Lượt xem trang

Một bài học cho nghề văn




Một bài học cho nghề văn



VƯƠNG TRÍ NHÀN

 

Đến Vườn quốc gia Côn Đảo, tôi gặp một bản hướng dẫn, mà ngay từ câu đầu Những điều thú vị ở trong rừng không chỉ dừng ở những điều bạn thấy/ Hãy dành một chút thời gian đọc các biển chỉ dẫn khi đi trên tuyến đường đã khiến người ta không bỏ qua.

Tại sao tôi nói vậy?

Thông thường đọc các bản nội quy hướng dẫn loại này, sau các câu khoe khoang về tầm quan trọng của cơ quan chủ quản, chỉ thấy những lệnh cấm thế nọ thế kia.
Đằng này bản hướng dẫn như đang nói chuyện với tôi khuyên tôi là đã đến đây làm sao có được những thu hoạch đáng giá.
Mà ở đoạn dưới, người ta đưa ra những lời khuyên thú vị thật.
Đoạn viết về dây leo cũng như đoạn về những chú kiến chẳng hạn. Tôi cảm thấy được một bài học về tinh thần nhân bản. Hãy chú ý cả tới những thân phận cỏ nội hoa hèn. Nhưng không phải là từ cao nhìn xuống thương hại họ. Mà hãy nói đóng góp của những thân phận bèo bọt ấy cho cuộc đời.

Đoạn viết về tiếng chim trong rừng như là những vần thơ.
Cũng như thế là câu cuối cùng, không lấy gì ngoài những tấm hình, không để lại gì ngoài những dấu chân.

Tôi "dán" lại ra đây cả bản hướng dẫn mà tôi coi là một bài học cho nghề văn. Chúng tôi phải viết sao để bạn đọc không thể xì một tiếng rồi bỏ đi. Viết sao để bạn đọc cảm thấy được tôn trọng đồng thời lại có thể mang tới những điều cần yếu cho họ.
   
Những đoạn gạch dưới nhấn mạnh đều là của VTN

1/ Những điều thú vị ở trong rừng không chỉ dừng ở những điều bạn thấy/
Hãy dành một chút thời gian đọc các biển chỉ dẫn khi đi trên tuyến đường


2/ Tổ mối
Nếu không có những con mối này thì rừng sẽ ra sao?
Mối chính là nhà máy phân hủy rác trong rừng. Những nhà máy này không để lại bất cứ thứ rác gì của rừng. Nếu một cây rừng đổ xuống, những con mối này sẽ tiến hành phân hủy cây làm thức ăn. Bằng cách đó chúng giúp vệ sinh rừng và hoàn trả lại đất chất dinh dưỡng từ cây chết. Nhờ đó mà đất rừng luôn mầu mỡ cho các thế hệ cây non mới mọc

3/ Tiếng chim
Hãy dành một chút thời gian để lắng nghe tiếng chim rừng quanh bạn.
Có bao nhiêu tiếng chim đang gọi nhau?
Tùy từng thời điểm trong ngày mà bạn có thể nghe được tiếng hót của những loài chim khác nhau. Thời gian tốt nhất để nghe những âm thanh này là ngay sau khi bình minh hoặc chiều muộn. Tiếng hót của các loài chim là để thông báo về lãnh thổ của chúng hoặc gọi bạn kết đôi.
Hãy thử bắt chước tiếng của một loài chim và lắng nghe chúng đáp lại !

4/ Dây leo
Đây là những loài thực vật thông minh trong rừng. Để có được ánh sáng mặt trời tổng hợp chất hữu cơ, chúng sử dụng những cây khác làm bàn đạp vươn lên cao mà không tốn một chút công sức nào. Chúng cuốn quanh các thân cây khác và dễ dàng tìm lên tận đỉnh cao của khu rừng
bắng con đường nhanh nhất.

5/Những con kiến
Hãy nhìn xung quanh dưới chân bạn có thể bắt gặp những con kiến.
Chúng đang làm gì thế?
Đây là những công nhân chăm chỉ nhất trong rừng, chúng luôn bận rộn tìm thức ăn, bảo vệ, chăm sóc đàn con và phục vụ kiến chúa. Kiến giúp vận chuyển chất hữu cơ và dinh dưỡng trong đất, diệt côn trùng. Ngoài ra chúng còn tham gia vào việc phát tán hạt, thụ phấn hoa và là thức
ăn của nhiều loài động vật khác


Tổng quan

Cây là bạn của chúng ta, không nên bẻ cành, hái hoa, vặt lá, khắc
lên cây hoặc có những hành động làm tổn thương đến cây.

Các loài động vất hoang dã rất muốn làm quen, gần gũi với bạn, vì vậy
không gây tiếng động làm chúng hoảng sợ

Không săn bắn động vật rừng, không gây cháy rừng làm mất nơi sống của các loài động vật hoang dã

Rác thải không nên bỏ bừa bãi trong rừng

Không nên mạo hiểm đi vào rừng hoặc tắm biển một mình vì bạn có thể gặp nguy hiểm

Không nên lấy vật gì từ thiên nhiên vì có thể làm ảnh hưởng tới môi trường
Không lấy gì ngoài những tấm hình, không để lại gì ngoài những dấu chân



Tôi đoán văn bản trên đây không phải do cơ quan quản lý Vườn quốc gia, mà là do tổ chức quốc tế nào đó — chắc là người Pháp – soạn thảo, họ tài trợ và họ viết luôn, ta dịch ra, thế thôi. Phía VN chỉ có điều đáng ghi nhận là đã để cho họ viết, chứ không nhân danh quyền làm chủ trên phương diện tinh thần để đòi viết theo cách của mình. 

Cả cuộc sống cộng đồng hơn nửa thế kỷ qua  là nhằm đấu tranh cho quyền làm chủ xứ sở . Nhưng nay nghĩ lại, chắc những đầu óc tỉnh táo sẽ không dám nói là chúng ta đã biết làm chủ. Đến viết một thứ cáo thị  hướng dẫn người ta khi vào rừng cũng không xong, hỏi nói chi những việc khai thác tài nguyên, tổ chức sản xuất thỏa mãn mọi nhu cầu của xã hội hiện đại và chăm lo giáo dục các thế hệ tương lai!


......../.

Thư của tiến sĩ Alan Phan




Thư của tiến sĩ Alan Phan gửi Hiệp hội Bất động sản Hà Nội






Kính thưa quý vị

Dù chỉ mới nhận được 15 câu hỏi “chất vấn” của quý vị qua báo chí, tôi cũng xin phản hồi sớm vì sự mong đợi của rất nhiều độc giả; cũng như để tỏ lòng tôn kính với “1.000 (?) đồng nghiệp” của tôi. Tôi cũng đã từng làm một nhà đầu tư dự án BĐS (Real Estate Developer) ở tận xứ Mỹ xa xôi vào cuối thập niên 1970. Sau 7 năm huy hoàng với lợi nhuận, tôi và các đối tác đã trắng tay trả lại mọi vốn và lời trong dự án lớn ở Arizona vào năm 1982. Do đó, tôi khá đồng cảm với trải nghiệm “của thiên trả địa” hiện tại của quý vị.

Tôi không quen bị “chất vấn”, bởi tôi không phải là một cậu học trò phải thi trắc nghiệm, cũng không có “quyền lợi” hay “nghĩa vụ” gì trong tình huống này, nên xin phép được trả lời các bậc đàn anh theo phong cách của mình.

Vả lại, những chi tiết nhỏ nhặt của 15 câu hỏi đã được “trả lời” qua các bài viết của tôi trong vài năm qua
(còn lưu lại tại www.gocnhinalan.com).
Thêm vào đó, nhiều người bạn của tôi cũng đã ra công sức phản biện qua các lời bình trên trang web này và các mạng truyền thông khác. Quý vị tự tìm tòi nhé.

Cốt lõi của vấn đề

Một khuynh hướng chung khi tìm giải pháp cho vấn nạn BĐS hiện nay của Việt Nam là đóng khung bài toán trong các công thức tài chánh. Vài doanh nghiệp BĐS nhờ tôi tư vấn tìm vốn vì họ nói không thể tiếp cận được các nguồn tài trợ.
Câu trả lời của tôi là vấn đề BĐS thuộc chuyện thị trường.

Vốn trong dân tại Việt Nam được các nhà chuyên gia nước ngoài ước tính vào khoảng 60 tỉ USD; và vốn từ Việt kiều và các nhà đầu tư ngoại có thể lên thêm khoảng 20 tỉ USD (các số liệu này có thể sai, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ tìm được một thống kê chính xác và chính thống về các con số nhạy cảm ở Việt Nam). Tuy nhiên, dù với con số nào, số tiền này cũng thừa đủ để giải quyết mọi hàng BĐS tồn kho.

Trên góc cạnh thị trường, khi người bán đáp ứng được nhu cầu người mua về sản phẩm và dịch vụ (gồm nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là giá cả và chất lượng) thì giao dịch xảy ra.
Do đó, câu hỏi cốt lõi là những BĐS mà quý vị đã và đang sản xuất có mức giá và chất lượng theo đúng nhu cầu của người tiêu dùng chưa? Theo tôi biết, nhu cầu về phân khúc nhà cho người thu nhập thấp rất cao; nhưng sản phẩm gần như quá ít. Trong khi đó, nguồn cung-cầu tại phân khúc nhà cao cấp lại mất cân bằng và lượng tồn kho có thể phải mất 10 năm mới tiêu thụ hết.

Tóm lại, khủng hoảng BĐS hiện nay là một tính toán sai lầm của nhà sản xuất BĐS về giá cả và loại hàng.

Giá thành quá cao?

Nhiều người trong quý vị biện bạch là giá BĐS cao ngất trời vì giá đất, giá nguyên vật liệu, chi phí hành chánh và "bôi trơn"…quá cao.

Thật tình, lý giải này chỉ chứng tỏ tính chất làm ăn thiếu hiệu quả vì không biết những tính toán căn bản về đầu tư cho dự án; cũng như cho thấy yếu kém của các quyết định bầy đàn và chụp giật.

Nhưng đôi khi, tình thế ngoại vi cũng có thể làm sai trật mọi tính toán. Chẳng hạn khi tôi bắt đầu dự án Arizona nói trên vào 1979, chúng tôi đã không ngờ là lãi suất lên đến 16-18% mỗi năm khi hoàn tất, thay vì 8-9% như dự tính. Giá nhà vẫn hợp lý, nhưng phần lớn người Mỹ mua nhà bằng tín dụng, nên dự án phải phá sản. Dù không phải lỗi của chủ quan, nhưng chúng tôi hiểu rõ luật chơi của thị trường và cúi đầu chấp nhận.

Người mua nhà, hay ngay cả vợ con, bạn bè của quý vị thật sự không quan tâm đến lý do tại sao giá nhà lại cao hay thấp thế này? Vừa mua thuận bán thôi.

Một chút lịch sử


Dĩ nhiên, tất cả bàn luận trên đây dựa trên quy luật thị trường. Nhiều bạn sẽ nói là nền kinh tế chúng ta có “định hướng xã hội” nên Chính phủ phải nhảy vào can thiệp hay cứu trợ khi “con cái” gặp hoạn nạn.

Chắc quý vị còn nhớ, có khi giá nhà đất lên cao cả mấy trăm phần trăm mỗi năm vào thập kỷ 1995-2006, không ai kiến nghị Chính phủ phải can thiệp để cứu người tiêu dùng bằng cách ngăn chặn mọi sự tăng giá (nhiều khi phi pháp). Các nhà sản xuất BĐS quên mất “định hướng xã hội” của Viêt Nam và ủng hộ triệt để nguyên lý thị trường.

Bây giờ, vào nửa hiệp sau của trận bóng, các cầu thủ lại yêu cầu trọng tài áp dụng một luật chơi mới? Tính bất nhất này làm mọi biện luận của quý vị trở nên ngây ngô cùng ngạo mạn.

Hệ quả khi "bong bóng BĐS nổ"

Trước hết, khi nói về hệ quả, tôi xin mọi người ghi nhận "công trạng" của những nhà đầu cơ BĐS trong việc tạo ra khủng hoảng hiện nay. Tất cả những suy thoái, trì trệ và việc kém hiệu quả trong các đầu tư để công nghiệp hóa hay gia tăng sản lượng nông, hải, sản…đều có thể truy nguồn đến những bong bóng tài chánh như BĐS, chứng khoán và ngân hàng.

Khi dòng tiền tấp nập chảy về lãnh vực này để hưởng lợi nhuận dễ dàng và nhanh chóng, chúng ta đã hy sinh những đầu tư xã hội cần thiết và dài hạn như y tế, giáo dục, công nghệ cao, nông nghiệp… Tai hại của sự lãng phí và tham ô trong việc sử dụng tài lực quốc gia này sẽ làm cả dân tộc trả giá trong nhiều thập kỷ sắp đến.

Nếu nhìn từ định hướng XHCN, các doanh nhân và quan chức có liên hệ đến việc đầu cơ, thao túng và lèo lái dòng tiền đầu tư…để thổi phồng các bong bóng tài sản đều có thể bị kết tội dưới nhiều luật lệ. Hú hồn. May mà Quý Vị còn chữ “kinh tế thị trường”.

Ngoài ra, về các hệ quả tương lai khi bong bóng BĐS nổ, quý vị đã tự đặt cho mình một vị trí quá quan trọng trong nền kinh tế chung. Dĩ nhiên có thể hơn 50% các doanh nghiệp kinh doanh BĐS và vật liệu xây dựng cũng như 50% các ngân hàng nhỏ yếu sẽ chết vì nợ xấu… nhưng tôi chắc chắn là “không có mợ thì chợ vẫn đông”.

Thực ra, những doanh nghiệp, ngân hàng… này cũng đã chết lâm sàng rồi. Họ kéo dài hơi thở để đợi chút oxygen từ tiền thuế và phí của người dân. Hiện tại, họ không đóng góp chút gì cho sản lượng quốc gia trong khi chiếm dụng một phần nguồn lực không nhỏ.

Về các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, một số lớn đã ngất ngư vì không thể cạnh tranh với sản phẩm của Trung Quốc, Thái Lan… tại sân nhà hay sân người.

Đổ lỗi cho tình hình BĐS chỉ là một thủ thuật phát sinh từ thói quen lười biếng.

Con ngáo ộp thứ hai Quý Vị đem ra hù dọa là con số vài chục ngàn trong số 53 triệu công nhân toàn quốc (với tỷ lệ thất nghiệp khoảng 2.2% theo thống kê nhà nước) sẽ bị ảnh hưởng khi bong bóng BDS nổ tung. Nếu nền kinh tế chúng ta phát triển bền vững và bài bản, sự tạo ra việc làm cho các công nhân này chỉ là chuyện nhỏ.

Con ngáo ộp thứ ba của Quý vị là các người dân bỏ tiền trong các ngân hàng sẽ chịu mất mát khi vài ngân hàng đóng cửa. Theo tôi hiểu, mỗi tài khoản hiện nay được bảo hiểm đến 50 triệu VND và đang được NHNN đề xuất lên 100 triệu VND (vì lạm phát nhiều năm qua). Tỷ lệ mất mát cho những tài khoản trên 100 triệu VND tại các ngân hàng sẽ rất nhỏ; vì các nhà đa triệu phú thường không ngu để mất tiền như quý vị tiên đoán. Họ có nhiều giải pháp sáng tạo hơn quý vị và nhà nước nhiều. 

Những hệ quả tích cực


Trong bài “Thị trường sẽ cứu chúng ta” (www.gocnhinalan.com) tôi đã ghi nhận 5 hệ quả tích cực hơn khi bong bóng BDS nổ. Đó là số lượng vài trăm ngàn gia đình lần đầu sở hữu một căn nhà vừa túi tiền, hiện tượng tâm lý “an cư lạc nghiệp” tạo cú kích cầu tiêu dùng, gây lại niềm tin cho kinh tế, loại bỏ các thành phần phi sản xuất yếu kém, tăng thu ngân sách và thu hút đầu tư nội ngoại.

Trong đó, quan trọng nhất là việc tạo một tầng lớp trung lưu mới, hết sức cần thiết cho mọi sự phát triển bền vững. Nhìn qua các xã hội đã mở mang tại Âu, Mỹ, Nhật, Úc... tầng lớp trung lưu với những tài sản thâu góp được thường là đầu tàu cho chiếc xe kinh tế. Họ tạo ra thị trường tiêu dùng lớn nhất, họ đóng thuế nhiều nhất, họ làm việc cần cù nhất, họ nợ nhiều nhất (tốt cho ngân hàng và các ông chủ), họ có niềm tin cao nhất vào đất nước… vì họ có quá nhiều thứ để mất. Một xã hội bất ổn là khi phần lớn người dân không có gì để mất.

Hệ quả khi bong bóng không nổ


Tôi thì lại lo sợ về những hệ quả trái ngược nếu quyền lực của quý vị thành công và thuyết phục Nhà nước bơm tiền dân cứu quý Vị và các ngân hàng yếu kém.

Trước hết, nền kinh tế zombies (xác chết biết đi) này sẽ kéo dài ít nhất là một thập kỷ nữa.

Khi phải in tiền đủ để cứu trợ, nạn lạm phát sẽ bùng nổ lại và tỷ giá VND sẽ rơi. Nhiều người đã quay qua Mỹ quan sát về các gói cứu trợ ngân hàng tư và đề nghị NHNN dùng giải pháp này cho Việt Nam. Một ghi chú nhỏ: chính phủ Mỹ cho các ngân hàng này vay vốn với lãi suất cực rẻ; nhưng không cứu các doanh nghiệp hay giá BĐS; và sau khi gây lại vốn sở hữu bị mất trong cuộc khủng hoảng tài chánh 2008, hầu hết các ngân hàng đã trả tiền lại cho chánh phủ. Giải pháp này không thể thực hiện ở Việt Nam vì các ngân hàng thương mại Việt không đủ uy tín, thương hiệu, tầm cỡ, tính minh bạch hay khả năng quản trị để tiếp cận nguồn vốn nội hay ngoại (vẫn rất dồi dào).

Chánh phủ hiện đã bội chi vì các vấn đề kinh tế xã hội từ khủng hoảng và nguồn thu từ thuế và phí đang bị thu hẹp đáng kể. Dùng những tài lực hiếm hoi để nuôi các zombies phi sản xuất là kéo dài cuộc suy thoái cho các thành phần khác trong nền kinh tế.

Nhưng tệ hại nhất là khi tung tiền cứu nguy cho “bồ nhà”, chánh phủ sẽ gởi một thông điệp bào mòn mọi niềm tin còn sót lại của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đó là: “mọi sai phạm lầm lẫn sẽ được che đậy và bảo vệ; và các quy luật của thị trường có quyền đi 'nghỉ mát' khi quyền lợi của các nhóm lợi ích bị xâm phạm”.

Những giải pháp sáng tạo

Sau cùng, nếu con phượng hoàng có thể bay lên từ đống tro tàn thì các zombies cũng có thể tái tạo lại một đời sống mới. Trong nền kinh tế trí thức toàn cầu này, sáng tạo vẫn là một điều kiện tiên quyết cho mọi doanh nghiệp.

Tôi không kinh doanh BĐS từ năm 1982, nên tôi không dám “múa rìu qua mắt thợ”. Nhưng tôi nhận thấy có những đại gia “thật lớn” của BĐS đã phát triển mạnh trong khủng hoàng này.

Bầu Đức của HAGL chọn giải pháp “xuất ngoại” khi bán tháo BĐS tại Việt Nam và đem tiền đổ vào Lào và Myanmar.

Ngài Vượng (Phạm Nhật Vượng) của Vincom đạt được danh tỉ phú đô la với phân khúc trung tâm thương mại cao cấp trong thời bão táp.

Ông Quang (Nguyễn Xuân Quang) của Nam Long thì thành công với vốn ngoại và mô hình EHome cho phân khúc trung lưu.

Các trường hợp phát triển như anh Thìn (Lương Trí Thìn) chủ công ty Đất Xanh hay anh Đực (Nguyễn Văn Đực) chủ công ty Đất Lành là những thí dụ khác.

Trong lãnh vực vật liệu xây dựng, sản phẩm nhà tiền chế theo dây chuyền hay các vật liệu từ công nghệ cao và xanh đã biến nhiều doanh nhân thế giới thành tỉ phú.

Trí tuệ Việt chắc chắn phải có rất nhiều… Ngô Bảo Châu trong ngành BĐS. Đây là tương lai của BĐS Việt trong mong đợi của mọi người; không phải hình ảnh của các zombies níu kéo vào dây trợ sinh trên giường bệnh.

Thay cho lời kết

Tôi thực sự khâm phục khả năng lobby của Hiệp Hội BĐS và các thành viên. Tạo được một bong bóng khiến giá trị BĐS lên đến 25 lần thu nhập trung bình của người dân là một thành tích đáng ghi vào kỷ lục Guinness.

Tôi cũng dự đoán là Chính phủ rồi cũng sẽ tung nhiều gói cứu trợ BĐS mặc cho sự can gián của nhiều chuyên gia và đa số người dân. So với quý vị, tiếng nói của chúng tôi không đủ trọng lượng để Chính phủ lưu tâm.

Do đó, cuộc tranh cãi nên dừng lại ở đây để những người dân chưa có nhà không nên kỳ vọng vào một phép lạ trong tương lai gần.

Nhưng trong sâu thẳm, tôi vẫn mang nhiều hy vọng. Có thể một lúc nào đó, những tinh hoa của đất Việt sẽ quên đi quyền lợi cá nhân của mình và gia đình… để san sẻ lại cho các người dân kém may mắn hơn.

Không phải để làm từ thiện, mà nhận trách nhiệm rộng lớn hơn với cộng đồng, và với thế đứng của Việt Nam trên thương trường quốc tế. Để doanh nhân Việt được tự hào với tư duy sáng tạo cởi mở và khả năng vượt khó bền bỉ. Để thế hệ sau còn có chút niềm tin và lực đẩy khi họ phải ra biển lớn cạnh tranh.

Riêng đối với những vị đã mất mát tài sản vì sai phạm đầu tư, tôi xin chia sẻ nơi đây câu thơ của tiền nhân mà tôi tự an ủi mình sau khi ký giấy trao lại cho ngân hàng toàn bộ dự án Arizona và ra đi với bàn tay trắng : ” Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu… Gặp thời thế thế thì phải thế”. Dù sao, chỉ 3 năm sau đó, tôi lại kiếm được nhiều tiền hơn trong một mô hình kinh doanh khác.

Mong quý vị mọi điều may mắn và mong tinh thần “kẻ sĩ” mãi cháy sáng trong cuộc đời quý vị.

Thân ái,

Alan Phan



................/.


.... “ăn thịt” chính mình

.... “ăn thịt” chính mình 


Tấn Đức



Xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản đã và đang mang về cho Việt Nam hàng chục tỉ đô la Mỹ mỗi năm. Nhưng, nhiều ý kiến cho rằng cách phát triển kinh tế dựa vào tài nguyên thô chẳng khác gì “ăn thịt” chính mình.




http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/sukien/93717/%E2%80%9CAn-thit%E2%80%9D-chinh-minh%21.html



Từ thô tới thô

Chỉ trong vòng bảy năm, tính từ cuối năm 2005, sản lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam tăng gần 2,5 lần, cao su (thiên nhiên) xuất khẩu cũng tăng hai lần. Nhưng thành quả này cũng phải trả giá rất đắt, vì trong cùng thời gian đó, chỉ riêng ở khu vực Tây Nguyên 206.000 héc ta rừng đã biến mất.

Trong thập niên 80 của thế kỷ trước, xuất khẩu tài nguyên từng là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của Việt Nam. Giờ đây, tuy tỷ lệ doanh thu từ các mặt hàng khoáng sản chỉ còn chiếm khoảng một phần mười tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng Việt Nam vẫn là một nền kinh tế phát triển dựa vào tài nguyên.

Thật vậy, theo nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, công nghiệp khai khoáng đóng góp 10-11% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Năm 2012, tổng kim ngạch xuất khẩu các loại khoáng sản trên 9,6 tỉ đô la Mỹ, trong đó nhiều nhất vẫn là dầu thô (8,228 tỉ đô la Mỹ) và than đá (1,238 tỉ đô la Mỹ). Tuy nhiên, nếu tính cả giá trị của những ngành mà Việt Nam đã phải trả giá bằng chính những tài nguyên quý giá nhất (rừng, đất đai) để có được, thì sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tài nguyên là rất lớn.


Cho đến nay, các nhà địa chất đã phát hiện được ở Việt Nam trên 5.000 điểm mỏ với 60 loại khoáng sản khác nhau, từ khoáng sản kim loại như: đồng, chì, kẽm, sắt, mangan, crom, titan, molybden, wolfram, thiếc, bauxite... cho đến các khoáng sản phi kim loại là nguyên liệu của ngành phân bón, vật liệu xây dựng, và khoáng sản năng lượng (dầu khí, than). Tuy nhiên, do phần lớn là khai thác, sơ chế rồi xuất khẩu dưới dạng thô, nên nó không có đóng góp gì đáng kể cho sự phát triển của các ngành công nghiệp.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2009-2011, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 2,1-2,6 triệu tấn khoáng sản các loại (không kể than, dầu thô) với điểm đến chủ yếu là Trung Quốc, và chỉ mang lại giá trị 130-230 triệu đô la Mỹ. Riêng năm 2012, lượng khoáng sản xuất đi có giảm, chỉ còn gần 800.000 tấn, bằng đường chính ngạch. Nếu cộng cả số xuất lậu, xuất qua đường biên mậu, số lượng còn lớn hơn nữa. Chẳng hạn như vào năm 2008, chỉ riêng xuất lậu quặng titan ước tính đã lên đến 200.000 tấn.

Ở một số lĩnh vực, và dưới sức ép của Chính phủ, doanh nghiệp khai khoáng cũng có “đầu tư vào khâu chế biến” để xuất khẩu, nhưng thực tế chỉ là “ít thô” hơn mà thôi. Ngay những cơ sở tinh luyện đồng, dù được một số doanh nghiệp giới thiệu là “công nghệ cao”, nhưng công nghệ ấy cũng chỉ làm được đồng có độ tinh khiết 99,9%, chưa đủ “sạch” so với yêu cầu chung của các ngành công nghiệp sử dụng đồng làm nguyên liệu, vốn chỉ sử dụng đồng tinh khiết đến 99,99%.

Lợi có đủ bù đắp thiệt hại

Cho đến nay, khai thác tài nguyên để xuất khẩu vẫn là ngành kiếm được nhiều lợi nhuận, nhưng cái lợi đó chỉ chảy vào một nhóm nhỏ doanh nghiệp. Việc khai thác ồ ạt tài nguyên và khoáng sản để xuất khẩu khiến cho nền kinh tế đã, đang và sẽ tiếp tục phải trả giá trong nhiều năm nữa.

Trước hết là sự lãng phí. Tại hội thảo “Tài nguyên khoáng sản và sự phát triển bền vững ở Việt Nam” diễn ra vào cuối tháng 11/2011, các diễn giả đã đưa ra con số trên 2.000 doanh nghiệp với 4.218 giấy phép khai khoáng đã được cấp. Điều đáng nói ở đây là sự cấp phép dễ dãi, mà một số chuyên gia kinh tế cho là do nhóm lợi ích chi phối, cộng với sự “dễ dãi” cả về công nghệ khai thác, làm cho tài nguyên bị thất thoát rất lớn.

Chẳng hạn như thất thoát trong khai thác than hầm lò đến 40-60%; khai thác apatit tổn thất 26-43%; khai thác quặng kim loại tổn thất 15-20%... Ngoài ra, do các doanh nghiệp chỉ quan tâm đến nguồn quặng chính, nên không tận thu được các khoáng sản đi kèm khác cũng như các quặng nghèo. Ví dụ, độ thu hồi vàng từ quặng chỉ được 30-40%.

Tiếp đến, việc các cơ quan quản lý nhà nước ngó lơ cho các doanh nghiệp xuất khẩu khoáng sản thô, thay vì lấy nguồn tài nguyên khoáng sản làm “mồi” để thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp chế biến, khiến cho Việt Nam mất dần cơ hội để phát triển những ngành công nghiệp quan trọng, những lĩnh vực phụ trợ có sức lan tỏa lớn. Đây mới là thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế.

Hơn nữa, việc mở đường cho khai thác tài nguyên mà không gắn với phát triển công nghiệp chế biến còn đẩy nhanh tốc độ “chảy máu tài nguyên”. Khi các ngành công nghiệp nội địa phát triển thì tài nguyên cũng không còn. Công nghiệp chế biến gỗ là một ví dụ điển hình. Trong suốt thập niên 1980 và những năm đầu thập niên 1990, Việt Nam xuất khẩu ồ ạt nguyên liệu gỗ. Mỗi năm, hàng triệu mét khối gỗ tròn và gỗ xẻ đã được đưa xuống tàu để xuất khẩu. Giờ đây, khi ngành công nghiệp sản xuất đồ gỗ phát triển thì nguồn gỗ nội địa cũng không còn. Chúng ta cũng có thể tìm thấy một ví dụ tương tự đang xảy ra với ngành khai thác than.

Đáng ngại hơn, việc phát triển kinh tế dựa chủ yếu vào việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên thô còn làm triệt tiêu động lực phát triển khoa học công nghệ. Đây là sự khác biệt giữa những nền kinh tế nghèo tài nguyên, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore... và những nền kinh tế giàu tài nguyên như Nigeria, quốc gia đã kiếm được 350 tỉ đô la Mỹ từ xuất khẩu dầu thô từ năm 1965-2000 và giờ đây đang là một trong những nước nghèo của thế giới. Các nhà kinh tế gọi đó là lời nguyên tài nguyên, là “căn bệnh Hà Lan”.

Ở Việt Nam, “lời nguyền tài nguyên” rõ nét nhất có lẽ là ở lĩnh vực nông nghiệp. Để có sản lượng cà phê, cao su, tiêu, tôm... xuất khẩu tăng liên tục, chúng ta đã phải trả giá bằng hàng triệu héc ta rừng. Chỉ trong năm năm, 2006-2011, 124.000 héc ta rừng ngập mặn ven biển đã biến mất để nhường chỗ cho các ao tôm, ao cá, tương đương diện tích bị mất trong 63 năm trước đó.

Việc gia tăng sản lượng dựa vào tăng diện tích canh tác đã góp phần thủ tiêu động lực phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp (để tăng sản lượng thông qua tăng tăng suất). Và, giờ đây chúng ta đang phải trả giá và sẽ còn phải trả giá nhiều hơn trong tương lai.



Việc các cơ quan quản lý nhà nước ngó lơ cho các doanh nghiệp xuất khẩu khoáng sản thô, thay vì lấy nguồn tài nguyên khoáng sản làm “mồi” để thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp chế biến, khiến cho Việt Nam mất dần cơ hội để phát triển những ngành công nghiệp quan trọng, những lĩnh vực phụ trợ có sức lan tỏa lớn.


Thời báo Kinh tế Sài Gòn
 




NGHĨ VỀ TRƯỜNG HỢP NGUYỄN ĐÌNH LỘC





NGHĨ V TRƯỜNG HP NGUYN ĐÌNH LC


Lê Xuân Khoa 

Tôi không quen ông Nguyễn Đình Lộc nhưng được biết về ông qua một số phát biểu và trả lời phỏng vấn của ông trong mấy năm gần đây, đặc biệt là cuộc trao đổi với nhà báo Nguyễn Anh Tuấn về Dân chủ và Pháp quyền” trên Tuần Việt Nam, ngày 25/8/2010.
Là một người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm đến những vấn đề của đất nước, tôi đánh giá ông là một trí thức tiến bộ, thẳng thắn và can đảm trong một chế độ độc tài toàn trị, mặc dù tôi có khác ý kiến với ông về một số điểm. Tôi tôn trọng ông hơn khi thấy ông đứng tên trong số 72 nhân sĩ, trí thức khởi xướng bàn Kiến Nghị về Sửa đổi Hiến Pháp 1992 (KN72) và cầm đầu phái đoàn 15 người đến trao bản Kiến nghị cho Ủy ban Pháp luật của Quốc hội ngày 4 tháng 2, 2013.
Bởi thế, tôi rất ngạc nhiên và thất vọng khi xem và nghe ông trả lởi trên đài VTV về vai trò của ông Lộc trong nhóm khởi xướng KN72. Tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy có điều gì khác thường cần tìm hiểu thêm, nhất là chờ phản ứng từ những bạn đồng chí của ông trong nhóm KN72. Sau khi đã đọc và suy nghĩ về những ý kiến và giải thích của những người mà tôi quen biết và quý mến, tôi muốn góp thêm một số nhận xét như sau:
1.            Sự kiện quan trọng và minh bạch nhất là ông Lộc đã ký vào bản KN 72 và ông không hề phủ nhận điều ấy. Ông Lộc đã cho thấy là một nguyên bộ trưởng bộ tư pháp với kinh nghiệm già dặn như ông chỉ có thể đặt bút ký trên một văn kiện quan trọng sau khi đã đọc kỹ với đầu óc sáng suốt và tinh thần trách nhiệm. Chắc chắn ông Lộc cũng có cùng một suy nghĩ như GS Tương Lai: “Với tư cách là trí thức, mình đã đặt bút ký thì chữ ký đó nặng ngàn cân, vì nó là danh dự và trách nhiệm của người trí thức.”
2.            Ông Lộc đính chính ông không phải là người tham gia “việc viết cái văn bản,” nhưng việc đính chính này không liên quan đến việc ông ký tên vì ai cũng hiểu rằng không phải người nào ký tên cũng là người tham gia viết văn bản. Các bạn ông đều nói ông đã phải chịu nhiều sức ép rất mạnh. Đó là lý do khiến ông phải đính chính, nhưng ông đã chỉ nói ra một sự thật khách quan vô hại. Như vậy ông đã chọn được một cách đính chính khôn ngoan: đính chính một việc không cần phải đính chính. Như ta thường nói: “bị ép thì làm cho có, cho yên chuyện,”
3.            Ông Lộc giải thích lý do ông làm trưởng đoàn là vì ông là nguyên Bộ trưởng bộ Tư pháp nên được các bạn “tín nhiệm giao” cho ông trao bản Kiến nghị. Ông cũng nói là việc làm trưởng đoàn “cũng có lúc định là người khác” nhưng đến hôm cuối cùng thì mọi người gặp nhau “bảo là bác Lộc phải trao, thì tôi trao.” Ông Lộc cũng nói là vào lúc chót, ông “muốn sửa đổi một số chỗ” (trên bản văn mà ông đã ký) nhưng tất nhiên là không được vì bản văn đã được công bố rồi.
Ông Lộc cho thấy ông chỉ muốn nói cho rõ việc ông làm trưởng đoàn không phải do ông tự ý tình nguyện mà do lời yêu cầu của các bạn trong buổi họp mặt trước khi cùng nhau đến Quốc hội để trao bản Kiến nghị. Ông Lộc đã dùng lời lẽ có vẻ như đính chính nhưng thật ra thì ông xác nhận việc ông được bạn bè tín nhiệm là chính đáng nên ông đã nhận lời. Một lần nữa, trong tình thế bị áp lực, ông Lộc lại tìm được cách đính chính mà không phải là đính chính. Còn việc ông Lộc nói ông muốn sửa đổi mấy chỗ thì ông cũng chỉ nói lên một điều mà ông biết là không thể làm được vào lúc đó. Dù sao, nếu có những chỗ muốn sửa thì chỉ là về hình thức, chứ không phải về nội dung mà ông đã đồng ý khi ký tên cũng như khi đi cùng với đoàn và nhận làm trưởng đoàn.
Về điểm này, tôi thấy cần nhấn mạnh rằng ông Nguyễn Đình Lộc đã đặt vấn đề sửa đổi hiến pháp từ lâu rồi. Trong cuộc thảo luân bàn tròn trực tuyến của Tuần Việt Nam năm 2010, ông Lộc đã châm biếm tình trạng vẫn y nguyên (dân gian thường nói lái là “nguyễn y vân”) của những sửa đổi hiến pháp trước đó. Ông nói: “Chẳng hạn, năm 2001 lúc sửa Hiến pháp, đưa được vào Hiến pháp điều Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân do dân vì dân thì rất mừng, sướng quá, xem đó như một thắng lợi. Nhưng 10 năm trôi qua, giờ nhìn lại thấy giật mình hỏi: chỉ đưa vào từng đó là đủ, là hết à? Rõ ràng là không phải, vì cả 5 chương về bộ máy nhà nước chúng ta vẫn quy định theo cách cũ…Có khác gì chúng ta hô hào phải mạnh mẽ đi lên, đã nhấc một chân lên, nhưng chỉ nhấc lên mà không hạ xuống. Có khác gì dùng một cái bánh rất ngon nhử nhử “bánh này ngon lắm các bạn ơi” nhưng chỉ nhử mà không cho ăn gì cả.”
Thật đúng là một trò lừa dối nhân dân, coi nhân dân là con nít. Bởi thế, ông Lộc đã khẳng định: “Nếu sửa Hiến pháp bây giờ cần phải sửa rất cơ bản.”
Tôi cũng trích dẫn vài đoạn khác để cho thấy ông Lộc không phải là người bị lôi cuốn bởi bạn bè. Về dân chủ, ông bác bỏ luận điệu cho rằng trình độ dân trí Việt Nam còn thấp, chưa thể thực hiện dân chủ được: “Nói như thế là nguy hiểm chứ không phải là nói sai. Đó là một cách nói để chúng ta hạn chế quyền dân chủ của người dân.”Và ông cảnh cáo: “Phải luôn luôn nhớ rằng sinh ra bộ máy nhà nước là để quản lý, giữ gìn trật tự trị an, nhưng chúng ta làm không tốt nên người dân có phản ứng bằng nhiều hình thức. Có thể người ta mạnh mẽ phản kháng, nhưng điều đáng sợ hơn là nguy cơ người dân quay lưng lại với chế độ. Mà một khi người dân đã quay lưng lại thì không gì có thể cứu vãn được.”
Bây giờ, trở lại chuyện sức ép. Vấn đề đặt ra là có hay không việc ông Nguyễn Đình Lộc bị sức ép mạnh đến độ ông phải nhận trả lời câu hỏi của đài truyền hình nhà nước, và nếu có thì sức ép đó như thế nào?. Về điểm thứ hai trong câu hỏi thì không ai có thể trả lời ngoài ông Lộc và cũng không ai có quyền đòi hỏi ông Lộc phài tố cáo các sức ép. Nhưng chuyện có sức ép hay không thì người ngây thơ đến đâu cũng biết là ông Lộc không thể nào tự ý muốn lên đài truyền hình nhà nước để trả lời một câu hỏi được “hướng dẫn” vào việc tấn công nhóm Kiến nghị 72. Câu hỏi của VTV có hai vế rất rõ: vế đầu khẳng định một chuyện tưởng tượng là “đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ” bản dự thảo của chính quyền về việc sửa đổi hiến pháp 1992; vế thứ hai yêu cầu ông Lộc trả lời về việc “một số người tự ý xây dựng một bản dự thảo hiến pháp và môt bản kiến nghị gửi Ủy ban Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992”.
Việc bịạ đặt và thổi phồng thành tích tốt đẹp của Đảng vốn là nghiệp vụ thường ngày của các cán bộ tuyên truyền trong bộ máy nhà nước. Việc gợi ý cho người được phỏng vấn ca ngợi hay đả kích một đối tượng trong cuộc phỏng vấn lại là một xảo thuật để lấy được những câu trả lời mà Đảng và nhà nước mong muốn. Tuỳ trường hợp, việc hướng dẫn trả lời có hàm ý khuyến khích hay đe dọa. Trong trường hợp ông Lộc, phóng viên cán bộ VTV vừa áp đặt một kết quả giả tạo để làm phông cho cái-được-gọi-là phỏng vấn, vừa hàm ý “nhắc nhở” ông Lộc về kết quả mong đợi. Không may cho VTV, ông Lộc đã biết cách thoát hiểm dù có bị sây sát đôi chút.
Phản ứng đầu tiên của những người theo dõi những câu trả lời của ông Nguyễn Đình Lộc, nói chung, là thất vọng (trong đó có tôi). Nhiều người, kể cả một số bạn của ông, đã phê phán ông ở nhiều mức độ khác nhau. Nhưng nghĩ lại, đa số đều hiểu cách trả lời của ông vẫn bảo vệ được toàn vẹn giá trị của bản Kiến nghị 72 và chỗ đứng của ông trong hàng ngũ trí thức tiến bộ. Tất cả đều thấy rõ ông đã bị sức ép rất mạnh không chỉ với cá nhân ông mà còn với cả gia đình ông, nhất là các con ông đã được chính quyền “hỏi thăm” và rất lo lắng. Quan trọng hơn hết là tất cả mọi ngưòi đều biết rằng chính quyền độc tài, qua đủ thứ tay sai, không từ bỏ một thủ đoạn bẩn thỉu hay độc ác nào để hăm dọa và ép buộc một đối tượng làm theo ý muốn của họ.
Bởi vậy, thay vì chỉ trích một nạn nhân bị hăm dọa, nhất là khi nạn nhân ấy đang phấn đấu để bảo vệ danh dự và trách nhiệm, trí thức và nhân dân hãy liên kết để bảo vệ những nạn nhân bị hăm doạ và đàn áp, và chĩa mọi mũi dùi tấn công vào bọn gian manh đang thi hành những tội ác tày trời. Bằng sự tố cáo trước dư luận trong nước và thế giới những thủ đoạn hăm doạ bẩn thỉu, những hành động đàn áp dã man người vô tội, những trò hoả mù về ngoại giao để lừa dối quốc tế, ta sẽ vô hiệu hóa được mọi luận điệu tuyên truyền và bạo lực nhằm duy trì quyền lực và lợi ích riêng của những kẻ cầm quyền độc tài và tham nhũng.
Khi đã bị đông đảo nhân dân lột mặt nạ, phơi bày tôi ác trước dư luân thế giới, chế độ sẽ thấy rõ “nguy cơ người dân quay lưng lại với chế độ.” Khi đó, đông đảo nhân dân sẽ hết sợ và từ hết sợ đến nổi giận rồi nổi loạn, quãng đường sẽ rất ngắn, ngắn lắm.
Ngày 27/03/2013, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã đến nói chuyện tại Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Mặc dù vẫn có lối nói lòng vòng thiếu sáng sủa nhưng không bao giờ quên vai trò của Đảng, ông Trọng cũng đã làm nổi bật được môt điểm then chốt khi nói về công tác chính trị trong quân đội: “Đây là nền tảng, là yếu tố cơ bản, nòng cốt để xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, là người bạn tin cậy, thân thiết của toàn dân.”
Phải chăng đây là một sự thức tỉnh kịp thời của ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước hay vẫn chỉ là một xảo thuật để trấn an, mua thời gian để tiếp tục đối phó . Nhưng người dân cũng đã hết bị lừa. Cuôc chiến tranh lạnh giữa nhà cầm quyền với trí thức và nhân dân đã tới hồi kết thúc. Có thể nào “người bạn tin cậy, thân thiết của toàn dân” lại phản bội sự “tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân”?
Lê Xuân Khoa
California, 27/03/2013
______________________________________________________
* Giáo sư Lê Xuân Khoa là cựu Chủ tịch Trung Tâm Tác Vụ Ðông Nam Á (SEARAC), giáo sư thỉnh giảng tại trường Cao học Nghiên cứu Quốc tế thuộc Ðại học Johns Hopkins, Washington, D.C.

KÍNH THƯA NHÀ THƠ TRẦN MẠNH HẢO




KÍNH THƯA NHÀ THƠ TRẦN MẠNH HẢO 

Võ Đắc Danh 
http://www.facebook.com/dacdanhmientay

////////


Tôi đã đọc nhiều bài viết của ông chửi bới um tỏi về cái chuyện cải cách SGK, và gần đây nhất là bài COI TRỜI BẰNG VUNG đăng trên VNT số 43 ( 17/11 ).

Lạ thật, ông là một nhà thơ thì cứ lo làm thơ, cứ hướng tâm hồn mình vào trời trăng mây nước và . . . em cho nó thanh thản, ai lại mang nỗi ức chế về ba cái chuyện SGK của mấy ông Bộ Giáo dục làm gì, không khéo lại mất ăn mất ngủ, mà cũng may cho ông là bọn Năm Cam nó đang ở trong tù, nếu không coi chừng ông toi mạng. 

Thật ra cái mà ông bức xúc cũng chẳng có gì mới mẽ và cũng chẳng phải của riêng ông, đó là nỗi bức xúc của cả một nền giáo dục nước nhà, của tòan dân, của tất cả những ai quan tâm đến tương lai của đất nước. Vậy thì hà tất gì ông phải hằn học nặng lời với ngài Bộ trưởng GD-ĐT kính mến của chúng ta như thế ?! Chúng ta có cái bức xúc củachúng ta, còn họ có cái bức xúc của họ. Người ta bảo ông  người thực dụng, hay nói đến chuyện tiền nong.Hàng tỷ đồng được ông nhắc đi nhắc lại. Nhưng ông phải biết thông cảm, đó chính là những vấn đề mà người ta bức xúc. Làm Bộ trưởng, Thứ trưởng mà không biết lập ra dự án nầy dự án nọ để đầu tư thì lấy gì để nuôi cả một . . . bộ máy, lấy gì để lo cho tương lai con cháu lúc về hưu. Đó là nỗi bức xúc chung của nhiều Bộ trưởng chớ không riêng gì ngài Bộ trưởng GD-ĐT kính mến của chúng ta. 

Tôi xin lấy vài ví dụ nhỏ để ông nhà thơ thông cảm mà bớt đi cái sự nỗi nóng của mình, mà đừng lớn tiếng sỉ vả ngài Bộ trưởng GD-ĐT trong lúc Quốc hội đang họp để bàn bạc nhiều chuyện quốc gia đại sự, trong đó hẳn có nhiều vấn đề nghiêm trọng liên quan đến nền giáo dục ưu việt của nước nhà. 

Cái dự án cải cách SGK mà ông chửi bới thậm tệ ấy thật ra cũng chỉ vài chục tỷ đồng là cùng, chưa bằng năm mươi phần trăm cái cảng cá mà Bộ Thủy sản vừa xây xong cách nay hai năm ở Cà Mau. Một công trình hiện đang góp phần tích cực cho chiến lược an tòan giao thông vì có nơi cho trẻ con đá banh, giải quyết được tình trạng hỗn loạn giao thông do trẻ con có thói quen đá banh ngoài đường.
Tôi chưa có điều kiện để tìm ra số liệu trên cả nước, nhưng riêng đồng bằng sông Cửu Long thì đã có ít nhất năm cái bãi tha ma như thế được gọi là cảng cá, ước tính tiêu tốn khoảng vài trăm tỷ đồng, mà thực trạng xây dựng cơ bản của nước ta hiện nay thì ông quá hiểu, nó không đơn giản như cái chuyện in sách giáo khoa để ông có thể đếm được từng trang mà tính toán. 

Ong nhà thơ thân mến ! 

Tôi không hiểu dựa trên cơ sở khoa học nào để người ta lập ra cái gọi là Dự án ngọt hoá bán đảo Cà Mau, có nghĩa là để dẫn nước ngọt từ sông Hậu về bốn tỉnh vùng nước mặn như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang với tổng số vốn là một ngàn bốn trăm tỷ đồng để rồi cuối cùng trở thành chuyện ném tiền qua cửa sổ bởi vì kết quả của dự án chỉ làm đảo lộn môi trường sinh thái ! 
Nhưng thật ra, một ngàn bốn trăm tỷ đồng lãng phí cho dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau cũng chỉ là số tiền lẻ so với chương trình một triệu tấn đường với hai mươi sáu ngàn tỷ đồng cho bốn mươi mốt nhà máy đường trên cả nước mà hiện nay đang đứng trên bờ vực của sự phá sản. Đó là những con số cụ thể, những công trình làm nghèo đất nước đang thách thức dư luận, chưa kể đến những công trình thoát lũ, ngăn lũ, vượt lũ ở đồng bằng sông Cửu Long đã ngốn hàng chục ngàn tỷ đồng mà lũ thì mỗi năm lại nghiệt ngã hơn, tai họa càng thảm khốc hơn, nghèo đói càng chất chồng hơn . . . trong khi người dân vùng lũ chỉ cần một bộ cột đúc để cất nhà cao, một chiếc xuồng, một tay lưới và một bè nuôi cá năm mười triệu đồng thì họ có thể làm giàu ngay trong mùa lũ. Nhưng đầu tư cho dân thì coi như chủ đầu tư . . . mất trắng.

Ong bà ta có câu: hễ bánh ích đi thì bánh quy lại. Nhà đầu tư phải biết lập dự án nào để đồng tiền trở thành bánh ích. Đó là kinh nghiệm xương máu của các vị Bộ trưởng nhà ta. 

Tôi nói như thế không phải để phê phán các ngài Bộ trưởng của mình mà để ông Trần Mạnh Hảo thấy rằng ông đừng xót xa với vài chục tỷ đồng lãng phí cho cải cách SGK. Tôi xin hỏi ông Hảo, nếu nói theo ông, sách GK phải dùng được nhiều lần, anh học rồi tới em, con tôi học xong cho con hàng xóm học, tiếp nối cả hàng chục lứa chuyền tay nhau thì xin mời những người có cái tâm . . . nhà thơ như ông lên mà làm Bộ trưởng. Chứ làm Bộ trưởng mà không biết đẻ ra các dự án từ tỷ nầy sang tỷ nọ thì nhậm chức để làm gì, loại trừ những Bộ không thể xoay ra dự án thì người ta mới đầu tư quyền lực cho thế giới ngầm như ông Phạm Sĩ Chiến hay ông Bùi Quốc Huy. 

Kính thưa ông Trần Mạnh Hảo ! 

Đọc những bài tranh cải của ông, tôi rất chia sẽ sự ngây thơ của một nhà thơ, bởi ông quá nhẹ dạ cả tin rằng củ cải cũng biết nghe cho nên ông mới lớn tiếng cải với ngài Bộ trưởng. Vì vậy, tôi xin góp ý với ông mấy vấn đề thuộc về nhiệm vụ chính trị của các ngài Bộ trưởng để hy vọng rằng ông không nên cải nữa. Đến đây, bổng dưng tôi chợt nhớ đến Bùi Chí Vinh, thỉnh thoãng lên Sài gòn tôi hay nhậu với hắn, ngồi nghe hắn đọc thơ, hắn đọc rất nhiều nhưng tôi nhớ chỉ mấy câu: 
Ta sinh ra gặp buổi nhiểu nhương 
Bất lương bàn luận chuyện hiền lương 
Nho sĩ cúi đầu làm binh sĩ 
Thơ quốc doanh cười cợt thơ Đường 

Cà Mau, 17/11/2002 
(Bài đã in trọn vẹn trên báo “VĂN NGHỆ TRẺ” số 47 ra ngày 24/11/2002) 


........./.

Chuyện HÀ THỊ CẦU & TRẦN ĐỨC THẢO



Chuyện HÀ THỊ CẦU & TRẦN ĐỨC THẢO
Tháng 3 22, 2013
Tưởng Năng Tiến

http://www.procontra.asia/?p=1944 




Cộng sản nó giết mình hôm nay, mai nó mang vòng hoa đến phúng điếu!”

Cứ theo như lời của giáo sư Nguyễn Văn Lục thì T.T. Thích Trí Quang là tác giả của câu nói vừa ghi. Tôi nghe mà bán tin bán nghi vì nếu sự thực đúng y như vậy thì hoa hoè ở Việt Nam phải trồng bao nhiêu mới đủ, cha nội?

Mà chả chỉ riêng hoa, ở nước ta, cái (mẹ) gì mà không thiếu nên mọi thứ vẫn thường phải phân phối theo tiêu chuẩn – ngoại trừ huân chương, huy hiệu, bằng khen, giấy thưởng… thì mới thừa thôi. Bởi vậy, tôi xin được có ý kiến (hơi) khác với T.T. Thích Trí Quang chút xíu: “Cộng sản nó chôn sống mình hôm nay, mai nó mang huân chương hay giải thưởng đến để… làm lễ truy tặng!”





Ông Trần Đức Thảo là một nạn nhân điển hình cho cái cách chôn sống (rất) bất nhân như thế – theo như lời của một bà cụ bán nước trà ở đầu khu tập thể Kim Liên, nơi mà triết gia của chúng ta cư ngụ cho đến gần lúc cuối đời:
Trong khu nhà B6 đằng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp ‘Pơ-giô con vịt’ mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, một anh dở người…”
Một buổi trưa nắng chang chang, ông ghé vào quán uống cốc nước chè xanh, tôi hỏi: “Ông đi đâu về mà nom vất vả thế.. ế.. ế. Ông nói: Lên chợ Hàng Bè mua củi đun. Tôi hỏi: Thế củi ông để đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái ‘pooc ba ga’, mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn có sợi dây buộc! Củi nả rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần ấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con… (Phùng Quán – “Chuyện vui về triết gia Trần Đức Thảo”. Ba phút sự thực, Văn Nghệ, Sài Gòn: 2007, bản in lần thứ hai)

Nếu bạn thấy những lời lẽ (thượng dẫn) của một bà cụ bán nước trà vô danh chưa đủ trọng lượng thì xin nghe thêm đôi câu nữa, của một chứng nhân thế giá hơn – luật sư Trương Như Tảng:
Ông không bị tù hay hành hạ thân xác, nhưng công an bao vây, cô lập ông không cho ai tiếp xúc… Nếu ông Thảo tiếp xúc với ai, chẳng hạn một người bạn trên đường phố, thì người đó sẽ bị bắt giữ để điều tra.
Bề ngoài xem ra triết gia sống cuộc đời bình thường. Nhưng thực tế ông sống như Robinson Crusoe, hoàn toàn cô độc, mặc dầu có nhiều người ở xung quanh. Ngay họ hàng thân thích cũng không được phép nói chuyện với ông. Đối với một trí thức như vậy là một sự tra tấn dã man.
Ngó bộ ông Trương Như Tảng có vẻ hơi quá lời chút xíu, chứ nếu Trần Đức Thảo bị “tra tấn dã man” thì làm sao triết gia của chúng ta sống sót cho mãi đến năm 1991 –  năm mà ông được nhà nước tha (tào) và cho trở lại Paris, theo như tường thuật của tác giả Minh Diện:
Bảy mươi tuổi Trần Đức Thảo mới quay về chốn xưa. Tiếc thay thời huy hoàng của ông đã qua lâu rồi. Rất ít người còn nhớ tới ông. Suốt 40 năm ông cô đơn bên trời Nam, giờ lại cô đơn bên trời Tây. Khi người ta đã bỏ lỡ cơ hội thì khó mà tìm lại được.
Quay lại Pari, Trần Đức Thảo sống tạm bợ trong căn phòng xép trên tầng 5, nhà khách của Đại sứ quán Việt Nam. Nhà báo Nguyễn Đức Hiền tả lại cảnh sống của ông như sau: “Một ông già ở độ tuổi cổ lai hy, khoác chiếc áo cũ màu tím dài chấm gót, bưng bê lỉnh kỉnh mọi thứ xoong chảo, chai lọ leo lên, leo xuống hàng trăm bậc thang tự lo lấy bữa ăn cho mình. Ông già ấy cứ hành trình chừng mười bậc thì dừng lại, tựa người vào hành lang đứng nhắm mắt, há miệng thở như thổi bễ.”
Một chiều mùa Hè năm 1993, ông già ấy gục xuống tại bậc cầu thang, không bao giờ gượng đứng dậy được nữa… Năm 2000, ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Xã hội.
Thiệt là… có hậu!




Ít nhất thì những ngày tháng cuối đời “của ông già ấy” cũng (có vẻ) đỡ đoản hậu hơn cuộc sống lê lết của… một bà già khác, cùng thời, bà Hà Thị Cầu. Nhân vật này tuy có kém danh giá hơn ông Thảo (chút đỉnh) nhưng cũng nổi tiếng như cồn, ít ra là ở phạm vi quốc nội. Trên báo Bắc Giang, phát hành vào ngày 1 tháng 4 năm 2009, một nhà văn Việt Nam đã viết những dòng chữ chí tình như sau về người nghệ sĩ này:
Với bà, tên tuổi, sự nghiệp tôi đã đọc quá nhiều trên báo chí, một nghệ nhân lớn, một người hát xẩm cuối cùng của thế kỷ, một tài sản dân gian quý báu, một nghệ sĩ nổi tiếng không chỉ trong nước mà ở thế giới…
Và tôi choáng váng vì không thể ngờ, một nghệ sĩ tên tuổi như vậy, báo chí ngợi ca như vậy, các cấp quản lý thay nhau tôn vinh như vậy lại đang có cuộc sống khó khăn đến không tin được. Ngôi nhà bà Hà Thị Cầu bé tí nằm cận kề trụ sở UBND xã Yên Phong. Ngôi nhà bé thế lại còn chia làm hai, một nửa cho bà Cầu ở, nửa còn lại là nhà thờ họ. Phần ở của bà lại chia đôi, phía ngoài đủ đặt cái giường đôi, bộ bàn ghế uống nước, phía trong là nơi bà ngủ, diện tích cũng chỉ nhỉnh hơn cái giường một chút xíu.

BBC, nghe được vào hôm 3 tháng 3 năm 2013, lặng lẽ và buồn bã đi tin: “Nghệ nhân được coi là linh hồn của hát xẩm Việt Nam với gần 80 năm tuổi nghề, bà Hà Thị Cầu, đã qua đời tại Yên Mô, Ninh Bình…”
Hung tin này đã khiến cho Nguyễn Quang Vinh đùng đùng nổi giận:
Một nghệ nhân tài hoa như thế, cống hiến cho đất nước như thế, được coi là “báu vật nhân văn” của quốc gia như thế, đã từng đào tạo, truyền nghề cho biết bao nghệ sĩ, đã nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn với nước ngoài…
Nhưng suốt đời nghèo đói, suốt đời khổ sở, túng thiếu như kẻ ăn mày. Báo chí lên tiếng, dư luận lên tiếng, những nghệ sĩ tâm huyết thay bà gõ cửa khắp nơi nhưng mặc nhiên không ai đoái hoài, và bà – nghệ nhân Hà Thị Cầu, cho tới lúc nhắm mắt, vẫn trong nghèo đói…
Leo lẻo ca ngợi, leo lẻo thuyết giảng, leo lẻo leo lẻo… ở mọi cấp để rồi bỏ rơi một nghệ nhân lớn, cay đắng hơn, còn lợi dụng tài năng, tên tuổi của bà để trục lợi cả tiền, danh tiếng, uy tín của cá nhân mình.
Thôi nhé, bà mất rồi, im cả đi, đừng lại ngoạc mồm “bà mất đi là địa phương mất đi một tài năng, đất nước mất đi một nghệ nhân lớn… vô cùng đau xót”. Câm đi…


Tôi e rằng nhà văn của chúng ta không hiểu biết về đường lối, cũng như chính sách, của Đảng và Nhà nước (rõ ràng và rành mạch) như nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Quang Hải. Trong bản tin của BBC(thượng dẫn) ông Hải khẳng định:
Cũng giống như ca trù, hát xẩm đã bị ‘mất đi’ trong 50 năm vì chính quyền không coi trọng những tài tử dân gian… hát xẩm bị coi là “hạ cấp” và chính quyền không muốn thấy những người hát xẩm lang thang ngoài đường.

Nói cách khác là bà Hà Thị Cầu đã bị chính quyền chôn sống từ lâu nhưng mãi đến tháng Ba năm nay mới (chịu) trút hơi thở cuối cùng. Ngay sau đó, báo Thể thao Văn hoá (số ra ngày 06 tháng 3 năm 2013) đã có… tin vui:
Tới dự đám tang nghệ nhân Hà Thị Cầu, ông Vương Duy Biên – Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL – chia sẻ tâm nguyện cần đề nghị truy tặng cho bà danh hiệu NSND… Thời gian tới, Bộ VH,TT&DL sẽ xúc tiến thực hiện việc này.

Thiệt là tử tế hết sức!

Theo Wikipedia: Năm 1977 bà Hà Thị Cầu là tác giả của bài Theo Đảngtrọn đời. Tôi sợ rằng vì mù chữ, không đọc được Đề cương văn hoá Việt Nam, nên (có lẽ) mãi cho đến khi nhắm mắt người được coi là “báu vật nhân văn sống của Việt Nam” vẫn không biết rằng toàn Đảng không ai thiết tha hay mặn mà gì lắm với tình cảm (thắm thiết) mà bà đã dành cho nó.
Những người “hát xẩm bị coi là hạ cấp,” đã đành, thế còn triết gia thì sao? Giới người này ở bên nước bạn, cũng như ở nước ta, cả hai Đảng đều coi họ không bằng … cục cứt!
Và nói nào ngay, đối với Đảng thì giới người nào cũng vậy – bất kể là nông dân, công nhân, thương nhân, hay trí thức. Tất cả đều chỉ là phương tiện, được sử dụng tùy theo lúc mà thôi.
Sau đó đều bị mang chôn sống ráo. Nhà nước đợi cho đến khi họ tắt thở sẽ mang bằng khen hay giải thưởng đến làm lễ truy tặng. Những cái lễ này, cũng tựa như những tấm giẻ lau, dùng để lau sạch máu hay nước mắt (hoặc cả hai) cho nạn nhân của chế độ hiện hành.
_________________
Ảnh 1: Hình chụp từ tạp chí Nghiên cứu Đông Dương. Nguồn: vnu.edu
Ảnh 2: Báu vật nhân văn sống của Việt Nam, hình chụp trước tư gia. Nguồn: vnexpress.net
Ảnh 3: Bà Hà Thị Cầu. Nguồn: wikipedia
© Tưởng Năng Tiến &pro&contra