VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN

TỐNG VĂN CÔNG: VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN

Tống văn Công

Đọc Góc ảnh chiếu từ nước Nhật của nhạc sĩ Tuấn Khanh, dù đau lòng tôi cũng đồng tình với ông: " Đôi khi giữa những hoang tàn đó của nước Nhật, người ta bừng sáng hy vọng – và đôi khi sống giữa những điều được gọi tên là bình yên của đất nước mình, một người Việt Nam vẫn có thể cảm nhận được những ảnh chiếu sắc cạnh của sự hoang tàn". Đã có nhiều bài viết cho rằng nếu tai họa như nước Nhật xảy ra ở nước ta thì có thể hình dung nhiều điều xấu xa sẽ xảy ra bởi sự băng hoại đạo đức của người Việt. Mới đây, có ý kiến chỉ đạo báo chí: "Khi đề cao tinh thần vượt khó của nhân dân Nhật Bản không nên cường điệu, vô hình chung (trung) hạ thấp tinh thần của người Việt Nam". Cường điệu là điều không nên, tuy nhiên có cần phải lo lắng "vô hình trung hạ thấp tinh thần của người Việt Nam" ? Lổ Tấn chọn đơn thuốc AQ đắng nghét đã có hiệu quả chữa trị tinh thần bạc nhược của người Tàu. Sau này, nhà văn hóa Bá Dương tiếp tục mổ xẻ "Người Trung Quốc xấu xí" cũng được đồng bào ông cho là cần thiết.

Nhân chuyện này, tôi muốn chúng ta cùng nhớ rằng dân tộc ta vốn không phải xấu xa như hôm nay mà đã từng có những thời kỳ rất tốt đẹp . Hằng ngàn năm trước, ông cha ta có tư tưởng nhân văn vượt thời đại: "Thương người như thể thương thân". So với "Điều gì mình không muốn thì đừng gây ra cho người" của Khổng Tử quả là cao hơn. Con cái biết sánh: "Công cha như núi Thái sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra". Cha mẹ mong muốn "Con hơn cha là nhà có phúc" chứ không đòi hỏi "Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu". "Thuận vợ đồng chồng tát bể Đông cũng cạn" chứ không phải "phu xướng phụ tùy "… Đối với hàng xóm thì "Tối lửa tắt đèn có nhau". Đối với đồng bào thì "Người trong một nước phải thương nhau cùng" v.v.

Những ai đã từng trải qua thời kháng chiến chống thực dân Pháp đều biết: Ở các vùng giải phóng, đêm nhà nhà không cài cửa. Nhân dân giành nhau đón mời bộ đội về nhà mình để chăm sóc nuôi dưỡng. Đơn vị tôi có anh Nguyễn Hoàng Minh là người Bắc, được các bà các mẹ bảo: "Tao thương nó hơn tụi bay. Nó xa cha xa mẹ vô đây". Trong lần nói chuyện với cán bộ miền Bắc sắp đi B (vào Nam),Tổng bí thư Lê Duẩn kể, thời chống Pháp, ông ở nhà dân và họ đều biết ông là Bí thư Trung ương cục. Mỗi lần ông đi công tác về gặp bữa cơm, ông bà chủ nhà hỏi: "Thằng Ba, mầy ăn cơm ở đâu chưa? Chưa, thì vô bếp lấy chén đũa ra ăn luôn nghe!".

Khi tập kết ra Bắc, đơn vị tôi đóng quân ở nhiều vùng.Tôi nhận ra là đồng bào mình ở miền Bắc cũng sống đầy tình nghĩa như trong Nam, dù vật chất có thiếu thốn hơn. Thời Mỹ ném bom phá hoại, nhân dân các vùng khu IV dám đem ván phảng nhà mình lót hố bom cho xe bộ đội kịp chuyến vào Nam. Các vùng bị B52 dội bom ác liệt như Khâm Thiên, Gia Lâm…, hoàn toàn không có hiện tượng hôi của. Xăng dầu, quân dụng rải dọc theo ven đường không cần canh giữ, cũng không bị trộm cắp…

Câu thành ngữ "Ra ngõ gặp anh hùng" mô tả chính xác con người Việt Nam trong suốt 30 chiến tranh. Toàn dân tin những người lãnh đạo đang dồng cam cộng khồ với mình vì "Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do". Do vậy mà được thế giới nhìn vào,ca ngợi "Việt Nam là lương tâm của nhân loại"!

Tại sao người Nhật thảm bại trong chiến tranh, đã có thể vươn dậy làm nên sự "thần kỳ Nhật Bản". Còn ta thì ngược lại từ "ra ngõ gặp anh hùng" đến tình trạng "Đến chỗ nào cũng thấy ăn cắp"! Có lẽ xem xét hiện tượng trái ngược này sẽ giúp chúng ta thu được nhiều điều bổ ích ?

Có người cho rằng, vì người Nhật tiếp tục những bài học từ thời Thiên Hoàng. Nói như vậy thì xa xôi quá! Tôi nghĩ, chỗ khác nhau giữa ta và họ là cách rút ra bài học sau chiến tranh, từ đó mà tìm đúng con đường đi tới.

Người Nhật bại trận đã nhanh chóng nhận ra nguyên nhân thất bại của mình là đi ngược lại xu thế thời đại: Chủ nghĩa Sôvanh (Ph. Nicolas Chauvin), chủ nghĩa thực dân với mọi hình thức đã bị lịch sử phủ định .Người Nhật cũng nhanh chóng nhận ra, Mỹ là một quốc gia dân chủ, đề cao nhân quyền, họ tham gia lực lượng Đồng minh chỉ nhằm chống phe trục, chứ không có mưu toan chiếm Nhật làm thuộc địa. Từ nhận thức đó, dù vừa bị Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử đầu tiên, người Nhật không coi họ là kẻ thù mà tự nguyện giao kết là đồng minh chiến lược trong công cuộc phục hưng đất nước. Nhờ quan hệ này, người Nhật suốt thời gian dài không phải bỏ nhiều chi phí cho quốc phòng, tập trung mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, xã hội, trở thành tấm gương tốt đẹp nhiều mặt:

1 – Từ bỏ độc tài quân phiệt, xóa hệ thống chính trị phát xít, tôn trọng dân chủ, nhân quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập. Nhật Bản là nước quân chủ lập hiến, trong đó Thủ tướng nắm quyền cao nhất về quản lý quốc gia và chịu sự giám sát của Quốc hội hai viện, cùng Tòa án Hiến pháp nhằm ngăn chặn những quyết định vi hiến của Chính phủ. Thế giới coi Nhật là một nước có nền dân chủ đầy đủ, ưu việt vào bậc nhất.

2 – Chuyển đổi nền kinh tế phục vụ chiến tranh thành nền kinh tế dân sinh, nâng cao sức cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu. Từ hoang tàn người Nhật xây dựng nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Gần đây Trung Quốc tuyên bố đã chiếm vị tri nền kinh tế lớn thứ 2, nhưng mức thu nhập bình quân của người Trung Quốc còn thấp quá xa so với Nhật. Trong khi đó Nhật không có tình trạng cách biệt giàu nghèo khủng khiếp như Trung Quốc!

3 – Xây dựng nền văn hóa tiên tiến và bảo tồn bản sắc tốt đẹp của truyền thống Nhật Bản; một nền giáo dục hàng đầu thế giới về đào tạo những con người phát triển toàn diện. Nền văn hóa và giáo dục đó sản sinh 2 nhà văn đoạt giải Nobel văn học là Yasunari Kawabata, Kenzaburo Oe và nhiều văn tài khác như Kôbô Abê , Haruki Murakami. Trà đạo, hát ka-ra-o-kê, thơ Hai-ku, ẩm thực Nhật được thế giới hâm mộ.

Đặc biệt những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn cho nhân dân Việt Nam mà chúng ta chưa thực hiện được đã có thể nhìn thấy ở Nhật Bản như : "Chính quyền từ xã tới trung ương phải do nhân dân lập ra"; "Nếu Chính phủ làm hại dân thì nhân dân có quyền đuổi Chính phủ", "Cán bộ, đảng viên là người lãnh đạo và là đày tớ của nhân dân"… Mấy năm qua, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vị Thủ tướng Nhật chỉ vì chưa thực hiện được một lời hứa náo đó đã phải từ chức, chứ chưa cần người dân đưa đơn kiện. Trong vụ động đất hiện nay, chúng ta thấy ông Thủ tướng Can vô cùng tất bật vẫn bị người dân Nhật phê phán đã chậm có mặt ở nơi bị tàn phá nặng nhất .

Tai họa vừa qua, phẩm chất con người Nhật Bản được nhân loại thán phục chính là kết quả của nền chính trị, kinh tế, văn hóa và giáo dục ưu việt của họ.

Hàng chục năm qua, Việt Nam chúng ta đã nhận được sự giúp đỡ hào hiệp của Nhật Bản.Hiện nay hàng vạn sinh viên và người xuất khẩu lao động Việt Nam đang học tập và lao động ở Nhật. Nhiều nhà lãnh đạo nước ta trân trọng đề cao mối quan hệ đối tác chiến lược Nhật – Việt. Chẳng lẽ chúng ta không biết trân trọng tìm học con đường đưa tới dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh theo kiểu Nhật? Tựu trung gồm 3 điểm vừa kể ở trên.

Chúng ta ra khỏi chiến tranh với tư thế người anh hùng chiến thắng siêu cường số 1 thế giới! Nguồn sức mạnh để chiến thắng, được chúng ta nhận định là từ "3 dòng thác cách mang" thế giới. " Chủ nghĩa Mác – Lênin bách chiến bách thắng muôn năm !" được chúng ta trương cao khắp đất nước như là một tuyên ngôn, là tổng kết chiến tranh và là ngọn cờ sẽ dẫn đường đi tới. Từ nhận định đó đưa tới đổi tên Đảng, đổi quốc hiệu, thực hiện chuyên chính vô sản, vạch ra đường lối tiến nhanh tiến mạnh ,tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó, trên bình diện quốc tế, chủ nghĩa xã hội đang lâm vào khủng hoảng, đã có nhiều dấu hiệu rạn vỡ. Rạn vỡ dễ thấy nhất là sự chống đối nhau điên cuồng, kể cả bằng vũ lực của hai nước lớn nhất là Liên Xô và Trung Quốc, cho thấy điều gọi là chủ nghĩa quốc tế vô sản không hề tồn tại! Mãi đến khi đã bị Trung Quốc phản bội tấn công, chúng ta vẫn kiên trì nhận định Mỹ là kẻ thù lâu dài, nguy hiểm, còn Trung Quốc chỉ là kẻ thù trực tiếp, bởi đang có một nhóm cầm quyền mang tư tưởng bá quyền bành trướng. Do nhận định như vậy, ngay sau khi Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, Tổng bí thư Nguyễn văn Linh vội vàng sang cầu hòa với Trung Quốc trong thế yếu, ca ngợi "16 chữ vàng", trong thực tế đau buồn là đang bị chiếm đất, chiếm đảo, đưa tới nghịch cảnh mãi tận hôm nay! Để Trung Quốc có cớ xâm lược là không khôn khéo, tuy nhiên thỏa hiệp vô nguyên tắc và không biết tìm cách để chọn nhiều đồng minh chiến lược, đối trọng với họ giữ vững an ninh cũng là không biết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Khác hẳn chúng ta, người Mỹ nhanh chóng nhận ra thất bại của họ trong cuộc chiến là đã không hiểu được sức mạnh từ chủ nghĩa yêu nước của người Việt (Hồi ký của nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Macnamara). Họ muốn sớm lập quan hệ với chúng ta, nhưng trớ trêu thay chúng ta không vượt qua nổi mối thù! Chúng ta không hiểu đúng sức mạnh quyết định chiến thắng của mình chính là được khơi dậy từ lời kêu gọi chính xác của Hồ Chí Minh:"Không có gì quý hơn Độc lập Tự do"! Hiện tượng hàng triệu quân chế độ Sài Gòn dễ dàng tan rã, chắc chắn không phải vì họ hèn kém bởi họ cũng là con Lạc, cháu Hồng, chắc rằng họ rã ngũ vì không thấy mình đối địch với cộng sản, mà đối địch với Độc lập Tự do! Ông Lê Duẩn cho rằng phải "giương cao 2 ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội" , trong tình thế bấy giờ là đúng, bởi vì cần phải có vũ khí của Liên Xô,Trung quốc. Tuy nhiên, "ngọn cờ xã hội chủ nghĩa" mặt khác đã làm cho sự quyết đấu vì ý thức hệ giữa Tự do và Cộng sản của Pháp, Mỹ càng thêm quyết liệt. Nói như vậy, không hề có ý giảm nhẹ trách nhiệm của Pháp và Mỹ. Cho đến khi đã bị sa lầy trong cuộc tái chiếm thuộc địa, phải tìm giải pháp Bảo Đại, thế mà người Pháp vẫn làm cho "con ngựa cũ" của mình phải lồng lộn: "Hơn nữa, nếu chính phủ Pháp đoạn giao với "Bác Hồ" chính là bởi lý do sự đòi hỏi về độc lập và thống nhất của họ nhiều hơn lý do họ là cộng sản quốc tế" (Bảo Đại – Con Rồng Việt Nam, trang 334). Từ thời ấy, Mỹ đã gánh cho Pháp hơn 80% chiến phí. Chính thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã đẩy Cụ Hồ phải tìm chỗ dựa Trung quốc, Liên Xô .

Nếu tỉnh trí, nhìn đúng thế mạnh chiến thắng vừa qua của mình, chúng ta sẽ trở lại với Cụ Hồ khi trích Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp làm Tuyên ngôn độc lập Việt Nam, .mà vấn đề cốt lõi là Dân chủ và Nhân quyền. Nếu sớm nhận thức như vậy chúng ta ắt sẽ chủ đông thực hiện đường lối Đổi mới khi chưa bị tình thế thúc ép. Và như vậy sẽ là không có cải tạo xã hội chủ nghĩa công, nông, thương nghiệp; cũng không cần cải tạo cán binh Sài Gòn; sẽ không có nạn thuyền nhân. Toàn thế giới sẽ tiếp tục đứng bên Việt Nam như 30 năm qua. Trung Quốc không dễ lôi kéo Mỹ để gây cho chúng ta hai cuộc chiến thảm khốc. Với thế và lực mới ấy, chúng ta sẽ phát triển nhanh chóng, có thể chưa theo kịp Nhật Bản, nhưng chắc chắn không thể kém Hàn quốc, bởi họ còn bị trì kéó bởi một Bắc Triều Tiên. Tiếc thay!

Dù sao chúng ta cũng còn may mắn hơn Bắc Triều Tiên, Cu Ba, vì đã có những nhà lãnh đạo dám xé rào, Đổi mới, dù đã đến lúc bế tắc. Cuộc Đổi mới đã đem lại sức sống cho nền kinh tế Việt Nam mà thành tựu của nó đã được ca ngợi quá nhiều, thiết tưởng không cần phải nhắc lại. Riêng đối với Đảng Cộng sản thì cuộc Đổi mới đã đem lại thế mạnh nào và đào sâu thế yếu nào? Và nó đã tác động ra sao đối với phẩm chất con người Việt Nam? Đó là những vấn đề cực kỳ rộng lớn mà chúng tôi không có tham vọng giải đáp được, chỉ mong xới lên để các nhà lý luận của Đảng Cộng sản và các bậc thức giả trong ngoài nước cùng bàn.

Tôi nhớ, đầu những năm 90 ông Nguyễn Cao Kỳ trả lời câu hỏi: Vì sao vốn là người kiên quyết chống Cộng, ông lại kêu gọi hòa hợp dân tộc, về nước hợp tác với chính quyền cộng sản phát triển đất nước? Ông Kỳ đáp: Tôi nghĩ rằng ở Việt Nam không còn cộng sản. Bởi tôi hiểu công sản chủ trương chỉ còn một giai cấp và không chấp nhận kinh tế thị trường .Nay họ công nhận kinh tế nhiều thành phần giai cấp, phát triển thị trường tự do. Họ giống như những thày tu đã ngả mặn rồi mà vẫn cứ đòi gọi mình là thày tu. Ý kiến nôm na của ông Kỳ hoàn toàn phù hợp với lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin . Những nhà lý luận Mác xít của Việt Nam cứ khất lần khất lữa suốt 25 năm vẫn không thể tìm ra định nghĩa mới cho chủ nghĩa xã hội ngoài câu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, 5 năm sau được bổ sung thêm từ Dân chủ đứng sau từ Công bằng, rồi phải mất 5 năm nữa từ Dân chủ mới được chuyển lên đứng trước Công bằng! Ôi, nguyện vọng dân chủ đã được Hồ Chí Minh khơi dậy, nhân dân ta đã tốn bao xương máu để giành lấy vậy mà sao thực hiện nó vất vả đến như vậy!

Những người mác xit đều biết lý thuyết về sự phù hợp giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng. Trong lời tưạ Tuyên ngôn đảng cộng sản in bằng tiếng Đức ngày 28-6-1883, Ăng-ghen viết: "Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy ". Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam hiểu rõ lời dạy đó, nên đã nhiều lần nhắc lại rằng phải Đổi mới toàn diện từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội. Văn kiện Đại hội 11 cũng nhắc "Đổi mới trong lĩnh vực chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế". Tuynhiên cho tới nay hệ thống chính trị hầu như không có thay đổi gì đáng kể so với 25 năm trước. Cuộc bầu cử Quốc hội đang xúc tiến từ cung cách đến nội dung chỉ đạo cũng na ná như xưa. Về tỉ lệ đảng viên trong Quốc hội, ông Võ văn Kiệt cho rằng chỉ nên hơn 50%, khóa 12 là 92%, khóa này được nêu ra là từ 85 đến 90% . Ông Võ văn Kiệt cũng đề nghị "Về cơ bản đã làm đại biểu Quốc hội thì thôi không làm quan chức hành chính nữa". Nhưng khóa này quan chức hành chính ứng cử vẫn đông!

Do cơ cấu xã hội không phù hợp sản xuất kinh tế như Ăng-ghen nêu ra mà đã xảy ra những điều tréo ngoe giữa thực tế cuộc sống với lý thuyết từ các nghị quyết. Có thể nêu ra hàng chục dẫn chứng, nhưng chỉ xin nêu hai điều đang trở thành hiểm họa cho Dân tộc và cho cả Đảng cộng sản :

1 – Trong khi chúng ta dành những lời thân thiết nhất cho các quốc gia Đảng cộng sản lãnh đạo, cho cánh tả, coi sức mạnh thời đại ta cần phải kết hợp là ở đó thì thực tế là chúng ta phải dựa vào sự giúp đỡ lớn nhất ở các nước tư bản tiên tiến như Nhật, Hàn Quốc… những đồng minh chiến lược của Mỹ. Trớ trêu hơn là Trung Quốc, người đồng chí có chung16 chữ vàng, chung mục tiêu 4 tốt, chung quan điểm trong nhiều sự kiện lớn của thế giới (như Bắc Phi, Libi…) và chính sách đối nội (như dân chủ, nhân quyền; bên kia thì có Lưu Hiểu Ba, bên này là Cù Huy Hà Vũ). Dù chúng ta đã cố sức chiều theo họ rất nhiều vấn đề khó chiều như: Họ đóng cửa các công trình khai thác bôxít ở nước họ, để sang khai thác bôxit trên "mái nhà" của nước ta và cả Đông Dương. Mới hôm qua, họ xả nước bẩn làm ô nhiễm Sông Hồng, nhưng chính quyền Vân Nam thẳng thừng từ chối đề nghị khẩn thiết của Lào Cai cùng phối hợp nhau để kiểm tra!

Càng trớ trêu thay, hầu như tháng nào người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng phải lắp đi lắp lại một lời tuyên bố giống nhau: "Trung Quốc cần chấm dứt ngay sự vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam"!

2 – Hệ thống chính tri của chúng ta luôn luôn được đề cao về sứ mệnh cao cả là đang lãnh đạo toàn dân tộc theo quy luật tiến hóa của lịch sử loài người, nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó suốt 20 năm nay, những người điều hành hệ thống chính trị này luôn luôn bị các cơ quan chuyên môn của quốc tế xếp vào "tốp 10" đại tham nhũng. Tham nhũng Việt Nam đứng trên hơn 150 quốc gia tư bản, bộ máy điều hành của họ chắc chắn không có đảng viên cộng sản nào! Năm 2006, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nhận định "Tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ"..Đầu năm 2011, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cho rằng chống tham nhũng là "mong mỏi rất chính đáng và tha thiết của những người dân. Nhưng cho đến hôm nay tôi tự thấy nhiệm vụ đó tôi làm chưa xong " (Báo xuân Sài Gòn tiếp thị).

Ngày nay người dân nhìn đâu cũng thấy những người đảng viên cán bộ lúc nào cũng nói về giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, về học tập và làm theo đạo đức Bác Hồ, về quyết tâm đi lên chủ nghĩa xã hội, trong khi đó họ chẳng những có mức sống cao hơn hẳn người dân mà có quá nhiều người nhà cao cửa rộng, con cái làm chủ những công ty tư nhân có vốn nhiều triệu đô la. Hơn 3.000 cuộc đình công của công nhân không qua sự chỉ đạo của Công đoàn, hiện tương nông dân khiếu kiện vượt cấp vùng nào cũng có, đã nói lên tâm trạng xã hội không yên ổn!

Từ ngàn xưa, người dân vẫn nhìn vào người cầm quyền để noi theo gương trong cuộc sống. Cổ đại có gương Nghiêu, Thuấn thuần dưỡng cả nước trở thành lương dân. Quá nhiều người dân hư hỏng người lãnh đạo phải soi lại mình.

Chúng ta kêu gọi toàn Đảng thống nhất nói theo Nghị quyết, làm theo Nghị quyết và các cơ quan truyền thông phải tuyên truyền đúng định hướng, để tạo ra sự đồng thuận trong toàn dân. Hãy nhớ lại, Cụ Hồ đâu có nhiều lời, chỉ cần một câu thôi, đã khiến cả nước đứng dậy đi theo dù con đường vô cùng gian khổ.

Hai năm qua có quá nhiều điều dù Đảng có Nghị quyết, báo chí tuyên truyền theo định hướng, nhưng không dễ tạo ra được đồng thuận, Ví dụ:

Chủ trương hợp tác với Trung Quốc khai thác bôxít, đã có hàng ngàn chữ ký kiến nghị dừng lại, có những chữ ký của các vị đáng kính như Đại tướng Võ Nguyên Giáp; nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình; người anh hùng có nụ cười công phá chế độ Sài Gòn Võ thị Thắng; những nhà khoa học hàng đầu đất nước như Nguyễn văn Hiệu; Chu Hảo; Đặng Hùng Võ; Nguyễn Quang A…

Mới hôm qua đây là vụ án Cù Huy Hà Vũ. Dù anh ấy có văn phong không quen tai như lâu nay (như ông bà mình nói, trực [trung] ngôn nghịch nhĩ) , nhưng tất cả nội dung đều nằm trong quyền công dân mà ngày xưa, Bác Hồ từng khuyến khích và Hiến pháp hiện hành không cấm. Do vậy, mặc dù muốn làm cho vụ án trở thành bé nhỏ ,không quan trọng (các bản tin VTV tối 4 tháng 4 năm 2011 đều không xếp vào các tin quan trọng; phiên tòa gói gọn không hết một ngày). Nhưng tầm quan trọng của nó vẫn cứ lộ rõ, bởi: nhiều tướng lĩnh cách mạng, văn nghệ sĩ, bình luận viên báo chí trong và ngoài nước cho rằng Hà Vũ nói những điều nhiều người nghĩ như thế mà không nói; Giáo dân thắp nến cầu nguyện trước ngày tòa xử; và các ngả đường quanh tòa án có quá nhiều cảnh sát bảo vệ.

Nước Nhật không thể có những vụ án tương tự. Chúng ta có nên học tập Nhật Bản? Nên lắm chứ ! Tuy nhiên trước hết nên học tập Hồ Chí Minh, không chỉ học và làm theo đạo đức mà trước hết hãy học và thực hiện tư tưởng Tự do, Dân chủ của Người!

Ngày 5 tháng 4 năm 2011

T.V.C.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fathlrakhnaqvra.oybtfcbg.pbz/2011/04/gbat-ina-pbat-ivrg-anz-in-aung-ona.ugzy

Trận Suối Tre

Trận Suối Tre (Việt Nam)

Mario Salazar

Ngày 28 tháng 3 năm 2011

MONTGOMERY VILLAGE, tiểu bang Maryland – ngày 21 tháng 3 năm 2011 – đúng ngày này cách đây 44 năm, vào ngày 21 tháng 3 năm 1967 tại khu vực làng Suối Tre thuộc Chiến khu C ở tây bắc Sài Sòn có trận giao tranh. Đó là trận đánh diễn ra trong một ngày tại Việt Nam đã gây cho phía địch số người chết nhiều nhất.

Vào giữa trưa ngày 21, chúng tôi đã gom được 647 xác chết của phía địch rồi đặt trong hai hố chôn tập thể rất to được đào bằng xe tăng lắp thêm lưỡi máy xúc. Tôi nhớ lúc ấy đang ăn bữa trưa là hộp khẩu phần C nguội tanh, hai chân tôi buông thõng xuống một trong hai chiếc hố đó. Chưa kịp ăn xong tôi đã phải bỏ đi chỗ khác vì mùi bốc lên từ dưới hố không thể chịu nổi và có người đã vứt mẩu thuốc lá đang hút xuống dưới hố làm cho quần áo của một xác chết bắt lửa bốc mùi khói rất khói chịu. Nghe có vẻ như tôi đã không còn cảm xúc gì cả? Không phải vậy; đó là một trong những điều thực tế xảy ra trong chiến đấu mà ta phải thích nghi hoặc buộc phải chấp nhận.

Trước hết tôi xin giới thiệu Tiểu đoàn bộ binh cơ giới của tôi. Tiểu đoàn gồm khoảng 30 xe thiết giáp chở bộ binh (Armored Personnel Carriers (gọi tắt là APC hoặc thiết giáp). Loại xe này cũng chạy bằng bánh răng xích giống như xe tăng và mặc dù vỏ của nó không bằng vỏ của xe tăng nhưng đây là một loại xe tuyệt vời. Nó có thể chạy với tốc độ 45 dặm một giờ và có thể lội nước. Vũ khí của xe gồm ba súng máy, một khẩu đại liên cỡ 50 li còn hai khẩu kia là loại súng máy M60 cỡ 7,62 li . Ngoài ra mỗi người của tiểu đội ngồi trên xe đều được trang bị vũ khí cá nhân. Vỏ xe được làm bằng hợp kim nhôm và chịu được hỏa lực của vũ khí hạng nhẹ và mảnh lựu đạn. Hiện nay quân đội của nhiều nước vẫn sử dụng các loại xe như thế này.

Điểm đáng chú ý của cuộc hành quân nói trên là ngay từ đầu nhiều nhiệm vụ đã không hoàn thành và đã xảy ra tình trạng hỗn loạn. Mặc dù pháo binh đã nã đạn dồn dập để phát quang khu vực làm bãi đáp trực thăng đầu tiên song trực thăng vẫn không thể đáp xuống khu vực đó. Đợt không vận đầu tiên đưa lính tới để lập một căn cứ hỏa lực yểm trợ được đặt tên là Fire Support Base Gold lẽ ra phải được hoàn thành vào ngày 18 tháng 3. Đơn vị của tôi, tiểu đoàn bộ binh thiết giáp 2/22 cùng một đơn vị thiết giáp phối thuộc là Tiểu đoàn thiết giáp 2 thuộc Trung đoàn thiết giáp 34 đã không thể hoàn thành nhiệm vụ phát quang một khu vực trong rừng rậm nên cuộc hành quân phải hoãn vào ngày hôm sau. Sang ngày 19 tháng 3 chúng tôi vẫn không thể tới được địa điểm để thực hiện nhiệm vụ yểm trợ cuộc đổ bộ của đơn vị pháo binh là Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn pháo binh 77 và một tiểu đoàn bộ binh yểm trợ là Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn Bộ binh 22 (thuộc Lữ đoàn 3, Sư đoàn bộ binh số 4) vì thế viên đại tá chỉ huy chiến dịch đã chọn một bãi đáp trực thăng khác và bắt đầu chiến dịch mà không cần chuẩn bị trước bãi đáp.

Khi đợt trực thăng thứ hai chuẩn bị đáp xuống một địa điểm gần làng Suối Tre thì khối thuốc nổ tự tạo to như đạn pháo 155 li do quân địch điều khiển từ xa đã phát nổ phá hủy 2 trực trăng và làm hỏng 5 chiếc khác. Giao tranh bắt đầu nổ ra ở các khu vực quanh bãi đáp khiến một vài trực thăng bị phá hủy mặc dù máy bay cường kích đã được gọi tới để tăng viện.

Trong lúc các tốp trực thăng vừa bắn vừa tìm cách đáp xuống khoảng đất trống gần làng Suối Tre bỏ hoang thì các đơn vị của Lữ đoàn 3 Sư đoàn bộ binh số 4, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn bộ binh 22 (chính là chúng tôi) và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn bộ binh 12 và Tiểu đoàn thiết giáp 2/34 vẫn không thể di chuyển được nhiều. Tuy địa hình ở khu vực này khô ráo, nhưng chúng tôi chỉ có thể tiến rất chậm vì bị quân địch liên tục quấy rối và mặt đất thì gồ ghề.

Sang ngày 20 tháng 3 trong lúc đơn vị thiết giáp của chúng tôi chọc thủng được một đường để tiến vào bãi đất trống nằm trên một vị trí đất cao thì các đơn vị tiền tiêu rơi vào ổ phục kích và chúng tôi quan sát thấy một quả lựu pháo được phóng trúng một chiếc thiết giáp, đạn xuyên qua chiếc xe và một người bạn của tôi ở trong xe, rồi phát nổ gây thương vong một vài người ở bên trong. Bạn tôi là Frances Smith, một người Anh, đã chết ngay tức khắc.

Đêm hôm đó chúng tôi hạ trại trên đỉnh đồi. Khu vực đó trơ trụi hầu như không còn cây cối, chỉ có một vài cây con và những ụ đất do mối làm tổ. Tất cả chúng tôi đều biết Việt Cộng đã đặt chúng tôi trong tầm ngắm và đêm hôm đó họ sẽ pháo kích chúng tôi. Chúng tôi ngạc nhiên khi đã trải qua một đêm yên ổn trừ một điều khá kỳ cục đã xảy ra với tôi. Trong lúc tôi đang ngồi ăn tối dưới một cái cây thì một quả lựu đạn do sơ xuất đã phát nổ làm một mảnh đạn văng vào thân cây rồi xuyên vào miếng lót của chiếc mũ sắt tôi đang đội (miếng lót được làm bằng nhựa cứng đút vừa vặn bên trong chiếc mũ sắt chúng tôi đội ngày ấy).

Sau một đêm ngủ ngon, chúng tôi bị đánh thức bằng mệnh lệnh bất thường “nhặt quân trang rồi lên xe!”. Khi “đã lên xe” chúng tôi được thông báo tiếp rằng “đây mới là nhiệm vụ thực sự”. Chúng tôi còn được cảnh báo trước là nếu xe bị loại khỏi vòng chiến đấu thì hãy nhanh chóng rời khỏi xe và nhảy lên chiếc xe đi ở phía sau. Trong lúc đang chạy qua khu rừng thì chúng tôi được biết các tiểu đoàn khác, tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 22/77 Pháo binh bị lực lượng rất đông quân địch đang tấn công dữ dội. Giao tranh nổ ra vào lúc sáng sớm, quân địch đã tràn vào một số vị trí, một “tháp pháo” đã bị bắt sống. Tháp pháo là một vũ khí phòng thủ của các đơn vị pháo binh. Nó gồm có bốn súng máy cỡ 50 ly đặt trên một tháp quay. Đó là một thứ vũ khí tuyệt vời. Thông báo được đưa ra là nếu chúng tôi không tới được chỗ các đơn vị đang bị tấn công thì hơn 300 đồng đội của chúng tôi sẽ bị giết hoặc điều tồi tệ hơn nữa có thể xảy ra.

Quân địch tham gia tấn công gồm tổng cộng hơn 2.500 lính. Trong đó có Trung đoàn quân chủ lực 272 của Việt Cộng. Họ đã đặt cược rằng với số lượng áp đảo như vậy họ sẽ dễ dàng xoay chuyển trận đánh theo chiều có lợi cho họ. Lính của chúng tôi chỉ đông bằng một phần tám họ.

Cuộc di chuyển tới căn cứ Fire Support Base Gold ở khu vực làng Suối Tre dường như không biết khi nào mới chấm dứt và mặc dù rất sợ chết song chúng tôi muốn tới trảng đất trống đó trước khi tình hình trở nên quá muộn. Sau này khi chúng tôi nhắc lại chuyện cũ tôi cũng thực sự không nhớ nổi lần di chuyển đó đã diễn ra trong bao lâu; mỗi người đều giải thích một cách về thời gian di chuyển và phải vất vả thế nào chúng tôi mới tới được chỗ đó.

Khi tới nơi chúng tôi chứng kiến một quang cảnh xứng đáng được gọi là một bối cảnh cường điệu hóa trong các bộ phim của Hollywood. Hỏa lực bộ binh và pháo binh ở khắp nơi. Vị trí chính giữa của chu vi bảo vệ vòng ngoài của căn cứ bị tấn công nằm ở rìa bãi đất trống đó và nom giống như một cuộc trình diễn ánh sáng. Đạn pháo kích chớp lóe sáng trắng và pháo sáng, lựu đạn, khói lựu đạn báo hiệu và cả bia lon nữa nổ vung vãi khắp nơi. Họ gan góc thực đúng như là đặc tính khỏe mạnh gan góc của người Mỹ, họ xếp bia ở vị trí an toàn nhất trong khu vực bảo vệ vòng ngoài của căn cứ: ở chỗ để đạn dược.

Quang cảnh khiến tôi nhớ tới một bộ phim cao bồi cũ nói về những người Da đỏ bao vây một đoàn tàu chở hàng và kỵ binh đã tới để giải cứu. Đến giờ tôi vẫn có thể hình dung ra cảnh gần 20 chiếc xe thiết giáp nã súng máy lao vào khu vực đất trống đó.

Lính của tiểu đoàn 2 và 12 ngay lập tức chạy tới chỗ chúng tôi để xin đạn và nước. Khi chúng tôi đi tiếp vào bên trong khu vực bảo vệ vòng ngoài của căn cứ thì lính của tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 22 đã đến sát xe chỗ của chúng tôi và nói là chúng tôi đã cứu mạng họ.

Xác chết và người bị thương nặng nằm ở khắp nơi. Những chiếc tăng và xe thiết giáp đi đầu đã bất ngờ tấn công khiến quân địch không kịp trở tay và nhiều tên đã bị giết dưới bánh xích của chúng tôi. Chúng tôi có thể nhìn thấy nhiều tên đang cố chạy trốn vào rừng nhưng không kịp. Những người mà chúng tôi không đuổi kịp đều bị chúng tôi bắn chết bằng súng đại liên 50 li và tiểu liên M-16.

Tôi nhớ là đến vị trí được phân công là chúng tôi liền bắt tay vào chôn cọc tại địa điểm đặt đại bác. Lúc tôi đang bước từ trên xe xuống tôi thấy mấy tên địch đang trút hơi thở cuối cùng. Một số lính của chúng tôi đi vòng xung quanh họ để biết chắc họ đã chết hẳn. Tôi nhớ hình như trận đánh kết thúc vào quãng 10 giờ sáng. Tôi ở trong trạng thái tinh thần bị sốc. Vũ khí của địch thu được tại chiến địa gồm mấy trăm súng phóng lựu mà họ định sử dụng cho xe của đơn vị chúng tôi. Họ đã không có cơ hội đó, không một xe nào của chúng tôi bị bắn trúng và tiểu đoàn của tôi không có ai bị thương vong. Có thể coi đó là một chiến thắng gần như tuyệt đối. Rất tiếc các đơn vị đóng tại khu vực bảo vệ vòng ngoài căn cứ đã có 33 lính tử trận và một lính mất tích. Một số hố phòng thủ cá nhân ở khu vực bảo vệ vòng ngoài căn cứ có những xác chết nằm đè lên nhau – một xác lính của chúng tôi nằm ở bên dưới, xác một Việt Cộng nằm đè lên trên còn một lính Mỹ còn sống thì nằm vừa vặn một chỗ còn lại bé tí ở trên cùng.

Vào thời điểm tấn công ác liệt nhất, các đơn vị pháo binh đã hạ nòng xuống để bắn thẳng (nòng pháo ở vị trí nằm ngang), họ sử dụng loại đạn được gọi là đạn sát thương không có thuốc nổ. Loại đạn này là một bó hàng ngàn những mũi tên nhỏ và có sức công phá tương đương với một quả đạn pháo cỡ lớn.

Sau khi xe tăng đào các hố chôn tập thể lớn, các hố đó đã được lấp đất kín thì trực thăng của Tướng Westmoreland hạ cánh. Mấy tháng sau đơn vị của chúng tôi được nhận huy chương tập thể “Presidential Unit Citation”, huy chương cao quý nhất được trao cho một đơn vị trong thời chiến.

Ở đoạn cuối của bộ phim “Trung Đội” người ta đã ghép một cảnh của trận đánh tại căn cứ FSB Gold (ở khu vực làng Suối Tre) và trận đánh tại căn cứ FSB Burt diễn ra hồi năm 1968. Oliver Stone khi đó cũng là lính của Lữ đoàn 3. Ngoài ra một người hiện đang là ông bầu của một đội bóng rổ nhà nghề và một người nữa là một diễn viên điện ảnh rất tuyệt cũng nguyên là lính của tiểu đoàn bộ binh cơ giới 2/22 trong chiến tranh Việt Nam. Chúng tôi dùng cái tên dễ nhớ là Vietnam Triple Deuce [Triple Deuce có nghĩa là ba số 2 – phiên hiệu của Tiểu đoàn bộ binh cơ giới 2/22]. Tôi là chủ của trang web có địa chỉ là http://www.VietnamTripleDeuce.org. Chúng tôi lập trang web này để dùng làm nơi lưu trữ lịch sử những gì chúng tôi đã trải qua tại Việt Nam và cuộc sống của chúng tôi kể từ dạo đó. Xin mời ghé thăm và để lại mấy dòng cho chúng tôi.

Người dịch: Phạm Anh Tuấn

Trận chiến Lão Sơn

Trận chiến Lão Sơn

Tài liệu nghiên cứu giảng dạy dành cho sinh viên sĩ quan của Tự vệ đội.

Nghiên cứu viên Nakamura Masanori.

Trận chiến Lão Sơn

Trận chiến Lão Sơn được xem là trận chiến đẫm máu khốc liệt nhất trong vùng Á Châu gần đây. Cuộc chiến nổ ra tại một căn cứ quân sự của Việt nam tại điểm cao 1059 và điểm cao 1250 (722 phía VN) dọc theo biên giới Việt Trung mà phía Trung Quốc gọi là Lão Sơn và Giả Âm Sơn. Để chiếm được 2 cao điểm này Giải phóng quân Trung Quốc đã tạo ra một cuộc xung đột võ trang vớI quy mô lơn. Lịch sử quân sự Trung Quốc gọI cuộc chiến chiếm 2 điểm cao này là Chiến dịch Lưỡng Sơn.

Trận chiến Lão Sơn bắt đầu vào ngày 2 tháng năm 1984 khởI màn bằng trận tấn công tổng lực bằng pháo binh vào căn cứ quân sự của quân độI Việt nam.

Cuộc chiến chia thành 3 giai đoạn.giao tranh quân sự giữa quân độI 2 nước Việt nam và Trung Quốc

Giai đoạn 1 : Từ ngày 2 tháng 4 đến ngày 15 tháng 4 năm 1984

Giai đoạn 2 : Từ ngày 2 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7 năm 1984

Giai đoạn 3 : Từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7 năm 1984

Trận chiến kết thúc vào ngày 14 tháng 7 năm 1984 bằng một trận đánh cảm tử xáp lá cà (bạch binh chiến) của các binh sĩ Việt nam. Phía Trung Quốc đã phản công bằng pháo binh và hỏa lực mạnh để tử thủ Lão Sơn. Sau trận chiến này với số thương vong quá lớn , quân đội VN đã hoàn toàn bỏ cuộc, lãnh thổ Việt nam đã mất vùng núi Đất (Lão sơn) vào tay Trung Quốc từ đó. Sau hiệp định hoạch định biên giới Việt Trung thì 2 vùng núi này chính thức trở thành lãnh thổ của Trung Quốc.

Tương quan lực lượng tham chiến :

Phía Trung Quốc :

Tướng chỉ huy : Dương Đắc Chí

Chiến lực: Quân đoàn 14, quân đàon 11,quân đòan 1, tập đàon quân 67, tập đàon quân 27, tập đoàn quân 13.

Số binh sĩ thương vong : Bất minh (có nguồn thông tin cho biết khoảng 939 binh sử tử trận)

Phía Việt nam :

Tướng Chỉ huy: Tướng Văn Tiến Dũng

Chiến lực : Sư đoàn 313, sư đàn 316, sư đoàn 356 chính quy. Địa phương quân và dân binh.

Số binh sĩ thương vong : Bất minh (theo nguồn tin Trung Quốc thì có 3700 binh sĩ Việt nam tử trận còn lại trên chiến trường , dự đoán binh sĩ tử trận khoảng 4000 binh sỉ, theo nguồn tin của phóng viên chiến trường của NHK được biết chính xác là trung đoàn 174 thuộc sư đòan 316 VN sau 10h giao tranh với sư đoàn 119 của Trung Quốc tại điểm cao 142, 149 thuộc khu vực Na lập vào ngày 12 tháng 7 năm 1984 phía VN bị tử thương 300 binh sĩ tại mặt trận ).

1) Quá trình đưa đến sự giao tranh

Trong suốt thời gian trước hoạch định biên giới Việt Trung thì Lão Sơn và Giả Âm Sơn được công nhận là lãnh thổ của Việt nam. Lão sơn với cao độ 1422.2mm so với mặt biển là một vị trí chiến lược quan trọng trong phối trí quân lực trong suốt lịch sử vệ quốc của người Việt nam. Từ đây có thể giám sát con đường huyết mạch nối từ Hà Giang của Việt nam sang Trung Quốc. Năm 1979 trên đường tiến quân sang đánh Việt nam tướng Dương Đắc Chí tư lệnh quân khu Côn Minh đã chiếm vùng này , sự tiến quân quá nhanh của Trung Quốc vào Việt nam đã khiến tướng Dương Đắc Chí khinh địch và đánh giá thấp tướng Võ Nguyên Giáp một thiên tài quân sự của Việt nam.Trong một công điện báo công với Đặng Tiểu Bình sau khi xâm nhập vào Việt nam mà không bị tổn thất nhiều tướng Dương Đắc Chí đã xin phép cho thêm một tuần nữa để tiến quân đến Hà Nội bắt sống toàn bộ ban lãnh đạo Việt nam. Phía Việt nam Tướng Võ Nguyên Giáp đã áp dụng nhuần nhuyễn chiến thuật Dụ địch vào sâu nội địa, Cắt đứt quân viện hậu cần, Tổng phản công, một chiến thuật trong kinh nghiệm vệ quốc hàng ngàn năm qua của người Việt nam đối với Trung Quốc, tướng Võ Nguyên Giáp với các lực lương khinh binh và địa phương quân đã phá hủy toàn bộ các tuyến quân viện hậu cần của Tướng Dương Đắc Chí khiến trên 500 chiến xe của Giải phóng quân Trung Quốc dưới quyền của tướng Dương Đắc Chí trở thành những cục sắt chết không hoạt động được trên chiến trường vì thiếu nhiên liệu và trở thành các điểm tác xạ của Địa phương quân VN. Trước tình thế tan rã toàn bộ các quân đoàn tiến chiếm Việt nam tướng Dương Đắc Chí buộc phải cấp tốc xin lệnh rút binh về nước. Trên đường rút binh của tướng Dương Đắc Chí , quân đội Trung Quốc đã bị tổn thất nặng nề bởi sự truy kích bằng pháo binh của quân đội Việt nam từ điểm cao 1059 này. Có một kỳ tích về hành quân mà đến thời điểm này các nhà phân tích về chiến lược quân sự cũng không hiểu bằng cách nào chỉ trong vòng một thời gian ngắn chưa đầy 1 ngày mà tướng Võ nguyên Giáp của Việt nam có thể phối trí một lực lượng pháo binh mạnh tại một căn cứ có địa hình hiểm trở để có thể truy kích tận diệt các binh đoàn của Trung quốc trên đường rút chạy khỏi VN, mặc dầu Đặng Tiểu Bình tuyên bố đã dạy xong cho VN một bài học nhưng trên thực tế thì có thể nói rằng gần như toàn bộ các quân đoàn của quân khu Côn minh dưới quyền tướng Dương Đắc Chí đã bị tổn thất nặng nề gần như hoàn toàn bị xóa sổ.

Từ sự giáo huấn của lần đại bại năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã phải đi đến quyết định cải cách lại quân đội theo hướng hiện đại hóa. Tướng Dương Đắc Chí được sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình đã nắm chức tổng tham mưu trưởng kiêm Ủy viên của Ủy ban có tên là Trung Cộng Trung ương Quân sự Ủy viên hội, để phục hận 5 năm về trước, kiểm soát không phận và uy hiếp tỉnh Hà Giang cũng như làm bàn đạp để tấn công bình định Việt nam nếu có xảy ra đồng thời để hồi phục lại uy tín của quân đội đã xuống đến tận đáy, tướng Dương Đắc Chí đã lên kế hoạch chiếm lĩnh 2 điểm cao của vùng núi Lưỡng Sơn này.

2) Quá trình giao tranh

Ngày 2 tháng 4 năm 1984 quân độI Trung Quốc bắt đầu pháo kích đạI quy mô vào điểm cao 1059 của Việt nam mở đầu cho trận giao tranh. Cuộc pháo kích kéo dài 26 ngày cho đến ngày 27 tháng 4 năm 1984

Ngày 28 tháng 4 qua thông tin tình báo biết được phía VN đang chuẩn bị thay quân tại điểm cao này , vào lúc quân số của phía VN đồn trú ít nhất ở căn cứ 1059, tướng Dương Đắc Chí đã ra lệnh cho sư đoàn 40 và sư đoàn 49 thuộc quân đoàn 14 quân khu Côn Minh bắt đầu tấn công căn cứ hiểm yếu này. Mặc dầu với số quân áp đảo là 2 sư đoàn nhưng trước sự thiện chiến và quả cảm của lực lượng nhỏ quân đội VN đóng tại đó, phía Trung Quốc đã chịu nhiều tổn thất nặng nề. Phải sau 18 ngày chiến đấu quân đội Trung Quốc mới chiếm lĩnh được một phần của Lão Sơn và Giả Âm Sơn vào ngày 15 tháng 5 năm 1984.

Ngày 12 tháng 6 đến ngày 7 tháng 10 năm 1984 được xem là giai đoạn giao tranh thứ 2, quân đội VN đã cố gắng tổ chức tái chiếm lại Lão Sơn, trong giai đoạn giao tranh này thương vong phía Việt nam không xác định được nhưng phía Trung Quốc thì 2 đại đội có nhiệm vụ tử thủ căn cứ này đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Phía Việt nam tạm thời chiếm lại Lão Sơn. Rút kinh nghiệm từ lần giao tranh này tướng Dương Đắc Chí đã cho sử dụng hỏa tiễn liên trang để đối kháng và sau đó dùng bộ binh tái chiếm căn cứ. Đối lại quân đội VN dùng súng cối và vũ khí hạng nhẹ, lưỡi lê với cách đánh cận chiến cảm tử bám sát vào quân đội Trung Quốc để đánh nhằm giảm nguy cơ thương vong vì hỏa tiễn đã gây thương vong khủng khiếp cho cả lực lượng hai bên.

Tuy nhiên trước sự áp đảo về lực lượng và vũ khí của Trung Quốc phía Việt nam đã chịu thất bại trong nỗ lực phòng thủ căn cứ. Sau trận giao tranh này Trung Quốc chiếm được căn cứ trở lại.

Giai đoạn 3 của cuộc giao tranh bắt đầu từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7. Được thông tin tình báo chính xác từ một sĩ quan cao cấp trong Cục quân báo Việt nam tướng Dương Đắc Chí đã nắm rõ toàn bộ kế hoạch hành quân tái chiếm căn cứ của VN. Bằng cách bố trí pháo binh mạnh và hõa tiễn đa liên trang tập trung vào các điểm quân đội Việt sẽ tập kết bên mạn sườn núi ở cao độ 500 và 800 quân đội Trung Quốc chỉ còn chờ đợi quân đội Việt nam bước vào cửa tử bằng trận địa bao vây bằng hỏa tiển và pháo. Phía Việt nam lần này với sự trợ giúp của các cố vấn quân sự Liên Xô và trực tiếp tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy đã tổ chức nghi binh nhằm đánh lạc hướng theo dõi của tình báo Trung Quốc bằng cách chọn ra 6 trung đoàn từ các sư đoàn 313, sư đoàn 316, sư đòan 356.Kế hoạch hành quân có mật danh là " MB84, thu hồi lãnh thổ"

Tuy nhiên điều cả tướng Văn Tiến Dũng và các cố vấn quân sự Liên Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ quan cao cấp phản bội.

Ngày 12 tháng 7 năm 1984 , 6 trung đoàn quân Việt nam lần lượt tập kết vào các địa điểm đã được tướng Dương Đắc Chí đợi sẵn ở cao độ 500 và 800 bên dưới cao điểm 1059. 5 giờ sáng giờ Việt nam ngày 12 tháng 7 quân đội VN bắt đầu men theo triền núi để tổng công kích và trận pháo kích bao vây tận diệt của tướng Dương Đắc Chí cũng bắt đầu. Sau 17 tiếng đồng hồ pháo kích tập trung vào các điểm đã biết trước dựa theo kế hoạch hành quân mang tên MB84 của Việt nam, tướng Dương Đắc Chí hoàn toàn đại thắng.

Quân đội VN buộc phãi rút lui với dự đóan khoảng 3700 thi thể binh sĩ bị bỏ lại trên đỉnh Lão Sơn.

3) Ảnh hưởng về mặt quân sự

Trận chiến Lão Sơn là một trận chiến kinh điển trong các trận chiến hạn định phi quy ước. Chiến thắng của phía Trung Quốc có thể nói là công đầu là chiến thắng của mạng lưới tình báo Hoa Nam bằng cách đã cài cắm được điệp viên vào hàng ngũ sĩ quan cao cấp của Việt nam. Nếu không có thông tin tình báo từ Việt nam cục diện trận chiến lão Sơn có khả năng sẽ đi theo một hướng khác với số thương vong khủng khiếp sẽ đến với các sư đoàn 40 và 49 của quân đội Trung Quốc bởi lối đánh cảm tử và thiện chiến của binh sĩ Việt nam.

Trận chiến Lão Sơn đã làm thay đổi toàn bộ chiến thuật tấn công của quân đội Trung Quốc theo hướng hiện đại hóa.

Trong giai đoạn 3 của cuộc giao tranh có thể nói đây là một sự tái diễn lại cách đánh giữa quân đội bắc Việt nam với chiến thuật biển người, cận chiến và quân đội Mỹ với chiến thuật tập trung pháo binh nhằm giảm thương vong cho binh sĩ xung kích trong thời gian chiến tranh Việt nam.

Từ chỗ tấn công theo chiến thuật biển người là chiến thuật quân sự của Trung Quốc và Việt nam tướng Dương Đắc Chí đã thành công trong việc mạo hiểm ứng dụng chiến thuật tấn công và phòng vệ tập trung bằng pháo binh kết hợp với thông tin tình báo theo phong cách tác chiến hiện đại của Mỹ. Từ trận đánh này cũng lộ rõ một điểm yếu của quân đội Trung Quốc đó là công tác hậu cần, vận tải của quân đội, không có khả năng không vận để phục vụ cho việc tác chiến. Ví dụ để phục vụ cho cuộc chiến họ phải huy động cả xe của dân sư để tải đạn dược và thương binh.

Về phía quân đội Việt nam mặc dầu địa hình bất lợi nhưng với quyết tâm thu hồi lãnh thổ đã chọn chiến thuật tấn công bằng biển người. Với sĩ khí của quân đội Việt nam lúc đó khả năng thu hồi lại lãnh thổ trong trận chiến này rất cao nhưng đồng nghĩa với việc chấp nhận hàng ngàn binh sĩ phải hy sinh, có thể coi là một chiến thuật hạ sách khi mà tướng Văn Tiến Dũng không còn con đường để chọn lựa.

Tuy nhiên thất bại về phản gián của Việt nam trong cuộc chiến này đã khiến Việt nam phải chấp nhận thất bại với gần 4000 binh sĩ thương vong là một bài học quan trọng trong công tác bảo mật mà các sĩ quan trẻ trong tương lai phải luôn tâm niệm trong quá trình cầm binh tác chiến. Một sơ sót của người chỉ huy sẽ phải đổi bằng máu xương của hàng ngàn binh sĩ trên mặt trận và mất đi lãnh thổ.

Về mặt ảnh hưởng quân sự thì chiến thắng Lão Sơn đã nâng cao sĩ khí cho quân đội Trung Quốc, tạo cơ hội cho quân đội Trung Quốc chuyển mình từ một quân đội lạc hậu sang một đội quân hiện đại với kỹ thuật tác chiến hiện đại mới, thay cho chiến thuật biển người cố hữu. Đây là đà tiến để giới quân sự Trung quốc tạo ảnh hưởng lên giới chính trị để hiện đại hóa quân đội. Với việc chiếm lãnh Lão Sơn và Giả Âm Sơn và đặt 2 căn cứ tại đó, Trung quốc đã có khả năng kiểm soát và khống chế về mặt quân sự trên toàn bộ miền Bắc Việt nam. Trong một số lần hiếm hoi, các đài duyên hải của lực lượng Hải thượng Tự Vệ Đội Nhật bản dọc theo quần đảo Okinawa đã phát hiện bắt được các làn sóng phát theo hình thức nhiễu loạn số từ đài phát vô tuyến có tọa độ xác định đặt trên đỉnh Lão Sơn. Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự nếu xảy ra một trận chiến phi quy ước giữa Việt nam và Trung Quốc một lần nữa thì với hệ thống rada và đài phá sóng vô tuyến mạnh như vậy của Trung Quốc ở căn cứ Lão Sơn khả năng toàn bộ hệ thống thông tin của lực lượng phòng không không quân tại miền Bắc của Việt nam kể cả hệ thống thông tin của Hàng không dân dụng sẽ bị tê liệt ngay tức khắc nếu bị quân đội Trung Quốc tiến hành gây nhiễu từ cụm đài của căn cứ này. Chưa kể đến lợi thế về mặt tác chiến pháo binh cũng như hỏa tiển tầm xa có khả năng khống chế quân đội Việt nam trên một phần vùng miền bắc Việt nam trong một cuộc chiến hạn định từ căn cứ quân sự lớn này.

Về phía Việt nam thì sau trận chiến này đã khiến cho uy tín một số tướng lãnh quân đội với nhiều công trạng trong cuộc chiến Việt nam bị suy sụp, thất sủng.

Nhiều tướng lãnh kinh nghiệm dày dạn chiến trường bị thay thế bởi thế hệ tướng lĩnh trẻ chưa có kinh nghiệm tác chiến trên những mặt trận lớn. Một mất mác lớn khác đối với quân đội VN trong thời kỳ này đó là sự thất sủng của tướng Võ Nguyên Giáp trước ban lãnh đạo chính phủ Việt nam khi ông đưa ra yêu cầu giải quyết “Bài toán nước lớn” bằng cách kêu gọi chính phủ mở một nền ngoại giao đa phương với phương Tây kể cả cựu thù là Mỹ và các nước xung quanh, cùng với việc dùng lực lượng quân chính quy Việt nam tại Lào đánh quy hồi sang từ Lào sang Cam puchia, giải phóng Campuchia xong thì rút hết quân về nước giao lại Campuchia cho Liên hợp quốc để giảm bớt sự hy sinh của binh sĩ và ngân sách quốc gia, phá mở thế bao vây từ kinh tế cho đến quân sự bởi các nước xung quanh đã không được ban lãnh đạo chính phủ Việt nam đương thời đồng ý, sự thất sủng của một nhà chiến lược quân sự vĩ đại đã khiến giới quân đội của Việt nam dần dần bị xem nhẹ, đồng thời thế lực thân Trung Quốc trong giới chính trị gia Việt nam có cơ hội quật khởi trở lại.

Sau cái chết của Phạm Hùng người được cho là kiên trì trong đường lối chống Trung Quốc bị chết một cách mờ ám tại thành phố Hồ Chí Minh với nghi vấn có bàn tay của lực lượng tình báo Hoa Nam (1) thì toàn bộ ban lãnh đạo Việt nam đã thay đổi toàn bộ đường lối từ chống Trung Quốc chuyển sang thân Trung Quốc.

Các chính sách công tác tuyên truyền chống Trung Quốc cũng dần dần bị loại bỏ từ dân chúng cho đến quân đội. Cùng với chính sách đổi mới quân đội Việt nam đã thiên về làm kinh tế hơn đặt nặng trọng tâm quốc phòng, sau thất bại ở cuộc hải chiến Nam sa (Trường Sa) vào tháng 3 năm 1989 thì có thể nói là quân đội Việt nam đã đánh mất vị thế của mình ở Á Châu khi bị các chuyên gia quân sự đánh giá không còn là một đội quân mạnh và thiện chiến nhất trong vùng Đông Nam Á nữa.

4) Ảnh hưởng về mặt chính trị.

Đối với Trung Quốc: Chiến thắng của trận chiến Lão Sơn trùng khớp với thời kỳ sĩ khí đang hồI phục lại ở Trung Quốc nhờ vào hiệu quả của chính sách cải cách, khai phóng, kết quả trận chiến đã chấp cánh , tăng thêm uy tín cho Đặng Tiểu Bình trong việc chỉ đạo thể chế cấm quyền của Trung Quốc. Hệ thống thông tin của Trung Quốc có thể nói đã tuyên truyền hết công suất về tin thắng lợi của quân đội Trung Quốc trong trận chiến Lưỡng Sơn này. Báo chí Trung Quốc đã lợi dụng trận thắng này để phát dương quốc uy và ca ngợi công đức chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình khiến cho dân chúng Trung Quốc phần nhiều đều chỉ biết đến chiến tranh biên giới Việt Trung qua chiến thắng Lão Sơn năm 1984 chứ không phải trận đại bại năm 1979.

Đối với Việt nam: trận chiến Lưỡng Sơn đã khiến phía Việt nam tái nhận thức về mối thù truyền kiếp của người Trung Quốc với tâm lý phục thù của họ đối với người Việt. Cùng với sự sa lầy của quân đội Việt nam tại chiến trường Campuchia đã gây tổn thất lớn về nhân mạng binh sĩ, sự gia tăng của thương phế binh, sự bao vây cấm vận kinh tế của thế giới, sự kiệt quệ về kinh tế đã khiến sĩ khí của quân đội Việt nam tan rã, cũng như sự bất mãn của dân chúng trong nước.

Chính sách cứng rắn đối với Trung Quốc của ban lãnh đạo chính phủ Việt nam dưới quyền Lê Duẫn đã tạo ra nhiều hoài nghi trong dân chúng và các quan chức cấp cao. Sau khi Lê Duẫn qua đời thì ban lãnh đạo chính phủ cũng như quân đội Việt nam dần dần thay thế bằng những người thân Trung Quốc. Thế hệ ban lãnh đạo có tư tưởng cứng rắn chống Trung Quốc cuối cùng là Phạm Hùng, sau khi ông này qua đời thì chính sách của Việt nam hoàn toàn nghiêng hẳn về Trung Quốc.

5) Mối bang giao cải thiện quan hệ Trung Việt.

Tháng 3 năm 1988 thủ tướng Phạm Hùng của Việt nam đột tử. Ông được xem là người cuối cùng trong ban lãnh đạo của Việtt nam theo đường lối cứng rắn chống Trung Quốc, một trong những người đã đồng ý đưa quân sang tiến chiếm Campuchia bất chấp sự phản đối của nhà chiến lược quân sự, tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng năm đó quân đội Liên Xô cũng đại bại phải rút lui khỏi chiến trường A Phú hãn.

Cùng với chính sách cải cách khai phóng thành công của Đặng Tiểu Bình và đã tạo mối bang giao thân mật với Mỹ và Nhật bản của chính phủ Trung Quốc đã khiến cho quốc lực của Trung Quốc nhanh chóng hồi phục. Ngược lại mối quan hệ đồng minh của Việt nam và Liên Xô bởi phái thân Liên Xô là Lê Duẫn ngày càng suy yếu khiến cho chính phủ Việt nam chuyển đổi chính sách sang cải thiện quan hệ với Trung Quốc.

Sau 10 năm gây ra giao tranh vào ngày tết âm lịch năm 1989 Việt nam và Trung Quốc đột ngột mở cửa lại giao dịch ở vùng biên giới. Quan hệ Trung –Việt cấp tốc hồi phục. Sau đó Trung Quốc lần lượt triệt thoái các lực lượng quân sự lớn đóng ở Lão sơn và Giả Âm Sơn. Tháng 5 năm 1989 thì toàn bộ quân chính quy của Trung Quốc hoàn tất việc rút ra khỏi vùng Lưỡng Sơn này chỉ để lại một bộ phận nhỏ các tiểu đoàn công binh và địa phương quân, dân binh để xây dựng căn cứ.

Xung đột võ trang biên giới Việt –Trung xảy ra lần cuối cùng vào năm 1989 khi Trung Quốc cho xây dựng các đài ra đa dọc theo các điểm cao mà họ đã chiếm được sau các lần xung đột. Một số lượng lớn công nhân xây dựng người Trung Quốc đã xâm nhập xây dựng nhà cửa, lán trại bất hợp pháp trên phía lãnh thổ Việt nam, và xung đột đã nổ ra khi lực lượng cảnh sát đương cục của Việt nam đã tìm cách bài trừ, đuổi họ ra khỏi Việt nam. Trong lần này quân đội hai nước không có nổ súng và sự kiện kết thúc khi phía Trung Quốc chịu trách nhiệm đưa toàn bộ số công nhân đó về nước. Có thể coi sự kiện cuối cùng đó là bài thuốc thử của Trung Quốc đối sự chân thành cải thiện bang giao của phía Việt nam.

(Hết)

Chú thích:

1) Trước chiến dịch Lưỡng sơn thì hầu như các cuộc giao tranh của quân đội Trung Quốc và Việt nam chỉ ở mức nhỏ và giao tranh tại các địa điểm tranh chấp dọc theo biên giới 2 nước. Thời điểm đó vào buổi tối nếu có điều kiện tốt thì các đài tiếp sóng của Tự vệ đội cũng bắt được sóng của các lực lượng đang giao tranh với nhau bằng tiếng Việt hay tiếng Trung Quốc. Đương thời ở Hà Nội chính phủ tuyên truyền dân chúng cảnh giác cao độ vì lo sợ điệp viên Trung Quốc vượt qua biên giới, đồng thời chính phủ Vn cũng kiểm soát và quản lý hộ tịch của dân chúng một cách chặt chẽ. Một cuộc sống kinh tế khó khăn bao trùm lên không khí ở Hà nội. Thời điểm đó nếu người Việt nam phát hiện ra một người lạ đến địa bàn sinh sống của mình hay thấy người ban đêm đi chụp hình ở ngoài đường thì lập tức báo công an và các lực lượng bảo an ở địa phương sẽ đến dẫn giải đi liền.

2) Quân khu Côn minh của Trung Quốc sau 1985 đổi thành quân khu Thành Đô.

3) Trong thời chiến tranh kinh tế của Việt nam rất khó khăn, một bộ phận dân chúng tích cực đi lao động hợp tác tại các nước thuộc khối Comecon, những người này đã chịu ảnh hưởng rất nhiều của văn hóa của Liên Xô và Đông Âu. Hiện tại họ là một phần nối tiếp ảnh hưởng của văn hóa các nước Đông Âu lên văn hóa Việt nam. Với họ những kỷ niệm đẹp của thời đại hậu bán của thời Lê Duẩn hầu như không có. Chính bản thân Lê Duẩn cũng bị dân chúng và trong Đảng CSVN phỉ báng. Năm 1985 sau khi ông ta qua đời thì chính sách của thời kỳ mà ông cầm quyền cũng dần dần bị dân chúng Việt nam quên lãng.

4) Chính sách mở cửa kinh tế của Trung Quốc đã tạo cho kinh tế vùng Quảng Đông phát triển mạnh mẽ, nhu cầu cần xuất sản phẩm sang thị trường Việt nam đã làm thay đổi suy nghĩ của một số quan chức Trung Quốc tại địa phương, ngay tại Hongkong nơi có số người không cảm tình vớI VN rất cao cũng dần dần ủng hộ chính sách thương mạI ở cấp địa phương vớI VN. Phản ánh điều này vào này tết năm 1989 ở Quảng ninh một bộ phận các nhà buôn Việt nam đã đem vàng sang Trung Quốc đổI mua sản phẩm. Cả hai chính quyền Việt –Trung đều biết nhưng im lặng chấp nhận mở đường cho tiến trình trao đổi mậu dịch dọc theo biên giới hai nước. Việc nốI lạI quan hệ mậu dịch Việt –Trung cũng đã tạo sự chú ý đốI vớI phương Tây. Đương thời người viết đã cùng với Đại sứ Nhật tại Việt nam Asomura Kuniaki tiên sinh cùng các tùy viên quân sự của Đại sứ quán Pháp, Anh đến thị sát tình hình tại Lạng Sơn.

5) Thời gian đầu các thương nhân phía Trung quốc mang sang Việt nam các sản phẩm rượu bia, táo và hầu như là buôn lậu. Sau khi 2 nước chấp nhận mở cửa mậu dịch thì hàng hóa Trung Quốc ồ ạt tràn sang Việt nam. Đồng thờI gian đó có các sự kiện các tổ chức xã hội đen Hongkong, Trung Quốc và Đài Loan đã tổ chức các đợt buôn lậu súng Tokalev vào Nhậtt bản. Công an đương cục của Trung Quốc hợp tác với cảnh sát Nhật điều tra và phát hiện ra xuất xứ các đường dây buôn lậu vũ khí này bắt đầu từ nguồn cung cấp của Việt nam. Kết quả điều tra này đương thời đã được đăng trên nhiều tạp chí Trung Quốc và Nhật bản. Cảnh sát Nhật cũng thông qua ICPO (Hình cảnh quốc tế) đăng thông báo truy nã một số sĩ quan của Việt nam.

6) Từ năm 1988 đến 1989 Trung Việt song phương đã qua giới truyền thông của Nhật bản , cụ thể là đài Asahi phát đi các tín hiệu bình thường hóa quan hệ, không có chuẩn bị tổ chức các cuộc xung đột võ trang đại quy mô. Trong thời gian này các tạp chí của Hongkong, Đài Loan, Nhật bản công khai nhiều bài viết liên quan đến kết quả điều tra các cuộc xung đột võ trang tại biên giới Việt Trung trong quá khứ. Sau đó đài NHK cho phát phóng sự bộ phim “Umi no Siruku Rodo” (Con đường tơ lụa trên biển), đoàn làm phim đã được chính phủ Việt nam cho phép vượt biên giớI từ Trung Quốc sang Việt nam. Thông qua bộ phim đòan làm phim đã giới thiệu, công khai các trạng huống tạI vùng biên giớI của 3 nước Việt-Trung – Lào. Trong bộ phim cũng vẫn còn các hình ảnh bộ đội biên phòng Việt nam sử dụng các thùng đạn dược, các vũ khí hạng nhẹ trang bị cho dân binh là chiến lợi phẩm trong các cuộc xung đột võ trang giữa 2 nước.

Định mệnh



Định mệnh


Hà Văn Thịnh, Khoa Sử Đại học Khoa học Huế
Tặng Kami nhân ngày đầu năm đọc bài về chiến tranh của ông (bà).





Truyền thuyết kể
Gióng đánh giặc khi mới lên ba
Có dân tộc nào nhọc nhằn hơn thế?
Có nơi đâu
Lịch sử ngập chìm dâu bể
3.000 năm chưa hết giặc trước hiên nhà?

Định mệnh thét gào lịch sử bão giông
Ta giữ nước nhiều gấp bội phần
Thời gian dựng nước
Cho mãi đến hôm nay vẫn chưa thể nào có được
Bởi hạnh phúc
Cũng trông chừng sau, trước
“Nửa cái hôn phải tỉnh thức ngó quân thù”*

Lịch sử nhắc hoài câu chuyện Mẹ Âu Cơ
Sao ta phải lên rừng, xuống biển?
Kẻ cướp trên núi cao, dưới sóng ngầm hung hiểm
Bao năm thâm độc rình mò…

Chúng muốn ta quỳ - mỏi gối xin, cho
Để Hoàng Sa, Trường Sa máu cuộn cùng nước mắt
Để nỗi đau hóa lặng câm giữa hai hàm răng nghiến chặt
Để xa xót tủi hờn nhức mãi tâm can…

Không!
Lịch sử nói rằng sóng nước Bạch Đằng Giang
Rừng Chi Lăng, cửa Chương Dương, Hàm Tử…
Xác giặc chất chồng, bạo tàn mục rữa
Việt Nam ơi, không nhát sợ bao giờ!

Chúng nói rằng có cốt khư** người Trung Quốc ở Hoàng Sa
Sao không đến gò Đống Đa để bới thêm, nhiều lắm?
Thanh Triều ư? Bụi ác tàn ngàn dặm
Bão Tây Sơn quét sạch, một tuần!

Định mệnh nhắc ta rằng Đất Việt gian truân
Nhưng chữ S chẳng thể nào gục gãy
Người trước ngã, người sau đứng dậy
Cối Kê ư? “Hoan Diễn do tồn”.

Lịch sử dạy ta rằng đảo, sóng Biển Đông
Là máu thịt của giang sơn tổ quốc
Là một nửa của hồn thiêng Đất - Nước
Chẳng thể đem cho, đem bán vật vờ!

Ta hiểu cuộc đời không phải giấc mơ
Nên trang sách phải tựa mình bên giá súng
Định mệnh bắt đầu bằng linh danh Phù Đổng
Tuổi thơ giữ nước quên mình

Định mệnh cảnh báo rằng
Nhẹ dạ Mỵ Châu ơi
Một phút buông trôi
Ngàn năm không xóa nổi
“Tình” Ải Bắc
Là khôn lường gian dối
Lông ngỗng bay
Trắng bợt chữ “NGỜ”?

Định mệnh nhắc em rằng
Xin hãy đừng quên
Sống với nguy nan
Là bổn phận của muôn vàn con dân Việt
Đất nước hôm nay được sinh thành từ da diết:
Thà làm ma nước Nam!
Thà cả Trường Sơn cháy hết!
Chẳng cam tâm quỳ xuống, bao giờ(!)

* Thơ Chế Lan Viên
** Tàn tích xương người chết

Huế, 22.12.2009.


.

CÂU CHUYỆN XÔ VIẾT

The Soviet Story

Bộ phim Tài liệu của Đạo diễn Edvins Snore

về những Sự Thật chưa từng được

ánh sáng công luận thế giới chiếu rọi tới.


Do X-cafe.org phụ đề chữ Việt rất công phu.



gỗ sưa // trò lừa đảo ?


http://vtc.vn/394-244104/phong-su-kham-pha/vi-sao-go-sua-co-gia-11-ty-dong-mot-met-khoi.htm



Theo một số đại gia buôn gỗ ở đây, thì trò mua bán gỗ sưa chẳng khác gì trò lừa đảo đồng đen. Họ kể rằng, người Trung Quốc tung tin mua gỗ sưa về làm đủ thứ huyền bí, với giá cao, khiến người dân Việt Nam đổ xô chặt cây đem bán cho họ. Thế rồi, mỗi ngày họ lại thổi giá lên cao, sau đó thì bí mật chuyển gỗ sang Việt Nam bán cho giới buôn gỗ.

Ví dụ, họ tung tin, sẽ mua gỗ sưa với giá 100 triệu đồng/khối và họ thu mua thật sự. Sau đó, họ lại tuyên bố sẽ mua với giá 1 tỷ đồng/khối, khiến các con buôn ráo riết gom hàng. Cùng lúc đó, họ sẽ chuyển gỗ bán ngược về Việt Nam với giá vài trăm triệu đồng/khối. Như vậy, họ đã lãi một cách khủng khiếp. Nếu những lời đồn của giới buôn gỗ ở Bắc Ninh là thực sự, thì quả là trò lừa đảo này quá cao thủ.

chuyện xây tượng Trần Hưng Đạo và Đài tưởng niệm Đại thắng Quân Nguyên - Mông


Kiến Trúc Sư TRẦN THANH VÂN
.
.
.
.





[...] ĐỌC NGUYÊN BÀI :
http://nguyenxuandien.blogspot.com/2011/02/kts-tran-thanh-van-chuyen-bay-gio-moi.html

[...]

Hãy tin ở một ngày mai tốt hơn hôm qua và hôm nay.

Lưu ý: Đền Thượng thờ Tản viên Sơn Thánh ở trên đỉnh nuí cao 1226m, trên trục toạ độ Vĩ độ Bắc 21 độ 3’ 28’’ và 105 độ Kinh Đông 21’ 57’’, từ đó dịch sang phía đông chừng 25 Km tại 105 độ Kinh Đông 49’ 9’’ là vị trí Đền Kim Ngưu (Trâu Vàng) đó là Huyệt đạo quốc gia, nơi từng xẩy ra nhiều sự kiện đặc biệt trong lịch sử như việc Mã Viện bị trách phạt sau khi đánh Hai Bà Trung năm 43, Cao Biền bị tát vào mặt phải bỏ chạy và thất bại trong âm mưu yểm bùa diệt Hiền tài nước ta năm 886, Vua Lý Công Uẩn thấy Rồng nước cuốn lên nên quyết định lập Kinh đô Thăng Long năm 1010 và Cơn lốc Hồ Tây diệt 4 mạng người ngày 11/8/1955…Bơỉ vậy tại khu vực quanh Hồ Tây và sông Hồng ở trên dưới Bắc Vĩ tuyến 21 độ 2’ đến 4’ là khu vực nhậy cảm, không được xây nhà cao tầng mà phải thật coi trọng công trình tâm linh.

Trục tâm linh Tây Hồ Cổ Loa

Đã có nhiều đề xuất của của các Hội Kiến trúc sư, Hội Quy hoạch , Hôị xây dựng, Hôị KH Lịch sử VN, Hôị Phật giáo và nhiều trí thức lão thành ở Hà Nôị gưỉ đến Thành uỷ và UBND Hà Nôị đề nghị xây dựng ở nơi đây một CÔNG VIÊN ĐẠI VIỆT VÀ TRÊN TRỤC TÂM LINH SẼ XÂY DỰNG TƯỢNG ĐÀI TRẦN HƯNG ĐẠO VƠÍ LƯ HƯƠNG LỚN ĐỀ “THÁI SƯ THƯỢNG PHỤ THƯỢNG QUỐC CÔNG, BẮC BÌNH ĐẠI NGUYÊN SUÝ, NHÂN VŨ HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG”.

Đời ta không làm được, đời con cháu sẽ làm!

KTS TRẦN THANH VÂN