Lượt xem trang

Trận chiến Lão Sơn

Trận chiến Lão Sơn

Tài liệu nghiên cứu giảng dạy dành cho sinh viên sĩ quan của Tự vệ đội.

Nghiên cứu viên Nakamura Masanori.

Trận chiến Lão Sơn

Trận chiến Lão Sơn được xem là trận chiến đẫm máu khốc liệt nhất trong vùng Á Châu gần đây. Cuộc chiến nổ ra tại một căn cứ quân sự của Việt nam tại điểm cao 1059 và điểm cao 1250 (722 phía VN) dọc theo biên giới Việt Trung mà phía Trung Quốc gọi là Lão Sơn và Giả Âm Sơn. Để chiếm được 2 cao điểm này Giải phóng quân Trung Quốc đã tạo ra một cuộc xung đột võ trang vớI quy mô lơn. Lịch sử quân sự Trung Quốc gọI cuộc chiến chiếm 2 điểm cao này là Chiến dịch Lưỡng Sơn.

Trận chiến Lão Sơn bắt đầu vào ngày 2 tháng năm 1984 khởI màn bằng trận tấn công tổng lực bằng pháo binh vào căn cứ quân sự của quân độI Việt nam.

Cuộc chiến chia thành 3 giai đoạn.giao tranh quân sự giữa quân độI 2 nước Việt nam và Trung Quốc

Giai đoạn 1 : Từ ngày 2 tháng 4 đến ngày 15 tháng 4 năm 1984

Giai đoạn 2 : Từ ngày 2 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7 năm 1984

Giai đoạn 3 : Từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7 năm 1984

Trận chiến kết thúc vào ngày 14 tháng 7 năm 1984 bằng một trận đánh cảm tử xáp lá cà (bạch binh chiến) của các binh sĩ Việt nam. Phía Trung Quốc đã phản công bằng pháo binh và hỏa lực mạnh để tử thủ Lão Sơn. Sau trận chiến này với số thương vong quá lớn , quân đội VN đã hoàn toàn bỏ cuộc, lãnh thổ Việt nam đã mất vùng núi Đất (Lão sơn) vào tay Trung Quốc từ đó. Sau hiệp định hoạch định biên giới Việt Trung thì 2 vùng núi này chính thức trở thành lãnh thổ của Trung Quốc.

Tương quan lực lượng tham chiến :

Phía Trung Quốc :

Tướng chỉ huy : Dương Đắc Chí

Chiến lực: Quân đoàn 14, quân đàon 11,quân đòan 1, tập đàon quân 67, tập đàon quân 27, tập đoàn quân 13.

Số binh sĩ thương vong : Bất minh (có nguồn thông tin cho biết khoảng 939 binh sử tử trận)

Phía Việt nam :

Tướng Chỉ huy: Tướng Văn Tiến Dũng

Chiến lực : Sư đoàn 313, sư đàn 316, sư đoàn 356 chính quy. Địa phương quân và dân binh.

Số binh sĩ thương vong : Bất minh (theo nguồn tin Trung Quốc thì có 3700 binh sĩ Việt nam tử trận còn lại trên chiến trường , dự đoán binh sĩ tử trận khoảng 4000 binh sỉ, theo nguồn tin của phóng viên chiến trường của NHK được biết chính xác là trung đoàn 174 thuộc sư đòan 316 VN sau 10h giao tranh với sư đoàn 119 của Trung Quốc tại điểm cao 142, 149 thuộc khu vực Na lập vào ngày 12 tháng 7 năm 1984 phía VN bị tử thương 300 binh sĩ tại mặt trận ).

1) Quá trình đưa đến sự giao tranh

Trong suốt thời gian trước hoạch định biên giới Việt Trung thì Lão Sơn và Giả Âm Sơn được công nhận là lãnh thổ của Việt nam. Lão sơn với cao độ 1422.2mm so với mặt biển là một vị trí chiến lược quan trọng trong phối trí quân lực trong suốt lịch sử vệ quốc của người Việt nam. Từ đây có thể giám sát con đường huyết mạch nối từ Hà Giang của Việt nam sang Trung Quốc. Năm 1979 trên đường tiến quân sang đánh Việt nam tướng Dương Đắc Chí tư lệnh quân khu Côn Minh đã chiếm vùng này , sự tiến quân quá nhanh của Trung Quốc vào Việt nam đã khiến tướng Dương Đắc Chí khinh địch và đánh giá thấp tướng Võ Nguyên Giáp một thiên tài quân sự của Việt nam.Trong một công điện báo công với Đặng Tiểu Bình sau khi xâm nhập vào Việt nam mà không bị tổn thất nhiều tướng Dương Đắc Chí đã xin phép cho thêm một tuần nữa để tiến quân đến Hà Nội bắt sống toàn bộ ban lãnh đạo Việt nam. Phía Việt nam Tướng Võ Nguyên Giáp đã áp dụng nhuần nhuyễn chiến thuật Dụ địch vào sâu nội địa, Cắt đứt quân viện hậu cần, Tổng phản công, một chiến thuật trong kinh nghiệm vệ quốc hàng ngàn năm qua của người Việt nam đối với Trung Quốc, tướng Võ Nguyên Giáp với các lực lương khinh binh và địa phương quân đã phá hủy toàn bộ các tuyến quân viện hậu cần của Tướng Dương Đắc Chí khiến trên 500 chiến xe của Giải phóng quân Trung Quốc dưới quyền của tướng Dương Đắc Chí trở thành những cục sắt chết không hoạt động được trên chiến trường vì thiếu nhiên liệu và trở thành các điểm tác xạ của Địa phương quân VN. Trước tình thế tan rã toàn bộ các quân đoàn tiến chiếm Việt nam tướng Dương Đắc Chí buộc phải cấp tốc xin lệnh rút binh về nước. Trên đường rút binh của tướng Dương Đắc Chí , quân đội Trung Quốc đã bị tổn thất nặng nề bởi sự truy kích bằng pháo binh của quân đội Việt nam từ điểm cao 1059 này. Có một kỳ tích về hành quân mà đến thời điểm này các nhà phân tích về chiến lược quân sự cũng không hiểu bằng cách nào chỉ trong vòng một thời gian ngắn chưa đầy 1 ngày mà tướng Võ nguyên Giáp của Việt nam có thể phối trí một lực lượng pháo binh mạnh tại một căn cứ có địa hình hiểm trở để có thể truy kích tận diệt các binh đoàn của Trung quốc trên đường rút chạy khỏi VN, mặc dầu Đặng Tiểu Bình tuyên bố đã dạy xong cho VN một bài học nhưng trên thực tế thì có thể nói rằng gần như toàn bộ các quân đoàn của quân khu Côn minh dưới quyền tướng Dương Đắc Chí đã bị tổn thất nặng nề gần như hoàn toàn bị xóa sổ.

Từ sự giáo huấn của lần đại bại năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã phải đi đến quyết định cải cách lại quân đội theo hướng hiện đại hóa. Tướng Dương Đắc Chí được sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình đã nắm chức tổng tham mưu trưởng kiêm Ủy viên của Ủy ban có tên là Trung Cộng Trung ương Quân sự Ủy viên hội, để phục hận 5 năm về trước, kiểm soát không phận và uy hiếp tỉnh Hà Giang cũng như làm bàn đạp để tấn công bình định Việt nam nếu có xảy ra đồng thời để hồi phục lại uy tín của quân đội đã xuống đến tận đáy, tướng Dương Đắc Chí đã lên kế hoạch chiếm lĩnh 2 điểm cao của vùng núi Lưỡng Sơn này.

2) Quá trình giao tranh

Ngày 2 tháng 4 năm 1984 quân độI Trung Quốc bắt đầu pháo kích đạI quy mô vào điểm cao 1059 của Việt nam mở đầu cho trận giao tranh. Cuộc pháo kích kéo dài 26 ngày cho đến ngày 27 tháng 4 năm 1984

Ngày 28 tháng 4 qua thông tin tình báo biết được phía VN đang chuẩn bị thay quân tại điểm cao này , vào lúc quân số của phía VN đồn trú ít nhất ở căn cứ 1059, tướng Dương Đắc Chí đã ra lệnh cho sư đoàn 40 và sư đoàn 49 thuộc quân đoàn 14 quân khu Côn Minh bắt đầu tấn công căn cứ hiểm yếu này. Mặc dầu với số quân áp đảo là 2 sư đoàn nhưng trước sự thiện chiến và quả cảm của lực lượng nhỏ quân đội VN đóng tại đó, phía Trung Quốc đã chịu nhiều tổn thất nặng nề. Phải sau 18 ngày chiến đấu quân đội Trung Quốc mới chiếm lĩnh được một phần của Lão Sơn và Giả Âm Sơn vào ngày 15 tháng 5 năm 1984.

Ngày 12 tháng 6 đến ngày 7 tháng 10 năm 1984 được xem là giai đoạn giao tranh thứ 2, quân đội VN đã cố gắng tổ chức tái chiếm lại Lão Sơn, trong giai đoạn giao tranh này thương vong phía Việt nam không xác định được nhưng phía Trung Quốc thì 2 đại đội có nhiệm vụ tử thủ căn cứ này đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Phía Việt nam tạm thời chiếm lại Lão Sơn. Rút kinh nghiệm từ lần giao tranh này tướng Dương Đắc Chí đã cho sử dụng hỏa tiễn liên trang để đối kháng và sau đó dùng bộ binh tái chiếm căn cứ. Đối lại quân đội VN dùng súng cối và vũ khí hạng nhẹ, lưỡi lê với cách đánh cận chiến cảm tử bám sát vào quân đội Trung Quốc để đánh nhằm giảm nguy cơ thương vong vì hỏa tiễn đã gây thương vong khủng khiếp cho cả lực lượng hai bên.

Tuy nhiên trước sự áp đảo về lực lượng và vũ khí của Trung Quốc phía Việt nam đã chịu thất bại trong nỗ lực phòng thủ căn cứ. Sau trận giao tranh này Trung Quốc chiếm được căn cứ trở lại.

Giai đoạn 3 của cuộc giao tranh bắt đầu từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7. Được thông tin tình báo chính xác từ một sĩ quan cao cấp trong Cục quân báo Việt nam tướng Dương Đắc Chí đã nắm rõ toàn bộ kế hoạch hành quân tái chiếm căn cứ của VN. Bằng cách bố trí pháo binh mạnh và hõa tiễn đa liên trang tập trung vào các điểm quân đội Việt sẽ tập kết bên mạn sườn núi ở cao độ 500 và 800 quân đội Trung Quốc chỉ còn chờ đợi quân đội Việt nam bước vào cửa tử bằng trận địa bao vây bằng hỏa tiển và pháo. Phía Việt nam lần này với sự trợ giúp của các cố vấn quân sự Liên Xô và trực tiếp tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy đã tổ chức nghi binh nhằm đánh lạc hướng theo dõi của tình báo Trung Quốc bằng cách chọn ra 6 trung đoàn từ các sư đoàn 313, sư đoàn 316, sư đòan 356.Kế hoạch hành quân có mật danh là " MB84, thu hồi lãnh thổ"

Tuy nhiên điều cả tướng Văn Tiến Dũng và các cố vấn quân sự Liên Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ quan cao cấp phản bội.

Ngày 12 tháng 7 năm 1984 , 6 trung đoàn quân Việt nam lần lượt tập kết vào các địa điểm đã được tướng Dương Đắc Chí đợi sẵn ở cao độ 500 và 800 bên dưới cao điểm 1059. 5 giờ sáng giờ Việt nam ngày 12 tháng 7 quân đội VN bắt đầu men theo triền núi để tổng công kích và trận pháo kích bao vây tận diệt của tướng Dương Đắc Chí cũng bắt đầu. Sau 17 tiếng đồng hồ pháo kích tập trung vào các điểm đã biết trước dựa theo kế hoạch hành quân mang tên MB84 của Việt nam, tướng Dương Đắc Chí hoàn toàn đại thắng.

Quân đội VN buộc phãi rút lui với dự đóan khoảng 3700 thi thể binh sĩ bị bỏ lại trên đỉnh Lão Sơn.

3) Ảnh hưởng về mặt quân sự

Trận chiến Lão Sơn là một trận chiến kinh điển trong các trận chiến hạn định phi quy ước. Chiến thắng của phía Trung Quốc có thể nói là công đầu là chiến thắng của mạng lưới tình báo Hoa Nam bằng cách đã cài cắm được điệp viên vào hàng ngũ sĩ quan cao cấp của Việt nam. Nếu không có thông tin tình báo từ Việt nam cục diện trận chiến lão Sơn có khả năng sẽ đi theo một hướng khác với số thương vong khủng khiếp sẽ đến với các sư đoàn 40 và 49 của quân đội Trung Quốc bởi lối đánh cảm tử và thiện chiến của binh sĩ Việt nam.

Trận chiến Lão Sơn đã làm thay đổi toàn bộ chiến thuật tấn công của quân đội Trung Quốc theo hướng hiện đại hóa.

Trong giai đoạn 3 của cuộc giao tranh có thể nói đây là một sự tái diễn lại cách đánh giữa quân đội bắc Việt nam với chiến thuật biển người, cận chiến và quân đội Mỹ với chiến thuật tập trung pháo binh nhằm giảm thương vong cho binh sĩ xung kích trong thời gian chiến tranh Việt nam.

Từ chỗ tấn công theo chiến thuật biển người là chiến thuật quân sự của Trung Quốc và Việt nam tướng Dương Đắc Chí đã thành công trong việc mạo hiểm ứng dụng chiến thuật tấn công và phòng vệ tập trung bằng pháo binh kết hợp với thông tin tình báo theo phong cách tác chiến hiện đại của Mỹ. Từ trận đánh này cũng lộ rõ một điểm yếu của quân đội Trung Quốc đó là công tác hậu cần, vận tải của quân đội, không có khả năng không vận để phục vụ cho việc tác chiến. Ví dụ để phục vụ cho cuộc chiến họ phải huy động cả xe của dân sư để tải đạn dược và thương binh.

Về phía quân đội Việt nam mặc dầu địa hình bất lợi nhưng với quyết tâm thu hồi lãnh thổ đã chọn chiến thuật tấn công bằng biển người. Với sĩ khí của quân đội Việt nam lúc đó khả năng thu hồi lại lãnh thổ trong trận chiến này rất cao nhưng đồng nghĩa với việc chấp nhận hàng ngàn binh sĩ phải hy sinh, có thể coi là một chiến thuật hạ sách khi mà tướng Văn Tiến Dũng không còn con đường để chọn lựa.

Tuy nhiên thất bại về phản gián của Việt nam trong cuộc chiến này đã khiến Việt nam phải chấp nhận thất bại với gần 4000 binh sĩ thương vong là một bài học quan trọng trong công tác bảo mật mà các sĩ quan trẻ trong tương lai phải luôn tâm niệm trong quá trình cầm binh tác chiến. Một sơ sót của người chỉ huy sẽ phải đổi bằng máu xương của hàng ngàn binh sĩ trên mặt trận và mất đi lãnh thổ.

Về mặt ảnh hưởng quân sự thì chiến thắng Lão Sơn đã nâng cao sĩ khí cho quân đội Trung Quốc, tạo cơ hội cho quân đội Trung Quốc chuyển mình từ một quân đội lạc hậu sang một đội quân hiện đại với kỹ thuật tác chiến hiện đại mới, thay cho chiến thuật biển người cố hữu. Đây là đà tiến để giới quân sự Trung quốc tạo ảnh hưởng lên giới chính trị để hiện đại hóa quân đội. Với việc chiếm lãnh Lão Sơn và Giả Âm Sơn và đặt 2 căn cứ tại đó, Trung quốc đã có khả năng kiểm soát và khống chế về mặt quân sự trên toàn bộ miền Bắc Việt nam. Trong một số lần hiếm hoi, các đài duyên hải của lực lượng Hải thượng Tự Vệ Đội Nhật bản dọc theo quần đảo Okinawa đã phát hiện bắt được các làn sóng phát theo hình thức nhiễu loạn số từ đài phát vô tuyến có tọa độ xác định đặt trên đỉnh Lão Sơn. Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự nếu xảy ra một trận chiến phi quy ước giữa Việt nam và Trung Quốc một lần nữa thì với hệ thống rada và đài phá sóng vô tuyến mạnh như vậy của Trung Quốc ở căn cứ Lão Sơn khả năng toàn bộ hệ thống thông tin của lực lượng phòng không không quân tại miền Bắc của Việt nam kể cả hệ thống thông tin của Hàng không dân dụng sẽ bị tê liệt ngay tức khắc nếu bị quân đội Trung Quốc tiến hành gây nhiễu từ cụm đài của căn cứ này. Chưa kể đến lợi thế về mặt tác chiến pháo binh cũng như hỏa tiển tầm xa có khả năng khống chế quân đội Việt nam trên một phần vùng miền bắc Việt nam trong một cuộc chiến hạn định từ căn cứ quân sự lớn này.

Về phía Việt nam thì sau trận chiến này đã khiến cho uy tín một số tướng lãnh quân đội với nhiều công trạng trong cuộc chiến Việt nam bị suy sụp, thất sủng.

Nhiều tướng lãnh kinh nghiệm dày dạn chiến trường bị thay thế bởi thế hệ tướng lĩnh trẻ chưa có kinh nghiệm tác chiến trên những mặt trận lớn. Một mất mác lớn khác đối với quân đội VN trong thời kỳ này đó là sự thất sủng của tướng Võ Nguyên Giáp trước ban lãnh đạo chính phủ Việt nam khi ông đưa ra yêu cầu giải quyết “Bài toán nước lớn” bằng cách kêu gọi chính phủ mở một nền ngoại giao đa phương với phương Tây kể cả cựu thù là Mỹ và các nước xung quanh, cùng với việc dùng lực lượng quân chính quy Việt nam tại Lào đánh quy hồi sang từ Lào sang Cam puchia, giải phóng Campuchia xong thì rút hết quân về nước giao lại Campuchia cho Liên hợp quốc để giảm bớt sự hy sinh của binh sĩ và ngân sách quốc gia, phá mở thế bao vây từ kinh tế cho đến quân sự bởi các nước xung quanh đã không được ban lãnh đạo chính phủ Việt nam đương thời đồng ý, sự thất sủng của một nhà chiến lược quân sự vĩ đại đã khiến giới quân đội của Việt nam dần dần bị xem nhẹ, đồng thời thế lực thân Trung Quốc trong giới chính trị gia Việt nam có cơ hội quật khởi trở lại.

Sau cái chết của Phạm Hùng người được cho là kiên trì trong đường lối chống Trung Quốc bị chết một cách mờ ám tại thành phố Hồ Chí Minh với nghi vấn có bàn tay của lực lượng tình báo Hoa Nam (1) thì toàn bộ ban lãnh đạo Việt nam đã thay đổi toàn bộ đường lối từ chống Trung Quốc chuyển sang thân Trung Quốc.

Các chính sách công tác tuyên truyền chống Trung Quốc cũng dần dần bị loại bỏ từ dân chúng cho đến quân đội. Cùng với chính sách đổi mới quân đội Việt nam đã thiên về làm kinh tế hơn đặt nặng trọng tâm quốc phòng, sau thất bại ở cuộc hải chiến Nam sa (Trường Sa) vào tháng 3 năm 1989 thì có thể nói là quân đội Việt nam đã đánh mất vị thế của mình ở Á Châu khi bị các chuyên gia quân sự đánh giá không còn là một đội quân mạnh và thiện chiến nhất trong vùng Đông Nam Á nữa.

4) Ảnh hưởng về mặt chính trị.

Đối với Trung Quốc: Chiến thắng của trận chiến Lão Sơn trùng khớp với thời kỳ sĩ khí đang hồI phục lại ở Trung Quốc nhờ vào hiệu quả của chính sách cải cách, khai phóng, kết quả trận chiến đã chấp cánh , tăng thêm uy tín cho Đặng Tiểu Bình trong việc chỉ đạo thể chế cấm quyền của Trung Quốc. Hệ thống thông tin của Trung Quốc có thể nói đã tuyên truyền hết công suất về tin thắng lợi của quân đội Trung Quốc trong trận chiến Lưỡng Sơn này. Báo chí Trung Quốc đã lợi dụng trận thắng này để phát dương quốc uy và ca ngợi công đức chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình khiến cho dân chúng Trung Quốc phần nhiều đều chỉ biết đến chiến tranh biên giới Việt Trung qua chiến thắng Lão Sơn năm 1984 chứ không phải trận đại bại năm 1979.

Đối với Việt nam: trận chiến Lưỡng Sơn đã khiến phía Việt nam tái nhận thức về mối thù truyền kiếp của người Trung Quốc với tâm lý phục thù của họ đối với người Việt. Cùng với sự sa lầy của quân đội Việt nam tại chiến trường Campuchia đã gây tổn thất lớn về nhân mạng binh sĩ, sự gia tăng của thương phế binh, sự bao vây cấm vận kinh tế của thế giới, sự kiệt quệ về kinh tế đã khiến sĩ khí của quân đội Việt nam tan rã, cũng như sự bất mãn của dân chúng trong nước.

Chính sách cứng rắn đối với Trung Quốc của ban lãnh đạo chính phủ Việt nam dưới quyền Lê Duẫn đã tạo ra nhiều hoài nghi trong dân chúng và các quan chức cấp cao. Sau khi Lê Duẫn qua đời thì ban lãnh đạo chính phủ cũng như quân đội Việt nam dần dần thay thế bằng những người thân Trung Quốc. Thế hệ ban lãnh đạo có tư tưởng cứng rắn chống Trung Quốc cuối cùng là Phạm Hùng, sau khi ông này qua đời thì chính sách của Việt nam hoàn toàn nghiêng hẳn về Trung Quốc.

5) Mối bang giao cải thiện quan hệ Trung Việt.

Tháng 3 năm 1988 thủ tướng Phạm Hùng của Việt nam đột tử. Ông được xem là người cuối cùng trong ban lãnh đạo của Việtt nam theo đường lối cứng rắn chống Trung Quốc, một trong những người đã đồng ý đưa quân sang tiến chiếm Campuchia bất chấp sự phản đối của nhà chiến lược quân sự, tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng năm đó quân đội Liên Xô cũng đại bại phải rút lui khỏi chiến trường A Phú hãn.

Cùng với chính sách cải cách khai phóng thành công của Đặng Tiểu Bình và đã tạo mối bang giao thân mật với Mỹ và Nhật bản của chính phủ Trung Quốc đã khiến cho quốc lực của Trung Quốc nhanh chóng hồi phục. Ngược lại mối quan hệ đồng minh của Việt nam và Liên Xô bởi phái thân Liên Xô là Lê Duẫn ngày càng suy yếu khiến cho chính phủ Việt nam chuyển đổi chính sách sang cải thiện quan hệ với Trung Quốc.

Sau 10 năm gây ra giao tranh vào ngày tết âm lịch năm 1989 Việt nam và Trung Quốc đột ngột mở cửa lại giao dịch ở vùng biên giới. Quan hệ Trung –Việt cấp tốc hồi phục. Sau đó Trung Quốc lần lượt triệt thoái các lực lượng quân sự lớn đóng ở Lão sơn và Giả Âm Sơn. Tháng 5 năm 1989 thì toàn bộ quân chính quy của Trung Quốc hoàn tất việc rút ra khỏi vùng Lưỡng Sơn này chỉ để lại một bộ phận nhỏ các tiểu đoàn công binh và địa phương quân, dân binh để xây dựng căn cứ.

Xung đột võ trang biên giới Việt –Trung xảy ra lần cuối cùng vào năm 1989 khi Trung Quốc cho xây dựng các đài ra đa dọc theo các điểm cao mà họ đã chiếm được sau các lần xung đột. Một số lượng lớn công nhân xây dựng người Trung Quốc đã xâm nhập xây dựng nhà cửa, lán trại bất hợp pháp trên phía lãnh thổ Việt nam, và xung đột đã nổ ra khi lực lượng cảnh sát đương cục của Việt nam đã tìm cách bài trừ, đuổi họ ra khỏi Việt nam. Trong lần này quân đội hai nước không có nổ súng và sự kiện kết thúc khi phía Trung Quốc chịu trách nhiệm đưa toàn bộ số công nhân đó về nước. Có thể coi sự kiện cuối cùng đó là bài thuốc thử của Trung Quốc đối sự chân thành cải thiện bang giao của phía Việt nam.

(Hết)

Chú thích:

1) Trước chiến dịch Lưỡng sơn thì hầu như các cuộc giao tranh của quân đội Trung Quốc và Việt nam chỉ ở mức nhỏ và giao tranh tại các địa điểm tranh chấp dọc theo biên giới 2 nước. Thời điểm đó vào buổi tối nếu có điều kiện tốt thì các đài tiếp sóng của Tự vệ đội cũng bắt được sóng của các lực lượng đang giao tranh với nhau bằng tiếng Việt hay tiếng Trung Quốc. Đương thời ở Hà Nội chính phủ tuyên truyền dân chúng cảnh giác cao độ vì lo sợ điệp viên Trung Quốc vượt qua biên giới, đồng thời chính phủ Vn cũng kiểm soát và quản lý hộ tịch của dân chúng một cách chặt chẽ. Một cuộc sống kinh tế khó khăn bao trùm lên không khí ở Hà nội. Thời điểm đó nếu người Việt nam phát hiện ra một người lạ đến địa bàn sinh sống của mình hay thấy người ban đêm đi chụp hình ở ngoài đường thì lập tức báo công an và các lực lượng bảo an ở địa phương sẽ đến dẫn giải đi liền.

2) Quân khu Côn minh của Trung Quốc sau 1985 đổi thành quân khu Thành Đô.

3) Trong thời chiến tranh kinh tế của Việt nam rất khó khăn, một bộ phận dân chúng tích cực đi lao động hợp tác tại các nước thuộc khối Comecon, những người này đã chịu ảnh hưởng rất nhiều của văn hóa của Liên Xô và Đông Âu. Hiện tại họ là một phần nối tiếp ảnh hưởng của văn hóa các nước Đông Âu lên văn hóa Việt nam. Với họ những kỷ niệm đẹp của thời đại hậu bán của thời Lê Duẩn hầu như không có. Chính bản thân Lê Duẩn cũng bị dân chúng và trong Đảng CSVN phỉ báng. Năm 1985 sau khi ông ta qua đời thì chính sách của thời kỳ mà ông cầm quyền cũng dần dần bị dân chúng Việt nam quên lãng.

4) Chính sách mở cửa kinh tế của Trung Quốc đã tạo cho kinh tế vùng Quảng Đông phát triển mạnh mẽ, nhu cầu cần xuất sản phẩm sang thị trường Việt nam đã làm thay đổi suy nghĩ của một số quan chức Trung Quốc tại địa phương, ngay tại Hongkong nơi có số người không cảm tình vớI VN rất cao cũng dần dần ủng hộ chính sách thương mạI ở cấp địa phương vớI VN. Phản ánh điều này vào này tết năm 1989 ở Quảng ninh một bộ phận các nhà buôn Việt nam đã đem vàng sang Trung Quốc đổI mua sản phẩm. Cả hai chính quyền Việt –Trung đều biết nhưng im lặng chấp nhận mở đường cho tiến trình trao đổi mậu dịch dọc theo biên giới hai nước. Việc nốI lạI quan hệ mậu dịch Việt –Trung cũng đã tạo sự chú ý đốI vớI phương Tây. Đương thời người viết đã cùng với Đại sứ Nhật tại Việt nam Asomura Kuniaki tiên sinh cùng các tùy viên quân sự của Đại sứ quán Pháp, Anh đến thị sát tình hình tại Lạng Sơn.

5) Thời gian đầu các thương nhân phía Trung quốc mang sang Việt nam các sản phẩm rượu bia, táo và hầu như là buôn lậu. Sau khi 2 nước chấp nhận mở cửa mậu dịch thì hàng hóa Trung Quốc ồ ạt tràn sang Việt nam. Đồng thờI gian đó có các sự kiện các tổ chức xã hội đen Hongkong, Trung Quốc và Đài Loan đã tổ chức các đợt buôn lậu súng Tokalev vào Nhậtt bản. Công an đương cục của Trung Quốc hợp tác với cảnh sát Nhật điều tra và phát hiện ra xuất xứ các đường dây buôn lậu vũ khí này bắt đầu từ nguồn cung cấp của Việt nam. Kết quả điều tra này đương thời đã được đăng trên nhiều tạp chí Trung Quốc và Nhật bản. Cảnh sát Nhật cũng thông qua ICPO (Hình cảnh quốc tế) đăng thông báo truy nã một số sĩ quan của Việt nam.

6) Từ năm 1988 đến 1989 Trung Việt song phương đã qua giới truyền thông của Nhật bản , cụ thể là đài Asahi phát đi các tín hiệu bình thường hóa quan hệ, không có chuẩn bị tổ chức các cuộc xung đột võ trang đại quy mô. Trong thời gian này các tạp chí của Hongkong, Đài Loan, Nhật bản công khai nhiều bài viết liên quan đến kết quả điều tra các cuộc xung đột võ trang tại biên giới Việt Trung trong quá khứ. Sau đó đài NHK cho phát phóng sự bộ phim “Umi no Siruku Rodo” (Con đường tơ lụa trên biển), đoàn làm phim đã được chính phủ Việt nam cho phép vượt biên giớI từ Trung Quốc sang Việt nam. Thông qua bộ phim đòan làm phim đã giới thiệu, công khai các trạng huống tạI vùng biên giớI của 3 nước Việt-Trung – Lào. Trong bộ phim cũng vẫn còn các hình ảnh bộ đội biên phòng Việt nam sử dụng các thùng đạn dược, các vũ khí hạng nhẹ trang bị cho dân binh là chiến lợi phẩm trong các cuộc xung đột võ trang giữa 2 nước.