Chuyện từ rạp hát 'Thầy Năm Tú'



Chuyện từ rạp hát 'Thầy Năm Tú'

Vương Tâm

****


Một chiều cuối năm, tôi tình cờ có mặt trong cuộc thi ảo thuật các tỉnh phía Nam (2017), tại rạp hát “Thầy Năm Tú”. Đây là một rạp hát cải lương cổ nhất ở Tiền Giang, nằm trên đường Lý Công Uẩn, gần chợ Mỹ Tho. Xưa mặt tiền của rạp có hình cánh màn nhung điệu đà sắc màu cải lương. Nay được sửa lại vuông vức hiện đại, nhưng bên trong diện tích rạp hát vẫn vậy, rộng rãi và khang trang như thuở nào…



Thầy Năm Tú chơi cải lương

Rạp hát “Thầy Năm Tú” được ghi dấu một cái mốc khởi phát và thời kỳ huy hoàng của xứ sở gái đẹp Mỹ Tho. Đồng thời đây cũng là nơi khẳng định cái nôi sân khấu cải lương của lục tỉnh Nam Kỳ. Vở cải lương đầu tiên của Việt Nam được diễn ra tại đây, vào năm ngày 15-3- 1918. Đó là vở Kim Vân Kiều, do ông thầy Năm Tú (Châu Văn Tú) thuê viết, chỉ huy dàn dựng và tổ chức ra mắt đúng vào ngày sinh nhật của mình. Câu chuyện, tôi được bà Trần Kim Liên, giảng viên trường Đại Học Tiền Giang kể cho nghe. Tôi như bị cuốn hút theo dòng lịch sử của những làn điệu cải lương và mọi diễn biến xảy ra chung quanh rạp hát “Thầy Năm Tú”…
Trước hết vì sao ông bầu gánh hát đặt tên là “Thầy Năm Tú”? Đúng là câu chuyện ngông, chơi sang của một công tử nhà giầu, say mê đờn ca tài tử của miệt vườn sông nước. Trước đó, Châu Văn Tú bỏ tiền xây rạp chiếu bóng để kinh doan bên cạnh chợ Mỹ Tho. Sau đó mươi năm, Châu Văn Tú mua luôn cả một gánh hát có tiếng lúc đó, ghép lại cùng với những nghệ sĩ tài tử, giang hồ quen biết ở trong tỉnh được mời về , tạo nên lực lượng khá hùng hậu. Ông là người đầu tiên có sáng kiến đưa những làn điệu của đờn ca tài tử (hát lẻ) vào những tích cổ, viết thành chuyện để hát và diễn trên sân khấu. Vì thế, ông mới thuê nhà nho có tiếng ngày đó là Trương Duy Toản viết kịch bản “Kim Vân Kiều”, để thử nghiệm trò chơi của mình. Tư duy nghệ thuật cải lương ấy đã tạo nên những nghệ sĩ chuyên nghiệp hơn, không chỉ dừng lại ở những bản hát đơn lẻ, cùng với động tác minh họa nghèo nàn. Và chữ “cải lương” đã được ông bầu Tú dùng đầu tiên với vở Kim Vân Kiều, mang ý nghĩa cải cách và nâng cao nghệ thuật đờn ca tài tử. Sau này còn có gánh hát đã treo hai câu đối bên rạp rằng: “Cải cách hát ca theo tiến bộ. Lương truyền tuồng tích sánh văn minh”, như khẳng định thêm ý tưởng mới lạ của thầy Năm Tú.
Sáng kiến tiếp theo là cách đặt tên nghệ sĩ theo thứ bậc tuổi tác và tài năng. Trong tay ông Châu Văn Tú có một đội ngũ nghệ sĩ tài hoa và có giọng hát cuốn hút lòng người. Ông  lấy đúng quy củ của nếp sống trong giang hồ mà đặt tên như Tám Danh, Ba Du, Năm phỉ, Tư Sang… Còn với chức danh vừa là chủ vừa là tổ chức dàn dựng, ông tự đặt tên cho mình là thầy “Năm Tú”. Vợ ông cũng được gọi tên là Tám Hảo. Lập tức trước khi công bố vở cải lương đầu tiên, ông cũng đổi tên rạp chiếu bóng của mình thành “Rạp hát Thầy Năm Tú”. Riêng có những trường hợp đặc cách như nghệ sĩ Phùng Há (tên chính là Trương Phụng Hảo), người đóng vai Kiều, vì còn nhỏ tuổi nên vẫn được giữ nghệ danh của mình. Sau này cho dù đã nổi tiếng và đủ lông đủ cánh tự bay xa, các nghệ sĩ vẫn lấy những danh hiệu của Thầy Năm Tú đặt cho mình đi diễn khắp nơi.


Độc chiêu của thầy Năm Tú

Nhà giáo Kim Liên cho biết thêm, thầy Năm Tú không chỉ tổ chức biểu diễn tại rạp mà còn nghĩ ra ngón kinh doanh, thu những vở cải lương vào đĩa hát, bán cho công chúng. Cùng với đó, chiêu tiếp thị của ông cũng khác đời. Các đào kép hát hay diễn giỏi phải ăn mặc thật đẹp đi chơi chợ, hay ra vườn hoa cho mọi người chiêm ngưỡng, trò chuyện. Quả nhiên người đến xếp hàng mua vé rồng rắn quanh hông chợ Mỹ Tho như đi hội vậy. Riêng đĩa hát thu vở diễn, ông cho in thêm hình con gà trống đỏ, một biểu tượng báo hiệu sự mới lạ cho nghệ thuật.
Sau đó, thầy Năm Tú còn nghĩ kế sách quảng bá sâu rộng hơn, khi cho sản xuất những đĩa ca nhạc, gồm những bài lẻ và gồm cả tiếng Hoa, tiếng Việt. Ông nghĩ sâu sa, gốc tích khởi dựng miền đất Mỹ Tho, có sự đóng góp lớn của dòng tộc người Hoa ban đầu đến đây. Họ là lượng khách hàng rất lớn trong cộng đồng người Việt. Cách chào hàng ấy đem lại món lời lớn cho gánh hát.

Thật là thiên thời địa lợi. Thời ấy, dân chúng các tỉnh đi xa hay thương lái các tỉnh quanh vùng muốn lên Sài Gòn, đều phải qua Mỹ Tho đi xe lửa chở hàng đi bán. Mỗi khi khách dừng chân chờ tầu đều rủ nhau đến rạp thầy Năm Tú xem cải lương, giải trí đến tận khuya.

Nhưng đâu đã hết, thầy Năm Tú còn thuê sản xuất cả máy quay đĩa đem bán để cho người nghe cho có đủ bộ. Để phân biệt với hàng Pháp, thầy Năm Tú cho in hình con chó trên máy đĩa hát của mình, với chất lượng không hề thua kém. Đồng thời nhờ có những đĩa thu giọng hát đê mê lòng người của cô đào Tư Sang và Năm Cần Thơ mà hãng đĩa thầy Năm Tú bán đắt như tôm tươi. Tiếng nổi như cồn, từ đó có hiện tượng những người buôn bán làm ăn ở Mỹ Tho, đều mua máy hát và đĩa hát của đoàn cải lương thầy Năm Tú làm quà biếu, thể hiện chất “cải lương” văn hóa doanh nhân của mình.

Thương hiệu đĩa hát thầy Năm Tú nổi tiếng khắp ba miền Trung-Nam-Bắc. Lại còn có cả chuyện, người Sài Gòn còn lấy thầy Năm Tú làm cái mốc định danh để trò chuyện, như họ thường nói: “Cái nón này sắm từ thời thầy Năm Tú hẳn ta?”, hoặc đôi khi hài hước chê bai: “Sao nó quay chậm như đĩa hát thầy Năm Tú cải lương vậy?”…

Cũng chính xuất phát từ cuộc chơi cải lương của thầy Năm Tú, mà đất Mỹ Tho, Tiền Giang xuất hiện nhiều nghệ sĩ tài năng. Tính cho đến nay, số nghệ sĩ của tỉnh vinh dự được nhận danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân (NSND) của Nhà nước trao, đạt con số kỷ lục tới 8 người. Có thể kể ra những cái tên lừng danh ấy như: Ba Du, Bảy Nam, Trần Hữu Trang, Phùng Há, Dương Ngọc Thạch, Kim Cương, Trần Ngọc Giầu... Hầu hết trong số họ đều là nghệ sĩ cải lương, và đều là những người được chắp cánh từ rạp hát “Thầy Năm Tú”, từ năm 1918. Tính đến nay, tròn 100 năm, có người còn người mất nhưng đã để lại dấu ấn kiệt xuất không bao giờ phai mờ trong lòng khán giả say mê sân khấu cải lương. 

Trong số đó, Nghệ sĩ Trần Hữu Trang (sinh năm 1906), là một trong những người xuất sắc nhất. Ông đầu tiên chỉ là một anh thợ cắt tóc ở phố huyện, nhưng vẫn say mê đờn ca tài tử với các gánh hát. Ông có năng khiếu viết ra những bản ca, với những lời mới để mọi người cùng hát. Sau đó, Trần Hữu Trang vào đoàn hát Phụng Hảo do nghệ sĩ Phùng Há thành lập, với vai trò thư ký và biên kịch để dễ bề hoạt động cách mạng.

Do có tài đàn hát và năng khiếu sáng tạo đặc biệt, chỉ một thời gian ngắn, Trần Hữu Trang đã viết xong vở cải lương đầu tiên cho đoàn. Đó là vở “Lửa đỏ lòng son” (1928), sau đó là vở “Tâm hồn nghệ sĩ”, với chất tả thực xã hội làm lay động lòng người. Nhưng có lẽ bắt đầu từ vở Tô Ánh Nguyệt (1934), tiếng tăm của Trần Hữu Trang nổi lên như một tài năng trẻ đầy triền vọng. Liên tiếp mấy năm sau đó là các vở “Lan và Điệp”(1936) và “Đời cô Lựu” (1937), Trần Hữu Trang được đánh giá là tác giả lớn trên sân khấu cải lương.  

Năm 1960, Trần Hữu Trang lên chiến khu làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng. Ông vừa làm công tác chỉ đạo phong trào, vừa sáng tác kịch bản gửi về các đoàn biểu diễn, phục vụ đồng bào và chiến sĩ giải phóng.

Thật không may Trần Hữu Trang bị trúng bom trong một đợt máy bay mỹ oanh tạc vào Trung ương Cục miền Nam, tại biên giới Việt Miên (năm 1966).

Ông hy sinh như một anh hùng, để lại 30 vở cải lương có giá trị. Với bộ ba kịch bản hiện thực ở đỉnh cao: “Tô Ánh Nguyệt”, “Lan và Điệp” và “Đời cô Lựu” đã trở thành những vở cải lương mẫu mực, kinh điển có sức sống lâu bền, tạo đất diễn và sáng tạo cho các nghệ sĩ. Và đó cũng chính là dấu ấn sâu đậm, kỷ niệm cho sự phát triển và những bước thăng trầm của nghệ thuật cải lương, trong suốt 100 năm qua.  


Vương Tâm

......./.

PHỤ NỮ RÂU

PHỤ NỮ RÂU

( mời xem bài viết có lẽ là bài cuối cùng của Bình Nguyên Lộc ngày 4/3/1987; sau đó ba ngày 7/3/1987 ông tạ thế.)
***







[https://www.facebook.com/minhnx]


Trước hết xin nói sơ qua về thượng cổ của nước Nhật Bổn. Các nhà khảo cổ Tây phương dã tìm thấy dấu vết di cư của dân tộc Nhựt, cách đây năm ngàn năm. Họ từ Trung Á di cư tới các nơi mà ngày nay !à nước Nhựt. Họ không di cư một minh mà cùng đi với dân Triều Tiên và dân Việt Nam.
Tới Nhựt họ không gặp phải đất hoang vu mà gặp một thứ dân kia đã làm chủ đất ở đó. Dân này da trắng nhưng bé người, bé hơn cả những người Nhựt nhỏ bé nữa, mà họ gọi là Ainu, hoặc Ainô. Có lẽ đó là danh tự xưng của dân đó, nên chính người Nhựt cũng chẳng biết Ainu có nghĩa là gì. Trong sách vở, người Nhựt trỏ dân đó bằng hai tiếng Tàu “Hà Di” có nghĩa là Rợ Hà, nhưng Hà là gì thì họ cũng chẳng biết.
Người Nhựt đánh giết dân Ainu để cướp đất, cuộc chiến tranh kéo dài cho đến thế kỷ thứ 19 mới thôi. Đó là một thứ nội chiến nho nhỏ, nên thế giới không hay biết. Mỗi năm Nhựt chỉ đánh một trận xoàng xoàng để giựt vài chục mẫu đất rừng, còn dân Ainu thì cứ lùi chớ không đủ sức phản công, nên tình trạng chiến tranh, xem như là không có, trong xã hội Nhựt.
Ngày nay các nhà chủng tộc học, cho rằng dân Ainu không phải chỉ là một dân tộc, mà thuộc vào một chủng tộc lớn, trong nhóm mấy mươi chủng da trắng, và hồi thượng cổ, họ làm chủ trọn nước Tàu, chứ không phải riêng gì ở Nhựt mà thôi. Chủng nầy đã bị diệt , trước đó rất lâu, tại Trung quốc, còn tại Nhựt thì họ bị diệt chủng kể từ ngày họ di cư tới đảo Phù Tang.
Hiện nay thì họ lùi về một hòn đảo rất lớn của nước Nhựt, đảo Bắc Hải Đạo (Hokkaido), và được để yên, không còn chiến tranh nữa, và người Ainu chỉ còn sống sót có vài vạn người, tất cả đều rút lên núi cao của đảo đó. Khí hậu của đảo nầy lạnh như Bắc Canada, nên người Nhựt cũng chưa lập nghiệp đông đảo ở đó.
Sự kiện mà chúng ta cần biết là toàn thể phụ nữ Ainu đều có râu. Họ rất hãnh diện mà có râu, chớ không bận tâm về việc nhổ râu, cạo râu, hay dấu râu bằng cách này hay cách khác.
Phụ nữ Ainu đã được các nhà bác học Nhựt nghiên cứu. Số lượng Oóc Môn nam nơi họ cũng bình thường như nơi phụ nữ các dân tộc khác. Hóa ra, sự kiện mọc râu nơi phụ nữ Ainu trở thành bí mật y học cho giới y khoa quốc tế. Sự mọc râu không còn là hậu quả, không còn là tình trạng lạm phát Oóc Môn nam nữa mà còn do một hay vài nguyên nhân khác mà y học chưa khám phá ra được.
Về tính tình bên ngoài thì phụ nữ Ainu cũng chẳng khác bao nhiêu các phụ nữ trên quả địa cầu, nghĩa là họ vẫn sống bình thường như bất kỳ người phụ nữ nào khác trong xã hội. Có một số phụ nữ Ainu làm chiến sĩ thật đó, nhưng chẳng qua chỉ là chuyện bất đắc dĩ thôi. Họ bị thiểu số trước người Nhựt, mà phải đánh nhau mãi với người Nhựt, hóa ra « Giặc tới nhà, đàn bà phải đánh'', chỉ có thế thôi chớ họ không có hiếu động, hiếu chiến gì hết. Họ cam phận làm đàn bà, lấy chồng , đẻ con, nuôi con, chẳng khác gì phụ nữ trong các cộng đồng xã hội khác.
Dĩ nhiên cũng có ngoại lệ, vì không có luật nào mà chẳng có ngoại lệ hết, nghĩa là cũng có một thiểu số nhỏ phụ nữ Ainu không có râu. Những cô không có râu bị mặc cảm dữ lắm, và họ xóa bỏ '' khuyết điểm'' bằng cách xâm râu lên môi mép bằng mũi kim rồi nhuộm chàm lên đó, y như ngày nay phụ. nữ Âu Mỹ xâm chân mày. Hạng không râu, không tài giỏi, cũng không kém cỏi hơn hạng có râụ, thế nghĩa là râu không là hậu quả của sức khỏe tốt, hay xấu, cũng không phải là dấu hiệu của tài năng cao hay thấp ! Khoa học hoàn toàn bí về râu của phụ nữ Ainu. Nhưng khoa học có tự hỏi dân Nhựt có lai giống với dân Ainu hay không ? Khoa học, tức những nhà khoa học Nhựt, chớ dân Nhựt thì không bao giờ tự hỏi như vậy. Họ xem Ainu là mọi rợ, tự ái dân tộc ngăn họ tự hỏi điều đó.
Người ta thấy rằng người Nhựt, nhứt là phái nữ có ba điểm hơi lạ. Da rất trắng , y như người Ainu. Họ lại có bộ giò rất ngắn, cũng như người Ainu. Điểm thứ ba nữa là phụ nữ Nhựt xưa kia có ngôn ngữ riêng, khác với ngôn ngữ của nam phái Nhựt. Nếu có lai giống thì cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, trong những đoàn di cư lớn và đi xa, luôn luôn thiếu đàn bà. Đến nơi định cư mới, họ thường kết hôn với phụ nữ bản xứ.
Dân ta cũng thế, hiện nay trên núi rừng, người ta vẫn còn bắt gặp một thứ nguời Việt Nam cổ, sống chung với phụ nữ thuộc chủng khác, chủng Mê-La-Nê da đen, bé nhỏ hơn dân ta. Trong xã hội nguời Mường, phụ nữ cũng thuộc chủng khác, trong khi đó thì đàn ông Mường mang cơ thể tính Việt Nam. Và sự lai giống ấy nếu có, đã thay đổi hẳn tình trạng râu ria vì không có phụ nữ Nhựt nào có râu hết.
Riêng tôi, không phải là một nhà khoa học, tôi vẫn có nghĩ đến một sự kiện, mà nói ra có vẻ hơi lạ kỳ, nhưng tôi cứ xin nói. Xin nhắc rằng trên quả địa cầu nầy chỉ có bốn nơi là cây nhân sâm mọc được một cách tự nhiên không cần trồng mà thôi. Đó là Triều Tiên,Nhựt Bản, Cực Bắc Hoa Bắc và Hoa Kỳ. Nhưng ngày nay thì vì lý do khẩn hoang canh tác, nên ở Nhựt, ở Hoa Bắc, ở Bắc Hoa Kỳ không còn cây nhân sâm nữa. Hoa Kỳ có thử trồng, trồng có kết quả, nhưng họ chỉ (thiếu ?)
Các nước văn minh họ phân chất đủ thứ hết, bạ gì cũng phân chất, ta cứ ngỡ là họ làm chuyện tầm ruồng, vì lợi ích không thu được ngay, cho nên ta không thấy, còn họ thì thấy được, nên họ phân chất lung tung, chẳng có món nào thoát khỏi họ hết.
Cách đây già nửa thế kỷ, các nhà khoa học Nhựt Bổn âm thầm làm một cuộc phân chất mà chẳng hề ai nghĩ đến cả. Họ phân chất Cao Ly sâm của Triều Tiên. Kết quả được họ công bố trên các tạp chí khoa học : Củ sâm có chứa một chất hữu dụng là chất Oóc Môn dương, còn tất cả các chất khác đều hoàn toàn vô dụng. Thuở ấy y học quốc tế đã biết vai trò quan trọng của chất Oóc Môn dương rồi. Chất nầy do cơ thể của con người sản xuất ra một cách tự nhiên. Nếu cơ thể sản xuất không được thì người đàn ông sẽ bị liệt dương hoàn toàn, bằng như cơ thể sản xuất kém đi thì họ chỉ bị suy dương mà thôi. Sau đó không lâu, y học thế giới lại biết thêm một đặc tính của Oóc Môn dương nữa là nó có thể chữa bịnh rối loạn kinh kỳ cho đàn bà, nhưng bất tiện là nếu cho chất đó vào cơ thể thì đàn bà có thể mọc râu.
Sự công bố kết quả phân chất chưa giúp ích y học được, vào thời đó, vì y học chưa chế ra được một cách nhân tạo chất Oóc Môn. Thế nên loài người cũng cứ tiếp tục dùng Cao Ly sâm như thường, chỉ có khác là Đông Y không biết đặc tính thứ nhì của Cao Ly Sâm là trị chứng rối loạn kinh kỳ của phụ nữ. Nhưng sau đó, ngành hoá học Âu Mỹ chế tạo được chất Oóc Môn, rồi thì có biến cố lớn trên thị trường Sâm Cao Ly. Một ống Oóc Môn, giá ở các nhà thuốc tây tại Sàigon năm 1965, nhớ đâu như là chỉ có hai đồng bạc Việt Nam thôi. Trong khi đó, muốn cho vào cơ thể số lượng Oóc Môn ấy bằng Cao Ly Sâm, phải dùng đến cả nửa kí lô sâm mới đủ, mà nửa kí lô sâm thì giá đến cả bạc ngàn.
Nước Tnều Tiên đã bị thiệt hại nặng, mà không do Nhựt Bổn phá bao giờ, vì thuở Nhựt phân chất, họ chỉ phân chất chơi vậy thôi, chứ đâu có ai biết chế Oóc Môn nhân tạo. Sự thiệt hại chỉ xảy ra mấy mươi năm sau, nhưng không thiệt hại hoàn toàn vì các cụ già không thạo tin khoa học, vẫn còn uống sâm như cũ. Các cụ cho là bổ khỏe lắm vì chất Oóc Môn là kích thích tố, các cụ uống vào, được tráng dương, mà hễ tráng dương thì nghe thơi thới, vui vẻ, yêu đời, các cụ cứ tưởng đó là bổ, chớ thật ra nó chỉ kích thích các chức năng khác mà thôi, thí dụ ăn, các cụ thấy ăn ngon hơn trước, chớ đâu có bổ như mấy thứ vitamin và các thứ muốị kim loại.
Tôi tự hỏi phải chăng thời thượng cổ dân Ainu, chủ đất xưa của nước Nhựt, đã ăn quá nhiều củ sâm? Vâng, các cổ dân sống bằng hái lượm trước khi biết săn và câu. Họ kiếm trái rừng và đào củ rừng để ăn. Mãi cho đến ngày nay mà tôi còn thấy người Việt Nam, thỉnh thoảng ăn củ nho và củ nần trong rừng. Ăn củ sâm là tiêu thụ Oóc Môn nam rồi vậy. Đàn ông ăn thì không sao, họ chỉ tráng dương thôi, nhưng đàn bà ăn, mà ăn trong hàng ngàn năm thì mọc râu là sự kiện không thể tránh . Trên đây chỉ là giả thuyết. Giả thuyết đó vấp phải một chướng ngại sau đây. Người ta sẽ hỏi ngày nay ở Nhựt không còn sâm nữa, dân Ainu đã biết làm ruộng, biết ăn cơm, thì sao phụ nữ của họ cứ vẫn tiếp tục mọc râu ? Vậy kẻ thường dân viết bài nầy xin mời các nhà khoa học giải thích thêm vụ râu ria của phụ nữ Ainu, và xin nói lạc đề vài mươi dòng chữ.
Con đường hầm dài nhứt thế giới là con đường hầm Seikan ờ Nhựt Bổn. Đó là loại đường hầm đào ở dưới dạ của đáy biển (Tunnel undersea), khó đào hơn đường hầm xuyên núi dành cho xe lửa. Đường hầm Seikan dài 33 dặm Anh, tức dài gần gấp đôi con đường hầm xuyên qua biển Manche, nối liền hai nước Pháp và Anh. Seikan được khởi công từ sau trận thế chiến thứ hai (sau 1945) và dự trù sẽ hoàn thành vào năm 1983. Nhưng rồi không còn nghe nói đến con đường hầm ấy nữa, có lẽ người viết bài nầy có một lúc không theo dõi tin tức thế giới được. Nhưng nếu công việc có bị đình trệ, chắc chỉ đình trệ vài năm thôi, và dù sao nó cũng thành hình trước con đường hầm biển Manche mà Pháp và Anh cứ nói đến mãi từ già nửa thế kỷ nay, mà chưa có gì đáng kể (1). Đường hầm Seikan nối liền hai đảo Bổn Châu (Honshu) và Bắc Hải Đảo (Hokkaidọ). Đảo Bổn Châu là đảo lớn nhứt của nước Nhựt và là Trung tâm văn hóa của dân tộc Phù Tang từ hai ngàn năm nay. Đảo Bắc Hải Đảo là đảo thứ nhì của nước Nhựt, nhưng hiện nay phần lớn vẫn còn là một hoang đảo mà người Nhựt còn đang thám hiểm.
Hà Di bị đẩy lùi lên Bắc Hải Đảo rồi thì Nhựt lại đuổi theo, nhưng lần nầy thì không còn chiến tranh tàn sát. Người Nhựt chỉ cai trị lỏng lẻo vì bận kiến thiết xứ sở theo lối mới nên để yên Hà Di, vả lạị họ chỉ sống sót có vài vạn người,chẳng cần mạnh tay với họ như hồi cổ thời. Nhựt biết đảo ấy có nhiều khoáng sản, nên quyết tâm khai thác vùng đất ấy. Đó là lý do hối thúc họ thiết lập đuờng hầm nầy. Hà, trong Hà Di là tiếng Tàu mà Nhựt mượn để tạm phiên âm danh Ai của họ, dùng để trỏ Rợ đó. Họ gọi dân đó là Ainu hoặc Ainô. Ainô được viết dình và đọc dình (2), nhưng thực ra đó là danh từ ghép gồm Ai+Nô. Nô có nghĩa là cánh đồng hoang, đồng gốc với chữ Nội của Việt Nam, và người Nhựt thường viết ra chữ Tàu là Dã, và Nô được nới rộng nghĩa để diễn ý niệm dã man, hoang dại. Còn Ai là gì chính người Nhựt cũng không còn biết, họ chỉ còn nhớ nghĩa của một danh từ Ai độc nhất có nghĩa là Cái đèo mà thôi. Động từ Ai của họ chỉ là Ái của Tàu, chớ không phải là tiếng Nhựt, thí dụ Aiin là Ái ẩm, dùng để trỏ bợm rượu, Aijin là Ái nhân, có nghĩa là tình nhân v.v.

(1).- Ðường hầm biển Manche đã khánh thành ngày 06.05.1994, dài 49,7 km, nằm 37 km dưới biển Manche giữa Coquelles (Pháp) và Folkestone (Anh).
(2).- “dinh”, hay “đinh”, hay “dình”? Chữ in bỏ dấu bằng tay không rõ.


BÌNH-NGUYÊN LỘC


THẰNG MÕ (Số đặc biệt về Bình-nguyên Lộc vừa qua đời)
Số 257, ngày 21.03.1987, San Jose, Bắc Cali

........../.

MISSION IMPOSSIBLE!




MISSION IMPOSSIBLE!

*****

Một nghiên cứu về tội phạm kinh tế tại Bắc Việt thời chiến tranh (*) cho biết, tình trạng tham nhũng của cán bộ lẫn quân đội từng là vấn đề được xem là sống còn. Một báo cáo cho thấy, những năm 1960, “tham nhũng là vấn đề xã hội nghiêm trọng nhất Bắc Việt và đa số cán bộ đều nhận hối lộ”. Đáng chú ý là nhiều con cái cán bộ đã dính vào các vụ trộm cắp. “Có 1.500 thiếu niên móc túi ở Hà Nội. Hầu hết là con cán bộ, thậm chí cán bộ cấp cao. Những thiếu niên này liên quan 30-40% các loại tội hình sự như tội phạm chuyên nghiệp”…
Con cái cán bộ bây giờ không chỉ móc túi ngoài phố và tham nhũng ngày nay không phải hối lộ vặt. Một ghi nhận chi tiết (GAN Business Anti-Corruption Portal, 9-2017) – tổng hợp từ báo cáo World Bank, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, Minh bạch Quốc tế, Diễn đàn Kinh tế Thế giới… - đã cung cấp một bức tranh ảm đạm về tham nhũng Việt Nam. Tham nhũng mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi ban ngành, mọi tổ chức…
Các định chế kiểm soát trật tự xã hội và luật pháp lại là nơi xảy ra tham nhũng đặc biệt tồi tệ. Trừ các bản án chính trị và tội phạm kinh tế quốc gia, gần như chẳng có án hình sự nào là không thể “chạy”.
Cảnh sát là thành phần ăn hối lộ trơ tráo nhất. Cảnh sát không chỉ “ăn dân”. Cảnh sát “ăn thịt” cả “đồng loại” cảnh sát. Trước khi có thể chạy ra đường “kiếm ăn”, người ta phải “chạy” để trở thành cảnh sát công lộ.
Dịch vụ công cũng là nơi mà hoạt động hối lộ-tham nhũng nhộn nhịp. Các hồ sơ hợp thức hóa nhà đất, kiện cáo tranh chấp đất đai, xin giấy phép thành lập công ty, giấy phép xây dựng… đều không thể được giải quyết nhanh hoặc thậm chí không bao giờ được giải quyết nếu không hối lộ. Tương tự cảnh sát, hải quan và nhân viên thuế cũng là những kẻ ăn bẩn nhất. Rất nhiều doanh nghiệp thậm chí đưa phần hối lộ vào “chi phí sản xuất” như là phần không thể thiếu trong quá trình kinh doanh dịch vụ hoặc sản xuất.
Báo cáo PCI 2016 (**) công bố tháng 3-2017 cho biết, có đến 66% công ty phải hối lộ cho quan chức địa phương. Khoảng 9-11% doanh nghiệp tham gia cuộc điều tra PCI từ 2014-2016 cho biết, tiền đấm mõm cho bọn “thối móng tay” chiếm đến hơn 10% tổng doanh thu!
Cũng theo PCI 2016, trong 1.550 công ty có vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI), có gần phân nửa (49%) phải trả “phí” khi làm thủ tục thông quan; 25% nói rằng họ phải dúi phong bì để có giấy phép đầu tư và 13,6% phải trả tiền “hoa hồng” khi làm làm hồ sơ giành thầu nhà nước.
Một sự mỉa mai là chính các cơ quan liên quan thanh tra lại là những nơi ăn kinh khủng nhất. Theo PCI, năm 2016, gần ½ doanh nghiệp phải hối lộ khi có đoàn thanh tra đến “làm việc”…
Đứng thứ 113/176 quốc gia trong bảng chỉ số tham nhũng mới nhất do tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp hạng, tham nhũng ở VN không còn là hiện tượng.
Nó không phải là vấn đề cá nhân mà là vấn đề tổ chức.
Nó không phải là vấn đề Đinh La Thăng mà là vấn đề cơ cấu tổ chức của hệ thống cai trị, giúp tạo điều kiện đẻ ra những Đinh La Thăng.
Tham nhũng cũng chẳng là những câu chuyện hối lộ mờ ám. Nó lộ mặt công khai, ở những tên buôn chổi đót, ở những gương mặt có tên có tuổi cụ thể - như Hoàng Thế Liên, khi còn là thứ trưởng Bộ tư pháp, đã bị trộm đột nhập vào phòng làm việc tại trụ sở Bộ, lấy đi khoảng 245 triệu đồng cùng 2.000 USD; như giám đốc Sở tài chính Kon Tum Đặng Xuân Thọ bị trộm 65 lượng vàng; như giám đốc Sở tài nguyên-môi trường TPHCM Đào Anh Kiệt bị trộm 1 tỷ đồng và hơn 30.000 USD ngay tại phòng làm việc, số tiền mà Kiệt nói rằng đương sự “tích cóp được trong suốt 37 năm làm việc” chứ không phải là tiền hối lộ trong một tháng hay vài tháng mà đương sự còn để ở văn phòng chưa kịp mang về nhà.
Những vụ tương tự được tường thuật giới hạn trong “phạm vi” hình sự mà chẳng bao giờ được mở rộng điều tra dưới góc độ tham nhũng. Có những vụ việc mà mức độ “thách thức” sự kiên nhẫn của người dân rất cao, như trường hợp Trương Công Chiến. Chỉ là một tên “quan” thuộc loại “vớ vẩn” (Đội trưởng đội Đăng ký trước bạ thuộc Chi cục Thuế quận Bình Tân), Chiến đã bị trộm “12 sổ tiết kiệm trị giá 5 tỷ đồng, 6.000 USD, 10 lượng vàng SJC, một bộ nữ trang trị giá 10 lượng vàng 24k, hai bông tai hột xoàn, một nhẫn kim cương”! Thanh tra chống tham nhũng đâu? Sao không “vào cuộc”?
Không bao giờ có thể chống tham nhũng nếu không có minh bạch. Tháng 10-2017, Ban bí thư (trung ương) ban hành “hướng dẫn khung về các nội dung phải công khai để nhân dân biết”, bao gồm: “Công khai 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; 19 điều quy định đảng viên không được làm…”.
Cái quái quỷ “27 biểu hiện suy thoái” gì là chuyện nội bộ đảng có lẽ không cần “công khai để nhân dân biết”.
Có những điều nhân dân muốn biết nhưng chưa bao giờ có thể biết rõ ràng: tháng 9-20117, Phó tổng thanh tra Chính phủ Đặng Công Huẩn cho biết, “năm 2016 có 1.113.422 người kê khai tài sản, 77 người được xác minh, 3 trường hợp thiếu trung thực, trong đó có cả cán bộ cao cấp”. Tại sao có hơn 1,1 triệu người kê khai tài sản mà chỉ 77 người được xác minh? Ba trường hợp “thiếu trung thực” là ai? Trong số hơn 1,1 người kê khai tài sản, có Nguyễn Phú Trọng không? Có vô số điều nhân dân muốn biết nhưng không thể biết, chẳng hạn trường hợp em chồng của Kim Tiến dính vào vụ tham nhũng VN Pharma được “xử lý” thế nào rồi?
Chẳng bao giờ có thể chống tham nhũng thành công nếu báo chí không được phép tự do điều tra. Cho đến thời điểm này, VN chưa hề có cái gọi là “phóng viên điều tra”. Báo chí chỉ tường thuật theo hồ sơ được mớm sẵn.
Không thể chống tham nhũng nếu xử lý những trường hợp cá nhân mà không thay đổi hệ thống tổ chức. Và quan trọng nhất, thay đổi cả Hiến pháp, trong đó có vấn đề quản lý và sở hữu đất đai-tài nguyên.
“Cuộc chiến” của Nguyễn Phú Trọng là nỗ lực tàn hơi để vực dậy niềm tin cho một cái đảng tàn hơi. Người dân trông chờ một sự kiến thiết quốc gia của một nhà nước minh bạch chứ không chỉ là cuộc chỉnh đốn nội bộ đảng mà từ thập niên 1960 “đảng” đã nhìn thấy những “hạn chế” khiến đảng bị lợi dụng như thế nào.
Một bài viết của tác giả Phạm Hưng Quốc đăng trên trang Viet-Studies (3-1-2018) gọi Nguyễn Phú Trọng là “hề cung đình”. Cách gọi này có phần thái quá. Trọng không đang múa may quay cuồng để làm trò cười thiên hạ. Trọng đang rất quyết liệt và chơi đến cùng.
Có lẽ hình ảnh gần hơn với Trọng là một ông già đang cố vá săm lốp cho chiếc xe đạp Phượng Hoàng thập niên 1960. Ông không muốn sắm xe mới. Ông thích chiếc xe cũ, có nguồn gốc sản xuất ở Trung Quốc. Trên chiếc xe cọc cạch ấy, ông muốn dẫn dắt đất nước đi trên con đường mà chính ông cũng không biết nó dẫn đến đâu. Bất luận thế giới đang tiến nhanh như thế nào, Trọng vẫn thong thả trên chiếc xe cọc cạch. Trong khi đó, ông không còn nhiều thời gian cho sứ mạng bất khả thi của mình. Di sản của ông sẽ chẳng là gì ngoài một đất nước tan nát, nếu ông không tận dụng cơ hội này để đập bỏ hệ thống mục ruỗng của ông và thực hiện một cuộc canh tân toàn diện.
(*) “Moonshiners, Black Marketers, and Thieves among Us”: Economic Crime in Wartime North Vietnam, tác giả Harish Mehta, chuyên san The Historian (Volume 79, Issue 3, Fall 2017, 5-9-2017, trang 523–559)
(**) PCI – “Chỉ số năng lực cạnh tranh các tỉnh”, do Phòng thương mại và công nghiệp VN và Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ phối hợp thực hiện.



........../.

Danh tướng Trần Bình Trọng - tranh của TÚ DUYÊN


Danh tướng Trần Bình Trọng
thủ ấn hoạ của TÚ DUYÊN

http://lythi.com/auction/lot-01-tu-duyen-danh-tuong-tran-binh-trong/

 ***




Thủ Ấn Họa thoạt tiên phối hợp kỹ thuật mộc bản của ta và kỹ thuật tranh in hiện đại của châu Âu, được Tú Duyên chuyên tâm nghiên cứu và mở đường cho một bộ môn nghệ thuật độc đáo thế giới. Trong Thủ Ấn Họa, hoạ sĩ chỉ dùng một bản khắ c gỗ duy nhấ t, thay vì phải dùng mỗi màu một bản khắc, và dùng ngón tay thoa màu lên mộc bản.

Trần Bình Trọng được các sử gia đời sau đánh giá rất cao vì lòng trung thành với đất nước và Hoàng đế nhà Trần, trở thành một ví dụ điển hình cho lòng anh dũng khẳng khái. “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi.” là một trong những câu nói nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm nước Việt Nam, trở thành một trong những biểu tượng của tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt.

Về tác phẩm TRẦN BÌNH TRỌNG, hãy nghe chính tác giả trả lời nhà văn Nguyễn Ngu Í, phụ trách mục “Quan Niệm Mỹ Thuật” của tạp chí Bách Khoa (xuất bản ở Sài Gòn trước năm 1975) :
Ta không có một hình một tượng gì của Trần Bình Trọng cả. Nhưng khảo sử, tôi được biết ông khi chết chưa quá bốn mươi, đang thời cường tráng. Một kẻ thất thế mà thốt câu đầy khí phách ấy phải là một người gân guốc, tâm hồn khoẻ mà thể xác cũng khoẻ. Càm bạnh, mày rậm, mắt to là tướng của kẻ hùng, tôi căn cứ theo tuổi tác, theo thá trước cái chết và trước mồi phú quí để hình dung con người của kẻ bất khuất ấy. Tôi để ông ở trần, để giới thiệu cái ngực nở nang, cánh tay gân guốc. Sau ông, là thành quách cháy, hình ảnh của sự tàn phá dã man của quân Mông Cổ, dưới chân ông là cây đao nằm, tượng trưng sự thất thế. Hai tay bị trói, nhưng toàn người ông tiết ra một sự hiên ngang, hùng dũng không bờ, bất chấp tan tành sau lưng và cái chết trước mặt.


Tú Duyên cho biết, bức TRẦN BÌNH TRỌNG có 30 ấn bản, nhưng vì là thủ ấn họa, màu sắc các bản khác nhau, nên mỗi bản đều có thể xem như bản gốc.

....../.

50 năm sự kiện tắm máu Thành Huế



50 năm sự kiện tắm máu Thành Huế



ĐIỀU GÌ ĐÃ XẢY RA?


Trong bài viết trên chuyên san "Indochina Chronicle" số 33 đăng ngày 24-6-1974, Gareth Porter thuộc Đại học Cornell đã cố chứng minh rằng sự kiện thảm sát Mậu Thân 1968 là màn tuyên truyền của VNCH lẫn Mỹ. Tuy nhiên, những gì Porter đưa ra là không chính xác và có nhiều chi tiết mâu thuẫn. Sự kiện thảm sát thường dân tại Huế là có thực, một bi kịch khủng khiếp có thực, một câu chuyện đầy nước mắt bi ai và oan ức với những nhân chứng có thực.
Đó là chiến dịch khủng bố kinh khủng nhất lịch sử chiến tranh Việt Nam. Dường như tất cả căn tính ác độc nhất của con người đều hiện ra trong những ngày tang thương này. Một cuộc “tìm diệt” và tàn sát ghê rợn bao trùm toàn bộ thành phố cổ kính, bình lặng và hiền lành. Dường như mọi người đều trở thành sát thủ vô tri và mọi người khác đều trở thành nạn nhân. Trong quyển “A House in Hue” ấn hành 1968, Omar Eby thuật lại lời kể một nhóm nhân viên thiện nguyện thuộc hệ Tin Lành Mennonite, khi lẩn trốn, đã thấy một số người Mỹ trong đó có một nhà nông học thuộc Cơ quan phát triển quốc tế, bị trói ngoặc trên đường ra “pháp trường”.
Năm 1971, trong quyển “Tet!”, ký giả Don Oberdorfer cũng thuật nhiều chi tiết kinh khủng. Stephen Miller, một nhân viên ngoại giao đoàn Hoa Kỳ (lúc đó) 28 tuổi, đã bị lôi ra khỏi căn nhà người bạn Việt Nam và bị xử tử trên một cánh đồng. Các bác sĩ người Đức Raimund Discher, Alois Alteköster; cùng vợ chồng Horst-Günther Krainick – đều dạy tại một trường y – cũng bị giết tương tự. Hai cha cố Pháp, Urbain và Guy, cũng bị thấy dẫn đi. Thi thể cha Urbain sau đó được tìm thấy, với tay lẫn chân bị trói chặt trước khi bị chôn sống. Thi thể cha Guy có một viên đạn cắm sau đầu, nằm chết cong queo trong một huyệt mộ cùng 18 nạn nhân khác. Linh mục Bửu Đồng, một người hiền lành nho nhã nổi tiếng đất cố đô, cũng bị giết. Xác của ông được tìm thấy vào 22 tháng sau, cùng 300 thi thể khác.
Trong cuộc phỏng vấn Đài truyền hình WGBH vào tháng 3-1981, Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời:
“Tôi xin nói tất cả vấn đề khách quan. Cái thứ nhất, là nói riêng về những người bị giết thì trong số đó hiển nhiên là có những người do du kích, do quân đội cách mạng, do phải thi hành bản án tử hình đối với những kẻ mà khi chúng tôi vào nhà để gọi họ ra thì họ bắn đến cùng. Họ bắn đến độ những người chiến sĩ của chúng tôi đã phải bị thương và những người đó thì phải giết tại chỗ. Đấy, trong trường hợp đó, có một viên phó tỉnh trưởng của Huế. Nó trên lầu nó bắn xuống đến cùng, không đầu hàng. Chỉ có, như vậy là chỉ có một ít trường hợp thôi. Còn một số những trường hợp khác thì chính nhân dân đã căm thù quá lâu… Và đến khi mà cách mạng bùng lên, họ được như là lấy lại cái thế của người mạnh thì họ đi tìm những kẻ đó để trừ, như là trừ những cái con rắn độc mà từ lâu nay, nếu còn sống, thì nó sẽ tiếp tục nó gây tội ác trong chiến tranh… Như vậy là cái giá đó, tôi nghĩ là, nó nhẹ. Nếu ai đã từng theo dõi cuộc chiến tranh thì sẽ thấy từng cái món nợ đó là rất nhẹ. Nó rất gọi là công bằng” (…)
Ai là “những cái con rắn độc”? Các bác sĩ người Đức, nhà nông học người Mỹ hay các vị cha đạo người Pháp? Hay là ông Phạm Văn Tường, nhân viên gác cổng bán thời gian cho Phòng thông tin Huế? Khi bị “phát hiện”, ông Tường, như mọi người dân hoảng hốt chạy lánh chiến sự, đang trốn cùng đứa con gái 3 tuổi, con trai 5 tuổi và hai đứa cháu. Cả nhà ông đều bị bắn sạch. Một trường hợp khác: vào ngày thứ năm sau khi chiếm Huế, Việt Cộng “lùa” khoảng 400 đàn ông và thanh niên đến Nhà thờ Phú Cam. Vài người trong số đó đã nằm trong danh sách “có nợ máu với nhân dân”. Họ được nhìn thấy dẫn đi về hướng Nam. Sau đó, thi thể họ chất đống tại Khe Đá Mài… Một số sách, trong đó có “America in Vietnam” (ấn hành 1980) của Gunther Lewy và “Giap” (1993) của Peter MacDonald, đều trích dẫn một tài liệu của Việt Cộng bị tịch thu được đã “thống kê thành tích” việc “trừ khử 1.892 nhân viên chính quyền, 38 cảnh sát và 790 tên ác ôn”. Ai trong số những người bị giết tại Khe Đá Mài nằm trong bảng thống kê này, và ai “ác ôn”, ai vô tội?
Cũng trong cuộc phỏng vấn trên, Hoàng Phủ Ngọc Tường nói:
“Sau này, trong năm 75, 76, 77, chúng tôi đi làm thủy lợi đó, làm dẫn nước sông Hương đó, tôi đã đào lên những cái nấm mồ mà trong đó gọi là “thảm sát Mậu Thân” thì đầy những người đội mũ tai bèo và mặc áo quần quân giải phóng. Thì đấy là cái sự, tôi nói rằng đấy là cái, cái gọi là cái ranh mãnh của thực dân mới. Nó bắn một mũi tên và được hai mục tiêu. Cái thứ nhất là che giấu tất cả những tội ác mà nó đã làm. Và cái thứ hai, nó đổ tất cả những cái đó cho quân đội cách mạng” (…)
Ở góc nhìn khác, cũng thấy một điều, có “tất cả những tội ác mà nó đã làm” cũng đã được che giấu. Hãy tua lại một đoạn phim tài liệu gần đây:
“Đầu tháng 3, hai tuần sau khi chiếm được Huế, thiếu úy Phil Gioia thuộc Sư đoàn 82 Không Vận đã dẫn trung đội mình dọc bờ sông Hương để tìm vũ khí địch có thể chôn lại sau khi rút lui. Trung sĩ Reuben Torres thấy một vật thò lên khỏi mặt cát. Đó là một cái khuỷu tay. “Bọn tôi nghĩ chắc đây là một cái huyệt” – Phil Gioia kể – “mà địch chôn người chết của họ sau khi rút lui khỏi Huế. Trung sĩ Torres nói, “ta đào chỗ này lên xem”. Chúng tôi thấy thi thể đầu tiên là một phụ nữ, mặc áo trắng, quần đen, hai tay bị trói ngoặc ra sau và bị bắn vào gáy. Bên cạnh là đứa bé, con bà ấy, cũng bị bắn. Thi thể tiếp theo cũng là một phụ nữ. Lúc đó thì đã rõ, đây không phải là xác quân Bắc Việt hay Việt Cộng” (The Vietnam War-Ken Burns, tập 6, xem từ phút 58:14).
Những phụ nữ này, cùng con cái họ, có nằm trong “thành phần” mà “nhân dân đã căm thù quá lâu”? Vì sao họ bị giết? Họ có tội gì? Đây không phải là cái chết giữa những người cầm súng ở hai bên chiến tuyến mà là sự giết chóc thường dân. Một cuộc thảm sát man rợ và tàn ác. “Cái giá” mà Huế phải trả trong Mậu Thân không hề “nhẹ” và rất không “công bằng”. Nó là tội ác chống lại loài người và những kẻ gây ra phải gọi là tội phạm chiến tranh. Nó cũng chẳng thể gọi là “điều đương nhiên... đã tự động để mà cái lòng căm thù đã đẩy cái mức đó”, như lời Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nó là một cuộc say sưa giết chóc có hệ thống và có tổ chức.

*************************

AI CHỊU TRÁCH NHIỆM?

Trong cuộc phỏng vấn ngày 20-5-2017 (*), Nguyễn Đắc Xuân kể: “Họ lập ra một cái đoàn, gọi là “Đoàn sinh viên quyết tử”, mà tôi là trưởng cái đoàn đó… Tôi tổ chức học quân sự, thành ra ba đại đội, làm thành một tiểu đoàn… Thì trong cái đội đó, cái đoàn sinh viên quyết tử đó, chả bắn được ai, mà cũng chả làm cái gì ai, nhưng nó gây ra một cái tinh thần sinh viên, mà dám vũ trang để mà chống Mỹ, để mà chống Thiệu-Kỳ…”.
Dù không biết “Đoàn sinh viên quyết tử” của Nguyễn Đắc Xuân có “bắn được ai” hoặc “làm gì ai” không, nhưng có điều chắc chắn rằng chiến dịch Mậu Thân là một kịch bản được chuẩn bị chu đáo với những kế hoạch cụ thể và phân công cá nhân cụ thể. Những bài báo miêu tả chi tiết “chiến công Mậu Thân” đã thuật rõ điều này. Việc tiêu diệt cho bằng hết “ngụy quân, ngụy quyền” để “xây dựng” một chính quyền mới sau “giải phóng” là một “chủ trương” của Ba Đình. Như được Lê Duẩn phác thảo, Mậu Thân không chỉ là chiến dịch quân sự. Mục tiêu lớn nhất là cướp chính quyền. Điều đó đã dẫn đến chiến dịch khủng bố và cuối cùng đưa đến cuộc thảm sát. Giết ai và ai đi giết đã nằm trong kế hoạch được soạn từ nhiều tuần hoặc nhiều tháng trước khi chiến dịch nổ ra. Việc Huế bỗng đốt pháo nhiều hơn để người dân không phân biệt được tiếng súng với tiếng pháo đã cho thấy kế hoạch được lên chi tiết như thế nào.
Trong “Huế 1968: A Turning Point of the American War in Vietnam” (ấn hành 2017), tác giả Mark Bowden đã ghi lại một phần trong danh sách 22 trang đánh máy (mà ông tìm được trong Kho lưu trữ quốc gia Hoa Kỳ), liệt kê các mục tiêu cần “tiêu diệt”:
- Nhà thờ Phú Cam
- Khoa Luật Đại học Huế
- “Xa”, một cảnh sát Quảng Trị sống ở đường Thống Nhất gần giao lộ chữ Y cách đường Lê Văn Duyệt vài căn
- “Soi”, trung sĩ nhất Sư đoàn 1 Bộ binh ngụy, ở đường Thống Nhất, gần căn nhà bằng đá và tiệm may
- Cao Thọ Xá, ác ôn, dân Phú Ổ, làng Hương Chu, thị trấn Hương Trà. Bỏ làng, về sống ở đường Thống Nhất gần cửa Chánh Tây. Đêm đêm, bọn chính quyền từ các làng kế bên về nhà hắn đánh bài và ngủ lại
- Tiệm sửa đồng hồ đường Thống Nhất, đối diện xéo Phòng tuyển quân. Bọn chính quyền từ các làng kế bên tụ tập về đây ngủ
- Hồ Thị Kim Loan, làm cho Cơ quan Phát triển Nông thôn. Nhà ở đường Trịnh Minh Thế gần trạm xe bus Nguyễn Hoàng
- Nhà hàng Lạc Thành ở đường Đinh Bộ Lĩnh, bên ngoài cửa Thượng Tứ. Bọn mật vụ và cảnh sát thường đến đây ăn uống
- Tiệm sửa radio ở số 3 đường Trần Hưng Đạo. Chủ là Tôn Thất Vũ, con của Tôn Thất Kế, đảng viên Đại Việt…
Cầm danh sách trong tay, những “anh hùng ngã tắt”, như cách nói của ông Phan Nhật Nam, đã tổ chức các cuộc lùng sục gieo rắc kinh hoàng. Những kẻ “hối hả hưởng cho hết cái uy quyền què cụt trong giây lát” không chỉ là những thanh niên “sớm giác ngộ” hoặc Việt Cộng nằm vùng. Có cả dân giang hồ. Một trong những người như vậy là Mai Văn Ngụ, ở Thới Lai, vốn khét tiếng với “nghề” ăn cướp; tống tiền; đâm thuê chém mướn. Từng xộ khám nên Ngụ hận thù cảnh sát. Khi “giải phóng về”, Ngụ “lột xác”, đổi tên thành Mai Văn Hòa. Được “cách mạng tin tưởng” giao nhiệm vụ, Ngụ hăm hở lập thành tích truy tìm những kẻ “có nợ máu với nhân dân”, nhân tiện “xử” luôn những kẻ thù của mình, trong chính quyền lẫn giới giang hồ. Trong vài vụ, đích thân Ngụ đứng xem cuộc hành quyết ngay trước nhà nạn nhân… (sau sự kiện Mậu Thân, Ngụ trốn theo “quân giải phóng” nhưng sau đó bị bắt và bị đày Côn Đảo; sau 1975, đương sự trở về Huế và được xem như một “anh hùng cách mạng” – dẫn từ “Huế 1968”, Mark Bowden).
Vì “chỉ đạo ở trên” là tiêu diệt sạch chính quyền “cũ” để “giải phóng hoàn toàn” Huế nên đã xảy ra các vụ bắt bớ tràn lan và giết chóc vô tội vạ. Cứ là “thành phần ngụy quyền” thì bắt hoặc giết, bất luận có “ác ôn” hay không. Trường hợp gia đình bà Nguyễn Công Minh là một ví dụ. Bà kể, lúc 2g sáng sau Giao thừa, một nhóm Việt Cộng cầm AK đến gõ cửa. Bố bà sợ hãi kêu anh cùng chú của bà lẻn cửa sau đi trốn. Việt Cộng đòi xem căn cước và hỏi bố bà làm gì. Ông là phó quận trưởng quận Triệu Phong ở Quảng Trị, sắp nghỉ hưu. Sáng mùng một, họ quay lại, dẫn ông đi “thẩm cung”. Sáng mùng hai, họ lại đưa ông đến Trường tiểu học Vỹ Dạ để tra hỏi. Đến mùng ba, họ yêu cầu ông gói ghém đồ dùng cá nhân và đi “học tập cải tạo 10 ngày”. Ông mất biệt từ đó.
Một năm sau, một Việt Cộng chiêu hồi khai với tỉnh trưởng Thừa Thiên rằng ông ta tận mắt chứng kiến một cuộc thảm sát, tất cả đều bị chôn sống, và ông biết chính xác hố chôn. Đến Xuân Ổ, người ta tìm thấy một hầm có 7 xác, tất cả đều bị trói và đều bể sọ. Việc tìm kiếm được mở rộng sang các vùng lân cận. Mùa hè khô hanh chỉ toàn cát phủ nhưng cứ chỗ nào có cỏ tươi thì nơi ấy có xác. Lên Phú Tứ, sau một tháng, tìm được thêm 250 xác. Hầu hết đều bị bể đầu, trói cánh khuỷu, với tư thế quỳ và chết chụm vào nhau. Gia đình bà Minh vẫn cố gắng tìm xác người thân. Tìm cho đến tháng 9-1979... Bố bà Minh bị bắt đi đâu và bị giết ở đâu? Không ai biết.
Ai trực tiếp “chỉ đạo” và “duyệt” các kế hoạch “giải phóng” Huế? Ai lên danh sách “tìm diệt” và tổ chức “tìm diệt”? Phải có một hoặc nhiều người nào đó. Và (những) người đó phải là dân địa phương. Những thông tin này đã bị giấu nhẹm. Những bài báo “ca ngợi chiến công” hoặc các hội thảo từ hàng chục năm nay, mà mới nhất là “Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử”, tổ chức ngày 29-12-2017, đã không bao giờ dám nhắc đến điều này. Bên cạnh sự hoan lạc chiến thắng là một sự hèn hạ rợn người.
Ai chịu trách nhiệm lớn nhất với vai trò đầu não trong kế hoạch “xóa sổ” toàn bộ hệ thống chính quyền địa phương để xây dựng chính quyền mới là một bí ẩn lớn nhất của sự kiện Huế-Mậu Thân. Những bàn tay vấy máu đồng bào đã vội vã được chùi. Những “chứng cứ ngoại phạm” hấp tấp được bày ra. Lê Khả Phiêu, người mà hồi chiến dịch Mậu Thân là chính ủy kiêm trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, có trách nhiệm gì không?
Một bài báo mang tựa “Gặp lại cựu tổng bí thư Lê Khả Phiêu” (Tiền Phong, 11-11-2012) có đoạn: “Đêm 24-2-1968, quân ta được lệnh rút khỏi Huế. Khi rút phải đưa hết thương binh ở phẫu tiền phương lên rừng để tiếp tục điều trị... Đồng chí (Lê Khả Phiêu) nhận trách nhiệm trước Quân khu rằng, không riêng Trung đoàn 9 mà cần phối hợp với các trung đoàn bạn khác… cùng với nhân dân thành nội Huế làm nhiệm vụ vận chuyển anh em thương binh vượt vòng vây lên căn cứ. Chính sách thương binh là đây. Tình người, tình đồng chí đồng đội là đây”… Ừ thì đây: một bài báo khác, đề tựa “N. Vietnamese Die Chained to Their Gun Posts” của ký giả Fred Emery đăng trên Times of London ngày 16-2-1968, viết rằng ông thấy hai thi thể lính Bắc Việt đã bị xích vào cột điện với khẩu súng máy (“Huế 1968”, Mark Bowden).
Những câu chuyện bi thảm về chiến tranh Việt Nam đáng lý không nên nhắc lại. Nhưng, khi mà những oan hồn chiến tranh còn chưa được giải và những bàn tay nhuốm máu còn chưa được rửa với sự thành khẩn ăn năn để chắp lạy nén nhang trước vô số cái chết oan ức thì liệu mọi thứ có thể bỏ quên hoặc để vùi lấp vào bụi lịch sử? Chúng ta sẽ nói gì với thế hệ trẻ, để giải thích tại sao hôm nay cả thành Huế lại chít khăn tang để làm giỗ cho hàng trăm oan hồn, trả lời sao với con cháu rằng lý do gì ông bà cha mẹ anh chị cô chú mình bị giết và ai giết? Cho đến giờ, vẫn còn có màn vỗ tay cười cợt trước những dải khăn tang.
Nếu người ta tiếp tục khạc nhổ những bãi đờm nhơ nhớp vào lịch sử và giẫm đạp lên xác chết chiến tranh trong đó có cả chiến sĩ đồng đội mình thì những câu chuyện này vẫn cần được nhắc lại, không phải để khinh bỉ, không đáng và cũng chẳng cần, mà để cho thế hệ trẻ hiểu được cuộc chiến “giải phóng dân tộc” nó đầy dãy tội ác như thế nào, để họ hiểu dối trá và bưng bít cũng là một tội ác, và để họ nhận thức rằng những hành động kinh tởm đó đừng bao giờ lặp lại với đồng bào và dân tộc mình.



///////////////////////////

“LỰC LƯỢNG 47”, HỌ LÀ AI?



“LỰC LƯỢNG 47”, HỌ LÀ AI?



***

Làm công việc truyền thông nên tôi không thể không quan sát truyền thông mạng và yếu tố “tâm lý truyền thông” của nó. Nếu chịu khó quan sát và đọc ý kiến (comment) trên các trang của một số người có sức ảnh hưởng, sẽ thấy không khó để phân loại các nhóm mạng xã hội và cũng không quá khó để “định vị” được các nhóm tác chiến của “lực lượng 47”.

Cái gọi là “10.000 người là hạt nhân đấu tranh trên không gian mạng” hẳn nhiên không chỉ là một nhóm “lưu manh” có mỗi nhiệm vụ văng tục bừa bãi. Như được thừa nhận công khai là một tổ chức chuyên nghiệp thì, tương tự “cơ cấu tổ chức” của một bộ máy truyền thống, họ hẳn được chia thành từng nhóm hoặc từng tổ, với mỗi đơn vị được phân công theo dõi một người hoặc một nhóm, nhận nhiệm vụ “tác chiến” trên một hay vài “mặt trận”, hoặc “đồng loạt ra quân” “tổng công kích” vào một thời điểm cụ thể, chẳng hạn sự kiện Biểu tình Cá chết năm 2016.

“Lực lượng 47” không chỉ gồm những kẻ lưu manh vô học. Tôi không nghĩ việc “giữ gìn an ninh nội chính” trên không gian mạng có thể hiệu quả, nếu người ta chỉ tung ra một đám được huấn luyện đánh võ mồm chuyên nghiệp đứng ở bờ đê này chửi với sang bờ bên kia. Đó chỉ là một đám, dù đông nhất nhưng thấp kém nhất, được sử dụng như một lực lượng phản ứng nhanh nhằm chữa cháy cấp thời. Chiến lược của bộ phận an ninh mạng không chỉ là dập đám cháy. Mà là ngăn chặn đám cháy. Có bao giờ chúng ta tự hỏi tại sao một chế độ thối nát đang làm tan hoang đất nước mà không thể sụp đổ? Vì họ vẫn còn kiểm soát tốt vấn đề an ninh trong đó an ninh mạng.

Tôi đã đọc các báo cáo về an ninh mạng trên trang web Bộ công an. Tôi đã đọc những bài báo về “công tác an ninh mạng trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc của thế lực phản động” trên tờ Nhân Dân, Công An Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân.
Những cụm từ như “tác động gây phân hóa” đã gợi lên nhiều điều.
Làm thế nào để “tác động gây phân hóa”?
“Nằm vùng” và “cài cắm” là “nghề” của cộng sản. Những bài học và kinh nghiệm trong lịch sử giành chính quyền của cộng sản cho thấy “nằm vùng”, “địch vận”, “đánh từ trong lòng địch” luôn là những kỹ thuật hữu hiệu để tàn phá và bào mòn sức mạnh đối phương. Bằng “nằm vùng”, người ta có thể gây chia rẽ, gây hiềm khích và gây hoang mang.

Lịch sử giành chính quyền của cộng sản cũng cho thấy yếu tố tâm lý và các thủ thuật sử dụng “tâm lý chiến” là rất quan trọng trong “công tác đấu tranh nhân dân”. Quan sát không gian mạng, sẽ thấy rằng chưa bao giờ cảm xúc được thay bằng lý trí bằng lúc này. Bằng việc kiểm soát và thậm chí “thao túng” cảm xúc, người ta sẽ làm cho nhận thức bị lệch lạc.
Khi một vấn đề được suy nghĩ hoặc suy diễn lệch lạc, sẽ có một điểm cộng và một bàn thắng nữa được ghi cho những kẻ không đứng về phe nhân dân nhưng nhân danh “đấu tranh nhân dân”.
“Định hướng dư luận” không chỉ là “tuyên truyền đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước”. “ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN” CÒN LÀ LÁI DƯ LUẬN SANG NHỮNG VẤN ĐỀ VÔ BỔ VÀ TẦM PHÀO.
Trong một thế giới mạng được khống chế tràn lan bằng cảm xúc, công việc này ngày càng trở nên đơn giản.
XÃ HỘI CHỈ CÓ THỂ THAY ĐỔI BẰNG LÝ TRÍ VÀ NHẬN THỨC CHỨ KHÔNG THỂ BẰNG CẢM XÚC.
MỘT XÃ HỘI CẢM XÚC LÀ MỘT XÃ HỘI BẾ TẮC.
MỘT XÃ HỘI BẾ TẮC LÀ MỘT XÃ HỘI BẤT LỰC, trong khi, nhiệm vụ của “lực lượng an ninh mạng” là triệt tiêu mọi nguồn lực dẫn đến thay đổi.

Tôi tin những kẻ chóp bu chỉ huy “lực lượng 47” là những người được đào tạo bài bản về tâm lý truyền thông và các kỹ thuật sử dụng truyền thông để tác động tâm lý con người.
Họ biết đánh vào tính đố kỵ, tính ích kỷ và cái tôi của con người. Họ biết chọn ai để đánh. Chúng ta đang thấy có một sự bơm phồng cá nhân và vuốt ve cá nhân một cách không bình thường. Khi mỗi cá nhân đều được “cộng đồng” nhìn nhận như một “vì sao sáng nhất” thì sẽ chẳng có “tập thể vì sao” nào đủ mạnh để đối phó với chế độ cả.
CÓ BAO GIỜ CHÚNG TA TỰ HỎI VÌ SAO MỘT SỐ CÁ NHÂN LẠI ĐƯỢC XƯNG TỤNG NHƯ VẬY VÀ NHỮNG NGƯỜI CHEN LẪN TRONG ĐÁM KHÁN GIẢ PHẤN KHÍCH VỖ TAY CUỒNG NHIỆT NÀY THẬT SỰ LÀ AI?
Sự xưng tụng cá nhân một cách vô tội vạ, bên cạnh sự bát nháo của cộng đồng được dẫn dắt theo hướng được định sẵn, cuối cùng, mang lại một hậu quả: sự chán nản của thành phần trí thức (tôi muốn nói đến những vị “trí thức tích cực” chứ không phải “trí thức trùm chăn”).
Khi trí thức chán nản không lên tiếng, lại một điểm cộng nữa được ghi cho chính quyền.

Tôi không nghĩ sự lộn xộn và hỗn tạp của không gian mạng chỉ xuất phát từ lỗi dân trí thấp mà không hề có tác động của NHỮNG KẺ GIẤU MẶT ĐANG KÉO DÂN TRÍ ĐI XUỐNG BỜ VỰC CỦA SUY ĐỒI, HOÀI NGHI VÀ NGHI KỴ. CÀNG NGHI KỴ CÀNG MẤT ĐOÀN KẾT. CÀNG MANH MÚN CÀNG DỄ BỊ KIỂM SOÁT. Một phút giây mất kiểm soát là một tiềm ẩn mất chế độ - chính những người trong hệ thống cầm quyền đã nói đi nói lại điều này.

Tuy nhiên, chẳng có gì là không có mặt trái. Với cách họ làm, những đốm lửa nhỏ vẫn hình thành mỗi ngày. Nó tạo ra sự rạn nứt hơn là xoa dịu xã hội. Nó tạo ra sự chia rẽ cộng đồng hơn là cùng cộng đồng tìm tiếng nói chung cho những thực trạng hiển hiện đến mức gần như không cần phải chứng minh đúng-sai. Nó tạo ra sự bất ổn và hỗn loạn hơn là cùng nhau tìm kiếm giải pháp ôn hòa. Nó tạo ra một xã hội hung hăng và thù địch. Chẳng phải tự nhiên mà xã hội ngày càng bạo lực. Những oán giận của ngày hôm nay sẽ được trả bằng nắm đấm hoặc thậm chí bằng máu của ngày hôm sau. Lịch sử hình thành việc “cướp chính quyền bằng tay nhân dân” của chính cộng sản đã minh chứng điều đó.

Với những người thuộc “lực lượng 47”, không người dân nào biết họ là ai. Nhưng có điều chắc chắn rằng họ là người mang cùng dòng máu dân tộc với tôi. Họ cùng thở bầu không khí như những người Việt khác. Họ ăn hạt cơm và con cá như những người Việt khác trên quê hương này. Họ cùng chịu những ảnh hưởng khủng khiếp của vô số thực trạng mà đất nước đang đương đầu với sự kiệt quệ tột cùng: tham nhũng, ô nhiễm nguồn sống, bất công, bạo quyền…

Họ nghĩ gì cho tương lai con em của họ? Họ vẫn sẽ an tâm khi nhìn con của họ bước vào sân trường mà không biết bữa ăn hôm nay có an toàn hay không? Họ có thể, bằng cách nào đó, thoát khỏi mọi bất an đời sống đang bủa vây họ được không?
Tôi không thể biết họ là ai nhưng chắc chắn họ không phải là những người đủ giàu để mua thực phẩm ngoại và đủ tiền để định cư nước ngoài trong một cuộc tháo chạy công khai đang diễn ra.
Không biết họ là ai nhưng tôi tin rằng họ là những người ở tầng lớp rất gần với tầng lớp người dân đang cùng chịu ảnh hưởng của một trong những thời khắc bi thảm nhất lịch sử đất nước này.
Như những người dân khác, họ cũng đang cùng ngồi trên một con tàu đang chìm.