Lượt xem trang

CHÍNH TRỊ & KỸ TRỊ



CHÍNH TRỊ & KỸ TRỊ
15 THÁNG 8 - 2017




Huy Đức

*****


Chủ tịch một công ty nổi tiếng, trực thuộc một bộ, hưu gần hai năm nay, nhận xét ngắn gọn về người mà lẽ ra ông phải chịu ơn vì từng ký 3 quyết định đề bạt, bổ nhiệm ông, "Súc vật". Một thành viên nội các nhiệm kỳ trước, đang giữ một vị trí cao hơn trong nhiệm kỳ này, trong một lần bi phẫn, nói với bạn tâm giao, "Đôi khi tôi phải làm những việc không phải của một con người". Nhiều đại biểu dự Đại hội XII ngạc nhiên vì nhận được những khoản thu nhập bất ngờ. Có những lá phiếu đã được quy đổi thành tiền bên hành lang của nơi mà các đảng viên trung thành vẫn coi là "đền thiêng của Đảng".
Nhiệm kỳ này vẫn rơi rớt không ít thành viên tiến thân bằng những nấc thang được lắp đặt bởi các "nguyên lý" của hai nhiệm kỳ trước đó. Nhiều nhà báo "uống rượu" với Trương Minh Tuấn, ngơ ngác khi chứng kiến một kẻ thô lỗ, ăn không nên đọi, nói không nên lời; làm trưởng phòng bảo vệ ở một cơ quan báo chí đã là quá đáng, bỗng nhiên trở thành Bộ trưởng có quyền cấp thẻ, rút thẻ của mình. Trương Minh Tuấn nếu không vượt thẩm quyền, ký quyết định cho MobiFone đi vay 8.900 tỷ mua một cơ sở hạ tầng truyền hình trị giá tối đa là 300 tỷ, liệu có thể có tiền, có cái ghế UVTƯ, bộ trưởng?
Đọc quy định mới của Bộ Chính trị về "tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ", nhận thấy các nhà lãnh đạo Đảng đang muốn chặn cái đà tha hóa đó của đội ngũ. Nhưng, cũng rất tiếc là những người tham mưu, ban hành quyết định này vẫn chưa nhìn thấy cái gốc của vấn đề và đặt các nỗ lực cải cách trên những nguyên lý chính trị căn bản nhất.
Cho dù vẫn đang được vận hành với nhiều tính chất "đảng trị", nếu "công tác cán bộ" muốn khắc phục được các yếu tố gây tha hóa đội ngũ thì không chỉ ban hành các quy chế nội bộ mà còn phải thiết kế nền quản trị quốc gia theo hướng tách bạch hai chức năng chính trị & kỹ trị. Từ đó, đội ngũ cán bộ cả của Đảng lẫn Nhà nước không thể chỉ được phân chia theo thứ bậc (cấp ban bí thư quản lý, cấp bộ chính trị quản lý...), mà phải tách bạch theo các ngạch trật: chính trị gia; viên chức bổ nhiệm (chính trị & tư pháp); viên chức hành chánh.
Hệ thống chính trị, bao gồm chính trị trung ương và chính trị địa phương - nơi đưa ra các quyết sách - và, hệ thống hành chính - nơi kỹ thuật hóa bằng thủ tục để thực thi các quyết sách đó. Chính trị & kỹ trị là hai thực thể song hành nhưng càng ít lệ thuộc vào nhau càng tốt. Càng có một hệ thống hành chính (và cả tư pháp) ít chịu ảnh hưởng bởi chính trị, bởi tư duy và các chỉ tiêu nhiệm kỳ và một hệ thống chính trị không kiếm chác được từ sự nhũng nhiễu của hệ thống hành chánh thông qua việc áp đặt các thủ tục (như các giấy phép con...) thì nền quản trị quốc gia mới có thể hữu hiệu và giảm nguy cơ tham nhũng.
Khác với giai đoạn 1960 đến đầu thập niên 1990, Chính phủ sau Hiến pháp 1992, bắt đầu xuất hiện các chính trị gia - thay vì các cán bộ được Đảng kêu gì làm nấy như các chính phủ thời "quan liêu, bao cấp". Cho dù đảng không phải là "tinh hoa của dân tộc" thì những nhà lãnh đạo trong các nội các từ 2006 trở về trước vẫn còn là những người tiêu biểu hơn trong Đảng.
Ngay từ cuối thập niên 1970s, khi dấu ấn cá nhân và đảng trị đang là phương thức điều hành tuyệt đối của quốc gia, rất ít khi có một nhà lãnh đạo địa phương nào được điều ra Hà Nội mà "vô danh tiểu tốt" như hiện nay.
Những Võ Văn Kiệt, Chín Cần, Đoàn Duy Thành... đều là những nhà lãnh đạo nổi bật, có nhiều sáng kiến chính sách, trong các nền chính trị địa phương. Công tác cán bộ bắt đầu suy thoái khi sự lựa chọn lãnh đạo được quyết định bởi các "cha chú" và những người được cơ cấu vào Trung ương thường chỉ vì đứng đầu các "pháo đài huyện" như Nguyễn Tấn Dũng, Trương Mỹ Hoa, Nguyễn Thị Xuân Mỹ... thay vì bằng những thành tích ở địa phương của họ (thậm chí Nguyễn Tấn Dũng khi được Lê Đức Anh chọn điều ra TƯ đang còn là đối tượng bị tố cáo ở Kiên Giang).
Cần phải xác định, Đảng muốn cái gì phải là "trung ương tập quyền" để duy trì kỷ cương và tính thống nhất quốc gia, cái gì phải "phân quyền" để phát huy tính năng động và vai trò giám sát từ cơ sở. Nếu tuyệt đối tập quyền, nhân sự lãnh đạo địa phương vẫn tiếp tục được quyết định bởi BCT, BBT thì chính trị địa phương sẽ bị thui chột, ứng cử viên cho các vị trí lãnh đạo TƯ tiếp tục sẽ vẫn là những nhân vật giỏi chạy chọt, thay vì là các nhà lãnh đạo có nhiều thành tích.
Cần phải tách bạch ngay hai chức năng của bộ máy hành pháp: chức năng hành pháp chính trị - xây dựng chính sách, thiết kế quy định hành chính; chức năng hành chính công vụ (cấp phép; giám sát thực thi; giải quyết tranh chấp). Cần phải tăng cường tính kỹ trị cho cả chức năng xây dựng chính sách và thực thi công vụ. Đặc biệt là với chức năng xây dựng và thực thi các chính sách phát triển ngành kinh tế (chính sách thuế, chính sách trợ cấp, trợ giá, làm quy hoạch hoặc đầu tư các công trình trọng điểm quốc gia).
Chức năng làm chính sách cần được giao cho một bộ phận với thành phần chủ yếu là những viên chức chính trị được bổ nhiệm. Họ là những người được lựa chọn bởi các bộ trưởng và có thể chỉ phục vụ cho nhiệm kỳ của vị bộ trưởng ấy. Trong các cơ quan tham mưu chính sách (có thể là các vụ) bao gồm cả những người có "biên chế" (họ là những người thông thạo kỹ thuật lập quy, có thể giúp các bộ trưởng, vụ trưởng biến một sáng kiến lập pháp, lập quy trở thành một dự thảo luật hay quy phạm hành chính). Chức năng thực thi hành chính công vụ được đảm nhiệm bởi các công chức hành chính chuyên nghiệp, tuyển dụng qua hình thức thi tuyển và chỉ làm theo quy định và thủ tục (tuyệt đối không sáng kiến).
Nên trao cho người có quyền bổ nhiệm (Thủ tướng, chủ tịch UB) quyền chủ động lựa chọn nhân sự (các bộ trưởng, giám đốc sở và các chức danh tư pháp...). Cấp ủy chỉ cần giám sát thông qua lá phiếu của mình trong các cơ quan dân cử (phê chuẩn hay không phê chuẩn). Các chức danh tư pháp cũng thay vì tự đào tạo và chỉ được cung ứng bởi nguồn nội bộ cũng cần phải được lựa chọn từ những người có uy tín trong xã hội. Ví dụ: các thẩm phán có thể được chọn trong giới luật gia, luật sư, từ những người nổi tiếng liêm chính và có nhiều thành tựu về nghề nghiệp.
Một người có thể trở thành chính trị gia bằng cách ra tranh cử vào các cơ quan lập pháp hoặc được tiến cử vào nội các nhưng trước đó không phải là những người có uy tín, có thể đến từ địa phương hay từ những hoạt động chính trị khác, được biết đến với những thành tích nổi bật. Nếu cấm chính trị gia có "tham vọng quyền lực"(chưa rõ nội hàm tham vọng được dùng trong Quy chế là gì) thì họ vẫn phải là những người có khát vọng sử dụng quyền lực mà họ đạt được để đưa đất nước đi lên. Họ phải chấp nhận một sự nghiệp có rủi ro (thất cử là về vườn).
Những viên chức bổ nhiệm cũng phải là những người chí công, theo giúp một chính trị gia chủ yếu vì muốn biến một sáng kiến nào đó của mình thành chính sách, họ phải chấp nhận sự tham chính của mình là "không biên chế", "leaders" của mình thất cử là cắp cặp ra đi. Biên chế chỉ bao gồm những viên chức hành chánh, họ được đào tạo để làm việc mẫn cán và chuyên nghiệp; họ có thể chỉ cần "sáng cắp ô đi, tối cắp về". Nếu họ nổi hứng ra tranh cử hoặc được bổ nhiệm thì phải từ bỏ sự "êm đềm" của biên chế.
Công tác cán bộ, trước hết, phải phân biệt được sự khác nhau giữa các ngạch, trật. Đừng nhầm lẫn chính trị với kỹ trị. Đừng đưa nhưng kẻ chỉ quen điếu đóm vào các vị trị của một chính trị gia. Và, đừng bắt những người có tố chất của chính trị gia phải mẫn cán, dò dẫm từng nấc thang hành chính.

........../.


DÂN LÀ GÌ VẬY ?




DÂN LÀ GÌ VẬY ?


Chữ này gốc Hán. Chữ Dân viết theo lối Triện thì phía trên là hình một con mắt, dưới là một cái giống như cái dùi chọc vào con mắt đó. Chữ này dùng để chỉ những người bị bắt làm nô lệ thời xưa bên Tàu. Vì ở bên đó nô lệ thoạt kỳ thủy khi bắt về phải chọc mù một mắt, để phân biệt với những người khác. Chữ này viết theo lối Chân có biến hóa cách điệu, nhưng vẫn còn dáng dấp na ná như ban đầu.

Khái niệm Dân biến hóa theo sự biến hóa chính trị. Từ chỗ dùng để chỉ người nô lệ chột mắt, tiến một bước dùng để chỉ hạng người khốn khó nhất trong xã hội (dân đen), tiến thêm một bước nữa dùng để chỉ những người không phải là vua không phải là quan. Nhưng ở giữa hai loại người này có một loại khác không phải dân không phải vua quan, đó là tầng lớp trí thức quý tộc không làm quan. Những người "cao quý" này không gọi là Dân mà gọi là Nhân. Khái niệm Nhân còn bao gồm cả vua quan trong đó nữa. Đến thời bình quyền bình đẳng, hai chữ Nhân và Dân được ghép lại thành Nhân Dân, để chỉ tất cả những người sống trong một nước. Tuy nhiên, Nhân Dân vẫn là một khái niệm co giãn tùy theo quan điểm chính trị.

Từ khinh miệt đến “Dĩ dân vi bản”, rồi đến “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Mạnh Tử) hay “Phúc chu thủy tín dân do thủy” (Nguyễn Trãi), đều là những lời đe dọa những người cầm quyền, nhưng mơ hồ về nội dung. Minh quân không lấy đó làm thiết thực, hôn quân không lấy đó làm sợ hãi.

Chữ Dân hay Nhân Dân ngày nay tương đương với chữ People trong tiếng Anh, dùng để chỉ một tập hợp không định lượng những người sống trong một nước. Nó là số nhiều không xác định của chữ Person (cá nhân). “We The People…” mở đầu của bản Hiến pháp Mỹ là 3 từ khét tiếng nhất trong lịch sử thế giới. Dù People vẫn là khái niệm mơ hồ, song 3 chữ đặt ở vị trí đặc biệt này không mơ hồ tí nào (nhưng không nằm trong phạm vi stt này bàn tới).

Cũng như ngày xưa, Dân ngày nay là một khái niệm chính trị, không phải là thực thể. Người Việt chúng ta chào đời nhiều nhất 1 tháng tuổi đã có tên. Đất nước hay xã hội ta bao gồm 93 triệu cá nhân có cha có mẹ có tên có tuổi đàng hoàng. 93 triệu người là 93 triệu cá tính, hoàn cảnh, nguyện vọng, sở thích, xu hướng … Những thứ rất riêng tư đó thay đổi từng ngày từng giờ, khi tương tác với nhau lại tiếp tục “tự diễn biến tự chuyển hóa” trở nên thiên biến vạn hóa, không có tài thánh nào nắm bắt thâu tóm được. Xã hội là một trật tự tự phát, không có thứ khoa học nào có thể khám phá nổi.

Dân đang nghĩ gì đang muốn gì ?
Dân có tin Đảng có bài Hoa có thân Mỹ hay không ?
Đó là những câu hỏi vô nghĩa.

Gộp những người có tên có tuổi có cha có mẹ nhốt chung vào một cái rọ gọi là Dân, rồi hỏi họ nghĩ gì tin gì bài gì thân gì coi có vô lý ngớ ngẩn không ? Cái khái niệm chính trị ấy chẳng nghĩ gì hết. Còn từng người một nghĩ gì tin gì bài gì thân gì thì chẳng ai biết được. Các chính trị gia chuyên nghiệp tầm cỡ, dù có khi vẫn phải mị dân, nhưng không bao giờ quan tâm đến những câu hỏi tương tự.

Khi Napoleon quyết định tăng thuế để giải quyết khó khăn tài chính quốc gia, các cận thần tâu rằng tăng thuế dân kêu dữ quá, Napoleon hỏi, người ta kêu nhưng người ta có sản xuất buôn bán bình thường không. Trả lời : “Bình thường”. “Tiếp tục tăng thuế đi, khi nào người ta bắt đầu bỏ sản xuất bỏ buôn bán thì giảm thuế xuống”.
Khi bà Thatcher cắt khoản bao cấp khổng lồ của Chính phủ cho ngành than nước Anh đang triền miên thua lỗ, một triệu công nhân biểu tình đưa yêu sách đe dọa đến sự tồn vong của Chính phủ. Bà đầm thép bất chấp, bà không cho rằng 1 triệu người đó đại diện cho hàng chục triệu người Anh tử tế, bởi vậy mà nước Anh mới hồi sinh.

Cái gì không biết thì tốt nhất là thuận theo. Adam Smith là người đầu tiên thấu hiểu cái trật tự tự phát bất khả tri của xã hội để khai sinh môn kinh tế học : Hãy để cho mỗi cá nhân tự do theo đuổi những lợi ích riêng của mình, sẽ có một “bàn tay vô hình” điều tiết biến những lợi ích riêng đó thành sự thịnh vượng của xã hội.

“Vào nhà nhìn mặt con nít, ra đồng nhìn đít con trâu”, đó là kinh nghiệm đánh giá của người Việt chúng ta về một xã hội có an lành thịnh vượng hay không. Phải biết những thứ lặng thinh như vậy mới hiểu thực chất lòng người.
Tôi thích mấy câu thơ này của Thanh Thảo trong Trường ca Chân đất :
Người già quê tôi
Bắt được con gì ăn con nấy
Nấu canh đủ thứ lá
Mọc hoang trên ruộng mình
Mỗi khi họ làm thinh
Mây trên trời tụ về đen kịt.

............/.


CẠN KIỆT !


CẠN KIỆT !

MẠNH KIM


Cạn kiệt là “từ khóa” của mọi từ khóa miêu tả ngắn gọn hiện tình đất nước Việt Nam.
Mọi thứ đang cạn kiệt.
Công bố Ngân hàng Thế giới trung tuần tháng 7-2017 cho biết Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nợ công tăng nhanh nhất thế giới. Nợ công Việt Nam hiện lên đến 2,68 triệu tỷ đồng, tăng từ 36,5% GDP năm 2001 lên 62,2% GDP năm 2015.
Tính đến giữa tháng 7-2017, nợ công Việt Nam tương đương khoảng 94,8 tỷ USD.

Điều này cho thấy không chỉ tình trạng khủng hoảng ngân sách mà còn khủng hoảng chính sách và khủng hoảng điều hành. Nói chính xác hơn là “khủng hoảng năng lực điều hành”. Cái gọi là “Luật quản lý nợ công”, áp dụng từ ngày 1-1-2010, đã không thể tạo ra hàng rào luật hiệu quả. Nó không kiểm soát được những “thành tích” bòn rút ngân sách, và tệ hơn, nó gián tiếp hình thành nên các cách thức lách luật với sự bùng nổ các nhóm lợi ích. Di sản ăn chụp vô độ và phá phách vô tội vạ của Nguyễn Tấn Dũng cộng với “nội các” kế nhiệm tập trung nhiều kẻ bất tài nhất lịch sử chính trị cộng sản Việt Nam càng đẩy nhanh tốc độ suy sụp.

Ngày 10-5-2017, khi bế mạc Hội nghị trung ương 5, Nguyễn Phú Trọng vẫn kiên trì rằng kinh tế thị trường định hướng XHCN là “một vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản”, “một sáng tạo mới của Đảng ta”… Những điều ấy là gì? Rất khó có thể biết Trọng có thật sự hiểu những gì ông ta nói hay không. Nó quá mơ hồ so với những con số thống kê dễ thấy chẳng hạn số nợ công cụ thể mà mỗi người Việt Nam, bất luận tuổi tác, phải gánh chịu là hơn 1.000 USD.

Có một “thực tiễn” mà hệ thống lãnh đạo cần “sáng tạo” để nhận biết họ đang ở đâu: Chưa bao giờ hệ thống chính trị lãnh đạo cạn kiệt nhân lực có tài bằng lúc này. Không có yếu tố “cá nhân” nào nổi trội trong hệ thống cầm quyền đương nhiệm. Không gương mặt nào xứng đáng đại diện cho “trí tuệ Việt”. Họ tăm tối. Họ đần độn. Họ chậm chạp và hoàn toàn đi bên lề sự phát triển của thế giới bên ngoài. Họ phát biểu giống nhau, nói dối giống nhau, hành xử quê mùa giống nhau. Họ xem thường dân hệt như nhau.
“Một số tổ chức, cá nhân lên tiếng hô hào thế này thế nọ nhưng những người đó, tổ chức đó làm gì cho đất nước? Chưa làm gì cả…” – Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu cách đây một năm. Khó có thể đánh giá nhân dân đã làm được gì cho đất nước bằng nhãn quan rất hẹp như thế nhưng dễ thấy rằng nhân dân không có vai trò gì trong các dự án ngàn tỷ đắp chiếu trùm mềm. Nhân dân không có trách nhiệm trong việc làm lũng đoạn ngân sách công, nơi về nguyên tắc thuộc quyền giám sát của một tập thể “dân chủ tập trung” mà Kim Ngân làm “chủ tịch”.

Cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Cạn kiệt cả “nguồn tài nguyên” con người. Việt Nam chưa bao giờ thiếu người tài, ở bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử. Nhân tài Việt ngày càng hiếm hoi, bởi nền giáo dục tồi tệ, lại tiếp tục khan hiếm khi nhiều người lần lượt cuốn gói ra đi. Cách thức đối xử người tài là nguyên nhân lớn nhất chứ không chỉ bởi nghèo và thiếu phương tiện. Cách thức sử dụng nhân tài và chính sách giáo dục là những bế tắc dai dẳng nhất của đất nước. Nó sẽ không bao giờ tháo gỡ được nếu chính sách giáo dục đang được thực thi là một chính sách “ngu để trị”.

Một bài báo của Tạp Chí Cộng Sản đề ngày 9-1-2012 cho biết, “Ngày 8-1, tại Hà Nội, Trung ương Hội Khoa học phát triển nguồn nhân lực-nhân tài Việt Nam đã tổ chức Đại hội toàn quốc nhiệm kỳ II… Trong 5 năm qua, từ chỗ không có một đơn vị thành viên nào với hơn 300 hội viên ban đầu, đến nay, Trung ương hội có 725 hội viên, 4 thành hội, tỉnh hội, 14 chi hội và 30 đơn vị trực thuộc Trung ương hội...”. Thật khó có thể tưởng tượng đó là một tổng kết về nguồn nhân tài. Có những sự thật không được nêu ra trong “kết quả 5 năm”. Đó là những đêm không ngủ của vô số phụ huynh trằn trọc xoay sở đưa con em đi tỵ nạn giáo dục. Đó là hiện tượng có những người Việt ở nước ngoài làm rạng danh dân tộc nhưng không bao giờ muốn trở về phục vụ một đất nước đang giãy giụa trên mớ “nghị quyết trung ương đảng về đổi mới giáo dục”. Chảy máu chất xám thật ra không tệ hại bằng sự bất lực kêu gọi đóng góp chất xám. Đảng thật ra không thể và không bao giờ biết cách “làm giáo dục”. Mới đổi mới giáo dục, trước hết cần đổi mới chính hệ thống đảng.

Đất nước này có nhiều “mũi nhọn”: mũi nhọn kinh tế, mũi nhọn du lịch, mũi nhọn giáo dục, mũi nhọn văn hóa... Nó thiếu một mũi nhọn quan trọng: “mũi nhọn nhận thức”, để giới lãnh đạo có thể tự đâm vào đầu đủ đau để nhắc rằng họ đang làm đất nước tụt hậu và đổ nát như thế nào. Chưa bao giờ vấn đề bạo lực xã hội khủng hoảng như hiện nay. Nếu cách đây 10 năm, một vụ nữ sinh đánh nhau có thể làm rúng động xã hội, bây giờ, xã hội chứng kiến nhiều chuyện khủng khiếp hơn vậy vạn lần. Đời sống không chỉ bất an bởi nguồn thực phẩm mà còn là sự bùng nổ những cuộc thanh toán chém giết. Và cả những cuộc trả thù rùng rợn mà quan chức chế độ cũng trở thành nạn nhân.

Chưa bao giờ bất công, bất tín và bất nhân trong một xã hội “thượng tôn pháp luật” phát triển tràn lan như lúc này. Hãy thử đặt câu hỏi tại sao một côn đồ như Phan Sơn Hùng liên can vụ đánh đập phụ nữ lại vẫn nhơn nhả ung dung? Hắn có phải là một thứ công cụ nối dài của bộ máy công an? Có những câu hỏi không bao giờ có thể trả lời. Có những cái chết trong đồn công an không bao giờ được làm sáng tỏ. Đất nước đang cạn kiệt mọi thứ. Cạn kiệt ánh sáng lương tâm và ánh sáng công lý.

Tấm ảnh Nguyễn Xuân Phúc trong buổi lễ tôn vinh Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngày 22-7-2017 cho thấy một điều khác. Hàng triệu triệu người Việt đã bị xô đẩy vào một cuộc chiến “giải phóng” mà hàng chục năm sau vết thương chia cắt dân tộc vẫn chưa lành. “Xương trắng Trường Sơn”, như được thuật trong hồi ký của cán bộ tập kết Xuân Vũ in tại Sài Gòn năm 1974, vẫn là một màu trắng vô hồn cho những mất mát của bất kỳ bà mẹ Việt Nam nào đội giải khăn tang chiến tranh. Việt Nam không chỉ có những bà mẹ đau buồn của một phía. Phía bên này, cũng còn có vô số bà mẹ đau khổ. Làm sao có thể hàn gắn lòng người chia cắt khi mà kẻ thủ thắng vẫn vét cạn lương tâm hành xử hậu chiến để lấp đầy vào đó những thói thường hả hê?

Điều mỉa mai là quân đội của “Hanoi’s war”, như miêu tả trong tác phẩm của sử gia Lien-Hang T. Nguyen, ngày nay dường như không đủ khả năng bảo vệ đất nước. Quân đội đang như một đế chế bất khả xâm phạm, với những bất công giữa “giai cấp lính” với “giai cấp sĩ quan”, hệt như những bất công trong xã hội, giữa nhung nhúc người nghèo khổ với đám tư bản đỏ bỏ ra 3 tỷ USD mua nhà ở nước ngoài. Quân đội ấy, từng tự hào đánh tan những kẻ thù khổng lồ, có thể hiệu triệu được lòng dân để chống lại tên khổng lồ Trung Quốc? Liệu niềm tin người dân cho quân đội cũng đang bị cạn kiệt?

Một đất nước suy yếu không phải vì nó là một đất nước nghèo.
Một quốc gia suy yếu là một quốc gia chỉ còn “hèn khí” thay cho “hùng khí”.
Một quốc gia thật sự đi đến thời khắc của tối tăm là khi mà lòng yêu nước bị ném vào chốn lao tù.
Một quốc gia thật sự suy vong là một quốc gia mà lòng yêu nước của người dân bị làm cho ngày một cạn kiệt, bởi những bản án chính trị phi lý dành cho những tấm lòng ái quốc mà chính bản thân nhà cầm quyền còn chưa bao giờ đủ dũng khí để thể hiện cho ra khí phách thể thống một quốc gia.

MẠNH KIM

....../.


Chúng ta bị công lí của chính mình đè bẹp


Chúng ta bị công lí của chính mình đè bẹp
LƯU HIỂU BA
Phạm Thị Hoài dịch


http://www.procontra.asia/?p=1512

***




Tiểu luận sau đây của Lưu Hiểu Ba được in trên tờ Central Daily News ở Đài Loan ngày 5-6-1993, nhân 4 năm Sự kiện Thiên An Môn. Lời phê bình các khuyết điểm của giới trí thức phản kháng Trung Quốc và phong trào sinh viên năm 1989 xuất phát từ trải nghiệm trực tiếp của ông. Khi phong trào nổ ra, ông đã bỏ dở chương trình nghiên cứu và giảng dạy của mình tại một số trường đại học Hoa Kỳ, mua một tấm vé không khứ hồi bay về Bắc Kinh ngày 27-4-1989 để hỗ trợ các sinh viên của mình trên Quảng trường. Tại đây, ông hướng dẫn và tranh luận với các sinh viên về phương pháp và mục đích đấu tranh, tham gia những cuộc đàm phán giữa sinh viên và chính quyền, và tham gia tuyệt thực ở giai đoạn cuối từ ngày 2-6. Ông bị coi là một trong những kẻ “giật dây” của phong trào và bị kết án tù lần thứ nhất, đến đầu năm 1991. Song ngay cả với tiểu sử ấy, các ý kiến phê phán của ông vẫn gây sóng gió trong phong trào dân chủ Trung Quốc, nhất là với những gia đình nạn nhân của vụ thảm sát 4-6.
Giới thiệu tiểu luận này trong bản dịch tiếng Việt, tôi tin rằng nó sẽ là một tham khảo bổ ích cho phong trào dân chủ Việt Nam.

Người dịch
_______________
Giới trí thức phản kháng và các lãnh tụ sinh viên Trung Quốc, những người tự thấy mình là anh hùng và chiến sĩ dân chủ, đều chỉ biết đến dân chủ từ sách vở. Họ không có khái niệm gì về việc thực hành nền dân chủ đó. Họ không hề biết phải xây dựng nền dân chủ như một hệ thống chính trị và một tòa nhà pháp lí như thế nào và phải đưa những nội dung gì vào đó. Trước khi phong trào dân chủ năm 1989 nổ ra, nhà vật lí thiên văn, giáo sư Phương Lệ Chi, được coi là một Sakharov của Trung Quốc, đã bỏ qua cơ hội bảo vệ quyền con người theo đúng luật pháp. Ông được Tổng thống Bush mời gặp nhưng bị chính quyền cản trở. Và ông đã lặng lẽ chấp nhận, không một lời phản đối. Cả đến khi phong trào dân chủ bùng nổ, ông Lưu Tân Nhạn, nhà bất đồng chính kiến được coi là “lương tâm xã hội của Trung Hoa”, vẫn đề cao chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa xã hội. Vẫn giữ nguyên lòng trung thành từng mất rồi lại được khôi phục của mình. Còn phong trào hiện tại thì được lãnh đạo bởi những người thậm chí không hiểu cả những nguyên lí cơ bản của dân chủ. Như thế, làm sao mà thành công được? Tình trạng đó chỉ có thể sinh ra những than vãn hời hợt về hệ tư tưởng.
Khi cảm giác về nghĩa vụ gánh vác một sứ mệnh lịch sử bị đẩy lên thái quá, các sinh viên đã đánh mất khả năng tỉnh táo để tự nhận định và khả năng tự kiềm chế để đạt hiệu quả cao. Họ không biết rằng những đôi vai mảnh khảnh của họ không gánh nổi một định mệnh nặng trĩu như vậy. Họ không cưỡng được sự cám dỗ rằng mình có thể đem lại công lí và tưởng rằng cứ lấy sinh mạng ra trả giá thì chính quyền sẽ buộc phải nhượng bộ hơn – mà không hề nhận ra rằng điều đó rốt cuộc là vô nghĩa.
Mạng người có gây nổi một ấn tượng nào với chính quyền không? Có đánh thức nổi đám đông đang ngủ vùi không? Cái chết có đem đổi lấy công lí được không?
Chẳng lẽ chỉ những ai sẵn sàng hi sinh tính mạng mới có quyền bàn về công lí chăng? Người ta trách các sinh viên là chỉ đầy lòng dũng cảm và nhiệt huyết mà không đủ lí trí. Không có gì đáng ngạc nhiên, khi cô Sài Linh, lãnh tụ đứng đầu phong trào sinh viên, sau này thoát được ra nước ngoài tị nạn, phát biếu: “Trên Quảng trường Thiên An Môn khi đó, quan trọng nhất là đức hi sinh và lòng dũng cảm chứ không phải đầu óc và lí trí. Chúng tôi là những anh hùng của phong trào dân chủ 1989.”
Từ trên bốn thập kỉ nay Trung Quốc không hề có kinh nghiệm gì với dân chủ. Hàng ngày chúng ta chỉ trải qua và chứng kiến những tranh giành và thủ đoạn tàn bạo của hệ thống chuyên chế.
Khi tham gia một cuộc cách mạng, chẳng hạn như Cách mạng Văn hóa, chúng ta lập tức thấy mình là những nhà cách mạng vĩ đại nhất. Khi gia nhập phong trào dân chủ, chúng ta thấy mình dân chủ hơn người. Chúng ta tuyệt thực cho dân chủ. Chúng ta hi sinh cho dân chủ. Vì thế chúng ta đinh ninh rằng mọi hành động của mình đều bắt nguồn từ công lí cao nhất, rằng tiếng nói của mình là chân lí duy nhất, rằng mình sở hữu quyền lực tuyệt đối. Như thế, chân lí trở nên tuyệt đối, công lí trở nên tùy tiện và dẫn đến cưỡng bức, còn dân chủ thì trở thành một đặc quyền.
Quảng trường Thiên An Môn đã biến thành một phòng thí nghiệm thử chân lí, thử độ cứng của bản lĩnh và độ sâu của ý thức về phẩm giá. Nó cũng đã biến thành nơi mà người ta vừa dấn thân cho công lí, vừa thực thi quyền lực. Không có mặt ở đó, không đến đó để bày tỏ con người mình, là chống lại dân chủ và chống lại công lí, là hèn nhát. Quảng trường Thiên An Môn đã biến thành hòn đá thử lửa. “Tôi đã có mặt ở đó”, “Tôi cũng từng đến đó”, những câu nói ấy đã được coi là chứng chỉ của ý thức dân chủ và lương tri xã hội.
Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta không cần hợp tác, chúng ta tùy ý kết bè kéo cánh, chúng ta lập ra các tổ chức, chúng ta cử người lãnh đạo, chúng ta lập các hội công nhân và sinh viên tự quản, chúng ta tuyệt thực, chúng ta tổ chức các nhóm tranh luận, các nhóm trí thức, phóng viên, cảm tử quân, chí nguyện quân và hướng đạo sinh. Không ai chịu nghe ai, chẳng người nào chịu dưới trướng người nào.
Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta căm thù Đảng Cộng sản tột độ và lên án Đảng bằng những bộ quần áo đẫm máu trên thân thể chúng ta. Chúng ta nghiến răng chửi kẻ khác, chúng ta thỏa sức bôi nhọ, chúng ta cho phép mình nói những điều như: chúng tao sẽ bắn vỡ sọ mày, chúng tao sẽ bỏ mày vào vạc chiên, chúng tao sẽ chôn sống mày. Chúng ta cho phép mình chửi rủa và thậm chí hành hung những kẻ không đi cùng chúng ta. Chúng ta cho phép mình thanh toán ân oán giang hồ cá nhân, nhân danh công lí.
Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta ngang nhiên truyền bá những điều bịa đặt, chúng ta phao tin vịt giữa thanh thiên bạch nhật. Ai phản bác thì chúng ta khăng khăng rằng mình có quyền làm như thế hoặc tìm cách đánh lận rẻ tiền. Chúng ta cho phép mình phao lên rằng Đặng Tiểu Bình đã chết, Lý Bằng đã bỏ trốn, Dương Thượng Côn đã bị đánh đổ, Triệu Tử Dương đã được khôi phục danh dự, Vạn Lý đã thành lập một nội các mới ở Canada. Quảng trường Thiên An Môn, biểu tượng của phong trào dân chủ, biến thành một lò chế tin đồn, càng ngày càng tung ra nhiều điều dối trá. Một số người tham gia sự kiện ngày 4 tháng Sáu sau này thoát được ra nước ngoài thì đảo lộn tình tiết, thêu dệt tin đồn và dùng miệng mà phun ngập máu ra Quảng trường. Để có lợi cho bản thân, họ cố ý phóng đại tội ác và sự tàn bạo của Đảng Cộng sản. Báo chí quốc tế vì thế mà bị xỏ mũi.
Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta chỉ cho riêng mình quyền tự do ngôn luận và cấm người khác được hưởng quyền ấy. Chúng ta cũng hành xử hệt như Mao Trạch Đông và không dung thứ một chính kiến nào khác. Hệt như đám tay sai của Đảng Cộng sản Trung Quốc, chúng ta cũng kiểm duyệt những hình ảnh không hợp ý ta do phóng viên chụp được, chúng ta cũng tịch thu phim và đập nát máy ảnh. Để chính quyền hết cớ đàn áp, chúng ta đã nộp cho công an ba thanh niên Hồ Nam, là những người đã phun mầu lên chân dung Mao, để rồi họ bị kết án 15, 18 và 20 năm đọa đày trong ngục tối.
“Công lí của phong trào dân chủ” đã trở thành một hăm dọa, hễ ai có chính kiến khác là bị gây áp lực và đành câm miệng.
Cuộc tuyệt thực đã phong các sinh viên lên hàng những vị thánh bất khả xâm phạm của cách mạng. Vì họ sẵn sàng hi sinh mạng sống, nên chẳng ai dám hé răng phê bình họ nữa. Vậy là các “anh hùng” thì tắt công tắc lí trí, những người còn lại thì lặng im.
Những điều vừa trình bày có thể giải thích, vì sao một công lí trên giấy thì được săn lùng cuồng nhiệt, còn công lí tỉnh táo của hiện thực thì bị gạt ra ngoài.

Nguồn: Dịch theo bản tiếng Đức trong Bei Ling, Der Freiheit geopfert, Riva, München 2011
Bản tiếng Việt © 2013 pro&contra

........../.


“thông minh kiểu Việt Nam và Trung Quốc”?





Thế nào là “thông minh kiểu Việt Nam và Trung Quốc”?


***


Hồng Ngọc

 [trithucvn.net]

*

Nhiều người Việt Nam và Trung Quốc có cùng một suy nghĩ giống nhau, đó là hay cười nhạo người Tây phương ngu ngốc, không hiểu chuyện đời, “não không có nếp nhăn”, và bản thân họ lấy làm tự mãn. Vậy rốt cuộc thông minh theo kiểu người Việt Nam và Trung Quốc là như thế nào?


Gần đây, một kênh truyền thông New Zealand đã đăng một bài viết nói về “thông minh kiểu Trung Quốc” và nhận được sự chú ý của đông đảo người sử dụng internet. Tác giả bài viết tự nhận là người Hoa, đã nhận định rằng “thông minh kiểu Trung Quốc” chính là không màng trắng đen hay thị phi, không cần biết thật giả hay đúng sai, có sơ hở liền lách vào, có tiện nghi liền chiếm lấy. “Thông minh kiểu Trung Quốc” chính là không màng chính nghĩa hay tà ác, bất cứ lúc nào cũng có thể vì bảo hộ bản thân mình mà làm trái lương tâm. “Thông minh kiểu Trung Quốc” chính là để cho người khác phải phó xuất và gặp nguy hiểm, còn bản thân mình những gì mười phần có lợi sẽ giành lấy hết. Kỳ thực, “thông minh kiểu Trung Quốc” chính là không nói đến thành tín, ức hiếp người thiện lương, chính là các giá trị đều đã đảo lộn, không xét đến quy tắc…
Nhiều người Việt có người thân là Việt Kiều ở Mỹ, có thể đã nghe câu chuyện về việc hàng hóa sau khi mua ở Mỹ có thể được trả và lấy lại tiền mà không cần phải giải thích lý do. Vì vậy, nhiều người khi chuẩn bị tham dự một sự kiện nào đó, liền đến “mua” một bộ quần áo, sau khi tham dự sự kiện xong rồi, lập tức mang trả lại quần áo để lấy tiền về.
Hệ thống bán hàng ở Mỹ còn có một chính sách đáng chú ý, gọi là Price Match. Với chính sách này, nếu bạn mua một sản phẩm sau đó chứng minh được sản phẩm này bán giá rẻ hơn giá tại cửa hàng nào khác, thì có thể được mua sản phẩm với mức giá tương đương mức giá mà bạn tìm thấy. Do vậy, có một số người, khi đi mua hàng với giá đắt hơn những nơi khác, họ không hề mặc cả, mà lại chọn những màu sắc hay kích cỡ (mà ở các cửa hàng khác không có), sau đó khi tìm được cửa hàng nào có mức giá rẻ hơn thì sẽ mang hóa đơn quay lại nơi mua hàng để được giảm giá.
Những người này dương dương tự đắc với hành vi của bản thân, đi đến đâu cũng tự cho rằng bản thân mình thông minh, thậm chí còn đặt câu hỏi sao những người khác quá “ngu ngốc”, không biết lợi dụng “kẽ hở” này.
COI VIỆC CHIẾM TIỆN NGHI CỦA NGƯỜI TA LÀ “THÔNG MINH”, COI GIAN XẢO LÀ CÓ “NĂNG LỰC LỚN”… MỌI GIÁ TRỊ DƯỜNG NHƯ ĐỀU ĐẢO LỘN

Bài viết của tác giả người Hoa trên truyền thông New Zealand còn liên hệ đến tỷ phú Warren Buffett. Rất nhiều nhà đầu tư hỏi về tiêu chí chọn đầu tư cổ phiếu của ông Warren Buffett, và thông thường ông hay nhấn mạnh rằng ông rất coi trọng sự thành tín của giám đốc điều hành công ty, nếu không phải công ty làm ăn chân chính, ông nhất định sẽ không lựa chọn đầu tư. Với ông, lợi nhuận không phải là yếu tố hàng đầu, mà là chữ tín.
Một người Hoa đưa đứa con nhỏ mới 3 tuổi đến Mỹ du lịch và ở tại nhà người thân. Người nhà đã đưa cho người Hoa này một chiếc ghế ngồi ô tô dành cho trẻ nhỏ và nói: “Ở đây quy định trẻ nhỏ khi đi xe nhất định phải dùng loại ghế này, tôi đưa cho anh dùng, nhưng vì là ghế đi mượn, nên anh phải giữ gìn cẩn thận, vì chúng ta sẽ phải trả lại cho người ta.” Hai tuần sau khi không dùng xe ô tô nữa, chiếc ghế này đã được đem đến trả lại cửa hàng. Người bán hàng không hỏi lý do tại sao, chỉ đơn giản là đưa đủ số tiền cho người trả hàng. Người nhà liền tự hào nói: “Các cửa hàng ở Mỹ đều như vậy, nếu mua hàng trong vòng 2 tuần thì đều có thể mang hóa đơn đến và trả lại, do đó chúng tôi thường đến đây ‘mượn’ một số đồ đạc. Nhiều người Đại lục thậm chí còn mượn cả TV. Anh nói xem, người Mỹ có ngốc hay không chứ? Trả lại hàng vô điều kiện đúng là sơ hở quá lớn, vậy mà họ còn chẳng biết điều đó!”
Một năm sau, người Hoa này đến Nhật Bản, một số bạn bè đồng hương ở Nhật đã tiếp đón và dùng ô tô để đi lại. Người Hoa này hỏi: “Tokyo đất chật người đông, có phải là rất khó đỗ xe không?”
Đồng hương trả lời: “Không nghiêm trọng đến như vậy đâu, chính phủ quy định cần có chỗ để xe trước rồi sau đó mới được phép mua xe, vì vậy mà không có nhiều xe như anh nghĩ đâu.”
“Ồ, vậy tức là anh có một bãi đỗ xe riêng sao? Chắc là phải đắt đỏ đến mức cắt cổ có đúng không?”
“Anh nghĩ là ai cũng ngốc giống người Nhật Bản sao! Muốn mua xe thì trước tiên đi thuê một chỗ ở bãi đỗ xe, sau khi mua xe xong thì trả lại chỗ đó, vậy chẳng phải là vấn đề được giải quyết hay sao?”
Hai ngày sau, một số bạn bè người Nhật đến đưa người Hoa này đi chơi, họ đi bộ hoặc là đi bằng tàu điện ngầm. Những người bạn Nhật phân trần rằng: “Tokyo mua xe thì dễ, nhưng tìm chỗ đỗ xe thì không dễ dàng gì. Do đó, anh chịu khó đi tàu điện ngầm vậy nhé.”
Người Hoa này lập tức truyền cho anh ấy cách để giải quyết vấn đề. Không ngờ rằng anh ấy đã không “ngộ đạo” mà còn dửng dưng nói: “Nếu muốn lợi dụng sơ hở, thì có nhiều cách lắm. Ví dụ như mẹ tôi sống ở quê, nếu muốn thì có thể dùng hộ khẩu cũ là mua được xe. Nhưng thực tế thì tôi định cư ở Tokyo, không có chỗ đỗ xe mà lại mua xe, vậy thì những người hàng xóm sẽ nhìn tôi như thế nào? Lái xe đi làm, tôi phải đối diện với đồng nghiệp ra sao? Cấp trên và những người đàng hoàng sẽ không làm như vậy.”

Cơ chế trả lại hàng vô điều kiện ở Mỹ và những quy định đầy lỗ hổng ở Nhật, đều được xây dựng trên cơ sở “tín nhiệm”. Nếu sự “tín nhiệm” sụp đổ, thì xã hội cũng sẽ có thể sụp đổ. Do đó, ở xã hội Tây phương, người ta có thể tha thứ cho các chính trị gia làm sai, nhưng không thể tha thứ cho những chính trị gia nói dối.
Nếu như chúng ta “giả đổi thành thật, thật cũng giả”, mỗi người đều hư hư thực thực, thì toàn xã hội sẽ vận hành trên cơ sở “hoài nghi”. Tư duy ảnh hưởng đến hành vi, mà hành vi của mỗi cá nhân sẽ ảnh hưởng rộng ra đến dịch vụ kinh doanh và vận hành xã hội.
Khi đi tàu điện ngầm tại Rome bạn sẽ phát hiện rằng có máy bán vé nhưng không có soát vé. Chắc hẳn bạn sẽ thấy lạ lắm phải không? Làm thế này làm sao kiểm soát được xem hành khách lên tàu có mua vé hay không? Vận hành tàu điện ngầm thế này chẳng phải sớm muộn gì cũng bị lỗ hay sao?
Đây chính là cách nghĩ quen thuộc của chúng ta, luôn liên tưởng mọi chuyện theo kiểu khôn vặt hoặc vì tham lợi nhỏ cho bản thân mình. Đối với người Ý mà nói, nếu chúng ta hỏi câu hỏi này thì thật kỳ lạ. Đi xe có thể không mua vé chăng? Đi xe làm sao có thể không mua vé cho được? Cách nghĩ, cách tư duy của hai bên quả có sự khác biệt lớn.
Nếu như bạn thực sự muốn biết có thể đi tàu mà không cần mua vé hay không, thì câu trả lời là có thể, hoàn toàn có thể lên tàu đi một vài trạm, nhưng phải đảm bảo không để cho giới quản lý ở Ý biết được, nếu biết họ nhất định sẽ phạt bạn. Và sau này nếu bị phạt nhiều lần, có thể tạo thành tiếng xấu ở nước ngoài, thật sự là cái được không bõ cho cái mất!
XÂY DỰNG TÍN NHIỆM KHÔNG DỄ, NHƯNG ĐIỀU NÀY LẠI THỰC SỰ QUAN TRỌNG! MỨC ĐỘ TÍN NHIỆM LẪN NHAU CÀNG CAO, THÌ QUẢN LÝ SẼ CÀNG NỚI LỎNG HƠN. NẾU NHƯ ĐI ĐÚNG ĐƯỜNG, THÌ SẼ KHÔNG SỢ PHẢI ĐI XA!
Hồng Ngọc


............../.

THẢM HỌA TỪ LÀNG BÁO


THẢM HỌA TỪ LÀNG BÁO


Đề án quy hoạch báo chí của Bộ TT-TT nghe dứ từ mấy năm nay rồi nhưng không hiểu vì sao vẫn chưa ban hành.
Tôi thì nhất trí quy hoạch lại, nhưng quy hoạch kiểu mỗi tỉnh thành, mỗi ngành một tờ báo thì vô lý.
Ví dụ thế này thôi thì thấy: TP HCM chỉ 1 tờ báo, vậy thì Tuổi Trẻ, Pháp Luật, Người Lao Động... nhập về tờ SGGP... vô lý không?
Tờ báo lớn không phải vì cơ quan chủ quản lớn mà lớn.
Trong lúc một tờ báo lớn như TT có thể bị nhập thì những tờ như báo điện tử Giáo dục VN (không phải Giáo dục thời đại của Bộ GD) mà của Hiệp hội các trường ĐH, CĐ được coi như một ngành thì tồn tại. Chưa kể bao nhiêu tờ báo mạng khác.
Trong lúc đó, các cơ quan báo chí có hưởng ngân sách (bao cấp) hoặc chỉ hạch toán một phần lại phát triển rầm rộ.
Vì như truyền hình, ngoài Đài truyền hình VN còn thêm truyền hình Quốc hội, truyền hình Thông tấn, truyền hình VOV, truyền hình Quân đội, truyền hình An ninh, truyền hình Nhân dân (của Báo ND)... Mà truyền hình, người ta ví chi phí của nó thế này: một bên phát sóng, một bên cầm tập tiền tờ 500 nghìn mà đếm cũng phải nhanh mới kịp.

Anh Vũ Đức Đam ơi, anh thuyết phục BCT, BBT cho lùi để xem xét lại thấu đáo hơn vì đây là chuyện vô cùng nhạy cảm. Cả làng báo VN, cả làng báo thế giới, cả cộng đồng mạng, phải nói là tổ kiến lửa sẽ mổ xẻ nó và người ký (là anh) sẽ rất "nổi" luôn.

*
Xét về kinh tế báo chí, doanh thu chủ yếu là từ quảng cáo. Miếng bánh quảng cáo chừng đó thôi nhưng quá nhiều tờ báo ra đời thì miếng bánh đó bị chia năm xẻ bảy, khó đủ cho tất cả cùng sống.
Không sống thì phải làm sao?
Làm tiền!

*
Không chỉ chính quyền, doanh nghiệp, anh em báo chí cũng rất bức xúc về hoạt động của một vài tờ báo. Phải nói là làm tiền một cách trắng trợn và bỉ ổi. Nói thật, nếu sếp quản lý chặt, không bật đèn xanh thì đố đứa nào dám ho he.

Quản lý chặt thì sao có chuyện "sáng đăng- trưa gặp- chiều gỡ"? Tiền!
Báo chí gì mà hợp đồng không có lương, cứ cho cái tư cách pháp nhân, giấy giới thiệu rồi tự sống (đó chưa nói là phải cống nộp lên) thế mà vẫn sống, thậm chí giàu có hơn cả các báo có thu nhập cao thì không làm tiền mới là chuyện lạ,

Các bạn làm báo nhìn lại đi: Đám đó toàn có nhà to, đi xe hơi chứ các bạn ở các tờ báo thu nhập cao cũng chỉ được vài người thôi.

Tôi ra Nghệ An- Hà Tĩnh- Quảng Bình, nhắc đến Báo Thanh Tra ai cũng khiếp vía. Mấy anh chị làm báo Thanh Tra (của chính phủ) đi đâu cũng ỡm ờ giới thiệu là Thanh tra chính phủ. Kinh. (Xin lỗi anh em làm báo Thanh Tra chân chính).
Mấy anh chị làm báo này thì có đất cả ở các huyện thị ở các tỉnh đó. Lạ lùng ghê.

*
Anh em làm báo chắc hẳn đã chứng kiến, ở đâu có sự kiện gì thì các tờ báo đó bu lại, đúng như bầy kền kền. Từ đó nhận tiền người này đánh người kia, nhận tiền doanh nghiệp này đánh doanh nghiệp nọ...
Chính quyền thì hình như hầu như ở đâu, ít nhiều, cũng có chuyện mất đoàn kết (vì lợi ích), nên đằng sau mỗi ông đều có những doanh nghiệp chi tiền để oánh nhau vụ này vụ khác làm náo loạn, càng mất đoàn kết hơn.
Chính những người này làm tình hình chính trị bất ổn chứ không phải (hoặc chỉ) diễn biến của một vài người viết blog bị xử tù.

*
Truyền hình thì bán sóng, gọi bằng mỹ từ "xã hội hóa", game Show nhảm nhí nhan nhãn. Có cảm giác như cả nước đi thi, hết thi hát lại thi hài... từ con nít đến ông già, tạo ra một sự cuồng vọng về nghề nghiệp rất vô lối.
Bộ trưởng Trương Minh Tuấn là "vua xử phạt" các báo, nhưng ông chưa bao giờ phạt được một tờ báo nhảm nhí. Tờ báo đó nó không sai quan điểm chính trị nhưng nó nhảm nhí, làm hỏng văn hóa của một thế hệ, của cả dân tộc.

*
Tôi nói không ngoa: Đây mới là đại họa!


............../.

Tân Sơn Nhất hay Long Thành?




"BẮT CÁ HAI TAY": SẢY CẢ HAI LÀ CÁI CHẮC!

https://www.facebook.com/bakiem.mai/posts/692244890967384

MAI BÁ KIẾM


***

Trong vụ thu hồi sân golf, mở rộng phi trường Tân Sơn Nhất (TSN), bộ trưởng GTVT Trương Quang Nghĩa là “tư lệnh ngành” đã "ba phải" hết chỗ nói, đầu tiên ông trả lời Quốc hội (QH): “Phương án mở rộng sân bay TSN về phía Bắc là hoàn toàn không khả thi…” nhưng không chứng minh bằng luận cứ khoa học mà nói ngang: “vì nhiều lý do: chi phí giải phóng mặt bằng, khả năng ô nhiễm tiếng ồn và rất nhiều thứ khác...”.
QH không được biết chi phí giải phóng mặt bằng bao nhiêu tiền, ô nhiễm tiếng ồn là mấy chục ngàn Décibel và những thứ khác là con khỉ gì? Rồi, trong báo cáo của Bộ gửi QH, ông đề xuất nước đôi: “Có thể duy trì cùng lúc hai sân bay Tân Sơn Nhất và Long Thành, vì TSN đã vượt quá công suất (32,5 triệu khách/năm so với 28 triệu khách/năm), nên phương án khả thi và tiết kiệm nhất là xây thêm nhà ga T4 với công suất từ 10-15 triệu hành khách. Năm 2019 sẽ xây xong, nhưng đến khoảng năm 2022 thì lại đạt công suất tối đa”.

Sáng 12/6, bộ trưởng KH-ĐT Nguyễn Chí Dũng tuyên bố ủng hộ việc lấy lại sân golf để mở rộng sân bay, thì chiều cùng ngày, ông Nghĩa nói lại “câu chuyện có lấy lại đất sân golf trong sân bay Tân Sơn Nhất để phục vụ việc nâng cấp, mở rộng sân bay hay không sẽ được đưa ra Chính phủ thảo luận, giải quyết”.
Xui cho ông Nghĩa, "Chính phủ chưa thảo luận theo ý ông" mà hôm sau, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ GTVT chủ trì, thuê tư vấn nước ngoài tiến hành làm việc độc lập để nghiên cứu, đánh giá, khảo sát theo hướng mở rộng sân bay với cách làm phải khách quan, trung thực nhất về hiệu quả đầu tư, hiệu quả sử dụng đất...; báo cáo kết quả cho Chính phủ vào cuối năm nay”.
Với chỉ đạo có định hướng của Thủ tướng, ông Nghĩa đành bắt cá hai tay để phòng hờ… hên – xui (giống Tấn Beo hay nói) ! Nhưng tôi dám cá với ông Nghĩa, bắt cá hai tay luôn sảy cả hai theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, lúc đó đường hàng không quốc tế và quốc nội nối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (Sài gòn, Bình dương, Đồng Nai, Bà Rịa) sẽ tắt nghẽn, vì TSN mở rộng rồi quá tải còn LT xây chậm tiến độ, thì thiệt hai kinh tế sẽ khôn lường!

Xin so sánh số liệu giữa phi trường Hongkong (HK) và phi trường TSN, vì cả hai có những điểm rất tương đồng cũng như rất tương phản:
HK và TSN đều có 2 phi đạo song song và cùng hướng: 07R/25L và 07L/25R và cùng có sân golf. Chỉ khác chút xíu, hai phi đạo của HK cùng dài 3.800m, còn phi đạo của TSN thì một cái dài 3.800m, một cái dài 3.048m (chả sao cả).
Tương phản là, năm 2016, HK được xếp vào top 10 phi trường tốt nhất Á châu, còn TSN bị xếp vào top 10 phi trường tệ nhất. Tệ nhất do ảnh hưởng rất nhiều yếu tố như cung cách phục vụ, nhưng về hạ tầng cả hai có hai phi đạo như nhau, vậy tại sao HK đón 68,48 triệu lượt khách mà không quá tải, còn TSN đón 32,5 triệu lượt, đã quá tải 4,5 triệu người?.
Xin thưa, TSN chưa quá tải trên phi đạo, mà quá tải ở nhà ga, nên máy bay phải go around vài chục phút chờ nhà ga trống mới nhào xuống phi đạo!
Vô duyên!
Tương phản tiếp theo là nhà ga HK rộng thứ ba trên thế giới: 57ha, còn nhà ga TSN chỉ có 13,3ha, mà chứa đến 46 hãng hàng không và chỉ vỏn vẹn 47 cửa lên - xuống (in - out) máy bay. Trong khi nhà ga HK chứa 63 hãng hàng không mà có đến 163 cửa lên – xuống máy bay. Vì vậy, nút cổ chai đầu tiên của phi trường TSN nằm ở ngay nhà ga, do đất dự trữ nhà ga đã lỡ xây... quán thịt chó! 

Nhà ga thứ ba gọi là T.4 mà ông Nghĩa nói áng chừng chứa từ 10 -15 triệu khách là chỗ đậu máy bay quân sự của quân đội nhường cho, rồi phải tốn tiền mở rộng đường Hoàng Hoa Thám để dẫn ra Cộng Hòa, mà hiện giờ đường này đã quá tải. Ngoài ra, do khu dân cư bao vây kín đường độc đạo đến và đi từ nhà ga TSN là Trường Sơn, nên đường này là nút thắt cổ chai thứ hai.

Trong rất nhiều đề xuất của các chuyên gia, đại biểu QH, tôi chỉ ủng hộ đề xuất của TS Lương Hoài Nam (nguyên TGĐ Jetstar Pacific Airlines) là phải mở rộng nhà ga về phía Nam (tức là giải tỏa sạch Liên hiệp quán chó chặt và nhà ở trên các đường Bạch Đằng, Hồng Hà, Phạm Văn Đồng) dẫn ra ngã ba Chú Ía, để giải tỏa bớt áp lực xe cộ trên đường Trường Sơn. TS Nam không nói động đến san golf, nhưng theo tôi nên thu sân golf để làm phi đạo thứ ba và chỗ đậu chờ cũng như xây các xưởng sửa chữa và tiếp liệu cho máy bay.
Nếu so sánh HK cũng có sân golf thì đó là so sánh không cùng đại lượng, tức ngụy biện, vì HK là phi trường top lớn nhất thế giới, tuy chỉ rộng 1.200ha, nhưng nó dành trọn cho hàng không dân dụng, và nhà ga hiện hữu có công suất cả trăm triệu khách. Trong khi, TSN chỉ còn 850ha mà hầu hết do quân đội nắm giữ, hàng không dân dụng chỉ được sử dụng năm ba chục ha!

Phương án “bắt cá hai tay” của ông Nghĩa còn có nguyên do ngân sách không có 18.000 tỷ VNĐ để giải tỏa mặt bằng và khó vay ODA 18 tỷ USD để xây phi trường LT! Bởi vì, từ tháng 7/2017, VN phải vay ODA với lãi suất gấp 3 lần lãi suất trước đó và thời gian ân hạn trả lãi giảm xuống còn phân nửa.
Nhiều người tính toán, nếu bán hết 157 ha đất sân golf theo giá đất ở thì thu được 400 tỷ USD. Vậy có đại gia địa ốc nào ứng trước 18 tỷ USD để xây phi trường LT rồi đến năm 2050 lấy trọn sân golf ?
Xin lỗi, nếu Chính phủ dám nhận ứng 18 tỷ USD bây giờ và 23 năm sau giao đứt sân golf thì không đại gia địa ốc có đủ tiền tươi để ứng, mà ngân hàng cũng không dám cho vay liều như vậy. Bởi vì, khi bong bóng địa ốc bể, thì ngân hàng sẽ tiêu diêu nơi miền cực… nhọc, nhất là khi TSN không còn là phi trường, thì ở đó trở thành một đô thị xây dựng bát nháo, chỉ để ở chứ có kinh doanh được đâu mà có giá?

....../.