Lượt xem trang

CHÍNH TRỊ & KỸ TRỊ



CHÍNH TRỊ & KỸ TRỊ
15 THÁNG 8 - 2017




Huy Đức

*****


Chủ tịch một công ty nổi tiếng, trực thuộc một bộ, hưu gần hai năm nay, nhận xét ngắn gọn về người mà lẽ ra ông phải chịu ơn vì từng ký 3 quyết định đề bạt, bổ nhiệm ông, "Súc vật". Một thành viên nội các nhiệm kỳ trước, đang giữ một vị trí cao hơn trong nhiệm kỳ này, trong một lần bi phẫn, nói với bạn tâm giao, "Đôi khi tôi phải làm những việc không phải của một con người". Nhiều đại biểu dự Đại hội XII ngạc nhiên vì nhận được những khoản thu nhập bất ngờ. Có những lá phiếu đã được quy đổi thành tiền bên hành lang của nơi mà các đảng viên trung thành vẫn coi là "đền thiêng của Đảng".
Nhiệm kỳ này vẫn rơi rớt không ít thành viên tiến thân bằng những nấc thang được lắp đặt bởi các "nguyên lý" của hai nhiệm kỳ trước đó. Nhiều nhà báo "uống rượu" với Trương Minh Tuấn, ngơ ngác khi chứng kiến một kẻ thô lỗ, ăn không nên đọi, nói không nên lời; làm trưởng phòng bảo vệ ở một cơ quan báo chí đã là quá đáng, bỗng nhiên trở thành Bộ trưởng có quyền cấp thẻ, rút thẻ của mình. Trương Minh Tuấn nếu không vượt thẩm quyền, ký quyết định cho MobiFone đi vay 8.900 tỷ mua một cơ sở hạ tầng truyền hình trị giá tối đa là 300 tỷ, liệu có thể có tiền, có cái ghế UVTƯ, bộ trưởng?
Đọc quy định mới của Bộ Chính trị về "tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ", nhận thấy các nhà lãnh đạo Đảng đang muốn chặn cái đà tha hóa đó của đội ngũ. Nhưng, cũng rất tiếc là những người tham mưu, ban hành quyết định này vẫn chưa nhìn thấy cái gốc của vấn đề và đặt các nỗ lực cải cách trên những nguyên lý chính trị căn bản nhất.
Cho dù vẫn đang được vận hành với nhiều tính chất "đảng trị", nếu "công tác cán bộ" muốn khắc phục được các yếu tố gây tha hóa đội ngũ thì không chỉ ban hành các quy chế nội bộ mà còn phải thiết kế nền quản trị quốc gia theo hướng tách bạch hai chức năng chính trị & kỹ trị. Từ đó, đội ngũ cán bộ cả của Đảng lẫn Nhà nước không thể chỉ được phân chia theo thứ bậc (cấp ban bí thư quản lý, cấp bộ chính trị quản lý...), mà phải tách bạch theo các ngạch trật: chính trị gia; viên chức bổ nhiệm (chính trị & tư pháp); viên chức hành chánh.
Hệ thống chính trị, bao gồm chính trị trung ương và chính trị địa phương - nơi đưa ra các quyết sách - và, hệ thống hành chính - nơi kỹ thuật hóa bằng thủ tục để thực thi các quyết sách đó. Chính trị & kỹ trị là hai thực thể song hành nhưng càng ít lệ thuộc vào nhau càng tốt. Càng có một hệ thống hành chính (và cả tư pháp) ít chịu ảnh hưởng bởi chính trị, bởi tư duy và các chỉ tiêu nhiệm kỳ và một hệ thống chính trị không kiếm chác được từ sự nhũng nhiễu của hệ thống hành chánh thông qua việc áp đặt các thủ tục (như các giấy phép con...) thì nền quản trị quốc gia mới có thể hữu hiệu và giảm nguy cơ tham nhũng.
Khác với giai đoạn 1960 đến đầu thập niên 1990, Chính phủ sau Hiến pháp 1992, bắt đầu xuất hiện các chính trị gia - thay vì các cán bộ được Đảng kêu gì làm nấy như các chính phủ thời "quan liêu, bao cấp". Cho dù đảng không phải là "tinh hoa của dân tộc" thì những nhà lãnh đạo trong các nội các từ 2006 trở về trước vẫn còn là những người tiêu biểu hơn trong Đảng.
Ngay từ cuối thập niên 1970s, khi dấu ấn cá nhân và đảng trị đang là phương thức điều hành tuyệt đối của quốc gia, rất ít khi có một nhà lãnh đạo địa phương nào được điều ra Hà Nội mà "vô danh tiểu tốt" như hiện nay.
Những Võ Văn Kiệt, Chín Cần, Đoàn Duy Thành... đều là những nhà lãnh đạo nổi bật, có nhiều sáng kiến chính sách, trong các nền chính trị địa phương. Công tác cán bộ bắt đầu suy thoái khi sự lựa chọn lãnh đạo được quyết định bởi các "cha chú" và những người được cơ cấu vào Trung ương thường chỉ vì đứng đầu các "pháo đài huyện" như Nguyễn Tấn Dũng, Trương Mỹ Hoa, Nguyễn Thị Xuân Mỹ... thay vì bằng những thành tích ở địa phương của họ (thậm chí Nguyễn Tấn Dũng khi được Lê Đức Anh chọn điều ra TƯ đang còn là đối tượng bị tố cáo ở Kiên Giang).
Cần phải xác định, Đảng muốn cái gì phải là "trung ương tập quyền" để duy trì kỷ cương và tính thống nhất quốc gia, cái gì phải "phân quyền" để phát huy tính năng động và vai trò giám sát từ cơ sở. Nếu tuyệt đối tập quyền, nhân sự lãnh đạo địa phương vẫn tiếp tục được quyết định bởi BCT, BBT thì chính trị địa phương sẽ bị thui chột, ứng cử viên cho các vị trí lãnh đạo TƯ tiếp tục sẽ vẫn là những nhân vật giỏi chạy chọt, thay vì là các nhà lãnh đạo có nhiều thành tích.
Cần phải tách bạch ngay hai chức năng của bộ máy hành pháp: chức năng hành pháp chính trị - xây dựng chính sách, thiết kế quy định hành chính; chức năng hành chính công vụ (cấp phép; giám sát thực thi; giải quyết tranh chấp). Cần phải tăng cường tính kỹ trị cho cả chức năng xây dựng chính sách và thực thi công vụ. Đặc biệt là với chức năng xây dựng và thực thi các chính sách phát triển ngành kinh tế (chính sách thuế, chính sách trợ cấp, trợ giá, làm quy hoạch hoặc đầu tư các công trình trọng điểm quốc gia).
Chức năng làm chính sách cần được giao cho một bộ phận với thành phần chủ yếu là những viên chức chính trị được bổ nhiệm. Họ là những người được lựa chọn bởi các bộ trưởng và có thể chỉ phục vụ cho nhiệm kỳ của vị bộ trưởng ấy. Trong các cơ quan tham mưu chính sách (có thể là các vụ) bao gồm cả những người có "biên chế" (họ là những người thông thạo kỹ thuật lập quy, có thể giúp các bộ trưởng, vụ trưởng biến một sáng kiến lập pháp, lập quy trở thành một dự thảo luật hay quy phạm hành chính). Chức năng thực thi hành chính công vụ được đảm nhiệm bởi các công chức hành chính chuyên nghiệp, tuyển dụng qua hình thức thi tuyển và chỉ làm theo quy định và thủ tục (tuyệt đối không sáng kiến).
Nên trao cho người có quyền bổ nhiệm (Thủ tướng, chủ tịch UB) quyền chủ động lựa chọn nhân sự (các bộ trưởng, giám đốc sở và các chức danh tư pháp...). Cấp ủy chỉ cần giám sát thông qua lá phiếu của mình trong các cơ quan dân cử (phê chuẩn hay không phê chuẩn). Các chức danh tư pháp cũng thay vì tự đào tạo và chỉ được cung ứng bởi nguồn nội bộ cũng cần phải được lựa chọn từ những người có uy tín trong xã hội. Ví dụ: các thẩm phán có thể được chọn trong giới luật gia, luật sư, từ những người nổi tiếng liêm chính và có nhiều thành tựu về nghề nghiệp.
Một người có thể trở thành chính trị gia bằng cách ra tranh cử vào các cơ quan lập pháp hoặc được tiến cử vào nội các nhưng trước đó không phải là những người có uy tín, có thể đến từ địa phương hay từ những hoạt động chính trị khác, được biết đến với những thành tích nổi bật. Nếu cấm chính trị gia có "tham vọng quyền lực"(chưa rõ nội hàm tham vọng được dùng trong Quy chế là gì) thì họ vẫn phải là những người có khát vọng sử dụng quyền lực mà họ đạt được để đưa đất nước đi lên. Họ phải chấp nhận một sự nghiệp có rủi ro (thất cử là về vườn).
Những viên chức bổ nhiệm cũng phải là những người chí công, theo giúp một chính trị gia chủ yếu vì muốn biến một sáng kiến nào đó của mình thành chính sách, họ phải chấp nhận sự tham chính của mình là "không biên chế", "leaders" của mình thất cử là cắp cặp ra đi. Biên chế chỉ bao gồm những viên chức hành chánh, họ được đào tạo để làm việc mẫn cán và chuyên nghiệp; họ có thể chỉ cần "sáng cắp ô đi, tối cắp về". Nếu họ nổi hứng ra tranh cử hoặc được bổ nhiệm thì phải từ bỏ sự "êm đềm" của biên chế.
Công tác cán bộ, trước hết, phải phân biệt được sự khác nhau giữa các ngạch, trật. Đừng nhầm lẫn chính trị với kỹ trị. Đừng đưa nhưng kẻ chỉ quen điếu đóm vào các vị trị của một chính trị gia. Và, đừng bắt những người có tố chất của chính trị gia phải mẫn cán, dò dẫm từng nấc thang hành chính.

........../.


DÂN LÀ GÌ VẬY ?




DÂN LÀ GÌ VẬY ?


Chữ này gốc Hán. Chữ Dân viết theo lối Triện thì phía trên là hình một con mắt, dưới là một cái giống như cái dùi chọc vào con mắt đó. Chữ này dùng để chỉ những người bị bắt làm nô lệ thời xưa bên Tàu. Vì ở bên đó nô lệ thoạt kỳ thủy khi bắt về phải chọc mù một mắt, để phân biệt với những người khác. Chữ này viết theo lối Chân có biến hóa cách điệu, nhưng vẫn còn dáng dấp na ná như ban đầu.

Khái niệm Dân biến hóa theo sự biến hóa chính trị. Từ chỗ dùng để chỉ người nô lệ chột mắt, tiến một bước dùng để chỉ hạng người khốn khó nhất trong xã hội (dân đen), tiến thêm một bước nữa dùng để chỉ những người không phải là vua không phải là quan. Nhưng ở giữa hai loại người này có một loại khác không phải dân không phải vua quan, đó là tầng lớp trí thức quý tộc không làm quan. Những người "cao quý" này không gọi là Dân mà gọi là Nhân. Khái niệm Nhân còn bao gồm cả vua quan trong đó nữa. Đến thời bình quyền bình đẳng, hai chữ Nhân và Dân được ghép lại thành Nhân Dân, để chỉ tất cả những người sống trong một nước. Tuy nhiên, Nhân Dân vẫn là một khái niệm co giãn tùy theo quan điểm chính trị.

Từ khinh miệt đến “Dĩ dân vi bản”, rồi đến “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Mạnh Tử) hay “Phúc chu thủy tín dân do thủy” (Nguyễn Trãi), đều là những lời đe dọa những người cầm quyền, nhưng mơ hồ về nội dung. Minh quân không lấy đó làm thiết thực, hôn quân không lấy đó làm sợ hãi.

Chữ Dân hay Nhân Dân ngày nay tương đương với chữ People trong tiếng Anh, dùng để chỉ một tập hợp không định lượng những người sống trong một nước. Nó là số nhiều không xác định của chữ Person (cá nhân). “We The People…” mở đầu của bản Hiến pháp Mỹ là 3 từ khét tiếng nhất trong lịch sử thế giới. Dù People vẫn là khái niệm mơ hồ, song 3 chữ đặt ở vị trí đặc biệt này không mơ hồ tí nào (nhưng không nằm trong phạm vi stt này bàn tới).

Cũng như ngày xưa, Dân ngày nay là một khái niệm chính trị, không phải là thực thể. Người Việt chúng ta chào đời nhiều nhất 1 tháng tuổi đã có tên. Đất nước hay xã hội ta bao gồm 93 triệu cá nhân có cha có mẹ có tên có tuổi đàng hoàng. 93 triệu người là 93 triệu cá tính, hoàn cảnh, nguyện vọng, sở thích, xu hướng … Những thứ rất riêng tư đó thay đổi từng ngày từng giờ, khi tương tác với nhau lại tiếp tục “tự diễn biến tự chuyển hóa” trở nên thiên biến vạn hóa, không có tài thánh nào nắm bắt thâu tóm được. Xã hội là một trật tự tự phát, không có thứ khoa học nào có thể khám phá nổi.

Dân đang nghĩ gì đang muốn gì ?
Dân có tin Đảng có bài Hoa có thân Mỹ hay không ?
Đó là những câu hỏi vô nghĩa.

Gộp những người có tên có tuổi có cha có mẹ nhốt chung vào một cái rọ gọi là Dân, rồi hỏi họ nghĩ gì tin gì bài gì thân gì coi có vô lý ngớ ngẩn không ? Cái khái niệm chính trị ấy chẳng nghĩ gì hết. Còn từng người một nghĩ gì tin gì bài gì thân gì thì chẳng ai biết được. Các chính trị gia chuyên nghiệp tầm cỡ, dù có khi vẫn phải mị dân, nhưng không bao giờ quan tâm đến những câu hỏi tương tự.

Khi Napoleon quyết định tăng thuế để giải quyết khó khăn tài chính quốc gia, các cận thần tâu rằng tăng thuế dân kêu dữ quá, Napoleon hỏi, người ta kêu nhưng người ta có sản xuất buôn bán bình thường không. Trả lời : “Bình thường”. “Tiếp tục tăng thuế đi, khi nào người ta bắt đầu bỏ sản xuất bỏ buôn bán thì giảm thuế xuống”.
Khi bà Thatcher cắt khoản bao cấp khổng lồ của Chính phủ cho ngành than nước Anh đang triền miên thua lỗ, một triệu công nhân biểu tình đưa yêu sách đe dọa đến sự tồn vong của Chính phủ. Bà đầm thép bất chấp, bà không cho rằng 1 triệu người đó đại diện cho hàng chục triệu người Anh tử tế, bởi vậy mà nước Anh mới hồi sinh.

Cái gì không biết thì tốt nhất là thuận theo. Adam Smith là người đầu tiên thấu hiểu cái trật tự tự phát bất khả tri của xã hội để khai sinh môn kinh tế học : Hãy để cho mỗi cá nhân tự do theo đuổi những lợi ích riêng của mình, sẽ có một “bàn tay vô hình” điều tiết biến những lợi ích riêng đó thành sự thịnh vượng của xã hội.

“Vào nhà nhìn mặt con nít, ra đồng nhìn đít con trâu”, đó là kinh nghiệm đánh giá của người Việt chúng ta về một xã hội có an lành thịnh vượng hay không. Phải biết những thứ lặng thinh như vậy mới hiểu thực chất lòng người.
Tôi thích mấy câu thơ này của Thanh Thảo trong Trường ca Chân đất :
Người già quê tôi
Bắt được con gì ăn con nấy
Nấu canh đủ thứ lá
Mọc hoang trên ruộng mình
Mỗi khi họ làm thinh
Mây trên trời tụ về đen kịt.

............/.


CẠN KIỆT !


CẠN KIỆT !

MẠNH KIM


Cạn kiệt là “từ khóa” của mọi từ khóa miêu tả ngắn gọn hiện tình đất nước Việt Nam.
Mọi thứ đang cạn kiệt.
Công bố Ngân hàng Thế giới trung tuần tháng 7-2017 cho biết Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nợ công tăng nhanh nhất thế giới. Nợ công Việt Nam hiện lên đến 2,68 triệu tỷ đồng, tăng từ 36,5% GDP năm 2001 lên 62,2% GDP năm 2015.
Tính đến giữa tháng 7-2017, nợ công Việt Nam tương đương khoảng 94,8 tỷ USD.

Điều này cho thấy không chỉ tình trạng khủng hoảng ngân sách mà còn khủng hoảng chính sách và khủng hoảng điều hành. Nói chính xác hơn là “khủng hoảng năng lực điều hành”. Cái gọi là “Luật quản lý nợ công”, áp dụng từ ngày 1-1-2010, đã không thể tạo ra hàng rào luật hiệu quả. Nó không kiểm soát được những “thành tích” bòn rút ngân sách, và tệ hơn, nó gián tiếp hình thành nên các cách thức lách luật với sự bùng nổ các nhóm lợi ích. Di sản ăn chụp vô độ và phá phách vô tội vạ của Nguyễn Tấn Dũng cộng với “nội các” kế nhiệm tập trung nhiều kẻ bất tài nhất lịch sử chính trị cộng sản Việt Nam càng đẩy nhanh tốc độ suy sụp.

Ngày 10-5-2017, khi bế mạc Hội nghị trung ương 5, Nguyễn Phú Trọng vẫn kiên trì rằng kinh tế thị trường định hướng XHCN là “một vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản”, “một sáng tạo mới của Đảng ta”… Những điều ấy là gì? Rất khó có thể biết Trọng có thật sự hiểu những gì ông ta nói hay không. Nó quá mơ hồ so với những con số thống kê dễ thấy chẳng hạn số nợ công cụ thể mà mỗi người Việt Nam, bất luận tuổi tác, phải gánh chịu là hơn 1.000 USD.

Có một “thực tiễn” mà hệ thống lãnh đạo cần “sáng tạo” để nhận biết họ đang ở đâu: Chưa bao giờ hệ thống chính trị lãnh đạo cạn kiệt nhân lực có tài bằng lúc này. Không có yếu tố “cá nhân” nào nổi trội trong hệ thống cầm quyền đương nhiệm. Không gương mặt nào xứng đáng đại diện cho “trí tuệ Việt”. Họ tăm tối. Họ đần độn. Họ chậm chạp và hoàn toàn đi bên lề sự phát triển của thế giới bên ngoài. Họ phát biểu giống nhau, nói dối giống nhau, hành xử quê mùa giống nhau. Họ xem thường dân hệt như nhau.
“Một số tổ chức, cá nhân lên tiếng hô hào thế này thế nọ nhưng những người đó, tổ chức đó làm gì cho đất nước? Chưa làm gì cả…” – Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu cách đây một năm. Khó có thể đánh giá nhân dân đã làm được gì cho đất nước bằng nhãn quan rất hẹp như thế nhưng dễ thấy rằng nhân dân không có vai trò gì trong các dự án ngàn tỷ đắp chiếu trùm mềm. Nhân dân không có trách nhiệm trong việc làm lũng đoạn ngân sách công, nơi về nguyên tắc thuộc quyền giám sát của một tập thể “dân chủ tập trung” mà Kim Ngân làm “chủ tịch”.

Cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Cạn kiệt cả “nguồn tài nguyên” con người. Việt Nam chưa bao giờ thiếu người tài, ở bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử. Nhân tài Việt ngày càng hiếm hoi, bởi nền giáo dục tồi tệ, lại tiếp tục khan hiếm khi nhiều người lần lượt cuốn gói ra đi. Cách thức đối xử người tài là nguyên nhân lớn nhất chứ không chỉ bởi nghèo và thiếu phương tiện. Cách thức sử dụng nhân tài và chính sách giáo dục là những bế tắc dai dẳng nhất của đất nước. Nó sẽ không bao giờ tháo gỡ được nếu chính sách giáo dục đang được thực thi là một chính sách “ngu để trị”.

Một bài báo của Tạp Chí Cộng Sản đề ngày 9-1-2012 cho biết, “Ngày 8-1, tại Hà Nội, Trung ương Hội Khoa học phát triển nguồn nhân lực-nhân tài Việt Nam đã tổ chức Đại hội toàn quốc nhiệm kỳ II… Trong 5 năm qua, từ chỗ không có một đơn vị thành viên nào với hơn 300 hội viên ban đầu, đến nay, Trung ương hội có 725 hội viên, 4 thành hội, tỉnh hội, 14 chi hội và 30 đơn vị trực thuộc Trung ương hội...”. Thật khó có thể tưởng tượng đó là một tổng kết về nguồn nhân tài. Có những sự thật không được nêu ra trong “kết quả 5 năm”. Đó là những đêm không ngủ của vô số phụ huynh trằn trọc xoay sở đưa con em đi tỵ nạn giáo dục. Đó là hiện tượng có những người Việt ở nước ngoài làm rạng danh dân tộc nhưng không bao giờ muốn trở về phục vụ một đất nước đang giãy giụa trên mớ “nghị quyết trung ương đảng về đổi mới giáo dục”. Chảy máu chất xám thật ra không tệ hại bằng sự bất lực kêu gọi đóng góp chất xám. Đảng thật ra không thể và không bao giờ biết cách “làm giáo dục”. Mới đổi mới giáo dục, trước hết cần đổi mới chính hệ thống đảng.

Đất nước này có nhiều “mũi nhọn”: mũi nhọn kinh tế, mũi nhọn du lịch, mũi nhọn giáo dục, mũi nhọn văn hóa... Nó thiếu một mũi nhọn quan trọng: “mũi nhọn nhận thức”, để giới lãnh đạo có thể tự đâm vào đầu đủ đau để nhắc rằng họ đang làm đất nước tụt hậu và đổ nát như thế nào. Chưa bao giờ vấn đề bạo lực xã hội khủng hoảng như hiện nay. Nếu cách đây 10 năm, một vụ nữ sinh đánh nhau có thể làm rúng động xã hội, bây giờ, xã hội chứng kiến nhiều chuyện khủng khiếp hơn vậy vạn lần. Đời sống không chỉ bất an bởi nguồn thực phẩm mà còn là sự bùng nổ những cuộc thanh toán chém giết. Và cả những cuộc trả thù rùng rợn mà quan chức chế độ cũng trở thành nạn nhân.

Chưa bao giờ bất công, bất tín và bất nhân trong một xã hội “thượng tôn pháp luật” phát triển tràn lan như lúc này. Hãy thử đặt câu hỏi tại sao một côn đồ như Phan Sơn Hùng liên can vụ đánh đập phụ nữ lại vẫn nhơn nhả ung dung? Hắn có phải là một thứ công cụ nối dài của bộ máy công an? Có những câu hỏi không bao giờ có thể trả lời. Có những cái chết trong đồn công an không bao giờ được làm sáng tỏ. Đất nước đang cạn kiệt mọi thứ. Cạn kiệt ánh sáng lương tâm và ánh sáng công lý.

Tấm ảnh Nguyễn Xuân Phúc trong buổi lễ tôn vinh Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngày 22-7-2017 cho thấy một điều khác. Hàng triệu triệu người Việt đã bị xô đẩy vào một cuộc chiến “giải phóng” mà hàng chục năm sau vết thương chia cắt dân tộc vẫn chưa lành. “Xương trắng Trường Sơn”, như được thuật trong hồi ký của cán bộ tập kết Xuân Vũ in tại Sài Gòn năm 1974, vẫn là một màu trắng vô hồn cho những mất mát của bất kỳ bà mẹ Việt Nam nào đội giải khăn tang chiến tranh. Việt Nam không chỉ có những bà mẹ đau buồn của một phía. Phía bên này, cũng còn có vô số bà mẹ đau khổ. Làm sao có thể hàn gắn lòng người chia cắt khi mà kẻ thủ thắng vẫn vét cạn lương tâm hành xử hậu chiến để lấp đầy vào đó những thói thường hả hê?

Điều mỉa mai là quân đội của “Hanoi’s war”, như miêu tả trong tác phẩm của sử gia Lien-Hang T. Nguyen, ngày nay dường như không đủ khả năng bảo vệ đất nước. Quân đội đang như một đế chế bất khả xâm phạm, với những bất công giữa “giai cấp lính” với “giai cấp sĩ quan”, hệt như những bất công trong xã hội, giữa nhung nhúc người nghèo khổ với đám tư bản đỏ bỏ ra 3 tỷ USD mua nhà ở nước ngoài. Quân đội ấy, từng tự hào đánh tan những kẻ thù khổng lồ, có thể hiệu triệu được lòng dân để chống lại tên khổng lồ Trung Quốc? Liệu niềm tin người dân cho quân đội cũng đang bị cạn kiệt?

Một đất nước suy yếu không phải vì nó là một đất nước nghèo.
Một quốc gia suy yếu là một quốc gia chỉ còn “hèn khí” thay cho “hùng khí”.
Một quốc gia thật sự đi đến thời khắc của tối tăm là khi mà lòng yêu nước bị ném vào chốn lao tù.
Một quốc gia thật sự suy vong là một quốc gia mà lòng yêu nước của người dân bị làm cho ngày một cạn kiệt, bởi những bản án chính trị phi lý dành cho những tấm lòng ái quốc mà chính bản thân nhà cầm quyền còn chưa bao giờ đủ dũng khí để thể hiện cho ra khí phách thể thống một quốc gia.

MẠNH KIM

....../.