số lượng áp đảo như vậy họ sẽ dễ dàng xoay chuyển trận đánh theo chiều có lợi cho họ. Lính của chúng tôi chỉ đông bằng một phần tám họ.

Cuộc di chuyển tới căn cứ Fire Support Base Gold ở khu vực làng Suối Tre dường như không biết khi nào mới chấm dứt và mặc dù rất sợ chết song chúng tôi muốn tới trảng đất trống đó trước khi tình hình trở nên quá muộn. Sau này khi chúng tôi nhắc lại chuyện cũ tôi cũng thực sự không nhớ nổi lần di chuyển đó đã diễn ra trong bao lâu; mỗi người đều giải thích một cách về thời gian di chuyển và phải vất vả thế nào chúng tôi mới tới được chỗ đó.

Khi tới nơi chúng tôi chứng kiến một quang cảnh xứng đáng được gọi là một bối cảnh cường điệu hóa trong các bộ phim của Hollywood. Hỏa lực bộ binh và pháo binh ở khắp nơi. Vị trí chính giữa của chu vi bảo vệ vòng ngoài của căn cứ bị tấn công nằm ở rìa bãi đất trống đó và nom giống như một cuộc trình diễn ánh sáng. Đạn pháo kích chớp lóe sáng trắng và pháo sáng, lựu đạn, khói lựu đạn báo hiệu và cả bia lon nữa nổ vung vãi khắp nơi. Họ gan góc thực đúng như là đặc tính khỏe mạnh gan góc của người Mỹ, họ xếp bia ở vị trí an toàn nhất trong khu vực bảo vệ vòng ngoài của căn cứ: ở chỗ để đạn dược.

Quang cảnh khiến tôi nhớ tới một bộ phim cao bồi cũ nói về những người Da đỏ bao vây một đoàn tàu chở hàng và kỵ binh đã tới để giải cứu. Đến giờ tôi vẫn có thể hình dung ra cảnh gần 20 chiếc xe thiết giáp nã súng máy lao vào khu vực đất trống đó.

Lính của tiểu đoàn 2 và 12 ngay lập tức chạy tới chỗ chúng tôi để xin đạn và nước. Khi chúng tôi đi tiếp vào bên trong khu vực bảo vệ vòng ngoài của căn cứ thì lính của tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 22 đã đến sát xe chỗ của chúng tôi và nói là chúng tôi đã cứu mạng họ.

Xác chết và người bị thương nặng nằm ở khắp nơi. Những chiếc tăng và xe thiết giáp đi đầu đã bất ngờ tấn công khiến quân địch không kịp trở tay và nhiều tên đã bị giết dưới bánh xích của chúng tôi. Chúng tôi có thể nhìn thấy nhiều tên đang cố chạy trốn vào rừng nhưng không kịp. Những người mà chúng tôi không đuổi kịp đều bị chúng tôi bắn chết bằng súng đại liên 50 li và tiểu liên M-16.

Tôi nhớ là đến vị trí được phân công là chúng tôi liền bắt tay vào chôn cọc tại địa điểm đặt đại bác. Lúc tôi đang bước từ trên xe xuống tôi thấy mấy tên địch đang trút hơi thở cuối cùng. Một số lính của chúng tôi đi vòng xung quanh họ để biết chắc họ đã chết hẳn. Tôi nhớ hình như trận đánh kết thúc vào quãng 10 giờ sáng. Tôi ở trong trạng thái tinh thần bị sốc. Vũ khí của địch thu được tại chiến địa gồm mấy trăm súng phóng lựu mà họ định sử dụng cho xe của đơn vị chúng tôi. Họ đã không có cơ hội đó, không một xe nào của chúng tôi bị bắn trúng và tiểu đoàn của tôi không có ai bị thương vong. Có thể coi đó là một chiến thắng gần như tuyệt đối. Rất tiếc các đơn vị đóng tại khu vực bảo vệ vòng ngoài căn cứ đã có 33 lính tử trận và một lính mất tích. Một số hố phòng thủ cá nhân ở khu vực bảo vệ vòng ngoài căn cứ có những xác chết nằm đè lên nhau – một xác lính của chúng tôi nằm ở bên dưới, xác một Việt Cộng nằm đè lên trên còn một lính Mỹ còn sống thì nằm vừa vặn một chỗ còn lại bé tí ở trên cùng.

Vào thời điểm tấn công ác liệt nhất, các đơn vị pháo binh đã hạ nòng xuống để bắn thẳng (nòng pháo ở vị trí nằm ngang), họ sử dụng loại đạn được gọi là đạn sát thương không có thuốc nổ. Loại đạn này là một bó hàng ngàn những mũi tên nhỏ và có sức công phá tương đương với một quả đạn pháo cỡ lớn.

Sau khi xe tăng đào các hố chôn tập thể lớn, các hố đó đã được lấp đất kín thì trực thăng của Tướng Westmoreland hạ cánh. Mấy tháng sau đơn vị của chúng tôi được nhận huy chương tập thể “Presidential Unit Citation”, huy chương cao quý nhất được trao cho một đơn vị trong thời chiến.

Ở đoạn cuối của bộ phim “Trung Đội” người ta đã ghép một cảnh của trận đánh tại căn cứ FSB Gold (ở khu vực làng Suối Tre) và trận đánh tại căn cứ FSB Burt diễn ra hồi năm 1968. Oliver Stone khi đó cũng là lính của Lữ đoàn 3. Ngoài ra một người hiện đang là ông bầu của một đội bóng rổ nhà nghề và một người nữa là một diễn viên điện ảnh rất tuyệt cũng nguyên là lính của tiểu đoàn bộ binh cơ giới 2/22 trong chiến tranh Việt Nam. Chúng tôi dùng cái tên dễ nhớ là Vietnam Triple Deuce [Triple Deuce có nghĩa là ba số 2 – phiên hiệu của Tiểu đoàn bộ binh cơ giới 2/22]. Tôi là chủ của trang web có địa chỉ là http://www.VietnamTripleDeuce.org. Chúng tôi lập trang web này để dùng làm nơi lưu trữ lịch sử những gì chúng tôi đã trải qua tại Việt Nam và cuộc sống của chúng tôi kể từ dạo đó. Xin mời ghé thăm và để lại mấy dòng cho chúng tôi.

Người dịch: Phạm Anh Tuấn

Trận chiến Lão Sơn

Trận chiến Lão Sơn

Tài liệu nghiên cứu giảng dạy dành cho sinh viên sĩ quan của Tự vệ đội.

Nghiên cứu viên Nakamura Masanori.

Trận chiến Lão Sơn

Trận chiến Lão Sơn được xem là trận chiến đẫm máu khốc liệt nhất trong vùng Á Châu gần đây. Cuộc chiến nổ ra tại một căn cứ quân sự của Việt nam tại điểm cao 1059 và điểm cao 1250 (722 phía VN) dọc theo biên giới Việt Trung mà phía Trung Quốc gọi là Lão Sơn và Giả Âm Sơn. Để chiếm được 2 cao điểm này Giải phóng quân Trung Quốc đã tạo ra một cuộc xung đột võ trang vớI quy mô lơn. Lịch sử quân sự Trung Quốc gọI cuộc chiến chiếm 2 điểm cao này là Chiến dịch Lưỡng Sơn.

Trận chiến Lão Sơn bắt đầu vào ngày 2 tháng năm 1984 khởI màn bằng trận tấn công tổng lực bằng pháo binh vào căn cứ quân sự của quân độI Việt nam.

Cuộc chiến chia thành 3 giai đoạn.giao tranh quân sự giữa quân độI 2 nước Việt nam và Trung Quốc

Giai đoạn 1 : Từ ngày 2 tháng 4 đến ngày 15 tháng 4 năm 1984

Giai đoạn 2 : Từ ngày 2 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7 năm 1984

Giai đoạn 3 : Từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7 năm 1984

Trận chiến kết thúc vào ngày 14 tháng 7 năm 1984 bằng một trận đánh cảm tử xáp lá cà (bạch binh chiến) của các binh sĩ Việt nam. Phía Trung Quốc đã phản công bằng pháo binh và hỏa lực mạnh để tử thủ Lão Sơn. Sau trận chiến này với số thương vong quá lớn , quân đội VN đã hoàn toàn bỏ cuộc, lãnh thổ Việt nam đã mất vùng núi Đất (Lão sơn) vào tay Trung Quốc từ đó. Sau hiệp định hoạch định biên giới Việt Trung thì 2 vùng núi này chính thức trở thành lãnh thổ của Trung Quốc.

Tương quan lực lượng tham chiến :

Phía Trung Quốc :

Tướng chỉ huy : Dương Đắc Chí

Chiến lực: Quân đoàn 14, quân đàon 11,quân đòan 1, tập đàon quân 67, tập đàon quân 27, tập đoàn quân 13.

Số binh sĩ thương vong : Bất minh (có nguồn thông tin cho biết khoảng 939 binh sử tử trận)

Phía Việt nam :

Tướng Chỉ huy: Tướng Văn Tiến Dũng

Chiến lực : Sư đoàn 313, sư đàn 316, sư đoàn 356 chính quy. Địa phương quân và dân binh.

Số binh sĩ thương vong : Bất minh (theo nguồn tin Trung Quốc thì có 3700 binh sĩ Việt nam tử trận còn lại trên chiến trường , dự đoán binh sĩ tử trận khoảng 4000 binh sỉ, theo nguồn tin của phóng viên chiến trường của NHK được biết chính xác là trung đoàn 174 thuộc sư đòan 316 VN sau 10h giao tranh với sư đoàn 119 của Trung Quốc tại điểm cao 142, 149 thuộc khu vực Na lập vào ngày 12 tháng 7 năm 1984 phía VN bị tử thương 300 binh sĩ tại mặt trận ).

1) Quá trình đưa đến sự giao tranh

Trong suốt thời gian trước hoạch định biên giới Việt Trung thì Lão Sơn và Giả Âm Sơn được công nhận là lãnh thổ của Việt nam. Lão sơn với cao độ 1422.2mm so với mặt biển là một vị trí chiến lược quan trọng trong phối trí quân lực trong suốt lịch sử vệ quốc của người Việt nam. Từ đây có thể giám sát con đường huyết mạch nối từ Hà Giang của Việt nam sang Trung Quốc. Năm 1979 trên đường tiến quân sang đánh Việt nam tướng Dương Đắc Chí tư lệnh quân khu Côn Minh đã chiếm vùng này , sự tiến quân quá nhanh của Trung Quốc vào Việt nam đã khiến tướng Dương Đắc Chí khinh địch và đánh giá thấp tướng Võ Nguyên Giáp một thiên tài quân sự của Việt nam.Trong một công điện báo công với Đặng Tiểu Bình sau khi xâm nhập vào Việt nam mà không bị tổn thất nhiều tướng Dương Đắc Chí đã xin phép cho thêm một tuần nữa để tiến quân đến Hà Nội bắt sống toàn bộ ban lãnh đạo Việt nam. Phía Việt nam Tướng Võ Nguyên Giáp đã áp dụng nhuần nhuyễn chiến thuật Dụ địch vào sâu nội địa, Cắt đứt quân viện hậu cần, Tổng phản công, một chiến thuật trong kinh nghiệm vệ quốc hàng ngàn năm qua của người Việt nam đối với Trung Quốc, tướng Võ Nguyên Giáp với các lực lương khinh binh và địa phương quân đã phá hủy toàn bộ các tuyến quân viện hậu cần của Tướng Dương Đắc Chí khiến trên 500 chiến xe của Giải phóng quân Trung Quốc dưới quyền của tướng Dương Đắc Chí trở thành những cục sắt chết không hoạt động được trên chiến trường vì thiếu nhiên liệu và trở thành các điểm tác xạ của Địa phương quân VN. Trước tình thế tan rã toàn bộ các quân đoàn tiến chiếm Việt nam tướng Dương Đắc Chí buộc phải cấp tốc xin lệnh rút binh về nước. Trên đường rút binh của tướng Dương Đắc Chí , quân đội Trung Quốc đã bị tổn thất nặng nề bởi sự truy kích bằng pháo binh của quân đội Việt nam từ điểm cao 1059 này. Có một kỳ tích về hành quân mà đến thời điểm này các nhà phân tích về chiến lược quân sự cũng không hiểu bằng cách nào chỉ trong vòng một thời gian ngắn chưa đầy 1 ngày mà tướng Võ nguyên Giáp của Việt nam có thể phối trí một lực lượng pháo binh mạnh tại một căn cứ có địa hình hiểm trở để có thể truy kích tận diệt các binh đoàn của Trung quốc trên đường rút chạy khỏi VN, mặc dầu Đặng Tiểu Bình tuyên bố đã dạy xong cho VN một bài học nhưng trên thực tế thì có thể nói rằng gần như toàn bộ các quân đoàn của quân khu Côn minh dưới quyền tướng Dương Đắc Chí đã bị tổn thất nặng nề gần như hoàn toàn bị xóa sổ.

Từ sự giáo huấn của lần đại bại năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã phải đi đến quyết định cải cách lại quân đội theo hướng hiện đại hóa. Tướng Dương Đắc Chí được sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình đã nắm chức tổng tham mưu trưởng kiêm Ủy viên của Ủy ban có tên là Trung Cộng Trung ương Quân sự Ủy viên hội, để phục hận 5 năm về trước, kiểm soát không phận và uy hiếp tỉnh Hà Giang cũng như làm bàn đạp để tấn công bình định Việt nam nếu có xảy ra đồng thời để hồi phục lại uy tín của quân đội đã xuống đến tận đáy, tướng Dương Đắc Chí đã lên kế hoạch chiếm lĩnh 2 điểm cao của vùng núi Lưỡng Sơn này.

2) Quá trình giao tranh

Ngày 2 tháng 4 năm 1984 quân độI Trung Quốc bắt đầu pháo kích đạI quy mô vào điểm cao 1059 của Việt nam mở đầu cho trận giao tranh. Cuộc pháo kích kéo dài 26 ngày cho đến ngày 27 tháng 4 năm 1984

Ngày 28 tháng 4 qua thông tin tình báo biết được phía VN đang chuẩn bị thay quân tại điểm cao này , vào lúc quân số của phía VN đồn trú ít nhất ở căn cứ 1059, tướng Dương Đắc Chí đã ra lệnh cho sư đoàn 40 và sư đoàn 49 thuộc quân đoàn 14 quân khu Côn Minh bắt đầu tấn công căn cứ hiểm yếu này. Mặc dầu với số quân áp đảo là 2 sư đoàn nhưng trước sự thiện chiến và quả cảm của lực lượng nhỏ quân đội VN đóng tại đó, phía Trung Quốc đã chịu nhiều tổn thất nặng nề. Phải sau 18 ngày chiến đấu quân đội Trung Quốc mới chiếm lĩnh được một phần của Lão Sơn và Giả Âm Sơn vào ngày 15 tháng 5 năm 1984.

Ngày 12 tháng 6 đến ngày 7 tháng 10 năm 1984 được xem là giai đoạn giao tranh thứ 2, quân đội VN đã cố gắng tổ chức tái chiếm lại Lão Sơn, trong giai đoạn giao tranh này thương vong phía Việt nam không xác định được nhưng phía Trung Quốc thì 2 đại đội có nhiệm vụ tử thủ căn cứ này đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Phía Việt nam tạm thời chiếm lại Lão Sơn. Rút kinh nghiệm từ lần giao tranh này tướng Dương Đắc Chí đã cho sử dụng hỏa tiễn liên trang để đối kháng và sau đó dùng bộ binh tái chiếm căn cứ. Đối lại quân đội VN dùng súng cối và vũ khí hạng nhẹ, lưỡi lê với cách đánh cận chiến cảm tử bám sát vào quân đội Trung Quốc để đánh nhằm giảm nguy cơ thương vong vì hỏa tiễn đã gây thương vong khủng khiếp cho cả lực lượng hai bên.

Tuy nhiên trước sự áp đảo về lực lượng và vũ khí của Trung Quốc phía Việt nam đã chịu thất bại trong nỗ lực phòng thủ căn cứ. Sau trận giao tranh này Trung Quốc chiếm được căn cứ trở lại.

Giai đoạn 3 của cuộc giao tranh bắt đầu từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7. Được thông tin tình báo chính xác từ một sĩ quan cao cấp trong Cục quân báo Việt nam tướng Dương Đắc Chí đã nắm rõ toàn bộ kế hoạch hành quân tái chiếm căn cứ của VN. Bằng cách bố trí pháo binh mạnh và hõa tiễn đa liên trang tập trung vào các điểm quân đội Việt sẽ tập kết bên mạn sườn núi ở cao độ 500 và 800 quân đội Trung Quốc chỉ còn chờ đợi quân đội Việt nam bước vào cửa tử bằng trận địa bao vây bằng hỏa tiển và pháo. Phía Việt nam lần này với sự trợ giúp của các cố vấn quân sự Liên Xô và trực tiếp tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy đã tổ chức nghi binh nhằm đánh lạc hướng theo dõi của tình báo Trung Quốc bằng cách chọn ra 6 trung đoàn từ các sư đoàn 313, sư đoàn 316, sư đòan 356.Kế hoạch hành quân có mật danh là " MB84, thu hồi lãnh thổ"

Tuy nhiên điều cả tướng Văn Tiến Dũng và các cố vấn quân sự Liên Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ quan cao cấp phản bội.

Ngày 12 tháng 7 năm 1984 , 6 trung đoàn quân Việt nam lần lượt tập kết vào các địa điểm đã được tướng Dương Đắc Chí đợi sẵn ở cao độ 500 và 800 bên dưới cao điểm 1059. 5 giờ sáng giờ Việt nam ngày 12 tháng 7 quân đội VN bắt đầu men theo triền núi để tổng công kích và trận pháo kích bao vây tận diệt của tướng Dương Đắc Chí cũng bắt đầu. Sau 17 tiếng đồng hồ pháo kích tập trung vào các điểm đã biết trước dựa theo kế hoạch hành quân mang tên MB84 của Việt nam, tướng Dương Đắc Chí hoàn toàn đại thắng.

Quân đội VN buộc phãi rút lui với dự đóan khoảng 3700 thi thể binh sĩ bị bỏ lại trên đỉnh Lão Sơn.

3) Ảnh hưởng về mặt quân sự

Trận chiến Lão Sơn là một trận chiến kinh điển trong các trận chiến hạn định phi quy ước. Chiến thắng của phía Trung Quốc có thể nói là công đầu là chiến thắng của mạng lưới tình báo Hoa Nam bằng cách đã cài cắm được điệp viên vào hàng ngũ sĩ quan cao cấp của Việt nam. Nếu không có thông tin tình báo từ Việt nam cục diện trận chiến lão Sơn có khả năng sẽ đi theo một hướng khác với số thương vong khủng khiếp sẽ đến với các sư đoàn 40 và 49 của quân đội Trung Quốc bởi lối đánh cảm tử và thiện chiến của binh sĩ Việt nam.

Trận chiến Lão Sơn đã làm thay đổi toàn bộ chiến thuật tấn công của quân đội Trung Quốc theo hướng hiện đại hóa.

Trong giai đoạn 3 của cuộc giao tranh có thể nói đây là một sự tái diễn lại cách đánh giữa quân đội bắc Việt nam với chiến thuật biển người, cận chiến và quân đội Mỹ với chiến thuật tập trung pháo binh nhằm giảm thương vong cho binh sĩ xung kích trong thời gian chiến tranh Việt nam.

Từ chỗ tấn công theo chiến thuật biển người là chiến thuật quân sự của Trung Quốc và Việt nam tướng Dương Đắc Chí đã thành công trong việc mạo hiểm ứng dụng chiến thuật tấn công và phòng vệ tập trung bằng pháo binh kết hợp với thông tin tình báo theo phong cách tác chiến hiện đại của Mỹ. Từ trận đánh này cũng lộ rõ một điểm yếu của quân đội Trung Quốc đó là công tác hậu cần, vận tải của quân đội, không có khả năng không vận để phục vụ cho việc tác chiến. Ví dụ để phục vụ cho cuộc chiến họ phải huy động cả xe của dân sư để tải đạn dược và thương binh.

Về phía quân đội Việt nam mặc dầu địa hình bất lợi nhưng với quyết tâm thu hồi lãnh thổ đã chọn chiến thuật tấn công bằng biển người. Với sĩ khí của quân đội Việt nam lúc đó khả năng thu hồi lại lãnh thổ trong trận chiến này rất cao nhưng đồng nghĩa với việc chấp nhận hàng ngàn binh sĩ phải hy sinh, có thể coi là một chiến thuật hạ sách khi mà tướng Văn Tiến Dũng không còn con đường để chọn lựa.

Tuy nhiên thất bại về phản gián của Việt nam trong cuộc chiến này đã khiến Việt nam phải chấp nhận thất bại với gần 4000 binh sĩ thương vong là một bài học quan trọng trong công tác bảo mật mà các sĩ quan trẻ trong tương lai phải luôn tâm niệm trong quá trình cầm binh tác chiến. Một sơ sót của người chỉ huy sẽ phải đổi bằng máu xương của hàng ngàn binh sĩ trên mặt trận và mất đi lãnh thổ.

Về mặt ảnh hưởng quân sự thì chiến thắng Lão Sơn đã nâng cao sĩ khí cho quân đội Trung Quốc, tạo cơ hội cho quân đội Trung Quốc chuyển mình từ một quân đội lạc hậu sang một đội quân hiện đại với kỹ thuật tác chiến hiện đại mới, thay cho chiến thuật biển người cố hữu. Đây là đà tiến để giới quân sự Trung quốc tạo ảnh hưởng lên giới chính trị để hiện đại hóa quân đội. Với việc chiếm lãnh Lão Sơn và Giả Âm Sơn và đặt 2 căn cứ tại đó, Trung quốc đã có khả năng kiểm soát và khống chế về mặt quân sự trên toàn bộ miền Bắc Việt nam. Trong một số lần hiếm hoi, các đài duyên hải của lực lượng Hải thượng Tự Vệ Đội Nhật bản dọc theo quần đảo Okinawa đã phát hiện bắt được các làn sóng phát theo hình thức nhiễu loạn số từ đài phát vô tuyến có tọa độ xác định đặt trên đỉnh Lão Sơn. Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự nếu xảy ra một trận chiến phi quy ước giữa Việt nam và Trung Quốc một lần nữa thì với hệ thống rada và đài phá sóng vô tuyến mạnh như vậy của Trung Quốc ở căn cứ Lão Sơn khả năng toàn bộ hệ thống thông tin của lực lượng phòng không không quân tại miền Bắc của Việt nam kể cả hệ thống thông tin của Hàng không dân dụng sẽ bị tê liệt ngay tức khắc nếu bị quân đội Trung Quốc tiến hành gây nhiễu từ cụm đài của căn cứ này. Chưa kể đến lợi thế về mặt tác chiến pháo binh cũng như hỏa tiển tầm xa có khả năng khống chế quân đội Việt nam trên một phần vùng miền bắc Việt nam trong một cuộc chiến hạn định từ căn cứ quân sự lớn này.

Về phía Việt nam thì sau trận chiến này đã khiến cho uy tín một số tướng lãnh quân đội với nhiều công trạng trong cuộc chiến Việt nam bị suy sụp, thất sủng.

Nhiều tướng lãnh kinh nghiệm dày dạn chiến trường bị thay thế bởi thế hệ tướng lĩnh trẻ chưa có kinh nghiệm tác chiến trên những mặt trận lớn. Một mất mác lớn khác đối với quân đội VN trong thời kỳ này đó là sự thất sủng của tướng Võ Nguyên Giáp trước ban lãnh đạo chính phủ Việt nam khi ông đưa ra yêu cầu giải quyết “Bài toán nước lớn” bằng cách kêu gọi chính phủ mở một nền ngoại giao đa phương với phương Tây kể cả cựu thù là Mỹ và các nước xung quanh, cùng với việc dùng lực lượng quân chính quy Việt nam tại Lào đánh quy hồi sang từ Lào sang Cam puchia, giải phóng Campuchia xong thì rút hết quân về nước giao lại Campuchia cho Liên hợp quốc để giảm bớt sự hy sinh của binh sĩ và ngân sách quốc gia, phá mở thế bao vây từ kinh tế cho đến quân sự bởi các nước xung quanh đã không được ban lãnh đạo chính phủ Việt nam đương thời đồng ý, sự thất sủng của một nhà chiến lược quân sự vĩ đại đã khiến giới quân đội của Việt nam dần dần bị xem nhẹ, đồng thời thế lực thân Trung Quốc trong giới chính trị gia Việt nam có cơ hội quật khởi trở lại.

Sau cái chết của Phạm Hùng người được cho là kiên trì trong đường lối chống Trung Quốc bị chết một cách mờ ám tại thành phố Hồ Chí Minh với nghi vấn có bàn tay của lực lượng tình báo Hoa Nam (1) thì toàn bộ ban lãnh đạo Việt nam đã thay đổi toàn bộ đường lối từ chống Trung Quốc chuyển sang thân Trung Quốc.

Các chính sách công tác tuyên truyền chống Trung Quốc cũng dần dần bị loại bỏ từ dân chúng cho đến quân đội. Cùng với chính sách đổi mới quân đội Việt nam đã thiên về làm kinh tế hơn đặt nặng trọng tâm quốc phòng, sau thất bại ở cuộc hải chiến Nam sa (Trường Sa) vào tháng 3 năm 1989 thì có thể nói là quân đội Việt nam đã đánh mất vị thế của mình ở Á Châu khi bị các chuyên gia quân sự đánh giá không còn là một đội quân mạnh và thiện chiến nhất trong vùng Đông Nam Á nữa.

4) Ảnh hưởng về mặt chính trị.

Đối với Trung Quốc: Chiến thắng của trận chiến Lão Sơn trùng khớp với thời kỳ sĩ khí đang hồI phục lại ở Trung Quốc nhờ vào hiệu quả của chính sách cải cách, khai phóng, kết quả trận chiến đã chấp cánh , tăng thêm uy tín cho Đặng Tiểu Bình trong việc chỉ đạo thể chế cấm quyền của Trung Quốc. Hệ thống thông tin của Trung Quốc có thể nói đã tuyên truyền hết công suất về tin thắng lợi của quân đội Trung Quốc trong trận chiến Lưỡng Sơn này. Báo chí Trung Quốc đã lợi dụng trận thắng này để phát dương quốc uy và ca ngợi công đức chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình khiến cho dân chúng Trung Quốc phần nhiều đều chỉ biết đến chiến tranh biên giới Việt Trung qua chiến thắng Lão Sơn năm 1984 chứ không phải trận đại bại năm 1979.

Đối với Việt nam: trận chiến Lưỡng Sơn đã khiến phía Việt nam tái nhận thức về mối thù truyền kiếp của người Trung Quốc với tâm lý phục thù của họ đối với người Việt. Cùng với sự sa lầy của quân đội Việt nam tại chiến trường Campuchia đã gây tổn thất lớn về nhân mạng binh sĩ, sự gia tăng của thương phế binh, sự bao vây cấm vận kinh tế của thế giới, sự kiệt quệ về kinh tế đã khiến sĩ khí của quân đội Việt nam tan rã, cũng như sự bất mãn của dân chúng trong nước.

Chính sách cứng rắn đối với Trung Quốc của ban lãnh đạo chính phủ Việt nam dưới quyền Lê Duẫn đã tạo ra nhiều hoài nghi trong dân chúng và các quan chức cấp cao. Sau khi Lê Duẫn qua đời thì ban lãnh đạo chính phủ cũng như quân đội Việt nam dần dần thay thế bằng những người thân Trung Quốc. Thế hệ ban lãnh đạo có tư tưởng cứng rắn chống Trung Quốc cuối cùng là Phạm Hùng, sau khi ông này qua đời thì chính sách của Việt nam hoàn toàn nghiêng hẳn về Trung Quốc.

5) Mối bang giao cải thiện quan hệ Trung Việt.

Tháng 3 năm 1988 thủ tướng Phạm Hùng của Việt nam đột tử. Ông được xem là người cuối cùng trong ban lãnh đạo của Việtt nam theo đường lối cứng rắn chống Trung Quốc, một trong những người đã đồng ý đưa quân sang tiến chiếm Campuchia bất chấp sự phản đối của nhà chiến lược quân sự, tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng năm đó quân đội Liên Xô cũng đại bại phải rút lui khỏi chiến trường A Phú hãn.

Cùng với chính sách cải cách khai phóng thành công của Đặng Tiểu Bình và đã tạo mối bang giao thân mật với Mỹ và Nhật bản của chính phủ Trung Quốc đã khiến cho quốc lực của Trung Quốc nhanh chóng hồi phục. Ngược lại mối quan hệ đồng minh của Việt nam và Liên Xô bởi phái thân Liên Xô là Lê Duẫn ngày càng suy yếu khiến cho chính phủ Việt nam chuyển đổi chính sách sang cải thiện quan hệ với Trung Quốc.

Sau 10 năm gây ra giao tranh vào ngày tết âm lịch năm 1989 Việt nam và Trung Quốc đột ngột mở cửa lại giao dịch ở vùng biên giới. Quan hệ Trung –Việt cấp tốc hồi phục. Sau đó Trung Quốc lần lượt triệt thoái các lực lượng quân sự lớn đóng ở Lão sơn và Giả Âm Sơn. Tháng 5 năm 1989 thì toàn bộ quân chính quy của Trung Quốc hoàn tất việc rút ra khỏi vùng Lưỡng Sơn này chỉ để lại một bộ phận nhỏ các tiểu đoàn công binh và địa phương quân, dân binh để xây dựng căn cứ.

Xung đột võ trang biên giới Việt –Trung xảy ra lần cuối cùng vào năm 1989 khi Trung Quốc cho xây dựng các đài ra đa dọc theo các điểm cao mà họ đã chiếm được sau các lần xung đột. Một số lượng lớn công nhân xây dựng người Trung Quốc đã xâm nhập xây dựng nhà cửa, lán trại bất hợp pháp trên phía lãnh thổ Việt nam, và xung đột đã nổ ra khi lực lượng cảnh sát đương cục của Việt nam đã tìm cách bài trừ, đuổi họ ra khỏi Việt nam. Trong lần này quân đội hai nước không có nổ súng và sự kiện kết thúc khi phía Trung Quốc chịu trách nhiệm đưa toàn bộ số công nhân đó về nước. Có thể coi sự kiện cuối cùng đó là bài thuốc thử của Trung Quốc đối sự chân thành cải thiện bang giao của phía Việt nam.

(Hết)

Chú thích:

1) Trước chiến dịch Lưỡng sơn thì hầu như các cuộc giao tranh của quân đội Trung Quốc và Việt nam chỉ ở mức nhỏ và giao tranh tại các địa điểm tranh chấp dọc theo biên giới 2 nước. Thời điểm đó vào buổi tối nếu có điều kiện tốt thì các đài tiếp sóng của Tự vệ đội cũng bắt được sóng của các lực lượng đang giao tranh với nhau bằng tiếng Việt hay tiếng Trung Quốc. Đương thời ở Hà Nội chính phủ tuyên truyền dân chúng cảnh giác cao độ vì lo sợ điệp viên Trung Quốc vượt qua biên giới, đồng thời chính phủ Vn cũng kiểm soát và quản lý hộ tịch của dân chúng một cách chặt chẽ. Một cuộc sống kinh tế khó khăn bao trùm lên không khí ở Hà nội. Thời điểm đó nếu người Việt nam phát hiện ra một người lạ đến địa bàn sinh sống của mình hay thấy người ban đêm đi chụp hình ở ngoài đường thì lập tức báo công an và các lực lượng bảo an ở địa phương sẽ đến dẫn giải đi liền.

2) Quân khu Côn minh của Trung Quốc sau 1985 đổi thành quân khu Thành Đô.

3) Trong thời chiến tranh kinh tế của Việt nam rất khó khăn, một bộ phận dân chúng tích cực đi lao động hợp tác tại các nước thuộc khối Comecon, những người này đã chịu ảnh hưởng rất nhiều của văn hóa của Liên Xô và Đông Âu. Hiện tại họ là một phần nối tiếp ảnh hưởng của văn hóa các nước Đông Âu lên văn hóa Việt nam. Với họ những kỷ niệm đẹp của thời đại hậu bán của thời Lê Duẩn hầu như không có. Chính bản thân Lê Duẩn cũng bị dân chúng và trong Đảng CSVN phỉ báng. Năm 1985 sau khi ông ta qua đời thì chính sách của thời kỳ mà ông cầm quyền cũng dần dần bị dân chúng Việt nam quên lãng.

4) Chính sách mở cửa kinh tế của Trung Quốc đã tạo cho kinh tế vùng Quảng Đông phát triển mạnh mẽ, nhu cầu cần xuất sản phẩm sang thị trường Việt nam đã làm thay đổi suy nghĩ của một số quan chức Trung Quốc tại địa phương, ngay tại Hongkong nơi có số người không cảm tình vớI VN rất cao cũng dần dần ủng hộ chính sách thương mạI ở cấp địa phương vớI VN. Phản ánh điều này vào này tết năm 1989 ở Quảng ninh một bộ phận các nhà buôn Việt nam đã đem vàng sang Trung Quốc đổI mua sản phẩm. Cả hai chính quyền Việt –Trung đều biết nhưng im lặng chấp nhận mở đường cho tiến trình trao đổi mậu dịch dọc theo biên giới hai nước. Việc nốI lạI quan hệ mậu dịch Việt –Trung cũng đã tạo sự chú ý đốI vớI phương Tây. Đương thời người viết đã cùng với Đại sứ Nhật tại Việt nam Asomura Kuniaki tiên sinh cùng các tùy viên quân sự của Đại sứ quán Pháp, Anh đến thị sát tình hình tại Lạng Sơn.

5) Thời gian đầu các thương nhân phía Trung quốc mang sang Việt nam các sản phẩm rượu bia, táo và hầu như là buôn lậu. Sau khi 2 nước chấp nhận mở cửa mậu dịch thì hàng hóa Trung Quốc ồ ạt tràn sang Việt nam. Đồng thờI gian đó có các sự kiện các tổ chức xã hội đen Hongkong, Trung Quốc và Đài Loan đã tổ chức các đợt buôn lậu súng Tokalev vào Nhậtt bản. Công an đương cục của Trung Quốc hợp tác với cảnh sát Nhật điều tra và phát hiện ra xuất xứ các đường dây buôn lậu vũ khí này bắt đầu từ nguồn cung cấp của Việt nam. Kết quả điều tra này đương thời đã được đăng trên nhiều tạp chí Trung Quốc và Nhật bản. Cảnh sát Nhật cũng thông qua ICPO (Hình cảnh quốc tế) đăng thông báo truy nã một số sĩ quan của Việt nam.

6) Từ năm 1988 đến 1989 Trung Việt song phương đã qua giới truyền thông của Nhật bản , cụ thể là đài Asahi phát đi các tín hiệu bình thường hóa quan hệ, không có chuẩn bị tổ chức các cuộc xung đột võ trang đại quy mô. Trong thời gian này các tạp chí của Hongkong, Đài Loan, Nhật bản công khai nhiều bài viết liên quan đến kết quả điều tra các cuộc xung đột võ trang tại biên giới Việt Trung trong quá khứ. Sau đó đài NHK cho phát phóng sự bộ phim “Umi no Siruku Rodo” (Con đường tơ lụa trên biển), đoàn làm phim đã được chính phủ Việt nam cho phép vượt biên giớI từ Trung Quốc sang Việt nam. Thông qua bộ phim đòan làm phim đã giới thiệu, công khai các trạng huống tạI vùng biên giớI của 3 nước Việt-Trung – Lào. Trong bộ phim cũng vẫn còn các hình ảnh bộ đội biên phòng Việt nam sử dụng các thùng đạn dược, các vũ khí hạng nhẹ trang bị cho dân binh là chiến lợi phẩm trong các cuộc xung đột võ trang giữa 2 nước.