Lượt xem trang

Học một câu từ người Nhật




Học một câu từ người Nhật
____________________________________________________
http://boxitvn.blogspot.de/2015/09/hoc-mot-cau-tu-nguoi-nhat.html


***
Tương Lai


Chuyện học thì mênh mông, cách học cũng muôn hình muôn vẻ. Nhưng quan trọng hơn là học cái gì.
[...]
Vậy thì dân mình cần học cái gì nhất ở người Nhật, nước Nhật? Đây là chuyện quá lớn. Xin chỉ được nói về suy ngẫm riêng tư của một người đã có vài lần đến Nhật.
[...]
Trong phạm vi hạn hẹp của một bài viết vắn, xin chỉ tập trung vào một vấn đề:

Phải chăng bản lĩnh người Nhật được đẩy lên đỉnh cao bởi tầm nhìn khai phóng với ánh sáng tỉnh thức, được thể hiện rõ nét trong câu châm ngôn “độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân do Fukuzawa Yukichi, nhà khai sáng Nhật Bản.

Vâng, chỉ một câu.
Với tôi đây chính là câu cần học nhất. Đây là thời đoạn nước Nhật vừa thoát ra khỏi chế độ chuyên chế thời Mạc Phủ với những bước đi canh tân đầu tiên thời Minh Trị.

Theo nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu sắc nhất trong xã hội Nhật Bản cận đại ấy thì một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào ai đó ở “bên trên”.
Phải chăng tầm nhìn của nhà Khai sáng ấy đã góp phần xây đắp bản lĩnh của người Nhật để rồi có đủ sự tỉnh táo và sáng suốt mà dám quên đi mối hận và nỗi đau hai quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hiroshima và Nagasaki để ký Hiệp ước Liên minh Mỹ-Nhật (Hiệp ước San Francisco có hiệu lực từ 28.4.1952).
Họ biết và dám khai thác sức mạnh tài chính và khoa học công nghệ của cựu thù để đủ sức xây dựng lại đất nước từ đống tro tàn của chiến tranh.

Liệu việc ký Hiệp ước San Francisco sau này có khởi nguồn từ tầm nhìn của Fukuzawa mà người ta gọi là “Voltaire của Nhật”? Sẽ hiểu hơn về điều này nếu soi lại tiến trình canh tân của Nhật và việc tiếp thu những thành tựu văn minh phương Tây mà Fukuzawa là người đi tiên phong – người mà khi nghe tin có một phái đoàn sứ giả Nhật sẽ đi Hoa Kỳ, đã đến gặp trưởng đoàn để xin đi.
Chuyến đi năm 1860 ấy cùng chuyến đi châu Âu rồi chuyến đi Mỹ sau đó nữa đã có ảnh hưởng rất lớn đến Fukuzawa để rồi tác động đến cách nhìn, tầm nhìn của giới tinh hoa trong xã hội Nhật thời đó để làm nên sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản.

Trong “Thoát Á luận”, Fukuzawa kêu gọi nước Nhật hãy “tách ra khỏi hàng ngũ các nước châu Á, đuổi kịp và đứng vào hàng ngũ các nước văn minh phương Tây”. Đương nhiên, Fukuzawa không quên chỉ ra: “Văn minh phương Tây đúng là hơn chúng ta, nhưng không có nghĩa là cái gì của nó cũng hoàn hảo. Văn minh phương Tây cũng đầy rẫy khiếm khuyết. Phong tục phương Tây không phải thứ gì cũng hay ho”.

Ông nói rõ, do những khác biệt về văn hoá, một số những yếu tố đặc thù khi ở phương Tây thì hay nhưng khi du nhập vào Nhật Bản có thể chưa phù hợp. Vì thế, phải biết bình tĩnh lựa chọn chứ không phải là “tin tưởng một cách mù quáng văn minh phương Tây”. Để có năng lực lựa chọn “tin cái gì và nghi ngờ cái gì”, Fukuzawa xác định rõ, “kết quả của học vấn chính là ở chỗ nuôi dưỡng năng lực lựa chọn đó”.



Từ một nhận thức như thế, ông không ngần ngại nói lên một sự thật nhằm cổ vũ cho một thái độ thực sự cầu thị để vượt lên khỏi sự tăm tối lạc hậu: “Cũng khi tiếp xúc với người nước ngoài, lắng nghe họ nói, đọc các sách phương Tây và dịch sách mới thấy kiến thức rộng mênh mông nhường nào, lúc đó người ta mới nhận thấy rằng ngay cả chính phủ ma quỷ hay thánh thần gì nữa cũng có thể bị sụp đổ bởi nỗ lực của loài người. Có lẽ đó là lúc mà người điếc và người mù mới vểnh tai và mắt lên để có thể nghe và nhận thấy những âm thanh và màu sắc”.

 
Fukuzawa Yukichi



Chính vì thế, nhà khai sáng Fukuzawa (ảnh bên) kêu gọi giới trí thức Nhật: “Chúng ta không nên tìm cách ngăn cản lại sự lan truyền của nền văn minh ấy. Là những người trí thức, chúng ta hãy góp sức giúp cho sự lan truyền của làn sóng văn minh đó tới toàn dân trong nước để họ thấy được và làm quen với nền văn minh ấy càng sớm càng tốt. Làm được như vậy chính là sự nghiệp của những người trí thức”.

Cần biết thêm rằng, tác phẩm “Khuyến học” viết trong thời gian 1872-1876, được xem là cuốn sách gối đầu giường của người Nhật. Lần phát hành đầu tiên đã là 3,4 triệu bản, dân số Nhật lúc ấy khoảng 35 triệu, nghĩa là cứ khoảng 10 người Nhật có một cuốn sách. Và cuốn “Khuyến học” đã được tái bản liên tục. Chỉ tính từ năm 1942 đến năm 2000, riêng nhà xuất bản Iwanami Bunko tái bản đến 76 lần. Nếu nhớ lại một sự kiện khác: việc dịch và in cuốn “Bàn về tự do” mang ý nghĩa khai sáng của John Stuart Mill cũng vào thời điểm ấy sẽ hiểu thêm về trào lưu canh tân của Nhật bản đã tác động như thế nào đến đời sống tinh thần người Nhật. Phải chăng tinh thần ấy góp phần làm nên “chuyện thần kỳ Nhật Bản” vừa nói? Cuốn sách được viết năm 1859 ở nước Anh thì 1871 Nhật đã dịch và xuất bản với trên 2 triệu bản trên số 35 triệu dân như vừa nói.

Trong “Khuyến học”, Fukuzawa kêu gọi các sĩ phu Nhật Bản làm việc theo phương châm “coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ”, tự tin vào “sức mạnh của chính mình mà không phụ thuộc vào sức mạnh của quyền uy”.

Ông chỉ ra rằng, “nếu quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì lòng yêu nước cũng sẽ hàm hồ và nông cạn”. Điểm nổi bật trong “Khuyến học” là “những bài học về tinh thần độc lập tự cường của người Nhật Bản” mà Fukuzawa xác định đó là “điểm xuất phát của mọi vấn đề”, là “cái quan trọng nhất và phải được coi là phần hồn của văn minh”.

Vì sao? Vì “nếu không có chí khí độc lập, tinh thần độc lập thì mọi hình thái của văn minh chỉ còn là hình thức, hoàn toàn vô dụng”. Fukuzawa quyết liệt cảnh báo: “Giành được quyền tự trị chưa phải đã là độc lập, mà nền độc lập thật sự chỉ có thể thành hiện thực thông qua việc trở thành một quốc gia tiên tiến và văn minh. Nếu không có sự khai sáng và văn minh, nền độc lập giành được sẽ mau chóng mất đi để rồi lại lệ thuộc vào các quốc gia tiên tiến khác”.

Liệu có phải bản lĩnh của người Nhật khởi nguồn từ đó?

Và đó cũng chính là cái cần phải học trước tiên để rồi còn phải học lâu dài khi dân tộc ta đang đối diện với những thách thức trong một thời điểm của những biến động dữ dội và rất khó lường trên con đường hội nhập để phát triển. Nhưng cũng chính vì vậy mà một vận hội mới đang mở ra với những ai có đôi mắt biết nhìn và cái tai biết nghe với một bộ óc minh mẫn.

Kết thúc bài học một câu từ người Nhật trong đầu tôi vụt hiện lên cũng một câu, đúng hơn là một câu đối, trong đoạn kết một truyện ngắn trong “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân qua lời nói của một tử tù vừa “cho chữ” viên quản ngục. Quản ngục này vốn có một đam mê tao nhã là có được một đôi câu đối làm “một vật báu trên đời” bởi chính tay ông Huấn Cao, tức là người tử tù đây, viết cho.

Xin chép ra đây lời người tử tù sau khi viết một câu cho viên quản ngục: “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo môt bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người… Thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ cái thiên lương cho lành vững, và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”.
Quả thật, “giữ được cái thiên lương cho lành vững” không dễ trong một môi trường ô nhiễm khi một số người đang nắm quyền lực cố “tự đánh lừa mình về cái nội dung của chính mình”**. Họ không tìm thấy điểm tựa của họ trong tương lai mà chỉ sống nhờ vào quá khứ nên không chịu để cho “người đã chết chôn cất những người chết của mình” mà cứ “buộc những bóng ma của nó phải lang thang một lần nữa”**.
Chính vì thế, trong tiến trình hội nhập đang có nhiều triển vọng nhưng sự nghiệp chấn hưng đất nước vẫn bị trì kéo do cái não trạng mụ mị vì dục vọng đen tối của thao túng quyền lực được che giấu bằng sự nguỵ biện của ngôn từ về biện chứng của sự ngoan cố đã làm “nhem nhuốc mất cái đời lương thiện”.
Thực chất là biện chứng về sự ngạo mạn của quyền lực vốn là kẻ thù lớn nhất của chân lý. Làm sao dấn bước canh tân khi đầu óc vẫn đặc sệt những cái cổ hủ mà cuộc sống đã vứt bỏ. Chẳng những thế, vẫn cứ cố nhai lại những bài học cũ rích để bám giữ bằng được cái vang bóng một thời đã và đang lụi tàn nhưng vẫn cố đấm ăn xôi. Ác một nỗi xôi lại hẩm!

Tương Lai


........./.

Bài thơ "chống Đảng”



Nhớ một Tết Độc Lập buồn 

và 

30 năm Bài thơ "chống Đảng”



 Ông Hoàng Tuấn Phổ tuổi 80


              Hoàng Tuấn Công





     Mùng Hai Tháng Chín năm Giáp Tý 1984 là một ngày buồn trong một năm buồn của gia đình tôi. Sau gần 20 năm theo Đảng, được Nhà nước tặng thưởngHuân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng BaHuy chương chiến sĩ văn hóa (hai lần), Cha tôi bỗng bị buộc thôi việc, khai trừ Hội tịch, trả về địa phương-nơi cũng chừng ấy năm trước, ông đứng dậy từ vũng lầy thời cuộc. Nhưng lần này trở về làng cũ, trên đầu ông nặng thêm một tội danh-một tội danh tày trời: Tội "chống Đảng” !

Tôi nhớ, bởi chuyện buồn ấy xảy ra đúng vào dịp Tết Độc Lập dân tộc. Chính xác, Cha tôi phải chấp hành Quyết định buộc thôi việc sau Tết Độc Lập một ngày: Ngày 3 tháng 9 năm 1984. Thế là mọi phấp phỏng hy vọng được minh oan của cả nhà tôi kéo dài từ mùa xuân sang mùa hè, đến mùa thu thì chấm dứt. Mẹ tôi tần tảo, sẵn sàng hy sinh, chịu đựng tất cả vì chồng con, nhưng bà không chịu nổi những lời dị nghị của làng xóm. Khi ấy tôi đã 14-15 tuổi nên cũng hiểu mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Tội "chống Đảng" lớn lắm, nhục nhã lắm ! Nó đồng nghĩa với tội Việt gian phản động ! Hai đứa em tôi bé nhỏ chưa hiểu gì, nhưng thấy bố mẹ, các anh buồn, chúng cũng buồn lây. 
Thông thường, Mùng Hai Tháng Chín hàng năm, xóm làng tôi vui như Tết. Trẻ con vui đùa, thanh niên cắm trại, tổ chức chơi trò "Hái hoa Dân chủ". Và bao giờ làng cũng có một tiết mục đặc biệt được già trẻ, gái trai chờ đợi là "màn" mổ lợn ăn mừng Tết Độc Lập. Tôi thường sốt sắng với nhiệm vụ đi nhận phần thịt cho nhà mình. Ở làng có mấy ông chuyên chia thịt và chia rất khéo. Thật khó có thể chọn ra một phần thịt nào nhiều hơn, ngon hơn. Phần nào cũng như phần nào, thịt, xương, mỡ, nạc...có đủ cả trong từng khóm. Nhà ai cũng có một phần khá tươm tất. Mấy tháng mới được bữa cơm thịt no nê, bọn trẻ con chúng tôi vui đến mức cứ tưởng ngày này trên thế gian ai ai cũng được sung sướng như mình ! Nhưng năm ấy, nhà tôi không có Tết Độc Lập. Và lần đầu tiên trong đời tôi nhận thấy lẽ công bằng thật không đơn giản...
Đồng thời với kỷ luật buộc thôi việc, đề nghị đình bản tiểu thuyết lịch sử "Mai vàng chùa Tháp" ở NXB Thanh Niên, Hội văn nghệ Thanh Hóa tuyên bố đã gửi công văn đi các cơ quan, tạp chí đề nghị không xuất bản sách và in bài của kẻ "chống Đảng" Hoàng Tuấn Phổ. Thế là, cánh cửa mà Đảng từng mở ra con đường chữ nghĩa cho Cha tôi, nay lại bị đóng sập lại. Trước khi đi "thoát ly", Cha tôi từng cổ cày vai bừa ở quê. Nhưng lần này trở về, dù nặng gánh trên vai, Mẹ tôi không muốn ông lại tiếp tục công việc đồng áng... Cha tôi cũng quyết định bỏ bút, cầm dao cầu làm nghề thuốc, châm cứu chữa bệnh. Nhà tôi trở thành cái xưởng bào chế thuốc nho nhỏ. Phần chúng tôi, chỉ còn biết cố gắng ngoan ngoãn học hành để cha mẹ vơi đi nỗi buồn. 
Vậy mà bể dâu thoáng chốc đã 30 năm tròn ! 
Chắc bạn đọc không khỏi thắc mắc, muốn biết Cha tôi “chống Đảng” như thế nào? Vâng, ông “chống” bằng một bài thơ Thất ngôn bát cú ! Nghĩa là ông tham gia cuộc thi“Xướng họa thơ vui, năm Tý nói chuyện chuột” do báo Đảng Thanh Hóa mời. Nói cách khác, "chống Đảng" theo lời mời của "Đảng". Thơ ông “Họa” lại bài “Xướng” của ông Hà Khang và Mai Bình-Chủ tịch Hội văn nghệ Thanh Hóa. Tôi nhớ như in hai bài thơ này:
Bài “Xướng” do ông Mai Bình chấp bút:
Năm Tý về đây nhắc chuyện đời
Không coi chừng chuột, chuột sinh sôi !
Chùm nem sơ hở con chù vọc
Đĩa chả thờ ơ lũ cống lôi !
Lạ nhỉ ? chơi không toan gọn lốm,
Ở kìa ! ngồi rỗi chực ngon xơi !
Hẹn nhau sắm bả phòng năm chuột
Hễ chúng bò ra giết tiệt nòi !
Bài “Họa” của Cao Đăng (Cha tôi-Hoàng Tuấn Phổ):
Giống chuột làm sao vẫn sống đời ?
Con đàn cháu lũ cứ sinh sôi !
Đồ ăn bè cánh chia phần nhậu,
Của để tớ thầy hợp sức lôi !
Tiếc lọ chê ai đành chuột phá,
Hoài cơm trách bạn để mèo xơi !
Triệt đường ẩn nấp hang cùng hốc,
Cống lỗ chi chi cũng hết nòi !


Đọc xong chắc có độc giả phì cười mà bảo rằng: chúng tôi chỉ thấy đây là bài thơ “chống chuột” chứ làm gì có chỗ nào “chống Đảng” nhỉ ? Đúng vậy, thưa bạn đọc yêu mến ! Đây là bài thơ vui "chống ông Tý”, “nói chuyện chuột” 100% (như chủ đề cuộc thi“Xướng họa thơ vui năm Tý nói chuyện chuột” đã đề ra)
          Này nhé: Giống chuột hại, đục khoét từ thượng cổ đến giờ. Thời nào con người cũng tìm cách diệt chuột, và diệt được khá nhiều. Vậy mà chúng “vẫn sống đời”“Con đàn cháu lũ cứ sinh sôi”. Vì sao ? Vì giống này rất mắn đẻ và cực tinh quái trong cuộc chiến sinh tồn. Chúng hay rúc rích kéo nhau đi ăn. Thứ cùng đánh chén tại trận, thứ hợp sức lôi về hang dùng dần. Khó mà bẫy bắt được chúng. Người xưa có câu “Ném chuột sợ vỡ bình quý” nên đôi khi chuột nhờ cơ hội đó mà sống sót. Nhiều con mèo được nuôi để bắt chuột, nhưng chỉ giỏi ỉa bếp, để chuột ngang nhiên hành hoành, quả là “hoài cơm”,đáng trách. Bài “Xướng” của Mai Bình đề xuất: “Hẹn nhau sắm bả phòng năm Chuột, Hễ chúng bò ra giết tiệt nòi”. Nhưng giống chuột đa nghi có khả năng "xuất quỷ, nhập thần", "thiên biến vạn hóa". Chấp nhận cho chúng tồn tại trong hang hốc là cách đánh chuột nửa vời và thụ động. Cao Đăng đề xuất biện pháp đánh chuột của dân gian, triệt để, quyết liệt hơn: “Triệt đường ẩn nấp hang cùng hốc, Cống lỗ chi chi cũng hết nòi”. Nghĩa là đánh vào tận sào huyệt giống đục khoét ! Lại chủ trương diệt cả chuột cống, chuột lỗ-loại chuột kếch xù mà họ nhà mèo không dám đụng đến. Rồi chuột nhắt, "chi chi" chuột...hễ đục khoét, ăn hại đều diệt hết !
Tôi dù ở tuổi thiếu niên cũng đã đủ khôn để cảm nhận đây là bài thơ hay, nghĩa bóng chống lại những tiêu cực thời nào cũng có. Mẹ tôi là nông dân chất phác, dù lòng đang nặng trĩu nỗi buồn, khi nghe bài thơ "chống Đảng" của Cha tôi cũng phải tủm tỉm cười khen...hay, và nói: “Tôi chả thấy ông chống Đảng ở chỗ mô cả !” Có lẽ cuối cùng dù Cha tôi không thoát được tội tày đình, nhưng tự lòng Mẹ tôi đã cảm thấy vô tội và thanh thản. 
Nhà tôi tuy nghèo nhưng từ nhỏ chúng tôi được bố mẹ cho ăn học, giáo dục tử tế. Cha tôi luôn nhắc nhở con cái: “Nhà ta được như ngày nay là nhờ có Đảng, các con phải cố gắng học hành, phấn đấu, đi bằng chính đôi chân của mình, sống có ích cho gia đình, xã hội”. Tôi biết rõ Cha tôi là người thế nào. Tôi không tin ông chống lại những chủ trương mà thường ngày tôi vẫn nghe ông ca ngợi là đúng đắn và tiến bộ.
Thế nhưng “có người” đại diện cho Đảng lại động lòng, tự thấy mình trong bài thơ "chống chuột" và cho rằng “nó” đang “chống” mình ! Họ phân tích như sau: “Con đàn cháu lũ” ở đây ý chỉ “con ông cháu cha” đời nối đời hưởng đặc quyền đặc lợi. “Đồ ăn bè cánh chia phần nhậu, Của để tớ thầy hợp sức lôi” ám chỉ chuyện vây bè, kéo cánh, ăn cắp của công, tham ô, hối lộ, móc ngoặc với nhau. Của ít chia nhau ăn, của nhiều hợp sức lôi về nhà làm giàu. Không thể chấp nhận được ! Chế độ này là khối "đại đoàn kết", chỉ có quan hệ “đồng chí” "đồng nghiệp", tại sao lại có từ “bè cánh”, “tớ thầy” ở đây ? Cao Đăng nói “Tiếc lọ”, thì “lọ” cũng là “bình”. Mà “bình” không phải “Mai Bình” còn ai vào đây ? Hóa ra, cấp trên vì nương tay với “Bình” nên không chống tiêu cực ? Thật quá "thâm ý" ! “Hoài cơm trách bạn để mèo xơi”, “mèo” đây đích thị là những người nắm pháp luật rồi ! Dám nói họ là “hoài cơm” sao ? Lại còn định “Triệt đường ẩn nấp hang cùng hốc, Cống lỗ chi chi cũng hết nòi !” Cao Đăng muốn “diệt” tận gốc, từ “ông to” đến “ông nhỏ” kia ư ? (đoạn này tôi nhớ lại theo lời kể của Cha tôi sau mỗi tuần trở về nhà với gương mặt mệt mỏi, thất vọng...)
Thế là họa lớn ! Chín tháng trời ròng rã, Cha tôi chỉ làm mỗi công việc trần tình, kiểm điểm, mất ăn mất ngủ... Rốt cuộc ông vẫn không thể nào thanh minh được. Đúng là:"Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây" !
Năm Mậu Tý 2008, ông Khương Bá Tuân-nguyên PGĐ Sở NN và PTNT Thanh Hóa hỏi tôi: “Cậu còn nhớ bài thơ xướng họa “Năm Tý nói chuyện Chuột” của ông Phổ không? Thỉnh thoảng các cụ trong câu lạc bộ Hàm Rồng có hỏi. Mình thì chỉ nghe nói chứ cũng đã được đọc đâu. Nếu cậu còn nhớ chép lại cho mình một bản làm kỷ niệm”Tôi trả lời: “Cháu nhớ. Mậu Tý năm nay là 24 năm bài thơ họa năm Tý nói chuyện chuột. Cháu có nói với Bố cháu nhân đây nên kể lại sự việc để mọi người hiểu. Nhưng ông Cụ bảo, “Thôi, chuyện đã qua rồi...Mình nhắc lại người ta lại hiểu lầm là gợi chuyện cũ...” 
Tôi hiểu. Sau nhiều tai bay vạ gió từ thời Cải cách ruộng đất và Đấu tranh chính trị, Cha tôi giống như con chim sợ làn cây cong vậy. (Xem thêm) Thế nên ông mới viết:"Sờ râu lão Tý tay còn nhớp, Chạm vía cụ Mèo mạng suýt toi !"
Ngày Tết Độc Lập 2014 năm nay khiến tôi lại nhớ về ngày buồn cách đây đúng 30 năm trước. Lần này ông Cụ đã đồng ý cho Tuấn Công thư phòng công bố Bản trần tình“Có hay không có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hoá ?” từng đọc tại Đại hội Văn nghệ Thanh Hóa cách đây 25 năm về trước, sau khi ông được phục hồi công tác. Xin trích đăng để bạn đọc hiểu rõ thêm câu chuyện nhỏ của gia đình tôi trong muôn vàn câu chuyện lớn khổ đau của "Biển cả đời người":

////////////////




Có hay không có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hoá ?



(Bài phát biểu của Hoàng Tuấn Phổ đã trình bày tại Đại hội văn học nghệ thuật Thanh Hoá lần thứ III vào lúc 2 giờ chiều ngày khai mạc 22/5/1989 tại hội trường tỉnh 25B)

"Thưa ông Bí thư tỉnh uỷ Lê Huy Ngọ
Thưa Ban thường vụ Tỉnh uỷ và các đại biểu,
Thưa Đại hội
          ...Theo sự khẳng định của Ban thường trực Hội do Ô. Mai Bình làm Chủ tịch, có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hoá và Hoàng Tuấn Phổ là một hạt nhân, một thành viên của tổ chức ấy.




Bút tích một số trang của bản Điều trần







Dịp Tết Giáp Tý (1984) báo Thanh Hoá phối hợp với các cơ quan Sở văn hoá-thông tin, Đài phát thanh tỉnh, Hội văn nghệ mở cuộc thi hoạ thơ vui với tiêu đề “Năm Tý nói chuyện chuột”. Bài xướng do Mai Bình chấp bút (nghe nói bài này chẳng những đã thông qua Ban thường vụ tỉnh uỷ mà còn được ông Bí thư Tỉnh uỷ Hà Trọng Hoà phê duyệt) và báo Thanh Hoá mời tôi tham gia, sau đó đã đăng bài hoạ của tôi ký tên Cao Đăng. Số báo này vừa mới phát hành, bản thân tác giả chưa được nhìn thấy bài mình in ấn ra sao đã bị Ban thường trực Hội gọi bảo: bài thơ hoạ của Cao Đăng, theo các đồng chí lãnh đạo cấp trên, sai lầm về quan điểm. Tôi hỏi: sai lầm về những “điểm” gì, xin chỉ rõ, thì không được giải đáp cụ thể. Rồi chẳng hiểu căn cứ vào đâu: Bài thơ hoạ của Cao Đăng bị qui là có tư tưởng chống Đảng vào người ta tiến hành khá khẩn trương, gay gắt và kiên quyết một số biện pháp như hội họp lãnh đạo để phân tích phê phán bài thơ, bắt tác giả phải viết tự kiểm điểm, gây dư luận quần chúng phản đối tác giả, vận động cán bộ, nhân dân, văn nghệ sĩ trong tỉnh gửi kiến nghị lên án tác giả và viết bài gửi tới Báo Thanh Hóa phê phán bài thơ, rồi về địa phương tác giả lập hồ sơ bịa tạc,v.v...nhằm tạo ra một vụ án văn học(1). Ông Mai Bình, Chủ tịch Hội cho biết: “Đáng lẽ Sở công an Thanh Hóa và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh khởi tố vụ án này, nhưng Ban thường trực Hội xin để Hội giải quyết nội bộ. Vậy thái độ của tác giả phải hết sức thành khẩn”. Tôi nói: “Tôi không thấy mình mắc sai lầm ở chỗ nào” Ông Hà Khang phó Chủ tịch Hội, gợi ý: “Kiểm điểm theo dư luận của cán bộ và nhân dân phê phán nội dung tư tưởng xấu của bài thơ”. Tôi nói:“Dư luận thì không phải cái gì cũng đúng. Có người bảo tôi đả kích ông này ông nọ, nhưng cũng có người cho rằng: không có “xướng” thì sao có “họa”,v.v...tôi biết theo “dư luận” nào ?" Ông Vương Anh, phó chủ tịch Hội (Ủy viên chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam) bắt tôi phải thú nhận theo tinh thần một bài viết dưới mục “Ý kiến bạn đọc”trên báo Thanh Hóa phê phán thơ họa của Cao Đăng là xuyên tạc sự thật, nói xấu chế độ. Bài này ký tên Phạm Trung Thực (Thị xã Thanh Hóa). Ông Vương Anh nhấn mạnh là bài của “ông to” cấp trên viết (thực ra do ông Vương Anh viết). Tôi nói: “Nếu là “ông to” cấp trên thì bài viết phải ghi rõ họ tên thật và chức vụ thì tôi mới chấp hành nghiêm túc kiểm điểm, còn như người viết dù “to”cỡ nào, ở “cấp” nào mà lại nhân danh “bạn đọc” thì trên nguyên tắc thông thường bạn đọc có quyền khen, chê, và tác giả được quyền tiếp thu hay không tiếp thu”. Nhưng ông Vương Anh vẫn không cho biết rõ Phạm Trung Thực là ai và vẫn nhắc lại rằng tôi phải kiểm điểm theo hướng đó. Ông Vương Anh nói thêm với tôi và một số anh em văn nghệ như Trọng Miễn, Đào Phụng, Xuân Quảng, Nguyễn Ngọc Quế và nhiều chị em khác rằng: trong cuộc họp Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập lãnh đạo Hội văn nghệ để bàn xét về vấn đề thơ chống Đảng, ông Vương Anh liếc nhìn vào sổ tay ông Lê Xuân Sang (Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy) và ông Quách Lê Thanh (Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy) đều thấy cùng ghi một dòng chữ: “Hoàng Tuấn Phổ chống Đảng”. Điều này không biết có thực hay không, nhưng chẳng riêng gì tôi mà các anh em khác cũng đều hết sức hoang mang lo sợ. Mặc dù vậy, tôi vẫn không thể làm vừa lòng Ban thường trực Hội nói chung và ông Phạm Trung Thực nói riêng vì không hề nhận ra mình đã mắc những sai phạm chính trị trong bài thơ họa ký tên Cao Đăng. Sau những cuộc kiểm điểm liên miên ngày này qua tháng khác, Ban thường trực Hội kết luận tôi là “thái độ kiểm điểm không thành khẩn kéo dài” (9 tháng).



Cũng trong thời gian này, anh Minh Hiệu (Nhà thơ) có 8 bài thơ, Ban thường trực Hội coi như là “8 phát súng đại bác” nã vào Tỉnh ủy. Ông Vương Anh nói: trong khi ông Minh Hiệu tấn công trực diện vào Đảng thì Hoàng Tuấn Phổ gián tiếp đả kích những cán bộ lãnh đạo của Đảng. Anh Xuân Hùng vẽ bức tranh “Chuẩn bị thóc nhập kho”, vì góc bức tranh có vẽ một cây rơm, chung quanh có mấy em bé đang đùa chơi, ông Mai Bình và Ban thường trực Hội bảo là “cây rơm to hơn đống thóc tức là mất mùa thì lấy thóc đâu nhập kho? Phải chăng tác giả ẩn ý rằng thành tích nông nghiệp của ta chỉ là giả tạo ?” (Trong thực tế, dù được mùa lớn, rơm vẫn nhiều hơn thóc !) Bức tranh vẽ một đàn ngựa của anh Đỗ Chung, bị ông Mai Bình lộn ngược dưới lên để xem và nhận xét là tác giả vẽ toàn là các bộ phận kín của phụ nữ ! Cũng một bức tranh khác của Đỗ Chung, ông Vương Anh bảo:“Cái mặt trời tím mọc trên cánh đồng lúa là con số không, ý tác giả muốn nói “nền nông nghiệp nước ta chỉ là con số không !”. Còn nhiều trường hợp nữa tôi không tiện dẫn hết ra đây.
Cứ cái kiểu suy diễn, phán xét nguy hiểm đó, trong công việc đọc duyệt tác phẩm, các ông Mai  Bình, Hà Khang, Vương Anh đã dần dần hệ thống hóa các tác phẩm, quy tụ các hiện tượng để tiến tới khẳng định ở Thanh Hóa có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng. Ông Mai Bình thay mặt Ban thường trực Hội bảo tôi: “Cho dù anh có phải nhận hình thức kỷ luật ra khỏi cơ quan văn phòng Hội thì anh cũng phải khai ra những kẻ cùng hội cùng thuyền để giúp Đảng lãnh đạo phong trào văn nghệ tỉnh nhà được tốt”.
Sáng 27/5/1984, tại phòng ông Trần Kháng (Trưởng ban hành chính trị sự của Hội) ông Hà Khang thay mặt Ban thường trực Hội yêu cầu tôi phải trả lời những câu hỏi:
          1.Tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hóa gồm những ai, do ai cầm đầu ?
          2.Tổ chức này đã có nhiều cuộc tọa đàm, vậy anh đã dự những cuộc tọa đàm nào, các anh đã bàn bạc hoặc tiến hành những vấn đề, những công việc gì ?
          Tôi hỏi lại ông Hà Khang:
          1.Ban Thường trực Hội căn cứ vào đâu để khẳng định tôi có tham gia tổ chức Văn nghệ sĩ chống Đảng ?
          2. Ban Thường trực Hội hiểu thế nào về chữ “tọa đàm” ? Nếu tọa đàm là những cuộc trà lá mấy anh em văn nghệ ngồi tán gẫu về văn chương thì thường xuyên có và chẳng có gì là chống Đảng cả. Còn như về một tổ chức nào đó có hoạt động chống Đảng thì tôi không hề biết. Và, nếu Ban thường trực Hội đã biết chắc có những cuộc tọa đàm như ông (Hà Khang) nói thì xin ông dẫn ra cụ thể.
        

Ông Hà Khang ngồi im lặng một lát rồi nói:“Chỉ thị của lãnh đạo cấp trên là Ban thường trực Hội phải làm sáng tỏ vấn đề chống Đảng của một số văn nghệ sĩ trong tỉnh. Vậy anh phải viết ngay bản tường trình về tất cả những gì anh biết về tổ chức này, về những cuộc tọa đàm mà anh được dự !”
          Tôi nói “tôi không biết gì về những điều Ban thường trực Hội cần biết, do đó tôi không thể làm bản tường trình được”.
          Ông Hà Khang liền nói: “Đây là chỉ thị của cấp trên, là lệnh của đồng chí lãnh đạo cao nhất, anh phải chấp hành nghiêm túc. Ngày mai anh phải xong bản tường trình gửi Ban thường trực Hội”. Nói xong, ông Hà Khang đứng dậy chấm dứt buổi làm việc, không cho tôi trình bày hay hỏi han gì hơn.
          Chấp hành lệnh của lãnh đạo, tôi phải viết bản tường trình cũng chỉ là nhắc lại những điều tôi đã nói ở trên (có đi sâu chi tiết hơn) vì không biết nói gì khác. Tôi đề nghị Ban thường trực Hội công bố bản kiểm điểm của tôi ngày 28/5/1984 vấn đề sẽ được chứng minh cụ thể. Sau đó, tôi được biết, trong khi ông Hà Khang thẩm vấn tôi ở Văn phòng Hội thì ông Mai Bình gọi anh Xuân Quảng (họa sĩ công tác cơ quan văn phòng Hội) tới Sở văn hóa-thông tin (Vì ông Mai Bình là Phó giám đốc Sở kiêm Chủ tịch Hội) để tra hỏi cũng với nội dung vấn đề như ông Hà Khang hỏi tôi. Ông Mai Bình còn bịa ra là Hoàng Tuấn Phổ đã thú nhận và khai báo hết cả rồi, và dọa là nếu Xuân Quảng không thành khẩn sẽ chịu kỷ luật nặng hơn.
Cũng trong những ngày này, ông Mai Bình báo cáo đề nghị sở Công an Thanh Hóa về địa phương tôi lấy hồ sơ lí lịch theo hướng đem vụ việc chống Đảng ở địa phương kết hợp cùng ông Giá Tổng biên tập báo Thanh Hóa tố cáo tôi 3 đời chống Đảng v.v...(Vấn đề này còn liên can tới nhiều đối tượng khác, tuy ở mức độ và hình thức không giống nhau như trường hợp buộc anh Phạm Văn Sĩ cán bộ Biên tập NXB Thanh Hóa phải chuyển công tác đi xa, nếu không thì phải thôi việc, trường hợp cô Út ở phòng lưu trữ UBND tỉnh phải chuyển công tác về thị ủy Thanh Hóa, vì cô Út có chồng là anh thương binh Lê Viết Khảm, khen thơ họa của Cao Đăng, v.v...)
Sang tháng 6 năm 1984, tôi còn phải viết đi, viết lại nhiều lần các bản tường trình, kiểm điểm xoay quanh vấn đề trên vì vẫn liên tục bị các ông trong Ban thường trực Hội luân phiên gọi lên thẩm vấn, gợi ý, khuyên bảo. Đầu tháng 8 năm 1984, có lẽ xét thấy không thể khai thác được gì ở tôi như ý lãnh đạo mong muốn và vấn đề thơ họa Cao Đăng cũng không nên để dư luận kéo quá dài, ông Mai Bình gọi tôi, nói: “Hội đồng kỷ luật sắp họp, anh không tránh khỏi kỷ luật, chỉ còn ở mức độ kỷ luật có thể nặng hay nhẹ. Nhưng trước khi nhận kỷ luật, anh có muốn lên gặp lãnh đạo cấp trên như bác Hà Trọng Hòa, bác Tống Xuân Nhuận để trình bày những điều anh không muốn nói với chúng tôi thì để chúng tôi bố trí anh lên gặp ?” Tôi đáp: “Hiện tại, tôi không có gì khác ngoài những điều tôi đã viết trong các bản kiểm điểm để trình bày với lãnh đạo cấp trên.” Ông Mai Bình lại hỏi: “Thế anh có suy nghĩ gì về vấn đề kỷ luật ?” Tôi trả lời: “Tôi chỉ nghĩ là tôi không có tội lỗi gì. Nếu như có sai lầm thì tôi chỉ sai lầm ở chỗ đã tham gia vào việc xướng họa thơ.” Rồi tôi đề nghị đưa vấn đề ra trước một cuộc hội thảo văn học của anh em văn nghệ Thanh Hóa, nhưng ông Mai Bình không chấp nhận. Rốt cuộc, tôi vẫn bị Ban thường trực Hội qui kết là một hạt nhân, một thành viên của tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng. Kết luận này cũng được một số nhà lãnh đạo cấp tỉnh đồng tình, nhất trí, ở đây tôi thấy không cần thiết nêu rõ họ tên, chức tước (4). Cho đến nay, tôi vẫn không thể tự giải thích nổi tại sao Ban thường trực Hội lại bịa đặt cái chuyên tày trời đó, và bịa đặt ra nhằm mục đích gì ? Có đúng là Ban thường trực Hội chỉ làm cái việc vâng lệnh lãnh đạo cấp trên và lãnh đạo cấp trên là những ai, lãnh đạo cao nhất là ai ? Tại sao các nhà lãnh đạo của Đảng bộ Thanh Hóa lại nhằm tiêu diệt hoặc đánh vào những người cầm bút ở địa phương mình ? Hay là có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hóa thật ? Mặc dù Đảng ta đã có chính sách mới, văn nghệ sĩ được tuyên bố là được “cởi trói” tôi vẫn không thể yên tâm vì chắc là những bản báo cáo mật của Ban thường trực Hội, của một số cá nhân ố nhân thắng kỷ, những chỉ thị, những lệnh riêng của Tỉnh ủy và có thể là cả hồ sơ vụ án văn nghệ sĩ Thanh Hóa chống Đảng, đang lưu trữ tại một chỗ nào đó, rồi biết đâu, khi có cơ hội, kẻ xấu bụng, ác ý hay chính các ông Mai Bình, Hà Khang, Vương Anh lại khui ra thì sao ? Vì vậy, tôi đề nghị Đại hội buộc Ban thường trực Hội (khóa II) phải:
1.Công bố toàn bộ hồ sơ về vụ án văn nghệ sĩ Thanh Hóa chống Đảng mà các ông soạn thảo bí mật.
2.Nói rõ, các ông tiến hành âm mưu này xuất phát từ đâu, nhằm mục đích gì?
3.Về việc xử lý oan cho cán bộ và việc vu khống anh em văn nghệ sĩ chống Đảng phải được minh oan, phải được giải quyết theo luật lệ hiện hành, và về phía Ban thường trực Hội từng người phải nhận kỷ luật thích đáng.
          Thưa...

Thanh Hóa trong lịch sử đã xảy ra một số vụ án văn chương, có vụ, án xử tới tử hình. Để phòng ngừa cái tai họa văn chương, tôi nghĩ chúng ta nên nhớ lại lời dạy của Lê-nin. Trong sách “Lê-nin bàn về văn học nghệ thuật” (NXB Sự thật-1960) có in bài báo nổi tiếng: “Tổ chức Đảng và văn học có tính Đảng” Lê-nin viết: “Mỗi người đều có tự do viết tất cả những điều họ muốn viết và nói tất cả những điều họ muốn nói, không một chút hạn chế nào. Nhưng như vậy thì mỗi đoàn thể tự nguyện, tự giác (trong số đó kể cả Đảng) cũng đều được tự do đuổi cổ những phần tử lợi dụng chiêu bài Đảng để cổ vũ những quan điểm trái ngược với Đảng” Lời dạy sáng suốt và công bằng đó của Lê-nin cần được áp dụng với tất cả những kẻ “lợi dụng chiêu bài Đảng” để thực hiện những mưu đồ thâm hiểm, xấu xa, thấp hèn của chúng.
Và, tôi đề nghị Điều lệ của Hội ta nên đề cập cụ thể vấn đề này./.


                    Ngày 22 tháng 5 năm 1989
                                 
                       
Chú thích:
          -Vì không có đủ cơ sở lý luận buộc tội tôi về bài thơ họa, Ban thường trực Hội bịa đặt cho tôi một số khuyết điểm về ý thức tổ chức để thi hành kỷ luật: đuổi ra khỏi cơ quan Nhà nước và khai trừ khỏi Hội (/9/1984). Ngày 8/11/1988 Hội nghị toàn thể hội viên Hội văn nghệ Thanh Hóa đã quyết định phục hồi Hội tịch cho tôi, nhưng còn vấn đề xử lý kỷ luật sai về tổ chức cán bộ đến nay vẫn chưa được giải quyết (sửa sai) do sự cố ý chống lại của Mai Bình và Vương Anh đối với tôi.
          -Theo nguồn tin đáng tin cậy, nếu Hà Trong Hòa giữ vững ghế Bí thư Tỉnh ủy thêm 6 tháng nữa, tôi và một số người nữa sẽ bị ghép vào vụ án chính trị Lường Mạnh Hòa (con trai Lường Mạnh Huân đã bị chính quyền cách mạng xử tử hình)
          -Bài phát biểu này được Đại hội vỗ tay hưởng ứng nhiệt liệt, nhưng do thời gian hạn chế của Đại hội, vấn đề tôi nêu ra không có điều kiện giải quyết kịp thời..."
*Phần chú thích này không có trong bản trình bày trước Đại hội".

(Hết trích nội dung điều trần trước Đại hội của Hoàng Tuấn Phổ)



          Vài lời nói thêm:
Bây giờ, làng tôi không còn mổ lợn chia thịt ăn mừng Mùng Hai Tháng Chín như ngày trước nữa. Bọn trẻ con cũng chẳng có được cảm giác vui sướng đón Tết Độc Lập bằng một bữa cơm thịt no nê như chúng tôi thuở nào. Tuy nhiên, tôi vẫn nhớ ngày xưa mỗi lần đứng xem chia thịt, sốt ruột chờ lấy phần, tôi thường nghĩ về câu chuyện đọc lỏm được trong sách của Cha tôi, và thú vị với ý nghĩ, trong đám đông chỉ mình tôi biết: Bên Tàu có ông Trần Bình chia thịt cho làng rất đều, các bô lão đều khen ngợi. Trần Bình đáp: "Ngày sau Bình này mà được làm Thừa tướng thì cũng khéo như việc chia thịt hôm nay vậy". Quả nhiên, sau này Trần Bình trở thành Thừa tướng nổi tiếng đời Hán Lưu Bang. Vậy mà mấy người chia thịt ở làng tôi họ không hề biết rằng mình rất giỏi và cái nghề chia thịt của họ đã từng được nhắc đến trong sử sách nước Tàu ! Lớn lên tôi mới hiểu, ông Trần Bình vốn là người có trí tuệ siêu phàm, dường như sinh ra để làm Thừa tướng. Bởi vậy có thể nói ông là một Thừa tướng đi chia thịt, khác với những Kẻ chia thịt làm Thừa tướng trên đời !








Trở lại với câu chuyện Một Tết Độc Lập buồn của gia đình tôi.
Đ/c Hà Trọng Hòa-Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, sau đó đã bị kỷ luật Đảng. Cha tôi-Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ sau khi được phục hồi công tác, ở tại Khu tập thể Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa. Các ông Mai Bình, Vương Anh thỉnh thoảng vẫn lui tới gặp gỡ, trò chuyện. Khi triển khai Dự án khôi phục Lam Kinh, ông Mai Bình không đồng ý với một số phương án, tuy nhiên chưa có dịp trình bày. Trước khi mất ông Mai Bình có giao lại văn bản và nhờ Hoàng Tuấn Phổ sau này có điều kiện thì công bố (hiện HTP còn giữ).
         

Ba mươi năm trôi qua, nhiều kẻ đã "ra đi", nhưng cũng không ít người còn "ở lại". Thuở"Đánh chuột vỡ bình, thơ sứt trán", Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ mới ở độ tuổi 50, nay đã thành Ông Lão Tám Mươi. Hàng ngày ông vẫn miệt mài dồn tâm huyết cho công trình "Tinh hoa văn hóa xứ Thanh". Quan điểm của ông là oán thù nên cởi chứ không nên buộc. Tuy nhiên, những câu chuyện cũ như thế này người ta lại không được phép quên. Bởi đó là một phần của lịch sử và cũng là một trong những bài học đắt giá của quá khứ. Đây chính là lý do Tuấn Công Thư Phòng nhớ lại "Ngày này năm xưa". 


Hoàng Tuấn Công/Ngày nghỉ Tết Độc Lập/2014



.........../.