Lượt xem trang

MÔN ĐĂNG HỘ ĐỐI





CHUYỆN CHỮ NGHĨA: MÔN ĐĂNG HỘ ĐỐI


Phần đông cho rằng chữ “đăng” trong thành ngữ này là đèn, và “đối” có nghĩa là... câu đối; nên nghĩa đen của “môn đăng hộ đối” được giải thích là trước cửa có treo lồng đèn và trong nhà có bày câu đối.

Có tờ báo nọ nhảy vào bàn luận văn tự một hồi ba trợn rồi kết là về nghĩa đen của nó, duy chỉ người xưa may ra mới hiểu, và về nghĩa bóng thì ở thời hiện đại là quan niệm cổ hủ sai lầm. Nhà báo xứ mình lâu nay bác đại tinh thâm, bất kể thiên văn, địa lý, thủy triều, hải lưu, luật pháp, tâm lý, phụ khoa... thứ gì cũng rành rẽ hơn hẳn chuyên gia, nay trong chuyện chữ nghĩa bỗng tỏ ra khiêm cung rất mực, âu cũng là sự lạ.

Mà “môn đăng hộ đối” là giống gì?

Thật ra, nguyên văn nó là “môn đương hộ đối” 門當戶對, do chữ “đương” còn được đọc là “đang” nên lâu ngày trại ra thành “đăng”, dẫn đến sự xuất hiện vô duyên của cái đèn lồng.



Chữ "Môn" cổ.





Chữ "Hộ" cổ.

“Giáo sư” Nguyễn Lân, nhà biên soạn từ điển cự phách của Bắc Việt, nổi tiếng với những công trình cóp nhặt cách cẩu thả của người khác để vơ thành của mình. Nhưng trong “Từ điển từ và ngữ Hán-Việt” (Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2002) cũng như “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” (Nxb Tp.Hồ Chí Minh, 2000), Nguyễn Lân đã ghi chính xác thành ngữ này là “môn đương hộ đối”. Ở đây, không phải do Nguyễn Lân tinh thông chữ nghĩa, mà vì ông đã chép lại của một học giả miền Nam: từ 1961, trong “Việt ngữ chính tả tự vị” (Nxb Khai Trí, Sài Gòn), Lê Ngọc Trụ đã ghi rằng thành ngữ “môn đăng hộ đối” là do đọc sai trại chữ “đang” (đương) mà ra.
Tìm hiểu thành ngữ chữ Hán tất phải tham cứu từ điển Tàu, trong “Thuyết văn giải tự”, bộ từ điển quan trọng do Hứa Thận biên soạn hồi đầu thế kỷ II ghi: “môn” là cửa có hai cánh, “hộ” là cửa một cánh. “Môn hộ” do đó là nói cái chỗ từ đó chui ra chui vào, không phải nói nguyên cái nhà. Hãy xem tự dạng cổ của hai chữ này (trong ảnh): “Môn” có hai cánh hai bên, và “hộ” chỉ có 1 cánh bên trái (chữ “hộ” này nay đã không còn, và được thay bằng chữ ).
“Môn đương” và “hộ đối” còn là hai chữ đi liền nhau của cùng một từ. Khi xưa, trước nhà quan thường có những chi tiết điêu khắc đặt ngay lối ra vào, dùng trấn gia trạch theo phong thủy, trong đó có “môn đương” và “hộ đối”.

Vào đời Hán, nhà quan thường đặt đôi trống bằng đá trước cửa (do tiếng trống vang dội uy nghiêm nên được cho là tượng trưng của sấm sét, có hiệu dụng xua đuổi tà ma xui rủi), đôi trống đá này gọi là “môn đương”.


"Môn đương" có hình dạng cái trống.

Không phải nhà ai cũng được phép dùng môn đương, mà phải quan lớn từ tam phẩm trở lên mới được dựng cửa hai cánh và bày nó. Quan văn thì môn đương có hình tròn, quan võ thì môn đương có dạng vuông. Quan tòng tam phẩm thì có hai môn đương, chánh tam phẩm được bốn, nhị phẩm được sáu, nhất phẩm được tám; và duy chỉ cung vua mới được bày chín môn đương. Do đó, cứ đếm môn đương là biết nhà của đại quan cỡ nào, và căn cứ vào hình dạng của nó mà suy ra là quan văn hay võ.












Quan từ tòng tam phẩm trở xuống chỉ được làm cửa một cánh, ở thanh đà phía trên khung cửa được đặt đôi trụ hình tròn nhô ra khoảng một tấc, gọi là “hộ đối”. Hộ đối tượng trưng cho nam đinh, đặt trên cửa là ngụ ý gia tộc hưng vượng. Tùy phẩm hàm mà có hộ đối nhiều ít khác nhau.

Có 4 "hộ đối": đây vốn là nhà quan lục phẩm.
“Môn đương hộ đối” do đó có nghĩa đen là sự phân biệt quan chức cao thấp, và nguyên nghĩa không phải nói nhà có “môn đương” phải kết thân với nhà có “hộ đối”, mà là con nhà trọng thần có môn đương thì chỉ nên phối ngẫu với nhà có môn đương; và tương tự, con em nhà quan nhỏ chỉ có hộ đối thì chỉ nên gả cho nhà có hộ đối; chứ môn đương không thể cùng hộ đối cưới gả lộn xộn.

Tức là thành ngữ này có hai vế, lâu nay nhiều người vẫn tưởng là hai vế này sẽ "cưới" nhau, nhưng thật ra lại là tách biệt, mỗi vế tự tìm đối tượng bằng vai phải lứa với nó.
Bởi theo nhận định của người xưa, vợ chồng về căn bản phải có cùng hệ quy chiếu mới có thể hòa hợp lâu bền. Người không cùng đẳng cấp sẽ có quan điểm bất đồng, dễ tạo nên xung đột khiến đời sống hôn nhân trở nên trục trặc, thành gánh nặng trong đời.

Tất nhiên, người ta có thể dẫn ra trăm nghìn trường hợp riêng biệt để bác bỏ quan niệm này, nhưng đừng quên: trong tình yêu-hôn nhân, chết vì nhau vẫn dễ hơn là phải sống trọn đời bên nhau.

Bối cảnh văn hóa, giáo dục khác nhau của hai gia đình sẽ dẫn đến hành xử khác nhau của mỗi người trong đôi lứa, những tập quán-sinh hoạt khác nhau hình thành tính cách khác biệt đến nỗi nhiều khi trở thành xa lạ khó hiểu với nhau, điều này gây những cú sốc nghiêm trọng trong cuộc hôn nhân. Trong tiểu thuyết “Trống Mái” của Khái Hưng, cô Hiền tiểu thư đã không thể đến với anh Vọi chính vì lẽ đó.

......../.


Cái đêm hôm ấy... đêm gì?



CÁI ĐÊM HÔM ẤY... ĐÊM GÌ?
Phùng Gia Lộc



Tác giả Phùng Gia Lộc, tháng 6-1988 - Ảnh tư liệu

Ngày ấy, khi xuất hiện trên báo Văn Nghệ, những dòng chữ rút ruột từ nỗi uất ức, cay đắng, ngỡ ngàng của Phùng Gia Lộc đã tạo nên một "cơn địa chấn".
Nhiều người đã phải giật mình, phải tự nhìn lại mình, nhìn lại những việc mình làm và đang hô hào người khác làm... Một hơi gió của đổi mới cũng bắt đầu từ đó, góp vào cơn gió sẽ đổi mới cả một đất nước, đổi đời cho hàng chục triệu con người.


******

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/20051221/phung-gia-loc---cai-dem-hom-ay-dem-gi/114622.html







Cái đêm hôm ấy... đêm gì ?


Cuối năm 1983, tôi được ở nhà chờ quyết định về nghỉ chế độ. Chiều chủ nhật, thằng Học con tôi rủ rỉ nói:


- Con bắt được bác Quang ăn bánh cuốn ở hàng anh Minh. Bác đi thồ sắn ở chợ Phúc Địa về. Bác cho mấy bó nhưng con không lấy. Bác dặn con về đừng nói với bố mẹ là đã gặp bác. Nói, hôm nào sang bác đánh chết.


- Hừ! Lại thế nữa...


Tôi buột miệng bảo với con thế, rồi thừ ra. Bạn bè anh em cùng một phòng với nhau mà đi qua không vào. Có điều gì nhỉ?


Sáng thứ hai tôi sang cơ quan ứng mấy cân gạo và định bụng sẽ gặp, trút sấm sét lên đầu anh ấy. Nghe tôi trách, Lê Trung Quang, trưởng phòng tổ chức Ủy ban huyện Thọ Xuân, cười hà hà làm lành thật đôn hậu, dễ yêu:


- Giá có một mình thì tôi vào. Đằng này những bốn binh, khao được, anh cũng liệt. Vả lại, bốn cái xe nặng è, sợ tối.


Là trưởng phòng tổ chức ủy ban huyện, anh cũng để gia đình vợ con đói thiếu. Ra anh còn kém cỏi hơn cả tôi, một kẻ chân chim trần trụi, một tay sắp trở thành "phó thường dân". "Nhà mình cũng bí. Nộp sản đi rồi, lúa đã cạn. Khó mà ăn thấu tết được". Quang lắc đầu bảo thế.


Anh gạn tôi:


- Ông ở đây với tôi đêm nay cho vui. Tôi buồn quá.


Tôi chỉ vào mấy cân gạo đã bó buộc sau xe, bảo anh Quang:


- Phải mang "hàng chiến lược" này về chứ.


Nếu nghe lời Lê Quang Trung nằm lại với anh một đêm, thì tôi đã không thể nào hình dung nổi ở Phú Yên xã tôi Cái đêm hôm ấy là đêm gì...


Có cái "các" quá giang của Lê Trung Quang cho mượn, tôi không phải mất ba đồng tiền đò. Qua sông Chu gió vù vù bên tai, tôi phải kéo vành mũ len, trùm thấp cho đỡ run. Tôi về đến nhà, trời đã sẩm tối, con mực xông ra í a í ẳng vờn chân lên hông. Vợ tôi bế thằng Văn ngủ khì trong lòng, ngồi bên bếp than vỏ cao su um khói. Bên cạnh, thằng cu Thức bốn tuổi đang liến láu. Còn Học - thằng con nhớn đang học bài ở nhà trên.


Thấy tôi về thằng Thức reo lên:


- A bố! Bố về là bố về! Có chi không bố?


- Có cái rét cóng đây này!


Tôi nói rồi dắt xe vào nhà, mở túi gạo, vác xuống bếp khoe:


- Ứng được năm cân gạo.


Bà cụ thân sinh ra tôi mệt đã lâu, thấy tôi về, cũng gượng chống gậy xuống bếp sưởi. Cụ bảo:


- Mẹ Học đi nấu cơm cho bố va ăn!


Tôi hỏi:


- Nhà ăn rồi hả mẹ?


Cái thằng Thức đến là hở miệng, cấm có giấu nó được tí gì. Nó nói:


- Chỉ nấu cơm cho bà với em thôi! Mẹ với anh Học, với con ăn cháo rau má rồi. Bữa nay mẹ luộc rõ nhiều rau cải.


Tôi thấy cay sè trong mắt.


- Thế thì nấu thêm vào. Hết thì tao đi bới đất, nhặt cỏ, van ông vái bà. Làm con người mà miếng cơm chín vào bụng vẫn không đủ thì sống thế nào?


Vợ tôi định cãi câu gì đó, nhưng lại thôi, vội trao thằng Văn cho bà rồi lại mở túi gạo đi vo. Bà cụ nói:


- Rau cải ế nhăn! Đói, chả mấy người mua. Hôm nay mẹ va không đong được gạo. May lấy được đấy, không thì mai gác con lên...


Ngoài cửa gió ào ào, tiếng chó sủa ổng oảng ở đầu ngõ. Có tiếng ai hỏi mua rau cải nhà tôi. Cô Hoa vợ chú Được. Hoa cũng người họ Phùng, gọi tôi bằng bác. Chồng cô ấy là đội trưởng đội sản xuất cũ, nay vừa được rút lên làm trưởng ban định mức, rồi phó chủ nhiệm. Cô vào bếp vừa nói, vừa run:


- Sao năm nay rét sớm thế này? Bác bán cho cháu mấy bó rau cải xào.


Vợ tôi bắc nồi cơm lên bếp, mấy bà cháu phải dồn chỗ cho hai người đàn bà tê cóng này ngồi cạnh bếp hơ tay, ngó chẳng khác những viên đạn bị nén trong cái băng lò xo tròn. Tuy gần bằng tuổi vợ tôi, nhưng là hàng cháu họ, nên Hoa vẫn bác bác, cháu cháu ngon ơ.


- Bác có ngan, gà gì để cho cháu vài cân. Giá mấy cũng được, cháu không quản.


- Còn có vài ba con, phải để hôm sau bà...


Tôi lừ mắt chặn lại câu nói hớ, khiến vợ tôi im bặt. Chả là vì mẹ đẻ ra tôi yếu lắm rồi. Cụ đã bảy mươi lăm tuổi, lại phù nề mặt mũi vàng ủng như quả thị rụng. Ai cũng bảo khó qua cái đầu mùa Đông này. Vì vậy gia đình tôi đã lo chuẩn bị ngầm, phòng sau khi cụ về cõi. Cái gì vợ tôi cũng bảo dành để hôm sau bà... thành quen miệng. Cau cũng phơi kỹ bỏ be để hôm sau, thậm chí bọt bẹt được đồng rau nào cũng dồn mua ván đóng sẵn áo quan để hôm sau... Ấy nhưng nói đến cái chết, cụ lại giận và làm nau: Bay trông tao chết à? Tao phải sống để nhìn con cháu được đến lúc sung sướng chứ. Khổ mãi rồi.


Tôi hỏi Hoa để lấp láp câu hớ rồi cho bà cụ khỏi giận:


- Mua đồ nhậu làm gì tối thế này?


- À... mua cho mấy thằng về đội ta thu sản, khuya các hắn đớp. Đội và quản trị thuê khoán cháu nấu.


Vì có chồng ở ban quản trị, cô ấy cũng là loại biết nhiều chuyện "bí mật nội bộ". Hoa thì thò cho vợ tôi biết đêm nay là đêm "đồng khởi" thu sản, tổng vét cả xã. Họ sẽ đổi chéo, công an và dân quân đội này về đội kia, vét bằng hết. Vì đội 12 này là nặng gánh nhất, nên họ sẽ điều về đây những tay cứng cựa. Hoa khuyên:


- Bác có thiếu sản, thì liệu mà xoay đi


- Thế thì tao đét bán rau cho mi nữa.


Vợ tôi toan từ chối, nhưng Hoa nài mãi và có tôi nói vào nên chị chàng mới chịu nghe. Hoa cầm đèn ra vườn soi cho vợ tôi hái. Cô ấy cầm rau, rồi còn đi các nhà bên cạnh hỏi mua gà. Cơm cạn, tôi vần cạnh bếp. Vì không phải ghế độn khoai độn sắn gì nên chín rất mau. Thấy chỉ nấu mình cơm tôi, lòng tôi lại buồn nổi gai. Vợ tôi bế thằng út vào lót cho nó ngủ trong buồng, rồi lấy cho tôi cái bát, đôi đũa. Cuộc chào mời đùn đẩy, nhường nhịn nhau rõ bực.


Tôi lùa hai bát cơm với nước dưa chua, rồi bỏ đấy. Bà cụ nài, rồi tôi dỗ thằng Thức cũng lắc đầu không dám ăn chỗ cơm còn lại. Hắn sợ mẹ. Nhà này, mẹ chúng nó có quyền uy tối thượng. Biết vậy, nhưng tôi cũng sắp trở thành kẻ sống nhờ...


Ngồi ở bếp, tôi hỏi vợ:


- Nhà mình còn thiếu của hợp tác xã bao nhiêu thóc nữa em?


Cô ấy không trả lời tôi mà nói rất vô lễ:


- Có biết thế này, đái tòe tòe vào, chứ tội gì lôi về. Cha đời! Bữa trước thì tuyên bố vớt được nấy ăn nấy, người ta mới hụp lặn xuống nước lụt mà khở (gở) từng bông lúa. Nay lại giở trò giảm tỷ lệ!


Tôi vỗ về:


- Thôi! Lụt thì lụt cả làng, em ạ! Em nói xem, so với tổng sản phải nộp, nhà ta thiếu bao nhiêu?


- Một tạ mười hai cân, em đã trình bày với anh Nhà đội trưởng rồi. Thực tế mò được hạt nào đã ăn hết hạt nấy. Mấy lâu nay bán được đồng rau nào mua ăn, không bán được thì nhịn. Đã nói khất rồi. Không cho khất, thì nhà đấy có dỡ được, đến mà dỡ.


- Phải mềm mỏng, em ạ! Khéo bán khéo mua thua người khéo nói! Gia đình mình, con cái mình còn ăn đời ở kiếp nơi đây.


Vợ tôi rền rĩ như sắp khóc:


- Chả nhẽ kiếm liều thuốc chuột, cho vào nồi cháo, ăn hết cả nhà cho sướng cái đời...


Ngồi sưởi ở bếp rất lâu, vỏ cao su cháy tàn, đã vạc hai ba đống than, mà chẳng ai muốn nói với ai câu nào nữa. Bà cụ ngồi lâu, mỏi và chán chuyện bỏ đi nằm. Thằng Học làm toán xong, lấy cho bà nồi than, rồi cũng rúc xuống bếp. Hắn đi bốc rơm lót ổ ngay cạnh bếp, lấy ván chắn rồi trải chiếu, ôm chăn ra nằm.


- Ngủ đây mà ấm, bố ạ!


Trong giường thằng Út Văn khóc í óe. Hắn lại đái lạnh đít rồi. Mẹ nó vào quả không sai. Nó được ôm ra bếp sưởi, nằm gọn trong lòng mẹ. Gần một tuổi mà nó còn bắt nhá cơm bón và bú thì hơn con bê non. Lại nhai tòm tọp thế đó! Tôi đùa với con để nó cười sằng sặc cho dịu cơn lo buồn.


Gần mười hai giờ khuya, cả nhà đi nằm. Tôi ngủ với hai thằng oắt trong ổ rơm dưới bếp.


Có điều gì đó bồn chồn và nơm nớp...


Bỗng tiếng kẻng gõ giục giã liên hồi. Kẻng khắp xã: từ đội 1 đến đội 15, như một sự bùng nổ dây chuyền. Tiếng loa phóng thanh mở hết cỡ đọc bản tin, kế hoạch huy động lương thực của tỉnh và chỉ thị của tỉnh ủy về công tác lương thực.


Hoàng Văn Nhân, đội trưởng đội 12, đọc trên loa danh sách những nhà thiếu thóc chưa giao nộp cho hợp tác xã. Đèn đóm soi rừng rực ở các ngã đường. Chó sủa ơi là chó sủa. Cũng cái loa phóng thanh ấy, có tiếng ông chủ tịch xã gọi cán bộ về đội 12 hội ý.


Ông trưởng công an xã Nguyễn Đình Định gào rát cổ trên loa, giọng giật giội gọi lực lượng dân quân, công an tăng cường về chi viện cho đội 12, tạo đà cho đội hoàn thành chỉ tiêu huy động. Tôi rùng mình nghĩ đội tôi là đội trọng điểm, nên cán bộ xã, hợp tác xã, vón cục cả về đây. Họ sẽ gõ cho ra chục tấn thóc còn tồn sổ.


Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc. Tiếng chó sủa vang, tiếng lợn kêu èng ẹch như bị chọc tiết ở các nhà gần quanh, làm thằng Út Văn khóc thét lên, ôm riết lấy mẹ. Thằng Thức cũng im thin thít, nằm co trong lòng tôi không dám cựa. Bên nhà ông Ái, láng giềng cách vườn nhà tôi một hàng rào, công an và dân quân đang lùng sục. Tiếng ông bà Ái kêu xin và tiếng quát lác, tôi nghe rõ mồn một.


- Cứ bắt lấy cái xe đạp! Phích, xô, bắt ráo!


Ở cổng nhà tôi đã có bước chân rình rịch, con chó mực đang có chửa bị quất, kêu ử ử.


Cạch cạch cạch.


- Chị cò Lộc, mở cửa ra!


Tiếng thằng bé trong buồng khóc thét. Thằng Thức đang ôm tôi, nghe em khóc cũng òa khóc toáng lên. Thằng Học mười hai tuổi đã học lớp tám rồi, mà cũng níu lưng tôi run bắn. Nghe tiếng quát lần thứ hai, từ nhà bếp, tôi chạy lên. Một luồng đèn pin soi giữa mặt làm tôi lóa mắt, phải lấy tay che.


- Có chuyện gì đấy, các bạn trẻ ơi?


- Thu thóc, thu thóc chứ còn gì, ông đừng hỏi vờ.


Vợ tôi đã mở toang cửa, tay ôm thằng bé ngất lịm. Một anh, hai anh... bốn anh bạn trẻ ùa vào nhà. Anh đi đầu cao to, tóc cắt tăng gô, mặc áo bông thùng thình, soi đèn pin rồi đánh diêm châm cái đèn hoa kỳ ở bàn thờ. Có lẽ Tâm "hộ pháp" là người này. Phải, tôi đã thấy anh ta đứng chân hộ vệ giữa, trong một cuộc đá bóng với xã khác. Tay anh cầm cái choòng sắt cỡ ngón tay cái. Vợ tôi mời họ ngồi ghế. Bà cụ đang ốm ở giường bên cũng cố ngóc dậy, run rẩy chào.


Theo danh sách đội báo, chị còn thiếu hơn tạ thóc. Yêu cầu chị đem nộp ngay!


Bà cụ tôi đáp thay con dâu:


- Các bác các anh ơi! Có còn cái gì mà nộp. Các anh và các bác không thấy đàn con hắn đói xanh đói trong đi à? Các bác không thấy tôi cũng phát phù phát nề, vàng cây úa lá đây à?


- Chúng tôi không hỏi mụ nghe chưa?


Cả bốn người cùng soi đèn pin khắp nhà trong, nhà ngoài, dưới bếp, bên chái. Hai người tuông soi cả trong vườn rau. Vợ tôi mếu máo:


- Làm gì có lúa để ngoài ấy. Các anh xéo nát cả rau.


Tôi chạy ra trụ sở đội, định tìm cán bộ trình bày. Chủ tịch Phê, bạn dạy học với tôi ngày trước, đi bộ đội về giải nghệ, vào cấp ủy, đang đứng đấy. Thấy thế tôi mừng quýnh. Lại thấy cả Phùng Gia Miện anh họ tôi, làm bí thư đảng ủy cũng có mặt, tôi càng yên trí. Nhưng thấy tôi họ quay đi lảng tránh.


Anh Miện bảo nhỏ tôi:


- Chú về động viên gia đình thanh toán bằng đủ, nhà mình là cán bộ. Không có thóc thì nộp bằng tiền. Lãnh đạo đã nhất trí cho nộp cả bằng tiền rồi đó.


Tôi đang định nói: "Đã không có thóc thì làm cóc gì có tiền", nhưng anh họ tôi đã dịu giọng:


- Ở đội trên, hắn bắt cả anh Thiện, anh ruột tôi, mà tôi cũng phải điếc đi... "Mất mùa màng, lợi ích thứ ba của người lao động phải hy sinh cho lợi ích của nhà nước". Đồng chí bí thư tỉnh ủy đã chỉ thị thế, chú biết rồi đó.


Lúc ấy ở trụ sở, công an, dân quân đã khuân về nào xe đạp, bàn ghế, tủ, chum vại, thùng tôn, lợn gà... để ngổn ngang ra tận ngõ. Tên chủ nhà thiếu thóc đề chữ bằng phấn trắng vào các đồ vật: Ông Ất, ông Do Khả, ông Hưng, ông Hồng, ông Khính (mẹ đẻ cô Hoa, mẹ vợ chú Được phó chủ nhiệm)... Mấy con bò bị bắt cột gần đó sợ đèn, sợ đám đông cứ lồng lên, chực bút mũi. Chúng xoay vòng quanh, mgửa lên mặt kêu "hấp bồ", "hấp bồ"...


Tôi loạng choạng đi về nhà, thấy người ta đang còn soi đèn tìm rất kỹ. Tôi nói:


- Các người anh em soi tìm gì cho mất công. Nhà tôi xin khất đến mai, tìm cái bán chác, nộp tiền bằng đủ.


Anh đầu tốp nháy nháy mắt ra hiệu.


- Đêm nay là đêm nay! Mai chúng tôi mất thưởng ai chịu cho?


- Bắt cái xe đạp ni, bay!


Hai ba anh chạy lại. Tôi từ tốn ngăn họ:


- Các đàn anh ơi! Tôi không làm ruộng sản mà. Đây là xe đạp nhà nước cấp cho tôi để tôi đi công tác. Các vị bắt cái này không được đâu.


- Nếu chúng tôi cứ bắt thì sao?


Tôi loáng nghĩ được một mẹo. Rút cái "thẻ hội viên Hội văn nghệ tỉnh" ra, tôi nói:


- Tôi phản đối! Tôi là "nhà báo"! Tôi sẽ kiện lên tận ông Đồng.


Nước cờ của tôi không ngờ lại có hiệu quả. Họ im lặng. Hẳn họ đã biết tên tôi dưới những bài đăng nào chăng.


Chợt vị "hộ pháp" nhìn chằm chằm vào cỗ quan tài để dưới gầm bàn thờ, rồi đi lại, vừa gõ vừa hỏi:


- Cái gì trong này, chị Lộc?


Im lặng...


- Cái gì trong này, chị nói mau?


Vợ tôi ấp úng. Tôi muốn tắc thở.


- Có cái gì đâu...


Mấy vị hăm hở lại, đạp lật nghiêng một cái. Nắp văn thiên bung ra, lúa chảy rào rào. Cả toán reo lên như một hiệp đào vàng trúng vỉa:


- A! Lúa! A lúa! Lúa! Anh em ơi. Ghê thật! Thế mà giả nghèo giả khổ.


Mẹ tôi chống gậy vái dài:


- Van các anh! Cắn rơm cắn cỏ tôi lạy các anh! Lúa của tôi. Đó là tạ lúa hai đứa con gái hắn mua góp lại cho, để hôm sau tôi chết, bà con thương mà chạy đến để ăn lưng cơm sốt.


Thực ra là của hai bà chị trong đó mỗi người có mười cân thôi. Ba mươi chín cân tiêu chuẩn hai tháng vừa qua tôi lấy về, còn lại là hơn bốn mươi cân, vợ tôi đong để dành "hôm sau" cho bà.


Bà cụ nói như rên rẩm:


- Đã bảo xay phứa đi cho con nó ăn không nghe. Cứ bóp mồm bóp miệng, để dành làm chi. Sống chả thấy đâu nữa là!


Một tay râu tóc lồm xồm hỏi:


- Chị có gánh đi hay không thì bảo?


Một tay khác tôi hơi quen mặt, đến trước vợ tôi lạy lia lịa:


- Thôi em xin bà chị. Em đi làm ở đây thế này, nhưng lại có bọn khác đến chỗ em làm ác y hệt. Nhà em cũng thiếu mà. Chị không gánh, để cánh này bê cả hòm ra, chị phải chịu hai chục công là ít, chưa nói phạt tiền.


Họ xúm vào khiêng bàn thờ ra, để lôi hòm lúa. Bất đồ hai thằng Học và Thức từ bếp tuôn lên, ôm lấy tay chân chư vị, van rối rít.


- Cháu van các chú! Các chú đừng lấy lúa này đi. Lâu nay các cháu phải nhịn để dành bữa sau cúng cỗ bà, làm ma bà!


- Buông ra đi! Ô hay, đồ con nít!


Bà cụ loạng choạng đi lại, giơ gậy cản:


- Các ông không thương trẻ, thì các ông thương lấy thân già, để lấy phúc đức cho con cháu.


Vì họ đá vấp gậy, lại yếu như con căng cắc lột, bà cụ ngã chỏng queo như chiếc ghế đổ.


- Ối Đảng ôi là Đảng ôi! Chính phủ ôi... Trông xuống mà coi...


Tôi xốc mẹ lên giường, bịt mồm cụ lại:


- Mẹ! Mẹ không được la như thế! Đây không phải Đảng! Đảng ta không làm thế. Đảng không chủ trương thế này!


Tôi nói vậy và ngoặp hai hàm răng vào cổ tay mình để kìm giữ cái gì cứ chực tung ra. Hai vợ chồng xúc hết lúa ra thúng bì. Dặn thằng Học trông em, ngó bà, tôi cùng vợ hì hục gánh thóc ra trụ sở nộp...


Đoạn cuối này tôi dành cho anh Quang.


Lê Trung Quang ơi! Anh có thể giấu cái bi kịch của gia đình anh, nhưng tôi không còn có thể che giấu nỗi đau của nhân dân bất hạnh. Dù sự tiết lộ này có làm mất cái chức huyện ủy viên của anh, thì tôi cũng thấy cứ phải nói ra.


Chuyện thật của nhà anh đây: lúa vay ăn còn nợ bảy tạ, con Lâm, thằng Sơn phải đi mò hến từng bữa, chị ấy nấu bánh đúc đi các làng đổi lúa. Anh mà nói ra, người ta cho là anh bêu riếu. Việc thật ở nhà tôi đêm 26 tháng 11 năm 1983, người ngoài cuộc hẳn cho là mình bịa. Cho đến nay, mỗi khi nghĩ đến, tôi cứ thảng thốt hỏi mình: "Cái đêm hôm ấy... đêm gì?".


PHÙNG GIA LỘC - Cuối năm 1987



.........../.

Thất bại khi một dân tộc phải dựa dẫm thánh thần mà đi


Thất bại khi một dân tộc phải dựa dẫm thánh thần mà đi


***

Cái sảy nảy cái ung, nếu không cẩn thận, hệ quả của các lễ hội không chỉ dừng lại ở sự nhốn nháo mà còn có nguy cơ đẩy dân tộc đến chỗ yếu đuối, tự ti và bạc nhược.


Ngày tế, lễ với công dân nhiều quốc gia có văn hóa gần gũi với chúng ta như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… diễn ra thật thanh bình và giản dị. Vào lúc giao thừa, người Đài Loan, Nhật Bản cùng nhau quây quần trong nhà. Sáng sớm, họ tới chùa đánh chuông, cầu mong sự tốt đẹp cho đất nước và người thân. Mọi sự diễn ra thật bình dị, ấm áp và sang trọng. Họ tin vào những gì họ có và tin vào ngày mai, cho dù Nhật là quốc gia nằm ở chỗ vỏ Trái đất yếu nhất, chịu rủi ro cao nhất nhưng phong thái của họ toát lên một vẻ ung dung tự tại.


Dòng người đông nghẹt tham dự lễ hội khai ấn đền Trần ở Nam Định
vào ngày 4-3-2015 (tức ngày 14 tháng Giêng năm Ất Mùi).

Lễ hội là tấm gương phản chiếu thái độ sống của một dân tộc. Cứ đến ngày tết và các lễ sau tết, ngày thi cử thì cả đất nước ta sôi lên sùng sục. Mọi người đổ đến chùa chiền, miếu mạo để cầu xin sự phù hộ của thánh thần.


Có rất nhiều người đi hàng chục ngôi chùa, rủ nhau trở thành hội đi chùa, tạo ra một mùa hành hương. Trong số đó có không ít quan chức nhà nước đi miếu, chùa bằng xe biển số xanh, nhất là các bà vợ của họ. Họ dâng sớ cầu xin đủ thứ trên đời, nào cầu an, cầu lộc, cầu tài, cầu tình, cầu duyên, cầu tự và cả những thứ “độc địa” khác nữa. Hàng triệu con người bỏ thời gian đi tới những nơi được coi là linh thiêng với thái độ hối hả, lo lắng, sợ sệt, tự ti chen lẫn khoe mẽ. Nhiều tỉ đồng tan thành mây khói nuôi dưỡng cho niềm tin mơ hồ nhưng rất mãnh liệt.


Lễ hội ở các nơi trên thế giới có thể đông nhưng bát nháo như ở ta thì cực hiếm. Chúng đan xen rất nhiều thái cực và nhiều tâm thế. Ngoài ái, ố, hỉ, nộ ra thì còn biết bao nhiêu chuyện bi hài khác diễn ra trong lễ hội. Người hoan hỉ khi cướp được lộc thánh, người đau khổ vì cầu chưa xong đã mất tài sản, kể cả mất mạng.


Giá như mọi người biết rằng “lộc thánh” như miếng vải có ấn triện đỏ đỏ, hoa tre là bùi nhùi ở đầu thanh tre, tiền của chúa là những miếng giấy bản được in mệnh giá thủ công,… nào đâu phải của “thánh”, của “chúa” mà chỉ là do một ai đó người trần mắt thịt tạo ra. Rất có thể trong số họ chả thiếu người bất hảo đã hà hơi thêu dệt nên ảo ảnh, được những người có thế lực tiếp tay đẩy lên thành thứ “thiêng”.


Hối hả, giành giật, chen chúc, xô xát, chặt chém, lừa lọc, chửi bới, hối hận, cay cú, máu me,… là trạng thái tâm thần của lễ hội chúng ta. Từ “phụ mẫu của dân” đến tất cả con dân của một đất nước phải vin vào thánh thần mà đi tới tương lai thì quả thật đất nước đang có vấn đề, vượt ra khỏi tâm linh trong sáng mà chuyển sang một trạng thái cực đoan khác. Không thể kéo dài tình trạng này được nữa, những người có trách nhiệm cần phải có nhận thức đúng, phải có thái độ đúng và hành xử đúng.


Bác Hồ nói một quốc gia dốt là một quốc gia yếu, mà u mê là một biểu hiện của dốt nát. Một dân tộc dựa dẫm thánh thần không thể nào là một dân tộc mạnh khỏe.


TS NGUYỄN MINH HÒA, ĐH KHXH&NV TP.HCM

........../.
  
****************
TỔNG QUAN BÌNH LUẬN BÀI VIẾT CỦA TS NGUYỄN MINH HÒA

@THẮNG NGUYỄN QUANG


ƯU ĐIỂM
Bài viết miêu tả, phản ánh tình trạng xã hội qua tín ngưỡng lễ hội theo trào lưu "bấn loạn" đương đại là đúng. - "Phản pháo" nhóm đông "đồng diễn" các hành vi phi văn hóa, là hình ảnh các tranh chấp, giằng xé, cướp đoạt vật linh bằng tham vọng cá nhân vô ý thức đã trở thành "bày đàn du thoái tâm linh" mang tính số đông. - Bài phản ánh đầu tiên dám phê phán xã hội và thần thánh đều sai lầm bởi "Lễ hội thì thác loạn, thần thánh thì vô tư, vô nghiệm, vô linh, nghi thức thì mù mờ nhân thế"...nhà chức trách nên biết mà dẹp bỏ ?


HẠN CHẾ
Tác giả chưa hiểu sâu thế nào là tâm linh, thế nào là xã hội trong chủ đề này, thành ra câu chuyện đánh đồng nhu nhược xã hội về lễ hội tâm linh cũng là nhu nhược thần linh, bởi cái tít bài : "THẤT BẠI KHI MỘT DÂN TỘC PHẢI DỰA DẪM THÁNH THẦN MÀ ĐI" là phản ánh chưa đúng, vả lại cùng đánh đồng "cái nhóm đông tranh cướp tài lộc nào đó" trở thành phương hại dân tộc (?).

Nếu hiểu sâu hơn thì tác giả sẽ nói được căn nguyên, vì trước đây, cách mạng XHCN đã phá bỏ chùa chiền miếu mạo... và tín ngưỡng tâm linh thì cái méo mó, mất trật tự xã hội lại vướng mắc, phát sinh kiểu khác, nhưng hậu quả là bây giờ. Đây mới là khoảng trống giáo dục tín ngưỡng tâm linh hàng chục năm nay nên chúng ta mới được một xã hội "vô ý thức" như thế với tinh thần dị đoan mê tín nặng. Không tin các bạn sẽ hỏi bất cứ một công dân ngày nay khi đứng trước ban thờ Phật hay thờ Thánh, Thần mà hỏi: "Anh, chị lễ ai và lạy ai ở trước mặt đấy?", câu trả lời đa số là không biết, câu chống chế sẽ là: "Tất cả đều lạy, tôi cũng lạy các ngài để được phúc đức và tài lộc (?) (!). Thế là mê tín, dị đoan đấy!

Người có tín ngưỡng phải được đào tạo, giáo dục để có ý thức về Bản tôn (thánh thần) được vinh danh ấy là ai? Có công với cuộc đời thế nào? Hiển linh của họ giúp người với chức năng gì?...
Tất các các sự tích bình thường ấy của Bản tôn được kính thờ mà người đi cầu, đi lễ không biết thì chẳng đúng là mê tín, di đoan sao? 
Lại còn các dịch vụ bói toán loang rộng đã thu hút người cầu may, người muốn thay đổi số phận phải làm theo các nghi thức "cá nhân tạo tác", tức các thày đã bịa đặt ra nghi lễ để vòi tiền của từ người mê tín, dị đoan và điều đó đã "nâng đỡ lòng tư hữu, ích kỷ" là chỉ biết mình chứ không biết người...và cứ thể số đông này hợp lại thành đám đông trong các lễ hội mà diễn biến của nó là thác loạn trật tự, bất chấp tâm linh, xé rào luật lệ để chiếm đoạt bằng được cái mục đích của mình – Chú ý đám đông cũng là cơ hội cho kẻ múc túi và cướp giật kia đấy, chúng chẳng sợ gì và cũng chẳng bị thần thánh vật chết ngay đâu, nhưng nhân nào quả đấy, chúng ta cứ tìm hiểu sẽ biết.

Không biết phân biệt xã hội, tập tục và tín ngưỡng các quốc gia khác nhau thì xa lạ cả nền văn hóa tín ngưỡng cũng khác nhau luôn, cho nên không thể đem văn hóa tín ngưỡng Nhật Bản, Hồng Kông hay Trung Quốc...để so sánh với tín ngưỡng Việt Nam được (có thể họ hay cái này thì kém ta cái khác - luận số đông, chúng ta cần trông thấy nền tảng tín ngưỡng của bất cứ quốc gia nào không phải không có ưu việt hoặc nhược điểm bất cập của nó).

Tác giả chưa hiểu được tín ngưỡng đẻ ra các nghi lễ tâm linh, quy định xã hội (hương ước xưa) cho các Lễ và Hội thì đã vội nói "vơ đũa cả thần thánh lẫn xã hội" là một kết cấu "tham vọng nhu nhược, ích kỷ cá nhân như nhau" bởi các diễn biến tranh chấp, chen chúc, thiếu lành mạnh và bất chấp tác hại cho chính mình và cho người xung quanh, thậm chí đánh nhau cấp cứu, giẫm đạp bỏ mạng...thì lễ tục các quốc gia châu Á còn có diễn biến xấu hơn nữa, có thể chết người hàng loạt do tai nạn giẫm đạp, thời tiết hoặc khác mà người ta vẫn phải chấp nhận.

Từ cách nhìn một chiều, chỉ thấy nhu nhược nghịch cảnh, thiếu văn hóa mà "ra chưởng" đánh đồng đạo đức xã hội VN xuống cấp, nhưng không lý giải được căn nguyên, làm người đọc ngắc ngứ về cái xấu, ngại ngùng với tín ngưỡng, quên mình đi lễ, đi cầu thì tiêu chuẩn đầu tiên (người ta đã quên lâu rồi) là đến chùa nên học và noi gương Phật, đến đền học Thánh, đến người học Nhân và Quả mới chính xác là các tiêu chuẩn tín ngưỡng, chứ không phải người dâng mâm cao cỗ đầy mới được Phật, Thánh chứng cho...

BÀN LUẬN
Trước hết tôi thành thật xin lỗi tác giả bài viết, vì có bài này mà tôi nêu ra một số căn nguyên tiềm ẩn các nhu nhược trong đám đông và những lập luận này chỉ "mở" cho người đọc hiểu được căn nguyên chứ không phê phán tác giả, ngược lại tôi xin cảm ơn tác giả.

Nhiều chục năm nay ta chưa có truyền thống giáo dục các tín ngưỡng Việt (thành hệ thống), hay nói cách khác là đã phá hủy truyền thống vốn có trước đây, thì đừng bao giờ mong có gặt hái các trật tự văn hóa xã hội hoàn thiện tín ngưỡng của nó.

Về mặt tín ngưỡng tâm linh thì mỗi công dân Việt đều bị bỏ hoang, thả nổi các giáo dục chuyên môn trong lĩnh vực này. Cho nên ta có cả một xã hội (quá bán số đông) mê tín, dị đoan làm nền tảng cho tín ngưỡng, tức là ta được một xã hội có tâm đấy (tín ngưỡng trong vô ý thức), mà cộng với vô tuệ, dẫn đến thiết tưởng phân lập đồng nhất ích kỷ, nóng nảy (đi lễ mà nóng nảy là vi phạm tâm linh rồi), tranh giành, thậm chí có cả đút lót, cậy danh, cậy quyển để "chiến thắng", chiếm đoạt tài lộc, phúc đức (trái các quy định của lễ nghi truyền thống).

Dẹp bỏ các "phấn khích tâm linh" này ư? Giải tán các lễ hội truyền thống ư? Hay bỏ tù các cá nhân đã gây cơn thác loạn? Hay làm sống lại những người đã chết trong giẫm đạp lễ hội? Khó lắm, dân vẫn là dân, nước vẫn là nước, người vẫn là người.

Phải chăng chỉ có một con đường duy nhất là ƯU TIÊN, TĂNG TỐC GIÁO DỤC DÂN TRÍ TRONG TÍN NGƯỠNG, THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH NÂNG TÍN NGƯỠNG VÀO LUẬT VÀ LỆ - chứ không phải ngăn đường, cấm hội là thượng sách.
Đến như việc làm không tưởng dưới chế độ này ta có được một Nguyễn Bá Thanh đã sống hiến dâng, đã cải cách cuộc sống, nâng cấp văn minh, văn hóa cho Đà Nẵng trở thành "một vương quốc riêng" rất ít thác loạn nhân dân, chẳng hóa là một nét đẹp xã hội đó sao?.

Tác giả lại nói cái quyết liệt thái quá: "Cái sảy nảy cái ung, nếu không cẩn thận, hệ quả của các lễ hội không chỉ dừng lại ở sự nhốn nháo mà còn có nguy cơ đẩy dân tộc đến chỗ yếu đuối, tự ti và bạc nhược".
Đọc mà khiếp, chẳng lẽ chỉ riêng biệt sự nhốn nháo trong các lễ hội thì cả nước sẽ bị mất điểm truyền thống dân tộc sao? hay cả dân tộc sẽ chuốc lấy bạc nhược cuộc sống? Chuốc lấy yếu đuối, tự ti sao?
Còn những tham nhũng, lừa đảo, tranh chấp thù trong, giặc ngoài, kiện tụng đất cát...không dẫn đến cái gì sao?

Bạn nên hiểu và nên tin dưới chế độ ưu việt, người ta sẽ biết lựa chọn và chế ra các chính sách khắc phục những nhược điểm của số đông, các phương pháp giáo dục dân trí sẽ làm bình ổn xã hội (về mọi mặt - tất nhiên các nghị quyết của Đảng và Nhà nước đã có, đã nói nhiều, nhưng nhân dân phải có ý thức thực hiện nó) chứ không phải sự suy thoái dân tộc chỉ dành, chỉ đổ lỗi cho các tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội (trong khi số đông chưa được giáo dục đúng nghĩa, đúng lý).

Ta cũng nên hiểu các lễ hội mùa xuân sau tết là những tục lệ truyền thống. Người sau có thể cải tiến các luật tục hủ lậu, vô bổ để tính ưu việt được lưu trong truyền thống.

Tất cả ý đồ, nội dung tốt đẹp của các lễ hội là giáo dục đấy. Mặt khác các lễ hội mùa xuân ngày nay cũng làm nhân dân quên đi những vất vả trong năm, những định kiến nào đó chưa thể giải quyết thì họ ắt phải đi cầu Thần linh. Chúng ta hãy chờ những bậc lãnh đạo cao minh, phát phúc, phát tuệ (trí) cho nhân dân được nhờ.
....../